HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA” LẦN THỨ 12 NĂM 2010 TÊN CÔNG TRÌNH : VIỆC SỬ DỤNG THÙNG R
Trang 1ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH
-
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA
LẦN THỨ 12 NĂM 2010
TÊN CÔNG TRÌNH :
VIỆC SỬ DỤNG THÙNG RÁC CÔNG CỘNG CỦA
CƯ DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG NĂM THỰC
HIỆN NẾP SỐNG VĂN MINH ĐÔ THỊ 2009
(Nghiên cứu trường hợp trước Bệnh viện Chợ Rẫy đoạn đường
Nguyễn Chí Thanh từ đường Thuận Kiều đến đường Lý Nam Đế)
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: LĨNH VỰC XÃ HỘI
CHUYÊN NGÀNH : XÃ HỘI HỌC
Mã số công trình : ………
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA”
LẦN THỨ 12 NĂM 2010
TÊN CÔNG TRÌNH :
VIỆC SỬ DỤNG THÙNG RÁC CÔNG CỘNG CỦA
CƯ DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG NĂM THỰC HIỆN NẾP SỐNG VĂN MINH ĐÔ THỊ 2009
(Nghiên cứu trường hợp trước Bệnh viện Chợ Rẫy đoạn đường Nguyễn Chí Thanh từ đường Thuận Kiều đến đường Lý Nam
Đế)
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: LĨNH VỰC XÃ HỘI
CHUYÊN NGÀNH : XÃ HỘI HỌC
Họ và Tên tác giả, nhóm tác giả Giới tính Sinh viên năm thứ
Người hướng dẫn: Thạc sĩ Xã hội học Trần Thị Bích Liên, Khoa Xã hội học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh
Trang 3TÓM TẮT ĐỀ TÀI 1
PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU 4
PHẦN 2: NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 12
1.1 Lý thuyết áp dụng 12
1.2 Các khái niệm 18
1.3 Khung phân tích 21
1.4 Giả thuyết nghiên cứu 21
1.5 Phương pháp nghiên cứu 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THÙNG RÁC CÔNG CỘNG CỦA CƯ DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỚC BỆNH VIỆN CHỢ RẪY 25
2.1 Mô tả địa bàn nghiên cứu 25
2.2 Mô tả mẫu nghiên cứu 27
2.3 Thực trạng sử dụng thùng rác công cộng 29
2.4 Nhận thức, thái độ, thói quen của người dân về việc sử dụng thùng rác công cộng 35
CHƯƠNG 3: NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG THÙNG RÁC CÔNG CỘNG CỦA CƯ DÂN TRƯỚC BỆNH VIỆN CHỢ RẪY 42
3.1 Các lý do trực tiếp từ thùng rác công cộng 42
3.2 Sự tác động của yếu tố kiểm soát xã hội đến việc sử dụng thùng rác công cộng 46
PHẦN 3: KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 73
Trang 5TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Rác thải và ô nhiễm môi trường là vấn đề "nóng" của Thành phố Hồ Chí Minh trong nhiều năm qua Năm 2008 – năm Thành phố thực hiện cuộc vận động nếp sống văn minh đô thị và cuộc vận động này tiếp tục được triển khai sang năm 2009 nhưng còn nhiều trở ngại – đặc biệt về vấn đề vệ sinh môi trường Tại một số khu vực trên địa bàn Thành phố (nhất là ở các trường học, bệnh viện, chợ…) vẫn tồn tại một số vấn đề: rác thải, nước thải, phóng uế, lấn chiếm lòng lề đường… Trước Bệnh viện Chợ Rẫy là điểm nóng về lấn chiếm lòng lề đường mà hậu quả kéo theo là rác thải vẫn còn là vấn đề khó giải quyết Thùng rác công cộng đã được lắp đặt trong khuôn khổ của cuộc vận động, nhưng việc sử dụng thùng rác công cộng dường như vẫn còn là điều rất đáng quan tâm Các đơn vị chức năng đã vào cuộc nhiều lần nhưng tình trạng trên chưa được cải thiện đáng kể Trên thực tế một số những nổ lực góp phần giữ vệ sinh và lắp đặt thùng rác công cộng và các hoạt động trong khuôn khổ cuộc vận động nếp sống văn minh đô thị nhưng kết quả sử dụng thùng rác công cộng ra sao, tình trạng vệ sinh tại khu vực này như thế nào? Đề tài là một câu trả lời hữu ích cho hoạt động giữ gìn vệ sinh tại địa bàn này, một số phát hiện sẽ đem lại nhiều suy nghĩ cho các nhà hoạt động thực tiễn
Mục tiêu chính của đề tài là tìm hiểu mối quan hệ giữa kiểm soát xã hội với việc sử dụng thùng rác công cộng của cư dân tại địa bàn nghiên cứu, từ đó nêu lên những suy nghĩ mang tính khuyến nghị nhằm góp phần cải thiện vấn đề sử dụng thùng rác công cộng hiện nay tại địa bàn nghiên cứu
Thực hiện đề tài này lý thuyết kiểm soát xã hội là lý thuyết được sử dụng xuyên suốt quá trình tiếp cận và phân tích vấn đề nhằm làm rõ mối quan hệ giữa kiểm soát xã hội và việc sử dụng thụng thùng rác công cộng của người dân tại địa bàn nghiên cứu Ngoài ra nghiên cứu này còn vận dụng một số lý thuyết khác như: lý thuyết về hành động xã hội, lý thuyết về sự lựa chọn hợp lý, lý thuyết lối sống
Bên cạnh đó, đề tài làm rõ một số khái niệm như: Chuẩn mực xã hội (Theo Rodney Stark, Nguyễn Xuân Nghĩa), Sự sai lệch xã hội (Nguyễn Xuân Nghĩa), Nhận thức (GS – PTS Nguyễn Như Ý) và Thái độ (GS – PTS Nguyễn Như Ý, Trần Hữu Quang) Đồng thời, đề tài
Trang 6còn đưa ra khung phân tích, giả thuyết nghiên cứu cụ thể nhằm làm rõ nội dung nghiên cứu của đề tài
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài kết hợp sử dụng phương pháp thu thập thông tin định tính (Phương pháp phân tích tư liệu sẵn có, phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn sâu ) và Phương pháp thu thập thông tin định lượng (phương pháp điều tra bằng bảng hỏi) Với 150 bảng hỏi phát ra để thu thập thông tin của người dân (tạm trú, thường trú, dân buôn bán, khách vãng lai) nhằm lấy ý kiến của người dân về vấn đề sử dụng thùng rác công cộng của dân cư tại địa bàn nghiên cứu và công tác quản lý của chính quyền các cấp, hoạt động quản lý của chính quyền địa phương về việc lắp đặt thùng rác công cộng (số lượng, chất lượng, cách bố trí Đồng thời đề tài kết hợp với phương pháp mã hóa và xử lý thông tin (Xử lý bằng phần mềm SPSS) nhằm đưa ra những con số, những ý kiến thực tế của người dân để chứng minh cho nội dung của đề tài nghiên cứu
Từ thông tin thu được của cuộc nghiên cứu đã cho thấy rác thải ở trước Bệnh viện Chợ Rẫy xuất hiện từ các hoạt động sinh hoạt, mua bán, ăn uống của cư dân sinh sống, khách vãng lai, xe ôm, gánh hàng rong… Các hoạt động này diễn ra liên tục và nhiều đã làm cho lượng rác thải ở khu vực này tăng lên mặc dù có đội vệ sinh công cộng đi thu gom rác hàng ngày Kết quả nghiên cứu cũng đã cho thấy, mỗi nhóm đối tượng có mức độ xả rác không đúng nơi quy định khác nhau, người dân kinh doanh cố định sử dụng thùng rác công cộng nhiều nhất, người dân tạm trú sử dụng thùng rác công cộng ít nhất Sở dĩ có tình trạng này là
vì tính chất, đặc trưng của các loại hình kinh doanh, buôn bán và cư trú của mỗi đối tượng Một trong những nội dung nghiên cứu mà đề tài quan tâm là về nhận thức, thái độ, thói quen của người dân về việc sử dụng thùng rác công cộng tại địa bàn nghiên cứu Do nhận thức về vệ sinh môi trường kém, cộng với thói quen làm theo người xung quanh, chính vì vậy mà người dân tại khu vực này họ chưa hình thành thói quen bỏ rác vào thùng rác công cộng
Bên cạnh đó số lượng thùng rác công cộng thiếu đã ảnh hưởng đến việc sử dụng thùng rác của người dân nơi đây Hơn nữa, cách bố trí thùng rác cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng không nhỏ đến hành vi xả rác bừa bãi, không sử dụng thùng rác của họ
Đồng thời, trong nghiên cứu này yếu tố kiểm soát xã hội phi chính thức được nói đến là
dư luận cộng đồng có khả năng kiểm soát đối với các hành vi của người dân Qua kết quả nghiên cứu cho thấy dư luận cộng đồng tại đây chưa đủ mạnh để tác động đến hành vi bỏ rác
Trang 7đúng nơi quy định và sử dụng thùng rác công cộng của người dân tại địa bàn nghiên cứu Chính quyền địa phương ở đây còn thiếu trách nhiệm về quản lý, kiểm tra, giám sát vệ sinh môi trường Hoạt động này chỉ dừng lại ở việc nhắc nhở nên không đủ tính răn đe, chế tài chưa đủ mạnh, người dân không sợ nên họ vẫn xả rác bừa bãi Chính vì vậy cần có sự thay đổi phù hợp để nâng cao vai trò và hiệu quả của công tác kiểm tra, xử phạt đối với thực tế đời sống tại địa bàn trước Bệnh viện Chợ Rẫy hiện nay
Như vậy, việc sử dụng thùng rác công cộng rõ ràng có mối quan hệ chặt chẽ với kiểm soát xã hội, để người dân không bỏ rác bừa bãi và sử dụng thùng rác công cộng nhiều hơn thì cần lưu tâm cải thiện yếu tố thuộc về các hoạt động kiểm soát xã hội bao gồm ngăn ngừa và trừng phạt
Tóm lại, đề tài nghiên cứu cho thấy vệ sinh môi trường trước Bệnh viện Chợ Rẫy chưa được đảm bảo, số lượng thùng rác công cộng ít, khoảng cách và cách bố trí không thuận tiện đã dẫn tới việc người dân ít sử dụng thùng rác công cộng Hơn nữa hoạt động kiểm soát xã hội chưa thực sự đạt hiệu quả như mong muốn Chính vì vậy, các cấp chính quyền cần quy định lại cơ chế xử phạt, trao quyền quản lý thùng rác công cộng cho người dân và cần xem xét lại cách bố trí, lắp đặt thùng rác công cộng sao cho hợp lý với tình hình thực tế tại địa bàn để người dân có thể sử dụng thùng rác công cộng đạt hiệu quả hơn Bên cạnh đó, cần nâng cao ý thức cộng đồng của người dân trong việc sử dụng thùng rác công cộng phải trở thành mục tiêu hành động của chính quyền địa phương
Trang 8PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong hai trung tâm kinh tế phát triển nhất của cả nước, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở đây diễn ra hết sức mạnh mẽ, kéo theo đó là
sự ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề môi trường như: ô nhiễm môi trường, vệ sinh công
cộng, nước thải, rác thải “Năm 2008, mỗi ngày Thành phố Hồ Chí Minh thải ra 5.700 tấn
chất thải rắn sinh hoạt (rác), bao gồm chất thải rắn từ các hộ dân cư, trường học, viện
Trước thực trạng này, nhằm hướng tới sự phát triển bền vững, bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu phát triển, Thành phố đã đề ra nhiều chương trình, nhiều biện pháp nhằm giảm bớt sự ô nhiễm và bảo vệ môi trường
Năm 2008 – năm Thành phố thực hiện cuộc vận động nếp sống văn minh đô thị và cuộc vận động này tiếp tục được triển khai sang năm 2009 Nhưng trên thực tế tình trạng vệ sinh môi trường ở Thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa được cải thiện, tại một số khu vực trên địa bàn Thành phố (nhất là ở các trường học, bệnh viện, chợ…) vẫn tồn tại một số vấn đề: rác thải, nước thải, phóng uế, lấn chiếm lòng lề đường… Điển hình như trước Bệnh viện Chợ Rẫy - một trong những Bệnh viện lớn nhất Thành phố Hồ Chí Minh - lượng người tập trung tại khu vực này rất đông, vì thế nảy sinh nhiều vấn đề liên quan tới rác thải Thùng rác công cộng đã được lắp đặt trong khuôn khổ của cuộc vận động, nhưng việc sử dụng thùng rác
công cộng dường như vẫn còn là điều rất đáng quan tâm Theo Báo cáo kết quả thực hiện
nếp sống văn minh đô thị 2008 của Phường 4 Quận 11 – địa bàn đối diện với Bệnh viện Chợ
Rẫy thì “Kết quả đạt được còn hạn chế, thiếu tính vững chắc Tình trạng mất vệ sinh môi
trường còn diễn ra, việc xả rác không đúng nơi quy định vẫn chưa được cải thiện nhất là khu vực đối diện Bệnh viện Chợ Rẫy đường Nguyễn Chí Thanh” Tại sao vẫn còn tồn tại tình
hình trên? Nhiều ý kiến cho rằng người dân thiếu ý thức nên đã dẫn đến tình trạng trên, nhưng có phải chỉ vì vậy hay còn nguyên nhân nào khác? Ở đây yếu tố kiểm soát xã hội có vai trò gì trong việc điều chỉnh hành vi của cư dân trong việc ứng xử với rác thải Kết quả như vậy phải chăng là do cơ chế kiểm soát xã hội chưa thực sự hiệu quả?
1
Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, “Tài liệu tập huấn: Thu phí vệ sinh và phí bảo vệ môi
trường tại Thành phố Hồ Chí Minh”, liên cơ quan Sở Tài nguyên và Môi trường – Sở Tài chính –
Cục thuế Thành phố
Trang 9Từ những vấn đề nêu trên chúng tôi quyết định chọn đề tài “Việc sử dụng thùng rác
công cộng của cư dân Thành phố Hồ Chí Minh trong năm thực hiện nếp sống văn minh
đô thị 2009 ” (Nghiên cứu trường hợp trước Bệnh viện Chợ Rẫy đoạn đường Nguyễn Chí
Thanh từ đường Thuận Kiều đến đường Lý Nam Đế) là chủ đề nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian gần đây, vấn đề rác thải và xử lý rác thải đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu với những quy mô khác nhau Liên quan tới vấn đề này đã có một số đề tài nghiên cứu như:
2.1 Đề tài “Các hình thức thu gom rác thải trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh,
thực trạng và các đề xuất bổ sung”, Tiến sĩ Hoàng Thị Kim Chi chủ nhiệm
- Nội dung: Đã nêu lên được nguyên nhân và thực trạng gây nên sự tồn đọng rác thải
trên địa bàn là do sinh hoạt của người dân, mà phần lớn do hiện tượng lấn chiếm lòng lề đường để bán hàng rong, rác thải không được bỏ đúng nơi quy định, không được thu gom xử
lí đúng theo quy định Người dân phần lớn còn chạy theo lợi nhuận mà quên đi luật pháp đã quy định Bên cạnh những tồn tại đó thì đề tài cũng đã nêu lên được những đề xuất thu gom rác bổ sung như tăng cường thêm những công cụ thu gom rác thải Tăng thêm một số lượng công nhân vệ sinh cùng xe chuyên chở rác thải sinh hoạt hàng ngày, và một số hình thức thu gom cụ thể như: Từng hộ gia đình phải có thùng rác riêng, phải đổ đúng nơi quy định, thực hiện tốt những nội dung mà pháp luật đã đề ra để giảm bớt lượng rác thải sinh hoạt bừa bãi khắp nơi Công nhân của Công ty Công trình đô thị làm việc phải nhiệt tình, trách nhiệm hơn
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài này là phân tích dữ liệu định tính và dữ liệu đinh
lượng thông qua công cụ bảng hỏi cho người dân và thảo luận nhóm đối với Ủy ban Nhân Dân thành Phố cùng cán bộ Sở Tài nguyên môi trường Bên cạch đó đề tài còn sử dụng một
số lý thuyết như: Lý thuyết phân tầng, lý thuyết kiểm soát xã hội, lý thuyết cấu trúc chức năng để nghiên cứu những hành vi dẫn đến thực trạng rác thải sinh hoạt trên toàn địa bàn thành phố
- Ưu điểm: Công trình này đã nêu lên được một số ưu điểm về vấn đề thu gom rác thải
sinh hoạt tại địa bàn thành phố, thực trạng và các đề xuất bổ sung cho những tồn tại đang gặp phải
Trang 10- Hạn chế của đề tài: Đề tài còn đi vào phân tích quá rộng địa bàn nghiên cứu, khi
nghiên cứu chưa đề cập được nhận thức cũng như thái độ của người dân trước hành vi ứng
xử với rác thải, đồng thời cũng chưa nêu lên được tình hình kiểm soát xã hội và các hình thức
xử phạt những người không chấp hành bỏ rác đúng nơi quy định của người dân Thiết nghĩ, nghiên cứu nên khoanh vùng để làm rõ hơn nhận thức, thái độ của người dân thành phố trong hành vi xả rác bừa bãi; làm rõ tình hình kiểm soát xã hội để thấy được hành vi ứng xử với rác của người dân diễn ra như thế nào và cách giải quyết tốt nhất
2.2 Luận án Tiến sĩ chuyên ngành môi trường năm 2001: “Thực trạng và giải pháp
trong việc sử dụng pháp luật để bảo vệ môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả
Nguyễn Văn Hợp
- Nội dung: Tác giả đã khái quát và hệ thống hóa các văn bản pháp luật của nhà nước
Việt Nam liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường, khái quát hệ thống quản lý và hiện trạng thi hành pháp luật bảo vệ môi trường tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng như các vấn đề phân cấp quản lý, giám sát môi trường Bên cạnh đó tác giả phân tích vai trò của các cấp từ Ủy ban nhân dân Thành phố cho đến Ủy ban nhân dân các quận, huyện, đến các sở ban ngành trong Thành phố, các tổ chức, đoàn thể và cá nhân trong việc thực thi pháp luật bảo vệ môi trường, phân tích tình hình thực thi pháp luật và đánh giá thực hiện, hạn chế của các văn bản pháp luật đó cũng như đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện và tăng cường hiệu lực của hệ thống quy phạm pháp luật
- Phương pháp: Tác giả sử dụng phương pháp phân tích tư liệu sẵn có: sưu tập thống
kê các văn bản pháp luật, tài liệu tư liệu thống kê từ các sở ban ngành có liên quan đến bảo
vệ môi trường Từ đó hệ thống, phân tích tổng hợp, đánh giá mối liên hệ giữa văn bản và thực tiễn Kết quả áp dụng rút ra nhận định về thực trạng và đề ra giải pháp
- Ưu điểm: Nội dung của nghiên cứu này có liên quan trực tiếp đến đề tài mà chúng tôi
đang tiến hành Hệ thống pháp lý là cơ sở của yếu tố kiểm soát xã hội chính thức Đánh giá của tác giả giúp chúng tôi có cái nhìn xác thực về tác động của hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường trong xã hội, cái được và cái chưa được của nó…
- Hạn chế: Tuy nhiên, trong đề tài này tác giả mới chỉ khái quát hệ thống quản lý và
hiện trạng thi hành pháp luật bảo vệ môi trường tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng như các vấn đề phân cấp quản lý giám sát môi trường ở các cấp chính quyền tại Thành phố Hồ Chí
Trang 11Minh Trong việc khai thác yếu tố kiểm soát xã hội tác giả nghiêng về mảng ngăn ngừa mà
cụ thể ở đây là các văn bản pháp luật của nhà nước, chứ chưa đi sâu nghiên cứu về trừng phạt
2.3 Luận văn tốt nghiệp cử nhân Xã hội học, trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí
Minh năm 2004: “Tìm hiểu hệ thống thu gom rác dân lập và việc thể chế hóa lực lượng
này”, trường hợp điển cứu tại Quận 11, sinh viên Hà Thị Ân
- Nội dung: Kết quả nghiên cứu đã cho thấy thực trạng của hệ thống thu gom rác sinh
hoạt tại Thành phố Hồ Chí Minh, hoạt động của lực lượng thu gom rác dân lập tại địa bàn nghiên cứu, cũng như phân tích những thuận lợi và khó khăn trong việc thể chế hóa lực lượng này
- Phương pháp: Công trình này sử dụng các phương pháp thu thập thông tin Xã hội
học: phân tích tư liệu sẵn có, điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu, quan sát
- Ưu điểm: Đề tài đã làm rõ được thực trạng thu gom rác thải trên địa bàn thành phố,
đồng thời gợi ý cho chúng tôi về việc xây dựng một mô hình thu gom rác có hiệu quả, giúp tôi có thêm kiến thức và nhìn nhận vấn đề nghiên cứu của mình đúng đắn hơn
- Hạn chế: Trong đề tài này việc thể chế hóa lực lượng thu gom rác dân lập chỉ mới là
một ý tưởng Đồng thời tác giả mới chỉ đi sâu nghiên cứu thực trạng hoạt động thu gom mà chưa đưa ra giải pháp mang tính ứng dụng thực tế
2.4 Đề tài: “Nhận thức, thái độ về vệ sinh môi trường của cư dân thành phố Hồ
Chí Minh trong năm 2008 – năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị” (Nghiên cứu thực
hiện trên địa bàn phường Phạm Ngũ Lão, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh và kênh Thị Nghè, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh) – do K11 Khoa Xã hội học, Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh thực hiện
- Nội dung: Đề tài chủ yếu tập trung vào việc phân tích nhận thức, thái độ của người
dân về vệ sinh môi trường và cuộc vận động thực hiện nếp sống văn minh đô thị như: Nhận thức về môi trường, trách nhiệm bảo vệ môi trường, thái độ của người dân về cuộc vận động Qua đó đã phản ánh được thực trạng vệ sinh môi trường trước và sau cuộc vận động, đặc biệt
là nguyên nhân ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ của người dân trong cuộc thực hiện nếp sống văn minh đô thị
Trang 12- Phương pháp: Đề tài đã sử dụng các phương pháp thu thập thông tin Xã hội học:
phân tích tư liệu sẵn có, bảng hỏi, quan sát, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm
- Ưu điểm: Đã đưa ra và chứng minh nhận thức, thái độ, mối quan hệ giữa chính
quyền và người dân chưa cao trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường Đồng thời đề tài này cũng đã chỉ ra được nguyên nhân tác động đến nhận thức và thái độ của người dân trong việc thực hiện nếp sống văn minh đô thị
- Hạn chế : Đề tài chưa nêu lên được sự tác động của kiểm soát xã hội đến nhận thức,
thái độ của người dân Trong phần đưa ra nguyên nhân tác động đến nhận thức thái độ của người dân thì đề tài chỉ mới đưa ra được nguyên nhân là do hoạt động của chính quyền, nguyên nhân học vấn, nghề nghiệp, nhóm xã hội mà chưa chỉ ra được nguyên nhân văn hóa
mà cụ thể là phong tục tập quán, lối sống của người dân Đặc biệt là chưa đề cập đến nguyên nhân kiểm soát nội tại ảnh hưởng đến nhận thức thái độ của người dân trong việc thực hiện nếp sống văn minh đô thị Ngoài ra một số giải pháp mà nhóm thực hiện đề tài đưa ra còn mang tính chất chung chung chưa cụ thể
2.5 Trong tác phẩm “Quản lý môi trường đô thị và khu công nghiệp” của GS.TSKH
Phạm Ngọc Đăng, Nhà xuất bản Xây dựng năm 2004
- Nội dung: Trong tác phẩm này vấn đề quản lý môi trường tại đô thị và khu công
nghiệp được nghiên cứu một cách khá toàn diện và sâu sắc, trong đó quản lý môi trường đô thị được thể hiện trên nhiều nội dung phong phú Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào vấn đề chất thải rắn sinh hoạt và y tế ở đô thị đang ngày càng gia tăng Tác giả đã phân tích một trong những nguyên nhân chính của thực trạng nói trên chính là khả năng thu gom và xử lý rác thải còn rất thấp so với yêu cầu đặt ra
- Ưu điểm: Qua tác phẩm này, GS.TSKH Phạm Ngọc Đăng đã phân tích một cách khá
sâu sắc và toàn diện về vấn đề quản lý môi trường đô thị và khu công nghiệp Với nội dung chất thải rắn sinh hoạt và y tế, tác giả đã cung cấp một khung phân tích cũng như các số liệu phân tích hữu ích cho nghiên cứu trong việc đánh giá tình trạng ô nhiễm và phân tích các biện pháp thu gom, xử lý rác thải
- Hạn chế: Ở góc độ quản lý môi trường (đặc biệt là đối với chất thải rắn), nhìn chung
tác giả phân tích các tác nhân ảnh hưởng vẫn còn hạn hẹp, chưa đi vào các yếu tố xã hội, lối
Trang 13sống như một trong những yếu tố cần nghiên cứu để đưa ra biện pháp góp phần giải quyết vấn đề trên
3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Mối quan hệ giữa kiểm soát xã hội và việc sử dụng thùng rác công cộng của cư dân tại
Thành phố Hồ Chí Minh trong năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị 2009 (Nghiên cứu
trường hợp trước Bệnh viện Chợ Rẫy đoạn đường Nguyễn Chí Thanh từ đường Thuận Kiều đến đường Lý Nam Đế)
3.2 Khách thể nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu chúng tôi tập trung nghiên cứu ở các nhóm khách thể như sau:
Nhóm dân cư sinh sống tại địa bàn nghiên cứu: Là người dân cư trú tại địa bàn nghiên
cứu, trực tiếp thực hiện những hành vi tương tác với môi trường xung quanh, đặc biệt là ứng
xử với việc sử dụng thùng rác công cộng – đối tượng quan tâm chính của đề tài
Nhóm dân cư kinh doanh tại địa bàn nghiên cứu: Bao gồm người kinh doanh cố định
cũng như kinh doanh di động (nhân viên buôn bán tại các cửa hàng, người làm nghề xe ôm, bán hàng rong…) Họ là những người làm việc thường xuyên tại địa bàn nghiên cứu và có tương tác với môi trường xung quanh nơi họ làm việc
Khách vãng lai: Là những người đi lại trên địa bàn nghiên cứu
“Nhóm quản lý”- kiểm soát: Là những tổ chức, cá nhân trực tiếp tổ chức, phụ trách
công tác vệ sinh môi trường tại địa bàn nghiên cứu như lực lượng kiểm soát xã hội của Chính quyền các cấp, bộ phận quản lý môi trường (Thanh tra xây dựng của Phường 4, Phường 7 Quận 11 và Phường 12 Quận 5)
Đội ngũ làm công tác dịch vụ công ích (nhân viên vệ sinh) tại địa bàn nghiên cứu
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Trong năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị 2009
- Không gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn trước Bệnh viện
Chợ Rẫy đoạn đường Nguyễn Chí Thanh từ đường Thuận Kiều đến đường Lý Nam Đế
Trang 144 Mục tiêu nghiên cứu
- Những yếu tố tác động tới việc sử dụng thùng rác công cộng:
+ Các lý do trực tiếp từ thùng rác công cộng: số lượng, khoảng cách lắp đặt, vệ sinh, kiểu dáng, mẫu mã, kích thước
+ Các hình thức hoạt động của cuộc vận động thực hiện nếp sống văn minh đô thị: Tuyên truyền, vận động, pano…
+ Nhận thức, thái độ, thói quen của người dân về việc sử dụng thùng rác công cộng và dư luận cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu
+ Vai trò của chế tài: hoạt động kiểm tra, giám sát, xử phạt…
5 Ý nghĩa của đề tài
5.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài làm rõ lý thuyết kiểm soát xã hội, đồng thời một bước cụ thể hóa khái niệm kiểm soát xã hội trong lĩnh vực môi trường (ở việc lắp đặt và quản lý việc sử dụng thùng rác công cộng)
Trang 15Đề tài này có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên khi nghiên cứu các môn học như : Xã hội học môi trường, Địa lí môi trường, Phương pháp nghiên cứu khoa học, Phương pháp nghiên cứu xã hội học… cũng như những ai quan tâm đến vấn đề này
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khuyến nghị Phần nội dung đề tài gồm 3
chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận
Chương 2 Thực trạng sử dụng thùng rác công của cư dân Thành phố Hồ Chí Minh trước Bệnh viện Chợ Rẫy
Chương 3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thùng rác công cộng của
cư dân trước Bệnh viện Chợ Rẫy
Trang 16PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Lý thuyết áp dụng
Thực hiện đề tài “Việc sử dụng thùng rác công cộng của cư dân Thành phố Hồ Chí
Minh trong năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị 2009” (Nghiên cứu trường hợp trước
Bệnh viện Chợ Rẫy đoạn đường Nguyễn Chí Thanh từ đường Thuận Kiều đến đường Lý Nam Đế), lý thuyết kiểm soát xã hội là lý thuyết được sử dụng làm cơ sở lý luận xuyên suốt quá
trình tiếp cận và phân tích vấn đề Ngoài ra, nghiên cứu này còn vận dụng một số lý thuyết khác như: lý thuyết về hành động xã hội, lý thuyết về sự lựa chọn hợp lý, lý thuyết lối sống
1.1.1 Lý thuyết kiểm soát xã hội
a Khái niệm
Khái niệm kiểm soát xã hội được các nhà xã hội học đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau
Theo Nguyễn Xuân Nghĩa, “Những phương thức mà một xã hội ngăn ngừa sự lệch lạc
và trừng phạt những người lệch lạc thường được gọi là sự Kiểm soát xã hội (Social
Rodney Stark thì cho rằng: “Mọi nỗ lực mang tính tập thể để nhằm đảm bảo rằng,
từng thành viên trong tập thể là tuân thủ theo những chuẩn mực, đều là những hình thức
Theo Tiến sĩ Vũ Cao Đàm “Kiểm soát xã hội là sự bố trí các chuẩn mực, các giá trị
cùng các chế tài để ép buộc việc thực hiện chúng Sự kiểm soát hành vi của các cá nhân, các
cho rằng “Kiểm soát xã hội là khả năng của một nhóm xã hội, hay của cả xã hội trong việc
Trang 17điều tiết chính mình” Hay “Những phương thức mà một xã hội ngăn ngừa sự lệch lạc và
Phó giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Đình Tấn nêu lên: “Kiểm soát xã hội là quá trình hoạt
động của chủ thể (nhà nước, các tổ chức đoàn thể xã hội, cộng đồng) nhằm đưa ra những thiết chế tổ chức chính thức cũng như những tác động phi chính thức giúp cho việc điều chỉnh các hành vi sai lệch, khuyến khích những hành vi chuẩn mực, góp phần tạo ra trật tự
Theo Từ điển Xã hội học, Black coi “kiểm soát xã hội là “mọi quá trình” mà qua đó
con người định nghĩa hành vi lệch chuẩn và phản ứng theo nó” Clark và Gibb coi: “kiểm soát xã hội là các phản ứng xã hội đối với hành vi được định nghĩa là lệch lạc và cụ thể là vượt quá mức cũng như đã vi phạm chuẩn”…
Như vậy, kiểm soát xã hội mang một số đặc trưng và có các yếu tố cấu thành như sau:
- Kiểm soát xã hội là quá trình xây dựng và sử dụng các thiết chế xã hội, các yếu tố xã hội nhằm tác động vào quá trình điều chỉnh, hướng dẫn hành vi con người theo những chuẩn mực, quy tắc nhất định của xã hội
- Kiểm soát xã hội nhằm duy trì trật tự xã hội, hướng tới sự phát triển bình thường, ổn định của xã hội
- Kiểm soát xã hội gắn chặt với trật tự xã hội, sai lệch xã hội, chuẩn mực xã hội và quá trình xã hội hóa
- Kiểm soát xã hội bao gồm cả những yếu tố tác động chính thức và phi chính thức
b Các hình thức kiểm soát xã hội
Theo các tác giả Nguyễn Minh Hòa và Nguyễn Đình Tấn, kiểm soát xã hội bao gồm kiểm soát ngoại tại và kiểm soát nội tại Trong đó, kiểm soát ngoại tại được chia thành kiểm soát phi chính thức và kiểm soát chính thức:
Kiểm soát xã hội từ ngoại tại:
Cơ chế kiểm soát xã hội từ bên ngoài dùng để bảo vệ trật tự xã hội, khi mà quá trình xã hội hóa không thành công, cá nhân không thể hoặc không muốn nội tâm hóa các giá trị, chuẩn mực và quy tắc xã hội Đối với các cá nhân không sợ hãi sự trừng phạt, không cảm nhận được điều phạm tội, không hề xấu hổ, không tỏ ra ăn năn hối hận…thì phải giữ trật tự xã hội bằng
Trang 18hệ thống kiểm soát từ bên ngoài mới có hiệu quả Đó là sự chế diễu, tẩy chay, khinh khi, dè bỉu và trừng phạt Với áp lực từ bên ngoài, cá nhân phải sự hãi sự trừng phạt hoặc tẩy chay của cộng đồng Kiểm soát xã hội ngoại tại được thể hiện ra ở cơ chế phi chính thức và chính thức
- Kiểm soát phi chính thức:
Là loại kiểm soát xã hội không phải do một thiết chế và tổ chức xã hội có chức năng rõ ràng tiến hành Nó tồn tại trong các nhóm sơ cấp như gia đình, bạn bè, nhóm làm việc hay các nhóm nhỏ khác Các nhóm xã hội sơ cấp thực hiện được việc kiểm soát các thành viên trong nhóm mình vì các nhóm đó giữ một số vai trò khá đặc biệt trong đời sống của cá nhân, chúng chiếm giữ hầu hết các quan hệ xã hội của cá nhân Phạm vi của kiểm soát xã hội không chính thức thường được biểu hiện qua sự chế giễu, xã lánh, ly khai, khinh bỉ,… Hiệu lực của loại kiểm soát này rất lớn, bởi vì sự thừa nhận hoặc ruồng bỏ của các nhóm (gia đình, bạn bè…) có tầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa sống còn đối với mỗi cá nhân Đánh mất sự thừa nhận này,
cá nhân sẽ mất tất cả.
Hình thức kiểm soát xã hội chính thức tồn tại trong một số thiết chế xã hội và một vài cơ quan trọng yếu Các tổ chức đó bao gồm: cơ quan cảnh sát, tòa án, nhà tù, các trung tâm giáo dục thanh thiếu niên hư, trại phục hồi nhân phẩm, trung tâm cai nghiện… hệ thống kiểm soát chính thức bao giờ cũng có các điều luật, các quy tắc thành văn do các tổ chức đảm nhiệm thực thi các điều luật đó bằng các hình phạt theo quy định, ứng với từng loại hành vi sai lệch.
Kiểm soát phi chính thức và chính thức có quan hệ tương hỗ với nhau nhằm duy trì trật
tự xã hội cần thiết
Kiểm soát nội tại (tự kiểm soát):
Nhằm mục tiêu là các hành vi phải được những khuôn mẫu xã hội chấp nhận, tất cả các thành viên trong xã hội sẽ phải hành động sao cho hành động đó được xã hội chấp nhận Để được như vậy, trước hết, các thành viên của xã hội phải suy ngẫm về cái đúng, cái sai, cái thích hợp và không thích hợp của hành vi Khi mọi người đã nội tâm hóa được các quy tắc xã hội thì sẽ đưa đến việc họ biết sợ hãi sự trừng phạt nếu phạm lỗi, hổ thẹn với chính mình khi làm một hành vi không thích hợp và căm ghét những kẻ phạm tội Nếu một khi các thành viên của xã hội tỏ ra không tôn trọng và không hiểu các qui tắc xã hội thì việc kiểm soát xã hội rất khó khăn Các hình thức của kiểm soát xã hội nhằm rèn luyện và điều tiết chỉ có hiệu
quả khi mà cá nhân biết tự nội tâm hóa
Trang 19Lý thuyết này cho thấy, bất kỳ hành vi nào của con người đều chịu sự ảnh hưởng của yếu tố kiểm soát xã hội Sự kiểm soát ấy có thể khuyến khích, động viên sự nỗ lực của cá nhân, nhóm hay cộng đồng trong việc phát huy những hành vi có lợi, phù hợp với những chuẩn tắc chung của cộng đồng, thông qua sự khen thưởng, nêu gương, truyền thông báo chí
và các chính sách xã hội khác… Mặc khác, các yếu kiểm soát của xã hội cũng sẽ tác động đến cá nhân, nhóm hay cộng đồng nhằm giảm thiểu những hành vi tiêu cực, “lệch chuẩn”, ảnh hưởng xấu đến đời sống chung của cộng đồng Điều này được thực hiện thông qua các chế tài, luật định, hay sự chê bai, xa lánh của cộng đồng
Như vậy, trong việc sử dụng thùng rác công cộng bất kỳ hành vi ứng xử không đúng nào cũng sẽ chịu sự kiểm soát xã hội Kiểm soát nội tại trước hết là quá trình tự kiểm soát của mỗi cá nhân Tiếp đó là sự kiểm soát xã hội đối với hành vi xử sự không đúng của mỗi cá nhân, bao gồm dư luận của cộng đồng chung quanh, chế tài của nhà nước thông qua các quy định của pháp luật Cuộc vận động văn minh đô thị, một mặt để phát động phong trào văn minh trong lối sống, bảo vệ môi trường Mặt khác, thể hiện những kỳ vọng của xã hội đối với người dân, nhằm góp tay bảo vệ môi trường chung Đó không chỉ là sự điều tiết, kiểm soát bên ngoài mà còn đánh vào nội tâm bên trong, hướng con người vào những giá trị chuẩn mực, cách ứng xử văn hoá giữa con người với con người trong xã hội
1.1.2 Lý thuyết hành động
Đây là đề tài nghiên cứu về hành động của con người, do vậy, lý thuyết hành động xã
hội có vai trò rất đặc biệt trong nghiên cứu và phân tích vấn đề
Thuyết hành động xã hội cho rằng: “con người là những cá nhân sáng tạo và đổi mới,
nhưng con người do xã hội tạo ra và hành vi con người được thực hiện trong bối cảnh những mối quan hệ xã hội theo khuôn mẫu với những người khác Hành động xã hội không thể tách
Đề tài vận dụng lý thuyết hành động của Max Weber trong việc lý giải những nhân tố thuộc về chủ quan thúc đẩy cá nhân hành động trong những tình huống ứng xử với việc sử dụng thùng rác công cộng Theo ông, con người, bên cạnh việc phản xạ với các kích thích từ môi trường bên ngoài, còn suy nghĩ và lựa chọn những cách ứng xử sao cho có trí tuệ và tuân
7 Phạm Thủy Ba dịch, “Nhập môn xã hội học”, Nxb Khoa học xã hội, trang 39
Trang 20theo tình cảm của mình Có những động cơ sau đây thúc đẩy hành động của cá nhân, mà theo
Max Weber đó là: “phục tùng truyền thống theo thói quen, hành vi hợp lý có xúc cảm được
định hướng tới một giá trị cuối cùng và hành vi hợp lý được định hướng tới mục đích trần tục”
Như vậy, theo Max Weber con người có bốn kiểu hành động xã hội, bao gồm:
Thứ nhất, hành động hợp lý về mục đích, đây là loại hành động có suy nghĩ, cân nhắc
trong việc lựa chọn phương tiện để hướng tới một mục đích đã được hoạch định từ trước
Hai là, hành động hợp lý về giá trị: Chủ thể hành động luôn có sự cân nhắc, để chắc
rằng hành động đó là phù hợp với chuẩn mực của xã hội
Ba là, hành động mang tính truyền thống: Đây là loại hành động xuất phát từ thói
quen, được thực hiện nhiều lần trong cuộc sống
Bốn là, hành động theo tình cảm hay cảm xúc Đây là hành động khó nhận biết vì nó
thường đi kèm với một số kiểu hành động khác Nó thể hiện tính cách đặc thù của mỗi cá nhân và có sự chi phối mạnh mẽ đến hành động của cá nhân đó
Vận dụng lý thuyết hành động của Max Weber vào đề tài này để tìm hiểu những động
cơ hợp lý về mục đích, hợp lý về giá trị, mang tính truyền thống hay theo tình cảm cảm xúc của cư dân trong việc sử dụng thùng rác công cộng tại địa bàn nghiên cứu
1.1.3 Lý thuyết lối sống
Lý thuyết Lối sống cho rằng: mọi hoạt động sống của con người đều bị chi phối bởi
nhiều yếu tố, bao gồm các yếu tố khách quan của môi trường sống và các yếu tố chủ quan của con người đó8 Hành vi ứng xử của cá nhân được xác định trên cơ sở bản thân họ đánh giá
hoạt động sống của mình trong tương quan với điều kiện sống
Hành vi ứng xử của cá nhân trong quá trình sống xuất phát từ những tình huống sống
cụ thể, được quy định bởi những điều kiện sống trực tiếp, ổn định và sự đánh giá chủ quan của cá nhân về ý nghĩa của các điều kiện đó, về sự ảnh hưởng của chúng đối với việc tiếp nhận chất lượng cuộc sống của họ Chính trong quá trình này, tính tích cực hành động và tính mục đích được nâng cao hơn rất nhiều Để đi đến hành động, cá nhân có sự suy xét và sàng lọc những sự tác động bên ngoài, những kỳ vọng của xã hội và đánh giá hoàn cảnh sống của bản thân, lập trường của mình
8PGS, TS Trần Thị Kim Xuyến “Tập bài giảng xã hội học lối sống”.
Trang 21Ứng dụng quan điểm này vào đề tài nghiên cứu, hành vi ứng xử của người dân trước Bệnh viện Chợ Rẫy trong việc sử dụng thùng rác công cộng là một hoạt động sống, một biểu hiện của lối sống cá nhân Các điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị, tư tưởng - văn hóa, nhân khẩu, sinh thái… là những yếu tố khách quan, ảnh hưởng trực tiếp đến lối sống của người dân tại địa bàn nghiên cứu Bên cạnh đó, các yếu tố chủ quan: quan niệm sống, lợi ích – nhu cầu, các định hướng giá trị… quyết định lập trường sống và hành vi của cá nhân
Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn gồm 3 phường: Phường 4, Phường 7 thuộc Quận 11 và Phường 12 thuộc Quận 5, mà các khách thể nghiên cứu ở đây có các điều kiện sống tương đối không đồng đều về các mặt: kinh tế, chính trị - xã hội, đặc điểm nhân khẩu xã hội Hơn nữa, mỗi người dân trong mỗi địa bàn lại là một cá thể độc lập, có quan điểm sống
và lập trường riêng, do vậy hành vi ứng xử của họ với môi trường sống cũng sẽ khác nhau
Vì vậy khi vận dụng lý thuyết này chúng tôi sẽ quan tâm đến những điểm khác biệt về điều kiện sống cũng như những quan niệm chủ quan của các nhóm dân cư tại địa bàn nghiên cứu dẫn đến những ứng xử khác nhau trong việc sử dụng thùng rác công cộng như thế nào
1.1.4 Lý thuyết lựa chọn hợp lí
Lí thuyết hành vi nguyên thủy cho rằng con người bị chi phối bởi những tác động của môi trường, nếu môi trường thay đổi thì ứng xử của con người cũng thay đổi theo Các nhà nghiên cứu hành vi chỉ quan tâm tới những biểu hiện chung nhất của con người chứ không quan tâm đến động cơ của từng cá nhân riêng lẻ Trong khi đó, thuyết lựa chọn hợp lí của nhà tâm lí học người Mĩ, Coleman lại quan tâm đến động cơ của những thay đổi trước sự kích thích khác nhau từ môi trường của con người
Lí thuyết này cho rằng: “khi một cá nhân nhận được một loạt những kích thích từ bên
ngoài thì không phải cá nhân ấy ngay lập tức sẽ phản ứng lại tất cả, mà sẽ tiến hành lựa chọn những kích thích nào phù hợp với bản thân để đáp lại, còn những kích thích nào tỏ ra
Cùng một lúc, con người đón nhận nhiều kích thích khác nhau, tuy nhiên không phải kích thích nào cũng khiến con người hành động Chỉ có những kích thích mang lại hứng thú, mang lại lợi ích, giá trị cho họ, phù hợp với họ thì họ mới hành động Cách thức hành động
9
TS Trần Thị Kim Xuyến (chủ biên), “Nhập môn Xã hội học” Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2002, trang
142
Trang 22cũng khác nhau ở mỗi người vì bản thân mỗi chủ thể hành động đều có những định hướng giá trị, những mục đích khác nhau trong cuộc sống
Ứng xử với rác thải qua việc sử dụng thùng rác công cộng là một dạng hành động có
sự lựa chọn hợp lý của các chủ thể Sự lựa chọn này dựa trên sự phù hợp hoặc lợi ích nào?
1.2 Các khái niệm
1.2.1 Chuẩn mực xã hội
Theo Rodney Stark, “chuẩn mực là những quy tắc hành vi có giá trị phổ biến mà việc
Xuân Nghĩa, “trong quá trình xã hội hóa, nền văn hóa đặt ra, hình thành nên những giá trị,
chuẩn mực là để củng cố các định chế xã hội và đồng thời thiết lập một hệ thống kiểm soát
của hành vi Nó là những đòi hỏi đối với hành vi, là khuôn mẫu của hành vi Không thể có một xã hội trật tự, ổn định, phát triển bình thường mà lại không có sự hiện diện của các chuẩn mực, những chủ thể duy trì và phổ biến các chuẩn mực, cũng như những thành viên trong xã hội tự giác tuân theo chuẩn mực
Chuẩn mực xã hội góp phần tạo nên cấu trúc của hệ thống xã hội và có ý nghĩa như là
sự định hướng hành động, mục tiêu, giá trị, tri thức và xúc cảm Cơ sở của kiểm soát xã hội
là hệ thống chuẩn mực, là việc những hành vi của cá nhân trong xã hội có phù hợp với chuẩn mực hay không
Những chuẩn mực không phải là bất biến mà luôn vận động và biến đổi theo thời gian, đặc biệt là trong những biến đổi có tính chất bước ngoặt “cách mạng” của xã hội Việc thiết chế hóa và thông qua tuyên truyền, giáo dục, cùng với quá trình xã hội hóa, những chuẩn mực sẽ trở thành cái chung cho toàn xã hội Nếu hành vi của cá nhân và nhóm xã hội phù hợp với chuẩn mực xã hội sẽ được các chủ thể điều hành xã hội và cộng đồng chấp nhận, biểu dương, khen thưởng; nếu sai lệch với các chuẩn mực xã hội sẽ bị nhắc nhở, điều chỉnh, phê phán, ngăn chặn, trừng phạt
Trang 23Chuẩn mực được tạo nên từ xã hội và chính nó lại là yếu tố định hướng hành động, mục tiêu, giá trị… của con người nhằm ổn định và phát triển xã hội
Như vậy, chuẩn mực xã hội chính là cơ sở, là chỗ dựa để thực thi hành vi kiểm soát xã hội Đề tài này sẽ cố gắng làm sáng tỏ chuẩn mực - mà cụ thể là những quy tắc hành vi có giá trị phổ biến trong ứng xử với rác thải và việc sử dụng thùng rác công cộng tại địa bàn nghiên cứu này như thế nào? Nó có biến đổi gì không theo thời gian?
1.2.2 Sự sai lệch xã hội
Là khái niệm phản ánh bất kì hành vi nào không phù hợp với sự mong đợi của xã hội hoặc một nhóm xã hội, đi chệch khỏi các quy tắc, chuẩn mực đã được chấp nhận của xã hội
hay nhóm xã hội đó Cũng theo tác giả Nguyễn Xuân Nghĩa, “Lệch lạc (deviance) là lối ứng
xử vi phạm các quy tắc, chuẩn mực của một xã hội hay của một tổ chức xã hội nhất định Nhãn hiệu người lệch lạc được gán cho những ai vi phạm hay chống lại những chuẩn mực được đánh giá cao nhất của xã hội, đặc biệt là những chuẩn mực của nền văn hóa thống trị,
Sai lệch xã hội là một hiện tượng khách quan, tồn tại song hành với chuẩn mực xã hội Bất cứ xã hội nào cũng đều nảy sinh những sai lệch xã hội nhất định Trước hết, sai lệch xã hội thường là những hành vi xuất phát từ động cơ riêng lẻ của cá nhân hay nhóm xã hội nhưng không phù hợp với chuẩn mực chung
Trong nghiên cứu này sẽ xem xét những hành vi không phù hợp với mong đợi và những chuẩn mực của xã hội Những hành vi này xuất phát từ những động cơ nào và đó là những hành vi của các nhóm xã hội nào? Mức độ vi phạm các chuẩn mực ra sao của nó ra sao?
1.2.3 Nhận thức
“Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy,
nhận biết và hiểu biết về thế giới khách quan, quá trình ấy cứ đi từ cảm giác đến tri giác, từ
Trang 24Trong quá trình nhận thức, con người có thể đạt được những trình độ nhận thức khác nhau Trong đề tài này xem xét sự hiểu biết của người dân về về công tác tổ chức, quản lý và
sử dụng thùng rác công cộng, cũng như những hiểu biết của họ về cuộc vận động thực hiện nếp sống văn minh đô thị
1.2.4 Thái độ
Theo Từ điển tiếng Việt, thái độ được hiểu là “cách nghĩ, cách nhìn và cách hành
Hay thái độ là “cái làm cho một ca nhân phản ứng theo một kiểu nhất định khi gặp
một đối tượng hay hoàn cảnh nào đó Thái độ thường không phải là cái mà cá nhân tự mình
Theo Từ điển Xã hội học (G.Endruweit và G.Trommsdorff), thái độ (với nghĩa
“attitude” tiếng Anh) của một cá nhân đối với một đối tượng là một trong những nhân tố chính gắn với cá nhân và quyết định ứng xử của cá nhân đối với đối tượng
Cụ thể, để tìm hiểu về thái độ của người dân đối với việc sử dụng thùng rác công cộng, nghiên cứu khảo sát những định hướng giá trị của các nhóm dân cư khác nhau, đánh giá mức
độ quan tâm của họ đối với các vấn đề về rác thải và sử dụng thùng rác công cộng trong cuộc vận động thực hiện nếp sống văn minh đô thị Đồng thời, nghiên cứu còn quan tâm tìm hiểu những biểu hiện của thái độ từng nhóm dân cư thông qua phản ứng của họ đối với các hành
Trang 251.3 Khung phân tích
1.4 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Đặc điểm của thùng rác công cộng (số lượng, khoảng cách lắp đặt, kích
thước, kiểu dáng, mẫu mã) đã làm hạn chế việc sử dụng thùng rác công cộng của cư tại địa bàn
Giả thuyết 2: Các biện pháp chế tài chưa hợp lý và chưa tác động liên tục đến người
dân là nguyên nhân hạn chế việc sử dụng thùng rác công cộng của cư dân
Giả thuyết 3: Việc bỏ rác đúng nơi quy định chưa trở thành hành vi khuôn mẫu trong
cộng đồng
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp thu thập thông tin
Sử dụng 4 phương pháp thu thập thông tin của xã hội học:
1.5.1.1 Phương pháp phân tích tư liệu sẵn có
Chính thức
Giá trị chuẩn mực trong cộng đồng
Cuộc vận động nếp sống văn minh đô thị 2009
áp phích, hội họp…
Phi chính thức
Không sử dụng
Trang 26Các tư liệu sẵn có được sử dụng trong đề tài này bao gồm: Văn bản, báo cáo: Nghị quyết về lãnh đạo thực hiện “năm 2008 – năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị”, Nghị quyết về lãnh đạo thực hiện “năm 2009 – năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị”, Báo cáo kết quả thực hiện “năm 2008 – năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị, Phường 4 năm 2008”, Báo cáo kết quả thực hiện “năm 2009 – năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị, Phường 4 năm 2009”…; Các số liệu thống kê, các đề tài nghiên cứu đi trước… Thông qua
đó sẽ thấy được thông tin khái quát về tình hình khu vực, một số chủ trương chính sách của chính quyền và một số phân tích, đánh giá về đề tài này Từ đó đi sâu vào phân tích nguyên nhân của thực này trong cuộc vận động thực hiện nếp sống văn minh đô thị tại Thành phố Hồ
Chí Minh – 2009
1.5.1.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Sử dụng 150 bảng hỏi để thu thập thông tin của người dân (tạm trú, thường trú, dân buôn bán, khách vãng lai) Các câu hỏi sẽ xoay quanh vấn đề sử dụng thùng rác công cộng của dân cư tại địa bàn nghiên cứu và công tác quản lý của chính quyền các cấp, hoạt động quản lý của chính quyền địa phương về việc lắp đặt thùng rác công cộng (số lượng, chất lượng, cách bố trí), những nhận định, ý kiến của người dân sống tại phường và những khách vãng lai về vấn đề nêu trên
Dân cư sinh sống:
Trang 27đến khoảng 20h00 thì các hoạt động mua bán đã giảm nhiều Liên tục trong 4 ngày: Thứ 6, thứ 7, chủ nhật, thứ 2 Mỗi ngày chia thành 3 ca để quan sát liên tục:
+ Ca 1 từ 6h00’ – 9h30’: Là thời gian bệnh nhân bắt đầu đến khám bệnh, xe cộ lưu
thông mỗi lúc càng nhiều trên đường này Các quán xá đối diện bệnh viện bắt đầu mở cửa,
họ bày bàn ghế và các vật dụng phục vụ cho việc buôn bán Những hiệu thuốc đối diện bệnh viện bắt đầu mở cửa, những hoạt động phục vụ bữa sáng đã sẵn sàng Các chú xe ôm cũng đã làm việc
+ Ca 2 từ 10h00’ – 12h30’: Các hoạt động thăm khám bệnh tấp nập hơn, đây là giờ
cao điểm của việc lưa thông xe cộ trên đường phố, sự can thiệp của những người làm công tác trật tự đường phố
+ Ca 3 từ 16h30’ – 20h00’: Đây là thời gian các tiểu thương hoạt động tấp nập nhất,
sự chèo kéo khách của những bác xe ôm, các hiệu thuốc cũng ra sức mời chào khách, cùng với đó là các hoạt động phục vụ cho bữa tối, xe của khách lẫn của các bác xe ôm bày la liệt trên lề đường, lẫn cả vào phần dành cho người đi bộ
Ở đây quan sát viên quan sát việc sử dụng thùng rác công cộng của dân cư sinh sống
và mua bán; về chất lượng (kiểu dáng, mẫu mã), số lượng, cách bố trí; hành vi xả rác của người dân, của khách vãng lai; việc thu gom rác của nhân viên dọn vệ sinh môi trường và quan sát công tác kiểm tra, xử phạt của ban quản lý phường, của thanh tra môi trường Trong quá trình quan sát Quan sát viên ghi chép đầy đủ những thông tin về thời gian hoạt động mua bán diễn ra mạnh nhất tại khu vực; nhóm đối tượng nào xả rác nhiều nhất; ban quản lý vệ sinh môi trường có những biện pháp xử phạt như thế nào đối với những hành vi vi phạm về môi trường; số lần quét dọn, thu gom rác của nhân viên vệ sinh môi trường; số thùng rác đặt tại khu vực
cư dân, nhân viên vệ sinh môi trường, cấp quản lý trong việc giải quyết vấn đề thùng rác công cộng và thực hiện nếp sống văn minh đô thị
Trang 281.5.2 Phương pháp xử lý thông tin
Phương pháp xử lý thông tin định tính: Từ những thông tin thu thập được từ các
cuộc PVS chúng ta tiến hành mã hóa thông tin và phân tích để thấy rõ thực trạng của việc sử dụng thùng rác công cộng của cư dân và hoạt động quản lý của các cấp chính quyền về vấn
đề sử dụng thùng rác công cộng tại địa bàn nghiên cứu
Phương pháp xử lý thông tin định lượng: Thông tin thu thập được từ bảng hỏi sẽ
được xử lý bằng phần mềm SPSS, từ đó sẽ có những số liệu cụ thể, chi tiết về thực trạng sử dụng thùng rác công cộng, mối quan hệ của dân cư ở địa bàn nghiên cứu với các cấp chính quyền về vấn đề sử dụng và quản lý thùng rác công cộng Kết quả thu thập sẽ được khái quát
và phân tích để làm rõ tình hình sử dụng thùng rác công cộng của người dân trước Bệnh viện Chợ Rẫy
lượng mẫu
Nhóm dân cư sinh sống - 3 dân cư sinh sống (nữ, 30 tuổi trở lên)
- Thời gian sinh sống 03 tháng trở lên 3
Nhóm dân cư kinh
doanh
- 2 hàng rong (2 nữ): thường xuyên buôn bán trước Bệnh viện Chợ Rẫy: 3 ngày trở lên trong 1 tuần, 18 tuổi trở lên
- 2 xe ôm (2 nam): chạy 5lần/tuần
4
Nhóm quản lý
- 2 Tổ trưởng dân phố (1 nam,1 nữ)
- 1 Quản lý khu phố: có 6 tháng làm việc tại địa bàn
- 1 Thanh tra xây dựng: có 6 tháng làm việc tại địa bàn
- 1 Công nhân vệ sinh (lấy rác): làm việc 6 tháng
5
Tổng 12 mẫu
Trang 29CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THÙNG RÁC CÔNG CỘNG CỦA CƯ DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỚC BỆNH VIỆN CHỢ RẪY
2.1 Mô tả địa bàn nghiên cứu
Quận 11 nằm ở phía Tây Nam Thành phố Hồ Chí Minh và giáp với các Quận 5, Quận
6, Quận 10, Quận Tân Bình và Quận Tân Phú Quận 11 có diện tích 5.14 km2 với dân số 228.074 người
Bản đồ 1: Bản đồ Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh
Nguồn: www.diaoconline.vn/web/tintuc/bandothanhpho
Phường 4 và Phường 7, Quận 11 là những Phường có mật độ dân cư đông đúc (Phường 4 với diện tích 0,17 km2, dân số 11.563 người và diện tích Phường 7 là 0,16 km2, dân số 13.608 người) Đây là địa bàn có nhiều người Hoa sinh sống, riêng Phường 4 đã có tới 67% người Hoa16 Ở đây họ chủ yếu sống bằng nghề buôn bán, làm thuê, kinh doanh nhỏ, làm mướn, một bộ phận dân cư chưa thực sự quan tâm đến tình hình chung của xã hội mà chỉ
lo đến việc mưu sinh hằng ngày Trong năm 2009 - năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị, ban chỉ đạo hai Phường đã có những chỉ đạo đến các ban ngành đoàn thể, ban điều hành các
16
Nguồn: Ủy ban Nhân dân Phường 4, Quận 11
Trang 30khu phố, ban vận động triển khai sâu rộng trong nhân dân để hiểu rõ mục đích và ý nghĩa của cuộc vận động
Quận 5 nằm ở phía trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh và giáp với các Quận 11, Quận
10, Quận 4, Quận 8 và Quận 6 Quận 5 có diện tích 4,27 km2 với số dân 209.639 người
Bản đồ 2: Bản đồ Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh
Phường 12, Quận 5 có diện tích 0,37 km2 với dân số là 6.853 người Tại bàn này trong năm 2009 - năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị, ban chỉ đạo Phường cũng đã chỉ đạo đến các ban ngành đoàn thể, ban điều hành các khu phố để triển khai sâu rộng trong nhân dân Tuy nhiên, khu vực Bệnh viện Chợ Rẫy tình hình rác thải vẫn chưa được quan tâm đúng
mức
Địa bàn mà chúng tôi nghiên cứu trước Bệnh viện Chợ Rẫy đường Nguyễn Chí Thanh
đoạn từ đường Thuận Kiều tới đường Lý Nam Đế Đây là khu vực luôn tập trung qua lại
Hầu hết các hộ dân tại địa bàn này đều thuộc hộ kinh doanh buôn bán: như bán thuốc, các quán ăn, các hàng tạp hóa Theo báo cáo ngày 09/3/2010 Ủy ban Nhân dân Quận 11 trong hội nghị tổng kết “Năm 2009 – Năm thực hiện Nếp sống văn minh đô thị” cũng đã nêu lên:
“đây là một điểm nóng của thành phố về lượng người và rác thải”
Trang 312.2 Mô tả mẫu nghiên cứu
Trong phạm vi, thời gian, tính chất và qui mô của đề tài chúng tôi đã tiến hành thu thập thông tin ở các nhóm dân cư khác nhau (bao gồm: Dân cư thường trú, tạm trú, kinh doanh cố định, di động và khách vãng lai) dựa trên danh sách mẫu ngẫu nhiên, thuận tiện Tổng cố 150 bảng hỏi được tiến hành thu thập thông tin dành cho 5 nhóm đối tượng chính : Dân cư thường trú (30 bảng hỏi); dân cư tạm trú (30 bảng hỏi); dân cư kinh doanh cố định (30 bảng hỏi); dân cư kinh doanh di động (30 bảng hỏi); khách vãng lai (30 bảng hỏi) Dưới đây là một vài nét mô tả về mẫu nghiên cứu của đề tài:
Về độ tuổi: Với tổng số 150 người được phỏng vấn, người trả lời thuộc độ tuổi
từ 18 – 28 tuổi (24.0%), từ 29 – 39 tuổi (23.3%), từ 40 – 50 tuổi (28.0), từ 51 – 61 tuổi (17.3%) và ở 2 nhóm tuổi còn lại chiếm 4.7 % và 2.7%
Trang 32 Về thành phần dân tộc: Tổng số 150 người trả lời thuộc 5 nhóm đối tượng, thì
dân tộc Hoa chiếm đa số với 70.0%, dân tộc Kinh là 26.7% và dân tộc khác chiếm 3.3%
Biểu đồ 1: Thành phần dân tộc
Nguồn: Xử lý SPSS
Về nghề nghiệp: Trong phần khảo sát cộng đồng, chúng tôi đã tiến hành thu
thập thông tin ở các nhóm lao động khác nhau Theo tên các loại nghề nghiệp, chúng tôi tạm chia làm ba nhóm chính, đó là nhóm Cán bộ - Viên chức (11.3%), Buôn bán – Dịch vụ (37.3%), Lao động tự do (17.3%) Ngoài ra, trong mẫu khảo sát còn có những người là Học sinh – Sinh viên (6.0%), Công nhân (6.7%), Nội trợ - Hưu trí – Thất nghiệp (10.7%)
Trang 33Bảng 3: Các nhóm nghề của dân cư trong cộng đồng phân theo giới tính
Rác ở đây xuất hiện từ các hoạt động sinh hoạt, mua bán, ăn uống… của cư dân sinh sống tại địa bàn, khách vãng lai, xe ôm, gánh hàng rong… Về mặt cơ cấu rác ở đoạn đường này rất đa dạng, có thể phân thành rác vô cơ và rác hữu cơ Và nguồn gốc phát sinh rác bắt nguồn từ rất nhiều yếu tố, nhưng chủ yếu là do đoạn đường này lượng người rất đông
Lượng người ở đoạn đường này đông bao gồm người bán hàng, người mua hàng, người đi thăm nuôi bệnh nhân, khách vãng lai, cư dân sinh sống tại địa bàn… Ở đoạn đường này lượng người ra vào bệnh viện Chợ Rẫy so với trước đây hiện nay tăng lên gấp nhiều lần
Trang 34Theo tổ trưởng tổ dân phố cho thấy “…bởi vì lượng người nó tăng, tại vì trước đây bệnh
viện Chợ Rẫy chỉ có một làn đường, lượng người khám bệnh, lưu lượng đi vào khám bệnh trước đây chưa được một ngàn lượt người, thì bây giờ gần năm ngàn lượt người thì đương nhiên nó phải tăng” (Trích BBGB PVS Tổ trưởng tổ dân số, mã TTTDP1, trang 12)
Theo báo cáo quan sát cho thấy đoạn đường Nguyễn Chí Thanh (từ đoạn đường Lý
Nam Đế đến đường Thuận Kiều) người đi lại, mua bán rất nhiều “…lượng người tập trung ở
đây rất đông” và “… hoạt động mua bán diễn ra nhộn nhịp do các hàng quán buôn bán đủ
bán diễn ra như xe bán đồ ăn, nước uống, gánh hàng rong bán trái cây, xe đẩy bán bánh mì…ở đây rác của hoạt động buôn bán của người dân xả ra rất nhiều …” (Trích BCQS
ngày 12/12/2009, ca 1) Trong biên bản phỏng vấn sâu cũng đã cho thấy “…mấy cái xe mà
bán hàng ăn,…bán trái cây hay cơm hộp gì đó thì họ ăn xong họ cũng thảy ra đó, ai quét thì quét…” (Trích BBGB PVS Dân cư sinh sống, mã ND1, trang 3) Các hoạt động này diễn ra
liên tục và nhiều đã làm cho lượng rác thải ở khu vực này tăng lên mặc dù có đội vệ sinh công cộng đi thu gom rác hàng ngày
Bên cạnh đó, khách vãng lai ở đoạn đường này cũng rất đông “…khách vãng lai ở
đây chủ yếu là người nhà đi thăm bệnh nhân trong Bệnh viện Chợ Rẫy, ngồi trước cổng Bệnh viện nhiều…” (Trích BCQS ngày 12/12/2009, ca 2) Do lượng khách vãng lai xuất hiện
ở đoạn đường này đông và thực hiện một số hành động như hút thuốc, mua hàng ăn, nước
uống rất đông và kèm sau đó là hành vi xả rác bừa bãi Báo cáo quan sát đã cho thấy “Khách
vãng lai…họ hút thuốc và xả đầu lọc xuống ngay chỗ họ ngồi…” (Trích BCQS, ngày
12/12/2009, ca 2) Những người đi đường, đi xe buýt có khi họ vừa đi vừa ăn, vừa uống
nước, khi ăn xong họ tiện tay bỏ rác xuống đường Phỏng vấn sâu đối tượng xe ôm cũng nói
“… tiện tay của người đi đường hay ngồi trên xe buýt, người ta đi dọc đường người ta vứt”
(Trích BBGB PVS Xe ôm, mã XO1, trang 4)
Về cơ cấu rác bao gồm rác vô cơ và rác hữu cơ Trong đó rác vô cơ là những loại rác khó phân huỷ trong môi trường sống như bịch ni lông, giấy ăn, ống hút nước, đầu lọc thuốc lá… Chính vì tính chất khó phân huỷ của loại rác này đã làm cho nguy cơ ô nhiễm môi trường càng trầm trọng Các loại rác này chủ yếu do hoạt động buôn bán và người mua hàng
xả ra Báo cáo quan sát cho thấy “… ở đây rác của hoạt động buôn bán của người dân xả ra
rất nhiều, chủ yếu là giấy ăn,…, ống hút nước, đầu lọc thuốc lá…” hay “Người dân mua
Trang 35hàng và người bán hàng rong khi sử dụng bao ni lông xong xả ngay xuống đường…” (Trích
BCQS ngày 14/12/2009, ca 3)
Rác hữu cơ trên đoạn đường này cũng rất đa dạng, bao gồm các đồ uống, thức ăn thừa Loại rác này dễ phân hủy trong môi trường sống nhưng nó lại là loại rác gây mùi hôi,
thối nhiều ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân Trong báo cáo quan sát cho thấy “… đồ
ăn thừa của khách từ xe đẩy bán bánh ướt, bán phở họ để đồ ăn vào một cái rá đặt ngay hố
ga để lấy cái và đổ nước đi mất vệ sinh, mùi hôi khó chịu” (Trích BCQS ngày 12/12/2009,
ca 1)
Rác ở đây xuất hiện nhiều ở các gốc cây, lòng lề đường Trong báo cáo quan sát cho
thấy “Rác của những người bán ở đây liên tục được quét hất xuống lề đường” hay trong báo này cũng cho rằng “… họ thường bỏ rác vào bịch bóng để dưới gốc cây gần chổ mình bán
hàng, nhưng có nhiều người bán họ họ chỉ quét rác xuống lề đường” (Trích BCQS ngày
cố định, kinh doanh di động, khách vãng lai Mỗi đối tượng có những đặc điểm và mức độ
bỏ rác vào thùng rác công cộng khác nhau Trong đó nhóm đối tượng kinh doanh cố định sử dụng thùng rác công cộng nhiều nhất (36.2%), ngược lại nhóm tạm trú sử dụng thùng rác công cộng ít nhất (4%)
Bảng 4: Đối tượng sử dụng thùng rác công cộng nhiều nhất
Đối tượng sử dụng thùng rác công cộng nhiều nhất
Trang 36Nguồn: Xử lý SPSS
Từ bảng số liệu trên chúng ta có thể lý giải: những người kinh doanh cố định như buôn bán thuốc tây, quán ăn, quầy tạp hóa… trên đoạn đường này là đối tượng sử dụng thùng rác công cộng nhiều nhất Bởi vì họ có ý thức giữ gìn môi trường sống của họ hơn
Trong biên bản phỏng vấn sâu cho thấy: “… hộ sản xuất kinh doanh ấy, thì họ ý thức được
tốt hơn so với người dân Bởi vì ở đó là môi trường của họ, họ là dân buôn bán nên đòi hỏi phải có sạch thì họ bỏ vào thùng rác” (Trích BBGB PVS Tổ trưởng tổ dân phố, mã
TTTDP2, trang 7)
Bên cạnh đó, những người thường trú thường gắn bó cuộc sống của mình mật thiết với nơi cư trú, quen với môi trường sống ở đây và lối sống ứng xử của họ đối với môi trường cũng đã được hình thành và ổn định Do đó phần lớn họ có ý thức trong việc bỏ rác đúng nơi
quy định hơn các nhóm dân cư khác, theo người dân sinh sống ở đây họ nói “… người dân
thường trú ở đây thì người ta biết chỗ nào nên làm, tức là nên bỏ rác chỗ nào cho đúng nơi quy định…” (Trích BBGB PVS Dân cư sinh sống, mã ND3, trang 14)
Ngược lại, những người tạm trú vì họ là những người sống tại địa phương trong một khoảng thời gian không dài lắm, có người tạm trú một năm đến hai năm, có người năm tháng đến sáu tháng… nên việc giữ gìn vệ sinh môi trường, bỏ rác đúng nơi quy định không quan trọng vì vậy mà họ sử dụng thùng rác công cộng ít nhất
Còn nhóm kinh doanh di động, họ là những đối tượng buôn bán hàng lưu động, hôm nay làm việc chỗ này nhưng ngày mai có thể làm việc chỗ khác Chính vì tính chất đó mà khi
di chuyển địa điểm bán hàng có nhiều người họ không quét dọn thu gom rác bỏ vào thùng
mà họ đi nơi khác để lại chỗ bán hàng cũ với lượng rác thải không nhỏ như vỏ bánh, ống hút, nước đá lạnh, bịch nilon…Có lẽ, vì đặc trưng trên mà họ ít khi sử dụng thùng rác công cộng
Điều này được thể hiện trong báo cáo quan sát “Người bán hàng thì bỏ rác vào cái bọc
Trang 37nhưng để ở gốc cây nhưng khi chuyển đi nơi khác thì lại không mang đi mà vẫn để nguyên ở đấy, những người bán đồ ăn (bún, phở,…) thì mới bỏ rác vào một nơi cố định nhưng vẫn đổ
ra nơi gốc cây, hố ga rất mất vệ sinh Còn một số người bán nước thì lại xả ống hút, bình nhựa, đổ nước đá sau khi khách uống xong ra đường” (Trích BCQS ngày 14/12/2009, ca 1)
Như vậy, những người kinh doanh di động có tính di động khá cao, tính ẩn danh tương đối rõ và đây là nhóm ít chịu sự quản lý của địa phương Địa điểm cư trú của nhóm đối tượng này thường ở bên ngoài địa bàn Do đó việc vận động họ bỏ rác vào thùng là một vấn đề rất khó thực hiện
Nhóm đối tượng khách vãng lai, họ cũng là nhóm đối tượng mang tính ẩn danh nhưng
ở mức cao hơn và ít chịu sự kiểm soát của cộng đồng và Chính quyền địa phương Cái đặc
tính “thoáng qua” và “không ai biết” của nhóm đối tượng này đã cho phép họ thực hiện
những hành vi lệch chuẩn một cách công khai, tự nhiên mà không cần suy nghĩ nhiều về hành vi của mình Vì thế khi đi qua đoạn đường này họ cứ xả rác xuống đường một cách tự
nhiên, họ ít khi cầm rác bỏ vào thùng “… khách vãng lai họ ở tỉnh khác lên, người ta không
ý thức được như người thành phố mình Nhiều khi thuận tay người ta bỏ, thấy có rác là
người ta bỏ thôi” (Trích BBGB PVS Quản lý khu phố, mã QLKP, trang 12) Và khi phỏng
vấn người dân sinh sống tại địa bàn thì thấy “… mấy người mà vãng lai đó, những người mà
đi thăm nuôi người dân trong bệnh viện nè, người ta mua thức ăn, nước uống đó…” (Trích
BBGB PVS Dân cư sinh sống, mã ND3, trang 4) Báo cáo quan sát cũng cho thấy đối tượng này rất ít khi sử dụng thùng rác công cộng
Từ những kết quả trên, chúng ta thấy người dân kinh doanh cố định sử dụng thùng rác công cộng nhiều nhất, người dân tạm trú sử dụng thùng rác công cộng ít nhất Sở dĩ có tình trạng này là vì tính chất, đặc trưng của các loại hình kinh doanh, buôn bán và cư trú của mỗi đối tượng
2.3.3 Cách thức bỏ rác
Một thực tế là người dân sinh sống, buôn bán và đi lại trên đoạn đường này họ có những cách thức bỏ rác khác nhau, có người thì bỏ rác trong thùng, có người bỏ rác ngoài thùng, có người bỏ ở gốc cây, hố ga, có người thì bỏ ở dưới lòng lề đường… do đó cách thức
bỏ rác của người dân ở địa bàn này rất đa dạng
Từ kết quả điều tra khi so sánh mức độ tham gia vào việc bỏ rác đúng nơi quy định giữa các nhóm đối tượng với nhau thì kết quả cho thấy: trong tổng số 30 ý kiến được hỏi
Trang 38thuộc từng nhóm đối tượng, trong đó nhóm dân thường trú và dân kinh doanh cố định trả lời
là rất thường xuyên với con số tương ứng là 76.7% và 53.3% Trong khi đó nhóm dân cư khách vãng lai và tạm trú bỏ rác ở mức độ này chỉ chiếm 33.3% và 36.7%
Theo kết quả trên thì nhóm đối tượng khách vãng lai xả rác bừa bãi nhiều nhất Một
thực tế là người dân hút thuốc, ăn uống xong phần lớn họ xả rác ngay tại chỗ “… họ hút
thuốc và xả đầu lọc sau khi họ hút thuốc xong xuống ngay dưới chân họ ngồi hoặc họ đứng”
(Trích BCQS, ngày 11/12/2009, ca 3), bỏ rác ở các gốc cây… “Người dân ăn uống (chủ yếu
là khách vãng lai) họ ăn uống xong là xả rác ngay tại nơi mình ngồi, cũng có một số người
họ bỏ rác ở gốc cây nơi có đống rác được dồn ở đấy, trên vỉa hè lúc này rất nhiều rác…”
(Trích BCQS, ngày 11/12/2009, ca 2)
Đặc biệt, ở các gốc cây rác rất nhiều “… thường thì mấy chỗ mà gốc cây rồi này đó,
họ hay bỏ ở dưới gốc cây nhiều hơn” (Trích BBGB PVS Quản lý khu phố, mã QLKP1, trang
5) Như vậy, điều này cho thấy thực trạng rác ở gốc cây nhiều phải chăng là do thùng rác công cộng không đủ để người dân bỏ rác Nhưng thực tế sau khi đi quan sát thì thấy các thùng rác ở đoạn đường này ít khi đầy, thậm chí có những thùng rác không hề có rác, trong khi đó ở xung quanh chân thùng rác thì rất nhiều, rác vung vãi xung quanh gốc cây cũng rất
nhiều Báo cáo quan sát cho thấy “… khi quan sát kỹ mới thấy được các thùng rác ở đây
không đầy nhưng vẫn có rất nhiều rác ở bên cạnh thùng rác công cộng…” (Trích BCQS
ngày 13/12/2009, ca 2)
Một hiện tượng xảy ra liên tục trong 4 ngày quan sát liên tục (từ ngày 11/12/2009 đến ngày 15/12/2009), đó là hành vi tín ngưỡng thắp nhang trước cửa nhà, của hàng, quán ăn uống… của người dân rất nhiều Những chùm que nhang đã cháy hết nằm yên dưới các gốc cây từ ngày này qua ngày khác không ai nhặt bỏ vào thùng rác, kể cả nhân viên vệ sinh khi
đi thu gom rác họ cũng không làm việc đó Báo cáo quan sát cho thấy rất rõ vấn đề này
“Thấy hầu hết các hộ gia đình ở đoạn đường này đều thắp nhang cúng vái và cắm ở các gốc cây, khi nhang cháy hết thì thấy chân nhang đầy nơi các gốc cây, nhìn rất mất mỹ quan”
(Trích BCQS ngày 11/12/2009, ca 3)
Đồng thời, vấn đề này trong biên bản phỏng vấn sâu cũng cho thấy: “… ăn xong
người ta bỏ vào thùng rác cũng có, những người quẳng đại cũng có, những khách ăn xong người ta bỏ vào cái túi đi đường người ta tiện tay người ta ném cũng có” (Trích BBGB PVS
Xe ôm, XO1, trang 3)
Trang 39Một số người dân buôn bán di động ở trên vỉa hè, họ quét rác hất thẳng xuống lòng lề đường rất nhiều chứ không gom lại bỏ vào thùng rác, họ xem đó là việc làm bình thường, họ cho rằng việc thu gom, bỏ rác vào thùng là của nhân viên vệ sinh chứ không phải là việc họ phải làm Phải chăng đây là do ý thức của họ thấp và thói quen từ xưa đến nay của họ hay là
do chế tài của nước ta chưa đủ mạnh trong vấn đề bảo vệ môi trường Theo báo cáo quan sát
chúng ta thấy “…Nhưng có nhiều người bán họ chỉ quét xuống lề đường chứ không gom
thành đống” hay “… nước và rác được người bán quét và đổ xuống lề đường…” (Trích
BCQS ngày 11/12/2009, ca 3)
Tuy nhiên, theo kết quả quan sát thì vẫn thấy có nhiều người dân thường trú và người
dân kinh doanh cố định không bỏ rác vào thùng mà bỏ ở cạnh thùng rác “Vẫn thấy người
dân sinh sống và buôn bán tại đây bỏ rác bên cạnh thùng rác công cộng rất nhiều…có khi hoàn toàn không thấy rác bên trong nhưng bên ngoài cạnh thùng rác thì lại có rất nhiều rác thải ở đó” (Trích BCQS ngày 13/12/2009, ca 2) Trong khi đó, thì tỉ lệ bảng hỏi lại cho kết
quả khác hơn vì đó là sự tự nhận định về mình của cư dân Thông tin tự đánh giá về mình của các nhóm cư dân này còn có khoảng cách so với thực tế quan sát được
Tóm lại, mỗi nhóm đối tượng có mức độ xả rác không đúng nơi quy định khác nhau Nhóm đối tượng bỏ rác ở các gốc cây nhiều là nhóm khách vãng lai, người dân buôn bán và
bỏ rác xuống lòng lề đường nhiều nhất là người dân buôn bán di động Bên cạnh đó, bỏ rác ở bên cạnh thùng rác nhiều nhất là nhóm thường trú và người dân buôn bán cố định
2.4 Nhận thức, thái độ, thói quen của người dân về việc sử dụng thùng rác công
Thực tế cho thấy tại địa bàn nghiên cứu là thực trạng rác thải ở đây vẫn còn tồn tại rất nhiều Như trên đã trình bày, hiện tượng bỏ rác không đúng nơi quy định vẫn còn tồn tại khá
Trang 40phổ biến như trên đã trình bày Vậy những yếu tố nào dẫn đến thực trạng trên? Khi được hỏi
về sự hiểu biết của mình trong công tác tổ chức, quản lý với câu hỏi “Theo ông/bà trách
nhiệm lớn nhất của việc quản lý thùng rác công cộng thuộc về ai?” thì có tới 54 người trong
tổng số 150 người được hỏi thì cho rằng trách nhiệm lớn nhất thuộc về Công ty vệ sinh môi trường đô thị chiếm 36% và có 52 ý kiến trả lời (chiếm 34.7%) trách nhiệm lớn nhất thuộc
về Chính quyền Ngược lại, chỉ có 18 người (chiếm 12%) cho rằng trách nhiệm đó thuộc về người dân
Bảng 5: Trách nhiệm lớn nhất của việc quản lý thùng rác công cộng
Trách nhiệm lớn nhất của việc quản lý thùng rác công
Vậy, nhận thức của họ về sử dụng thùng rác công cộng thì sao? Nghe người dân tâm
sự và kể về những hiện tượng thường xảy ra tại địa bàn ta có thể hiểu rõ hơn về vấn đề này:
“… xe đổ rác đến lấy, người dân họ cũng có ý thức về cái lợi trước mắt của họ, họ đỡ tốn tiền, cả vấn đề gom thì cả người mà buôn bán ở đó họ cũng bỏ ra đường đấy cho nhân viên
họ thu gom được, ví dụ như dân ở gần bệnh biện Chợ Rẫy ấy, họ cứ ăn xong là họ đổ cái rẹt…” (Trích BBGB PVS tổ trưởng tổ dân phố, mã TTTDP2, trang 6), bởi vì người dân chỉ
quan tâm tới vấn đề lợi íchkinh tế, họ chỉ vì cái lợi trước mắt của mình mà thôi
Nhóm những người lái xe ôm cũng cho biết “Những người không có ý thức thì người
ta…vì tâm lý người Việt mình, những người dân quê người ta lên thì người ta ném đại đó, tiện tay người ta bỏ” (Trích BBGB PVS Xe ôm, mã XO1, trang 3) Theo kết quả khảo sát