1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh đồng nai trong giai đoạn hiện nay

94 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 911,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết Số 88/NQ-CP ngày 24 tháng 08 năm 2011 Về tăng cường thực hiện các giải pháp trọng tâm bảo đảm TTATG

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

DƯƠNG MẠNH HƯNG

GIÁO DỤC í THỨC CHẤP HÀNH LUẬT GIAO THễNG

ĐƯỜNG BỘ TRấN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Vinh , 2016

Trang 2

Bộ giáo dục và đào tạo TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

DƯƠNG MẠNH HƯNG

GIÁO DỤC í THỨC CHẤP HÀNH LUẬT GIAO THễNG

ĐƯỜNG BỘ TRấN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

Chuyên ngành: chính trị học Mã số: 60.31.02.01

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS nguyễn thái sơn

Nghệ an, 2016

Trang 4

Đồng Nai, tháng 3 năm 2016

Tác giả

Dương Mạnh Hưng

A MỞ ĐẦU

Trang 5

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giao thông là lĩnh vực hết sức phức tạp, hàng năm số vụ tai nạn giao thông xảy ra trên địa bàn cả nước rất lớn, gây ra những tổn thất nghiêm trọng cả về người

và tài sản, vật chất Có nhiều nguyên nhân dẫn đến các tai nạn giao thông Tuy nhiên, theo điều tra khảo sát, quan sát thực tế, một trong những nguyên nhân cơ bản, chủ yếu là do ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông chưa cao Có nhiều trường hợp cố ý vi phạm luật, từ đó dẫn đến những hậu quả đáng tiếc Vấn đề giảm thiểu số tai nạn giao thông, đặc biệt là những vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng đang được đặt ra một cách cấp bách trong giai đoạn hiện nay Muốn làm được điều đó, trước hết chúng ta cần tích cực giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ cho mọi đối tượng tham gia giao thông Nâng cao chất lượng của công tác này trên mọi phương diện là một trong những yêu cầu, mục tiêu quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi địa phương, vùng miền

Là một tỉnh có vị trí quan trọng ở khu vực miền đông Nam Bộ, liền kề với thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay Đồng Nai đang có sự phát triển nhanh chóng, vượt bậc trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, giao thông vận tải Khối lượng hàng hóa vận chuyển hàng năm trên địa bàn tỉnh rất lớn, mật độ phương tiện lưu thông dày đặc, nhất là ở khu vực thành phố, đô thị, khu đông dân cư Lưu lượng người, phương tiện giao thông, nhất là giao thông đường bộ ở Đồng Nai tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây Điều đó đòi hỏi công tác giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ, nhất là giao thông đường bộ cần phải được nâng lên một cách tương xứng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và giảm thiểu tai nạn giao thông, hạn chế đến mức thấp nhất những mất mát đáng tiếc xẩy ra

Công tác giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ bao gồm nhiều khâu, nhiều giai đoạn, đòi hỏi sự tham gia của nhiều thành phần, đối tượng xã hội khác nhau Thực tế chứng minh rằng tỉnh nào, địa phương nào làm tốt công tác này thì ở đó số lượng các vụ tai nạn giao thông có chiều hướng giảm xuống, an toàn, trật

Trang 6

tự giao thông được nâng cao, chất lượng giao thông đảm bảo thông suốt hơn Qua

đó, nhằm nâng cao nhận thức, tình cảm, niềm tin pháp luật, ý thức tôn trọng luật giao thông đường bộ

Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, tình trạng người tham gia giao thông vi phạm Luật giao thông đường bộ còn nhiều, hiện tượng đua xe, đánh võng, lạng lách, kéo đẩy xe, đi dàn hàng ngang, vượt và rẽ trái quy định… đã trở thành thói quen phổ biến Bên cạnh đó, còn xuất hiện một số học sinh đi xe gắn máy khi chưa

đủ tuổi pháp luật quy định, không đội mũ bảo hiểm, chở quá số người quy định, uống rượu bia khi tham gia giao thông Nhiều người không chỉ vi phạm Luật giao thông đường bộ do thiếu hiểu biết và thiếu ý thức tham gia giao thông mà có thái độ

cố tình vi phạm, tỏ ra coi thường pháp luật, chống đối người thi hành công vụ khi vi phạm luật, hoặc bỏ chạy gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông khác, đây thực sự là mối lo ngại đáng báo động đối với người làm công tác quản lý nói chung

và cán bộ thanh tra giao thông trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói riêng

Trong những năm qua, công tác giáo dục TTATGT đã được coi trọng, tuy nhiên, công tác giáo dục và tuyên truyền về thực hiện TTATGT vẫn chưa đạt hiệu quả cao, tình trạng người tham gia giao thông vi phạm Luật giao thông đường

bộ vẫn còn nhiều, ý thức tham gia giao thông kém Để khắc phục tình trạng nêu trên, đảm bảo an toàn cho mọi người khi tham gia giao thông, sự cần thiết phải nâng cao ý thức, trách nhiệm chấp hành Luật giao thông đường bộ cho mọi người khi tham gia giao thông, cần phải trang bị cho cho họ những kiến thức cơ bản về Luật giao thông đường bộ, nhận thức được sâu sắc nguyên nhân và hậu quả mà các vụ TNGT gây ra Từ đó, giúp mọi người người nhận thức đúng đắn về trách nhiệm của bản thân khi tham gia giao thông, nhằm giảm tránh được TNGT gây ra cho bản thân

và cho mọi người trong xã hội

Là cán bộ thanh tra giao thông trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, nhận thấy ý nghĩa

quan trọng và tính cấp bách, thiết thực của vấn đề nên tôi chọn đề tài: “Giáo dục ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Chính trị học,

Trang 7

với mong muốn tìm ra những giải pháp thiết thực để góp phần hạn chế, ngăn ngừa, giảm thiểu tình trạng TNGT đang diễn ra như hiện nay, đồng thời giúp cho công tác giáo dục, tuyên truyền về TTATGT mang lại hiệu quả hơn trong thực tế

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Tai nạn giao thông đã và đang trở thành mối quan tâm mang tính toàn cầu Giáo dục ý thức TTATGT vì mục tiêu giảm thiểu TNGT, ổn định xã hội là nhiệm vụ quan trọng được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng ta đã chỉ rõ: "Huy động cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành triển khai tích cực, đồng bộ các giải pháp giảm thiểu tại nạn giao thông Nâng cao hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật giao thông đường bộ Tăng cường hạ tầng kỹ thuật, phương tiện giao thông công cộng, năng lực tổ chức giao thông; thực hiện phương án điều tiết hợp lý cơ cấu và quản lý chất lượng các phương tiện giao thông để giảm tới mức thấp nhất tai nạn giao thông" [14; 232-233] Thực hiện chủ trương của Đảng và

Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết Số 88/NQ-CP ngày 24 tháng 08 năm 2011 Về tăng cường thực hiện các giải pháp trọng tâm bảo đảm

TTATGT và ngày 24 tháng 9 năm 2011 ban hành công văn Số 1702/TTg- KTN Về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện các giải pháp trọng tâm đảm bảo ATGT

Có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học, các bài báo, các luận văn, luận

án, sách, tài liệu, giáo trình liên quan đến vấn đề tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ nói riêng cho quần chúng nhân dân trong thời gian gần đây Tuy nhiên do điều kiện hạn hẹp về thời gian và khả năng nên tôi chỉ có thể tiếp cận được một số công trình tiêu biểu sau đây:

- Các văn bản chỉ đạo của Trung ương bao gồm: Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04/9/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông; Nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 24 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ về tăng cường thực hiện các giải pháp trọng tâm

Trang 8

bảo đảm trật tự an toàn giao thông; Công văn số 202/UBATGTQG ngày 10/6/2015 của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia đề xuất chủ đề năm học 2015-2016; Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 của Chính phủ về tư vấn pháp luật

- Một số hình thức phổ biến giáo dục pháp luật (Bộ Tư pháp - Vụ Phổ biến,

Giáo dục pháp luật - NXB Công an Nhân dân); 10 năm hoạt động trợ giúp pháp lý ở

Việt Nam hướng phát triển (Bộ Tư pháp, Cục trợ giúp pháp lý)

- Bộ luật giao thông đường bộ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam (NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật 2012);

Ngoài ra còn một số văn bản của Đảng và Nhà nước, như: Chỉ Thị số

32-CT/TW Ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Về tăng cường sự lãnh

đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hàng pháp luật của cán bộ, nhân dân; Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg ngày

12/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê duyệt chương trình phổ biến, giáo

dục pháp luật từ năm 2008 - 2012; Quyết định số 31/2009/QĐ-TTg ngày

24/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê duyệt Đề án tuyên truyền, phổ

biến pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp từ năm 2009 - 2012;

Vấn đề giáo dục TTATGT đã được nhiều nhà nghiên cứu khoa học quan tâm

và được công bố trên các tạp chí, in thành sách và các đề tài khoa học như: tác giả

Đặng Thuý Anh, Trần Sơn, Nguyễn Hữu Khải (2007), Giáo dục trật tự an toàn giao

thông (tài liệu dùng trong các trường THCS và THPT) Trong cuốn tài liệu này, tác

giả đã đề cập đến một số bài dạy về TTATGT trong chương trình môn GDCD ở Trung học cơ sở và phần tư liệu tham khảo phục vụ cho việc tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THCS và THPT về TTATGT Những hoạt động này được tổ chức ở tất cả các khối lớp nhằm giúp học sinh củng cố, khắc sâu kiến thức

đã học

Tác giả, Hoàng Thị Nho (2009), Hướng dẫn giáo viên tích hợp nội dung an

toàn giao thông vào trò chơi đóng vai theo chủ đề; tác giả đã đề cập đến những nội

Trang 9

dung cơ bản về giáo dục ATGT như: đặc điểm hệ thống giao thông nước ta, những quy định cơ bản về TTATGT, hành vi lịch sự khi tham gia giao thông… hướng dẫn

tổ chức thực hiện một số trò chơi, đóng vai theo chủ đề và giới thiệu một số tình huống để học sinh đóng vai

Tác giả, Nguyễn Thị Thanh Thảo: Luận văn thạc sĩ, Giáo dục ý thức chấp

hành Luật giao thông đường bộ cho học sinh Trung học phổ thông trong giai đoạn hiện nay (Qua khảo sát tại một số trường trung học phổ thông ở quận 7, thành phố

Hồ Chí Minh) Tác giả đã phân tích nguyên nhân, thực trạng vi phạm pháp luật

ATGT đường bộ của học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí

Minh và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao giáo dục ý thức chấp hành Luật giao thông

đường bộ cho học sinh tại một số trường trung học phổ thông ở quận 7, thành phố

Hồ Chí Minh

Dưới giác độ khác nhau, các công trình nghiên cứu trên đã phân tích thực trạng giáo dục ý thức pháp luật nói chung và giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ nói riêng ở tầm vĩ mô Các giải pháp đưa ra còn mang tính chung chung, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách thỏa đáng, có hệ thống, đánh giá đầy đủ, khách quan cơ sở lý luận và thực trạng hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ cho người dân trên địa bàn một tỉnh cụ thể, nhất là trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Vì vậy, chúng tôi cho rằng việc thực hiện đề tài: “Giáo dục ý thức chấp hành

Luật giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn hiện nay” là

sự đòi hỏi tất yếu khách quan

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 10

Luận văn nghiên cứu nhằm đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng công tác giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích nêu trên, luận văn xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm sau:

Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc giáo dục ý thức chấp hành pháp luật nói chung và luật giao thông đường bộ nói riêng

Tìm hiểu, đánh giá thực trạng giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu vấn đề ý thức chấp hành luật pháp nói chung và luật giao thông đường bộ nói riêng Từ góc nhìn Chính trị học, đề tài cũng đi sâu tìm hiểu các vấn đề liên quan tới công tác giáo dục, đặc biệt là giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ cho các đối tượng tham gia giao thông

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung giáo dục liên quan, gắn liền với việc nâng cao ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ, cụ thể là giới hạn trong phạm vi nâng cao ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ cho mọi đối tượng tham gia giao thông trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn hiện nay (2015 –

2020, tầm nhìn 2025)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Trang 11

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và nhà nước ta về giáo dục và pháp luật

để phân tích, làm rõ những vấn đề thuộc về lĩnh vực giáo dục ý thức chấp hành luật pháp nói chung và ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ nói riêng Luận văn cũng được nghiên cứu trên cơ sở kế thừa các thành tựu của những công trình khoa học, những đề tài, sách vở, luận án, luận văn đã có về lĩnh vực có liên quan

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tiếp cận đối tượng từ góc nhìn chính trị học; luận văn cũng sử dụng các phương pháp lịch sử - lôgíc, phân tích - tổng hợp, khái quát hóa, so sánh… trong quá trình thực hiện luận văn

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn dự kiến góp phần làm rõ thực trạng chấp hành luật giao thông đường bộ và công tác giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ cho nhân dân trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Luận văn góp phần đề xuất một số giải pháp góp phần nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ cho nhân dân trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện nay

Ngoài ra, luận văn có thể làm tư liệu tham khảo cho những công trình nghiên cứu có liên quan

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 3 chương

Chương 1: Cơ sở khoa học của việc giáo dục ý thức chấp hành Luật Giao

thông đường bộ

Chương 2 Thực trạng giáo dục ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ

cho người tham gia giao thông trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện nay

Trang 12

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục ý thức

chấp hành pháp Luật Giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện nay

B NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC CHẤP HÀNH

LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Trang 13

1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu

1.1.1 Luật giao thông đường bộ

Cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật và các hoạt động quản lý xã hội của Nhà nước, Luật giao thông đường bộ xuất hiện, tồn tại, phát triển như một tất yếu khách quan, gắn liền với việc đảm bảo an ninh, quốc phòng, phát triển kinh

tế, văn hóa, xã hội và nhu cầu vận tải hàng hóa, đi lại của nhân dân

Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, nhà nước ta đều có những văn bản pháp quy điều chỉnh lĩnh vực an toàn giao thông Trước khi có Luật giao thông đường bộ, lĩnh vực giao thông đường bộ mới chỉ có các Nghị định của Chính phủ, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, các văn bản quy phạm pháp luật của các ngành

Ngày 13 tháng 11 năm 2008, Luật giao thông đường bộ được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua; Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009 và thay thế Luật giao thông đường

bộ ngày 29 tháng 6 năm 2001 Cấu trúc của Luật giao thông đường bộ bao gồm: Ngoài phần mở đầu, Luật có 8 chương với 89 điều Chương I từ Điều 1 đến Điều 8,

đề cập tới “Những quy định chung”; chương II từ Điều 9 đến Điều 38, nêu “Quy tắc giao thông đường bộ”; chương III từ Điều 39 đến Điều 52, quy định “Kết cấu hạ tầng Giao thông đường bộ”; chương IV từ Điều 53 đến Điều 57, đề cập tới “Phương tiện tham gia giao thông đường bộ”; chương V từ Điều 58 đến Điều 63, quy định

“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”; chương VI từ Điều

64 đến Điều 83, quy định “Vận tải đường bộ”; chương VII từ Điều 84 đến Điều 87,

đề cập tới “Quản lý nhà nước về giao thông đường bộ”; chương VIII từ Điều 88 đến Điều 89, nêu “Điều khoản thi hành” [20]

Luật giao thông đường bộ ra đời là một dấu mốc trong lịch sử phát triển của

hệ thống pháp Luật giao thông đường bộ, tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho công tác bảo đảm TTATGT đường bộ Luật giao thông đường bộ được ban hành nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, đề cao ý thức trách nhiệm của cơ quan, tổ chức,

Trang 14

cá nhân để đảm bảo giao thông đường bộ thông suốt, trật tự, an toàn, thuận lợi, phục

vụ nhu cầu đi lại của nhân dân và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm Luật giao thông đường

bộ như sau: Luật giao thông đường bộ là hệ thống các quy phạm pháp luật và các

quy tắc xử sự hành chính do Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức xã hội và công dân trên các lĩnh vực đảm bảo TTATGT đường bộ

1.1.2 Ý thức, ý thức pháp luật và giáo dục ý thức pháp luật

1.1.1.1 Ý thức

Theo Từ điển Tiếng Việt, “Ý thức là khả năng của con người phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy” [32;1167]

Chủ nghĩa duy vật Mácxít “coi ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan

vào trong bộ óc người một cách năng động, sáng tạo” [16 ;200]. Ý thức có kết cấu phức tạp bao gồm các yếu tố cơ bản như: cảm xúc, nhu cầu, ý chí, tri thức trong đó tri thức là quan trọng nhất và là phương thức tồn tại của ý thức Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan “Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm những quan điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền thống nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn nhất định”[16;568] Ý thức xã hội và ý thức cá nhân tồn tại trong mối liên hệ hữu cơ, biện chứng với nhau, thâm nhập vào nhau và làm phong phú nhau Ý thức xã hội gồm những hiện tượng tinh thần, những bộ phận, những hình thái khác nhau, phản ánh tồn tại xã hội bằng những phương thức khác nhau Ở góc độ nghiên cứu đề tài này, hình thái ý thức xã hội được đề cập đến vừa là ý thức đạo đức, vừa là ý thức pháp luật

1.1.1.2 Ý thức pháp luật

Ý thức pháp luật là một trong những hình thái ý thức xã hội nó tồn tại bên cạnh những hình thái ý thức xã hội khác như ý thức đạo đức, ý thức chính trị… Trong lịch sử tư tưởng của loài người do có sự khác biệt về nhận thức giữa các thời

Trang 15

đại cũng như sự khác biệt trong quan niệm về lợi ích giai cấp nên quan niệm về YTPL không phải lúc nào cũng có sự thống nhất

Ý thức pháp luật hiểu theo nghĩa thông thường (nghĩa hẹp) đó là ý thức chấp hành pháp luật của con người, “ý thức pháp luật là trình độ hiểu biết của các tầng lớp nhân dân về pháp luật… là thái độ đối với pháp luật, ý thức tôn trọng hay coi thường pháp luật, đó là thái độ đối với hành vi vi phạm pháp luật và phạm tội” [31; 609].Quan niệm này đã đồng nhất YTPL với một trong những biểu hiện của nó Vì vậy, khi đánh giá ý thức pháp luật của một tập thể hay cá nhân người ta thường căn

cứ vào những hành vi chấp hành pháp luật của chủ thể đó Quan niệm này chưa thể hiện rõ đặc trưng cơ bản của khái niệm, không thấy rõ được bản chất của ý thức pháp luật nên dễ rơi vào quan điểm phiến diện và chủ quan

Trong nghiên cứu lý luận cũng có nhiều quan niệm khác nhau về ý thức pháp luật

Có quan niệm tập trung nhấn mạnh cơ cấu của YTPL như: “ý thức pháp luật

là tổng hợp những tư tưởng, quan điểm pháp luật và tâm lý pháp luật Hay nói cụ thể hơn, là tổng hợp những nhận thức, những hiểu biết quan điểm pháp lý, những tình cảm pháp luật cùng với sự tôn trọng và thói quen chấp hành nghiêm chỉnh pháp

luật” [30; 235]

Có quan niệm lại tập trung vào nhấn mạnh bản chất giai cấp của YTPL Đó là:

“ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa là tổng hòa những quan điểm quan niệm, tình cảm pháp luật thể hiện thái độ của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động do giai cấp công nhân lãnh đạo, đối với pháp luật, đối với những yêu cầu khác của

pháp luật, đối với các quyền và nghĩa vụ khác của công dân” [33; 196]

Có quan niệm cho rằng: “ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm và quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ thông qua sự hiểu biết của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp

Trang 16

trong hành vi ứng xử của con người cũng như trong hoạt động của các cơ quan Nhà

nước và tổ chức xã hội” [15; 229]

Có quan niệm đề cập đến ý thức pháp luật một cách đầy đủ hơn khi nêu lên được cả tính chất, cơ cấu và nội dung về của YTPL: “Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, là tổng thể những quan điểm, khái niệm, học thuyết pháp lý, tình cảm của con người (cá nhân, giai cấp, tầng lớp) thể hiện thái độ của họ đối với pháp luật hiện hành, trật tự pháp luật, sự đánh giá về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật trong tương lai, về hành vi hợp pháp, hành vi không hợp pháp của cá nhân, các cơ

quan Nhà nước, tổ chức” [21; 290]

Nhìn chung các quan niệm trên về YTPL mặc dù về phạm vi và cách thức đề cập

có khác nhau nhưng nói chung về nội dung được đề cập là tương đối thống nhất Trên

cơ sở tổng hợp các yếu tố hợp lý của các quan niệm nói trên chúng ta có thể rút ra một cách hiểu đầy đủ, khái quát nhất về YTPL như sau:

Ý thức PL là một hình thái ý thức xã hội, mang tính giai cấp sâu sắc phản ánh một cách tích cực, sáng tạo và trực tiếp đời sống pháp luật, hình thành những khái niệm, quan điểm, tư tưởng, tình cảm của con người (cá nhân, giai cấp, tầng lớp) đối với pháp luật, thể hiện sự hiểu biết, thái độ của họ đối với pháp luật hiện hành, pháp luật trong quá khứ và pháp luật trong tương lai, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể PL, tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của cá nhân, các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội

1.1.1.3 Giáo dục ý thức pháp luật

Giáo dục pháp luật là vấn đề cơ bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng sự nghiệp giáo dục ở nước ta Do đó, khi nói đến giáo dục pháp luật thường được quan niệm là một dạng hoạt động gắn liền với việc triển khai thực hiện pháp luật cũng như trong hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật Với tư cách là một dạng hoạt động giáo dục thì giáo dục pháp luật ở nước ta hình thành và xuất hiện muộn hơn so với giáo dục chính chị, giáo dục đạo đức Do đó, để xác định đúng đắn khái niệm giáo dục ý thức

Trang 17

pháp luật, chúng ta cần hiểu khái niệm giáo dục Theo nghĩa hẹp, giáo dục được

hiểu là hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể giáo dục tác động

lên khách thể giáo dục, nhằm đạt được các mục tiêu nhất định Theo nghĩa rộng,

giáo dục được hiểu là sự tác động, ảnh hưởng của những điều kiện khách quan như trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, phong tục tập quán… và sự tác động của các nhân tố chủ quan như sự tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch và định hướng của con người lên việc hình thành những phẩm chất, kỹ năng nhất định của khách thể giáo dục

Sự hình thành và phát triển ý thức của con người là sản phẩm của một quá trình phức tạp, trong đó, các điều kiện khách quan là những nhân tố ảnh hưởng có thể tự phát theo chiều này hay chiều khác, còn nhân tố chủ quan là nhân tố tích cực mang tính tác động có ý thức, có mục đích và định hướng rõ ràng cụ thể, hai nhân tố này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Chính vì thế, sự hình thành YTPL là sản phẩm của điều kiện khách quan và chủ quan tác động vào ý thức con người Trong

đó, GDYTPL chỉ là một yếu tố của quá trình hình thành ý thức pháp luật, đó là sự tác động có mục đích, có định hướng của nhân tố chủ quan

Thực tiễn nước ta trong những năm qua cho thấy, việc tiến hành các hoạt động giáo dục ý thức pháp luật với những nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục phù hợp có ý nghĩa rất quan trọng nó sẽ hạn chế được những mặt tiêu cực của nhân tố khách quan đem lại, từ đó sẽ hình thành và phát triển ý thức pháp luật tiến

bộ cho con người

Sự hình thành và phát triển YTPL ở mỗi người là sự kết hợp của quá trình tuyên truyền, giáo dục pháp luật của chủ thể với các yếu tố khách quan Do đó, giữa GDYTPL và giáo dục pháp luật có sự thống nhất với nhau Cả hai hoạt động này đều nhằm mục đích hình thành tri thức pháp luật, thái độ, tình cảm pháp luật cho đối tượng giáo dục

Từ sự phân tích ở trên, theo chúng tôi, giáo dục ý thức pháp luật là hoạt động

có mục đích, định hướng, tổ chức và có chủ định của chủ thể giáo dục, tác động lên đối tượng giáo dục nhằm hình thành ở họ sự hiểu biết, thái độ ứng xử và sự đánh giá

Trang 18

về pháp luật, về quyền lợi và nghĩa vụ của con người trong xã hội, về hành vi hợp pháp hay không hợp pháp của cá nhân, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức trong xã hội

Như vậy có thể hiểu giáo dục pháp luật một cách chung nhất là sự ảnh hưởng, tác động của những điều kiện khách quan và chủ quan lên khách thể giáo dục, cụ thể là các cơ quan, tổ chức, mọi công dân nhằm hình thành những hiểu biết

và thói quen tuân thủ pháp luật

1.1.1.4 Ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ

Ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ là ý thức của chủ thể cá nhân chuyển từ nhận thức bình thường sang ý thức cộng đồng, nhận ra được những nguyên nhân dẫn đến TNGT và hậu quả của các vụ TNGT đối với tính mạng, tài sản của bản thân, của người khác và ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội Từ đó, nhận thức được sự cần thiết phải chấp hành Luật giao thông đường bộ để đảm bảo

an toàn cho bản thân, cho người khác và cho toàn xã hội Cho đến nay, đã có rất nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ

Tựu chung lại, ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ; là sự tự giác chấp hành

luật giao thông, hệ thống báo hiệu giao thông gồm: hiệu lệnh của người điều khiển giao thông, tín hiệu đèn giao thông, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu, tường bảo vệ, hàng rào chắn

1.2 Mục đích của việc giáo dục ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ đối với người tham gia giao thông

Khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào đó thì điều đầu tiên là chúng ta phải xác định mục đích để làm gì? Cần đặt được mục đích ấy bằng con đường nào? Tức

là phải lựa chọn hình thức và phương pháp nhất định

Trang 19

Có thể nói, Luật Giao thông đường bộ có tính xã hội sâu rộng, tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của đất nước Chính vì thế, ngay sau khi Luật có hiệu lực, Chính phủ và các Bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thực hiện Do vậy, việc xác định mục đích giáo dục ý ,thức chấp hành Luật giao thông đường bộ đối với người tham gia giao thông là một vấn đề quan trọng hàng đầu đối với việc xây dựng chương trình nội dung GD và toàn bộ công tác tổ chức thực hiện Nó quy định việc xác định hình thức, phương tiện, phương pháp và nội dung của GD, đồng thời còn giúp cho việc xác định hiệu quả của quá trình giáo dục Không dựa vào mục đích của GDYTPL, chẳng những không thể đánh giá mà còn không thể tiến hành tìm kiếm các chỉ số đánh giá hiệu quả của quá trình GDYTPL Với ý nghĩa như vậy, mục đích của giáo ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ đối với người tham gia giao thông trong giai đoạn hiện nay bao gồm các mục đích cơ bản sau đây:

- Thứ nhất, hình thành, làm sâu sắc và từng bước mở rộng hệ thống tri thức

PL của công dân (mục đích nhận thức)

Nâng cao nhận thức, mở rộng sự hiểu biết của con người trên các lĩnh vực là một yêu cầu khách quan của công tác GD nói chung Trong GDYTPL thì mục đích được đặt ra là trang bị những tri thức cơ bản về pháp luật như giá trị của pháp luật, vai trò điều chỉnh của pháp luật, các chuẩn mực pháp luật trong từng lĩnh vực đời sống Đây được xem là mục đích hàng đầu, bởi vì, chính sự am hiểu PL, sự nhận thức đúng đắn về giá trị xã hội và vai trò điều chỉnh của pháp luật sẽ là nền móng cơ bản để hình thành tâm lý, tình cảm và thái độ tôn trọng pháp luật, tin tưởng vào pháp luật ở mỗi người Hơn nữa, tri thức pháp luật còn giúp cho con người tổ chức một cách có ý thức hoạt động của mình và tự đánh giá kiểm tra, đối chiếu hành vi với các chuẩn mực pháp luật

- Thứ hai: hình thành tình cảm và lòng tin đối với pháp luật (mục đích cảm

xúc)

Trang 20

Việc nâng cao trình độ kiến thức PL là mục đích đầu tiên vô cùng quan trọng nhưng bản thân nó chưa phải là sự quyết định hành vi xử sự hợp pháp Có tri thức

về PL chưa có nghĩa là đã có tình cảm đúng đắn và lòng tin vào pháp luật, đó mới chỉ là cơ sở nhận thức, tạo niềm tin bên trong ở mỗi người Do vậy, việc biến nhận thức thành niềm tin, động cơ bên trong cho mỗi người khi tham gia giao thông là yêu cầu quan trọng Thực tế cho thấy nếu một người có sự hiểu biết pháp luật, có tình cảm và lòng tin vào PL thì họ sẽ tin theo những quy định của pháp luật Tuy nhiên, để có được tình cảm và lòng tin vào pháp luật thì cần phải GD tình cảm công bằng Khi con người tin vào tính công bằng của những đòi hỏi của quy phạm pháp luật thì không cần một sự tác động bổ sung nào của Nhà nước để thực hiện những đòi hỏi đó Có lòng tin vào tính công bằng của PL, con người sẽ có hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật một cách độc lập, tự nguyện

Niềm tin pháp luật được xây dụng trên cơ sở:

+ Giáo dục tình cảm công bằng Nói đến PL là nói đến sự công bằng GD tình cảm công bằng là giáo dục cho con người biết cách đánh giá các quy phạm pháp luật, biết cách xác định, đánh giá các tiêu chuẩn về tính công bằng của pháp luật để tự đánh giá hành vi của mình, biết quan hệ với người khác và với chính mình bằng các quy phạm pháp luật

+ Giáo dục tình cảm trách nhiệm là GD ý thức về nghĩa vụ pháp lý GD tình cảm trách nhiệm nhằm hình thành ý thức tuân thủ pháp luật - một nguyên tắc xử sự của công dân trong mối quan hệ với nhau và với các cơ quan Nhà nước GD tình cảm trách nhiệm làm cho người được giáo dục nhận thức được rằng mọi việc làm, mọi hành vi của mình phải dựa trên cơ sở PL và trong khuôn khổ pháp luật cho phép

+ Giáo dục ý thức đấu tranh không khoan nhượng đối với những biểu hiện vi phạm pháp luật, chống đối pháp luật, đấu tranh với những hành vi vi phạm PL và tội phạm Phê phán, lên án những biểu hiện coi thường PL, ủng hộ và tích cực tham gia bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật

Trang 21

- Thứ ba: hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự theo pháp

là kết quả của niềm tin bên trong và sự tự ý thức sâu sắc được lặp đi lặp lại nhiều lần thông qua các hành vi xử sự Do vậy, GD để hình thành hành vi hợp pháp là một việc khó khăn, lâu dài Những hành vi hợp pháp của mỗi người thường biểu hiện qua các việc làm như: Tuân thủ các quy phạm pháp luật Kiềm chế không thực hiện các điều pháp luật cấm; Thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân; Biết đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật; biết vận dụng PL để bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân khi bị xâm phạm

Hành vi xử sự theo pháp luật của con người là kết quả của một quá trình nhận thức pháp luật Trong quá trình nhận thức có nhiều yếu tố tác động (chủ quan

và khách quan) để hình thành nên hành vi và thói quen xử sự theo pháp luật nhưng hoạt động GDYTPL sẽ là yếu tố cơ bản Thông qua giáo dục ý thức pháp luật sẽ cung cấp tri thức pháp luật, lòng tin sâu sắc tự nguyện thực hiện những quy định của PL Để đạt được mục đích này trong quá trình GDYTPL phải bằng những hình thức, phương thức tác động khác nhau và tiến hành thường xuyên, liên tục tạo cho mọi người có tình cảm đúng đắn và niềm tin vào PL, hiểu được sự cần thiết, tính hợp lý của pháp luật vì lợi ích chung của xã hội trên cơ sở đó biểu hiện ra thành những hành vi hợp pháp trong đời sống hàng ngày một cách tự giác

Tất cả các mục đích trên tạo nên một thể thống nhất có mối quan hệ tác

động lẫn nhau, bổ sung cho nhau tạo thành YTPL xã hội chủ nghĩa trong mỗi

Trang 22

công dân Khi tiến hành GD phải hướng hoạt động nhằm vào cả ba mục đích, chứ không phải là quá trình tác động rời rạc theo từng công đoạn, giữa chúng

có mối quan hệ đan xem qua lại trong mối liên hệ hữu cơ thống nhất Từ tri thức PL đến tính tự giác; từ tính tự giác đến tính tích cực; từ tính tích cực đến thói quen xử sự theo pháp luật Ngược lại, khi có thói quen xử sự theo PL thì lòng tin, tình cảm pháp luật lại được củng cố Thiếu hoặc coi nhẹ một nội dung nào của mục đích GDYTPL thì sẽ không hoàn chỉnh bởi vì không phải đơn thuần về lý luận pháp luật, cũng không phải chỉ học những quy định cụ thể của pháp luật một cách khô khan mà là quá trình bồi dưỡng và nâng cao YTPL xã hội chủ nghĩa Do đó, khi tiến hành GDYTPL đều phải hướng hoạt động vào cả ba mục đích đó

Việc xác định đúng đắn mục đích của giáo dục ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ cho mọi người có ý nghĩa cực kỳ quan trọng cả trong lý luận lẫn thực tiễn, nhất là trong giai đoạn hiện nay, tình trạng tai nạn giao thông diễn ra hết sức phức tạp Xác định đúng hay không đúng mục đích sẽ dẫn đến chất lượng tốt hay không tốt tới toàn bộ quá trình GDYTPL

1.3 Nội dung giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông đường

bộ cho người tham gia giao thông

Nội dung giáo dục ý thức chấp hành Luật GTĐB là một thành tố quan trọng của quá trình giáo dục pháp luật, nó được xác định trên cơ sở mục đích, nhiệm vụ và xuất phát từ nhu cầu, đặc điểm của đối tượng được giáo dục pháp luật Xác định đúng nội dung của giáo dục ý thức chấp hành Luật GTĐB sẽ mang lại hiệu quả của việc giáo dục ý thức chấp hành Luật GTĐB cho người tham gia giao thông Do đó, nếu nội dung giáo dục ý thức pháp luật quá sơ lược hoặc quá nặng nề sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình giáo dục Đây là một vấn đề khó, nhất là trong việc biên soạn chương trình, bởi lẽ bản thân các quy

Trang 23

phạm pháp luật đôi khi bao hàm những khái niệm pháp lý trừu tượng, trình tự

và kết cấu trong từng quy phạm cũng hết sức chặt chẽ, lôgíc

Giáo dục ý thức chấp hành Luật GTĐB cho người tham gia giao thông nhằm góp phần phát triển khả nhận thức cũng như tổ chức thực hiện pháp luật một cách

có trách nhiệm với tư cách là một công dân, biết sử dụng đúng đắn các quyền con người và quyền công dân chân chính của mình Giáo dục ý thức pháp luật gắn liền với mục tiêu chung trong giáo dục - đào tạo con người phát triển toàn diện trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII là nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; đào tạo những con người có kiến thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và

có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội sống lành mạnh

Xuất phát từ mục đích của GDYTPL là: trang bị tri thức PL; bồi dưỡng tình cảm, tâm lý PL; hướng dẫn hình thành thói quen xử sự tích cực theo PL, do đó, nội dung giáo dục ý thức chấp hành Luật GTĐB có phạm vi tương đối rộng đó là: các thông tin về pháp luật, gồm cả kiến thức cơ bản và văn bản pháp luật thực định; các thông tin về việc thực hiện pháp luật, về tình hình vi phạm Luật GTĐB và tai nạn giao thông, về việc điều tra xử lý các vi phạm pháp luật Đồng thời, phản ánh những nhu cầu, nguyện vọng, ý kiến, đề xuất của nhân dân, của các chuyên gia pháp luật trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật và các thông tin hướng dẫn hành vi pháp luật cụ thể của công dân (như các quyền, các nghĩa vụ pháp luật, các quy trình thủ tục để bảo vệ các quyền hợp pháp)

Từ phạm vi nội dung giáo dục ý thức chấp hành Luật GTĐB nêu trên, trong thực tiễn PL ở nước ta hiện nay cũng cần lưu ý tới những đặc điểm của nội dung giáo dục ý thức pháp luật Đó là trạng thái động của các thông tin trong nội dung giáo dục pháp luật Những đặc điểm này đòi hỏi người tuyên truyền cần được nhận thức đầy đủ để trên cơ sở đó lựa chọn phương pháp tiếp cận tới nội dung GD ý thức chấp hành pháp luật cho từng đối tượng tiếp nhận một cách phù hợp, giúp cho đối tượng giáo dục là người tham gia giao thông có

Trang 24

cách nhìn nhận đúng đắn, biện chứng về quá trình hoàn thiện pháp luật, đưa PL vào cuộc sống, cũng như những điểm mâu thuẫn và thống nhất của tiến trình đổi mới, phát triển khoa học pháp lý ở nước ta

Căn cứ vào nhu cầu và đặc điểm của đối tượng giáo dục pháp luật, chúng ta có thể phân định nội dung giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục

ý thức chấp hành Luật GTĐB nói riêng thành hai mức, cấp độ khác nhau sau đây:

Một là, mức độ tối thiểu về GDYTPL cho mọi công dân (pháp luật phổ

thông), để mỗi công dân “sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật”, họ phải có những hiểu biết tối thiểu về Luật GTĐB và những kỹ năng tối thiểu để sử dụng pháp luật bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cũng như các nghĩa vụ của mình Những hiểu biết và kỹ năng đó chính là nội dung tối thiểu của GDYTPL phổ cập bao bồm: thông tin cơ bản về bản chất, vai trò của nhà nước và pháp luật; một số thông tin cơ bản về tổ chức bộ máy nhà nước thực thi pháp luật, đặc biệt là cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Ba là, mức độ giáo dục chuyên sâu, đây là mức độ cao nhất của nội

dung GDYTPL, nhằm mục đích giúp người tham gia giao thông hiểu biết về quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của mình khi tham gia giao thông, về ứng xử

có văn hóa giao thông Chính vì thế, vấn đề đặt ra là tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho người tham gia giao thông như thế nào là cần và đủ Đối với người tham gia giao thông cần trang bị cho họ những nội dung kiến thức

Trang 25

- Trang bị cho người tham gia giao thông hệ thống tri thức pháp luật cần thiết

để họ nhận thức đúng đắn và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, thực hiện đúng những quyền và nghĩa vụ của công dân

Trang bị những tri thức về Luật GTĐB cơ bản, cần thiết và đủ cho người tham gia giao thông là mục đích đầu tiên của giáo dục ý thức pháp luật Nó đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự hình thành ý thức pháp luật và hành vi tích cực, hợp pháp của người lao động Tình cảm đúng đắn, bền vững đối với PL và những hành vi tích cực sẽ không thể có hoặc có nhưng không đầy đủ nếu không được dựa trên những tri thức về pháp luật đối với người tham gia giao thông Tri thức pháp luật càng đầy đủ thì tình cảm pháp luật càng mạnh mẽ, bởi lẽ tình cảm đó dựa trên những khái niệm, tư tưởng, quan điểm, những quy phạm pháp luật Mặt khác, những tri thức về Luật GTĐB giúp cho người tham gia giao thông ứng xử theo đúng pháp luật Do vậy, cũng không nên hiểu một cách giản đơn rằng tri thức pháp luật chỉ là sự am hiểu giản đơn về những quy phạm pháp luật nào đó mà nó còn là sự nhận thức và hiểu biết thấu đáo nội dung, ý nghĩa về quyền và nghĩa vụ của người tham gia gia thông trong các mối quan hệ pháp luật

Từ việc xác định phạm vi, đặc điểm và các mức độ yêu cầu về nội dung giáo dục Luật GTĐB có thể thấy rằng: không thể có một hình thức hay một chủ thể giáo dục pháp luật riêng biệt có thể đáp ứng được tất cả các yêu cầu, nội dung để đạt tới mục tiêu giáo dục pháp luật đặt ra cho mọi đối tượng Do

đó, cần phải có sự phối hợp nhiều hình thức, phương tiện, chương trình, mục tiêu giáo dục pháp luật của các chủ thể khác nhau để hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm đạt được mục đích của GDYTPL mà nội dung giáo dục đề ra

1.4 Tính tất yếu của việc giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ cho người tham gia giao thông

- Nâng cao nhận thức cho người tham gia giao thông đối với việc tuân thủ pháp luật Trước hết, các hoạt động này tạo ra sự quan tâm đối với pháp

Trang 26

luật, từ chỗ không để ý đến sự tồn tại của pháp luật, người tham gia giao thông được phổ biến, giáo dục bắt đầu dành sự quan tâm của mình đối với pháp luật, đồng thời sự hiểu biết về pháp luật cũng ngày càng được nâng cao Pháp luật chính là một trong những phương tiện hàng đầu để Nhà nước quản lý xã hội và cũng là phương tiện cho mỗi người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Công tác phổ biến, giáo dục ý thức chấp hành Luật GTĐB giúp cho người tham gia giao thông nhận thức được những giá trị cao đẹp ấy của pháp luật và biết sử

dụng phương tiện hữu hiệu đó trong cuộc sống Đồng thời, giáo dục ý thức chấp

hành pháp luật giúp người tham gia giao thông tạo được niềm tin vào pháp luật Khi

đã có niềm tin, đối tượng sẽ biết tự điều chỉnh hành vi của mình theo đúng các quy định của pháp luật Không những thế, họ còn có ý thức phê phán, lên án những hành

vi vi phạm, đi ngược lại với các quy định của pháp luật

- Phổ biến, giáo dục pháp luật trong việc giáo dục chính trị tư tưởng cho người tham gia giao thông, V.I Lê-nin đã nhấn mạnh: "Luật là biện pháp chính trị,

là chính trị" Đường lối chính trị của Đảng ta, chỗ dựa của công cuộc đổi mới mọi mặt về chính trị, kinh tế, xã hội đã đi vào tất cả các mặt của hoạt động lập pháp, chỉ đạo nội dung của pháp luật Có thể thấy rằng, ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức chính trị Vì vậy, khi thực hiện giáo dục pháp luật sẽ tạo ra khả năng cho việc giáo dục chính trị, hình thành ở đối tượng giáo dục những hiểu biết nhất định về

chính trị

- Giáo dục ý thức pháp luật là cơ sở để góp phần xây dựng đạo đức, văn hóa mới cho người tham gia giao thông, đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc

ứng xử được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối

với nhau và đối với xã hội Trong các quan niệm về công bằng, thiện ác, nhân đạo,

tự do, lương tâm, danh dự không có sự đối lập giữa pháp luật và đạo đức Pháp luật là chỗ dựa và là cơ sở của việc hình thành đạo đức mới Các nguyên tắc căn bản của đạo đức mới được thể chế hoá thành các quy phạm pháp luật Do đó, pháp luật bảo vệ và phát triển đạo đức, bảo vệ tính công bằng, chủ nghĩa nhân đạo, tự do, lòng tin và lương tâm con người Giáo dục đạo đức tạo nên những tiền đề cần thiết để

Trang 27

hình thành ở công dân sự tôn trọng sâu sắc đối với pháp luật Ngược lại, giáo dục pháp luật tạo ra khả năng thiết lập trong đời sống thực tiễn thường ngày những nguyên tắc đạo đức, củng cố các nghĩa vụ đạo đức, thiết lập lập trường không dung

thứ với các biểu hiện chống đối xã hội Có thể nói nói rằng, giáo dục pháp luật và

giáo dục đạo đức cùng tác động vào lòng tin của con người đối với sự cần thiết tuân theo những nguyên tắc cơ bản của đạo đức mới, lòng tin đối với giá trị xã hội của pháp luật và lòng tin đối với những quy phạm đạo đức và pháp luật trong đời sống thực tế hàng ngày, hướng đến hoàn thiện những mối quan hệ lẫn nhau

giữa con người với con người

- Giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên để triển khai thực hiện pháp luật, sự

khẳng định vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội gắn liền với quá trình không ngừng nâng cao ý thức và tính tích cực tham gia của mọi tầng lớp nhân dân nói chung và người tham gia giao thông nói riêng trong việc bảo vệ pháp luật Tăng c-ường pháp chế xã hội chủ nghĩa (mà một trong những yếu tố cấu thành là sự phát triển của nhận thức pháp luật và văn hoá pháp lý của nhân dân) Mở rộng và hoàn thiện nền dân chủ sẽ không có ý nghĩa khi không thực hiện được một cách toàn

diện, hiệu quả công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, nhân dân và người lao động

Việc thực thi và chấp hành pháp luật phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, trong

đó có yếu tố ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý của nhân dân Đặc trưng rõ nét của ý

thức pháp luật là thể hiện thái độ của các thành viên trong xã hội đối với kỷ cương, pháp luật là sự đánh giá và ghi nhận tính công bằng của pháp luật xã hội chủ nghĩa Pháp luật chỉ có thể trở thành công cụ có tác dụng điều chỉnh những hành vi đúng đắn khi sự cần thiết của nó đối với xã hội được ghi nhận, chấp nhận, khi mà nghĩa

vụ chấp hành các quy định của pháp luật thực sự trở thành nhu cầu chấp hành một cách tự nguyện và có ý thức của bản thân mỗi người Bởi thế, có thể coi ý thức pháp

luật như là tiền đề tư tưởng cho sự củng cố và phát triển nền pháp chế

Trong thực tế, không phải lúc nào việc chấp hành pháp luật cũng trở thành ý thức tự nguyện Do đó, trong điều kiện hiện nay, vai trò của giáo dục pháp luật là hình thành ý thức pháp luật, góp phần giúp mỗi người nhận ra tính công bằng của

Trang 28

pháp luật, chấp hành pháp luật trên cơ sở tự nguyện, xuất phát từ nhu cầu của bản thân, mà không phải do sự sợ hãi trước sự trừng phạt

Tóm lại, giáo dục ý thức chấp hành Luật GTĐB pháp luật cho người tham gia giao thông tạo điều kiện cho việc nâng cao trình độ văn hoá pháp lý, văn hóa giao thông của của họ Đồng thời, sự phát triển của văn hóa pháp lý, văn hóa giao thông cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp của hoạt động thực thi pháp luật của các cơ quan Nhà nước Hiệu quả tác động này lại phụ thuộc vào trình độ văn hoá pháp lý của người tham gia giao thông; phụ thuộc vào việc họ thực thi đúng pháp luật, có thái độ tôn trọng pháp luật Bởi vậy, thực hiện nhiệm vụ nâng cao văn hoá pháp lý, văn hóa giao thông đòi hỏi không chỉ nâng cao trình độ văn hoá chung của người tham gia giao thông mà còn phải tăng cường năng lực thực thi pháp luật cho họ Một trong những nguyên nhân của tình trạng vi phạm pháp luật là do trình độ văn hoá pháp lý của một bộ phận người tham gia giao thông còn thấp

- Giáo dục ý thức chấp hành Luật GTĐB trong đời sống xã hội gắn liền với nâng cao ý thức và tích cực tham gia của mọi tầng lớp nhân dân nói chung và người tham gia giao thông nói riêng trong việc bảo vệ pháp luật

Trong đời sống xã hội, pháp luật nói chung và Luật GTĐB nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với người tham gia giao thông Nó là phương tiện không thể thiếu bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói chung và của nền đạo đức nói riêng Pháp luật không chỉ là một công cụ quản lý Nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hoá đời sống xã hội

và góp phần bồi đắp nên những giá trị mới

Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, việc tăng cường vai trò của pháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan Điều đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh, mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị chân chính, trong đó có ý thức đạo đức Trong quá trình phát triển lịch sử nhân loại, cùng với Nhà nước, pháp luật ra đời nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Bên cạnh đạo đức và dư luận xã hội, pháp luật là công cụ quản lý xã hội chủ yếu của Nhà nước

Trang 29

Giữa đạo đức và pháp luật luôn có mối quan hệ qua lại, tác động tương

hỗ lẫn nhau Để nâng cao vai trò và phát triển ý thức đạo đức, ngoài các biện pháp tích cực khác, thì không thể thiếu vai trò của pháp luật và ý thức pháp quyển Pháp luật càng chặt chẽ, càng đầy đủ và được thi hành nghiêm chỉnh thì đạo đức càng được đề cao, khả năng điều chỉnh và giáo dục của đạo đức càng được mở rộng và ảnh hưởng một cách toàn diện, tích cực đến mọi hành

vi, mọi mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội

Đối với nước ta hiện nay, việc tăng cường vai trò của pháp luật nói chung và luật GTĐB nói riêng, tạo môi trường thuận lợi cho sự hình thành và phát triển ý thức đạo đức đã trở thành một trong những yêu cầu cấp thiết Quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng như xã hội dân sự đòi hỏi phải tích cực hơn nữa trong việc đưa pháp luật vào đời sống, hình thành và phát triển ý thức pháp luật, đồng thời, xã hội hóa tri thức, nâng cao trình độ dân trí, tạo cơ sở nâng cao đạo đức lên trình độ duy lý pháp lý và khoa học, chuyển thói quen điều chỉnh

xã hội theo “lệ”, chủ yếu là sự cảm thông sang điều chỉnh xã hội bằng pháp luật trên nguyên tắc công bằng và bình đẳng xã hội Sự điều chỉnh xã hội bằng pháp luật với nguyên tắc tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, làm cho mọi thành viên trong xã hội có thể tự do phát huy khả năng sáng tạo của mình trong môi trường lành mạnh - môi trường vận hành có trật tự, nền nếp, kỷ cương của một xã hội năng động, phát triển và văn minh Đó cũng chính là nhu cầu tình cảm, là trách nhiệm và yêu cầu đạo đức đối với mỗi công dân trong giai đoạn mới

Hiện nay, việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật chưa được chú trọng nếu như không nói là còn bị xem nhẹ Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thi hành luật của các cơ quan chức năng còn nhiều bất cập những kinh nghiệm xây đựng hệ thống pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật còn

Trang 30

nhiều hạn chế Tâm lý tiểu nông, thói quen của người sản xuất nhỏ làm cho nhiều người còn mang nặng tư tưởng “phép vua thua lệ làng" Điều đó lý giải tại sao trong đời sống xã hội vẫn còn không ít người chưa có thói quen sống

và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “pháp luật không phải là để trừng trị con người, mà là công cụ bảo vệ, thực hiện lợi ích của con người” Đáng tiếc là ở nước ta, vẫn còn một

bộ phận dân chúng coi pháp luật là sự trói buộc mình nên đã có tâm lý trốn tránh pháp luật Thực tế đó cũng làm cho việc thực thi pháp luật càng trở nên phức tạp hơn và chưa đạt được hiệu quả như mong muốn Ngoài ra, đội ngũ cán bộ trực tiếp thực thi luật pháp chưa thực sự công tâm, nghiêm minh, gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật và tình trạng pháp luật bị buông lỏng đã tạo điều kiện cho những hiện tượng phản đạo đức xuất hiện, gây ảnh hưởng xấu đến việc xây dựng các quan hệ xã hội lành mạnh và tiến bộ

Công cuộc đổi mới ở nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề, trong đó có vấn

đề phải tăng cường hơn nữa vai trò của pháp luật Việc nâng cao vai trò, hiệu quả của pháp luật không chỉ nhằm lập lại trật tự, kỷ cương xã hội, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho việc hình thành và phát triển ý thức đạo đức mới Để làm được điều đó, đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ nhiều biện pháp quan trọng

Tóm lại, muốn xã hội ổn định và ngày càng phát triển, cần phải có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đồng bộ để điều chỉnh các hoạt động của con người và của toàn xã hội

Sự hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi Luật GTĐB có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, đổi mới đất nước, đảm bảo TTATXH

Kết luận chương 1

Trang 31

Đưa pháp luật vào cuộc sống là yêu cầu tất yếu, có ý nghĩa quan trọng,

là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay Trong chương 1, luận văn đã luận giải được cơ sở lý luận của việc giáo dục ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ cho người tham gia giao thông

Luận văn cũng đã chỉ ra được mục đích của việc giáo dục ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ đối với người tham gia giao thông và chỉ ra nội dung giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ

Quần chúng nhân dân là nguồn lực chính trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Với vai trò, vị trí quan trọng trong xã hội, cùng với sự xuống cấp về đạo đức và tình trạng vi phạm pháp luật, nhất là vi phạm Luật GTĐB hiện nay đã đặt ra yêu cầu tất yếu khách quan là phải tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành Luật GTĐB cho người dân, nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho họ, góp phần giữ gìn trật tự, kỷ cương của đất nước, địa phương, giảm thiểu tình trạng vi phạm Luật GTĐB cũng như tai nạn giao thông hiện nay

Chương 2

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC Ý THỨC CHẤP HÀNH LUẬT GIAO THÔNG

ĐƯỜNG BỘ CHO NGƯỜI THAM GIA GIAO THÔNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY 2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai

Trang 32

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý: Đồng Nai là tỉnh nằm ở khu vực Miền đông Nam bộ, trong

vùng kinh tế trọng điểm kinh tế phía Nam, có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh và địa thế chiến lược của kinh tế quốc gia Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, Phía Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, Phía Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh, Phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước, Phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Địa hình Trung du chuyển từ cao nguyên Nam Trung bộ đến đồng bằng Nam bộ Đồng Nai nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, ít chịu ảnh hưởng của thiên tai, đất đai màu mỡ (phần lớn là đất đỏ bazan), có hai mùa rõ rệt (mùa mưa và mùa nắng) Nhiệt độ bình quân hàng năm từ 25 - 26oC Địa hình tương đối bằng phẳng, địa chất chịu nén tốt thuận lợi trong việc xây dựng các công trình

- Diện tích tự nhiên và dân số: Đồng Nai là tỉnh có diện tích 5.903.940 km2, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ Tổ chức hành chính cấp tỉnh gồm 25 đơn vị sở, ban, ngành;

11 đơn vị cấp huyện (1 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện) bao gồm: Thành phố Biên Hòa - là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của tỉnh; thị xã Long Khánh và 9 huyện: Long Thành; Nhơn Trạch; Trảng Bom; Thống Nhất; Cẩm Mỹ; Vĩnh Cửu; Xuân Lộc; Định Quán; Tân Phú Có 171 đơn vị cấp xã Dân số toàn tỉnh khoảng 2,9 triệu người, nhiều thành phần dân tộc, tôn giáo

- Giao thông vận tải: là tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều

tuyến giao thông huyết mạch chạy qua như: quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; đường cao tốc TP HCM – Long Thành – Dầu Giây; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên

- Tài nguyên khoáng sản: Đồng Nai có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng

và phong phú, tài nguyên rừng và nguồn nước sông Đồng Nai phục vụ cấp nước cho các địa phương trong khu vực

Trang 33

2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) 5 năm 2011-2015 tăng bình quân 12%/năm (theo giá năm 1994, phương pháp tính phổ biến thời gian qua) Trong đó: ngành công nghiệp, xây dựng tăng bình quân 12,2%; ngành dịch vụ tăng bình quân 14,4%; ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình quân 3,5% Quy mô GRDP theo giá thực tế năm 2015 dự kiến đạt gần 200 nghìn tỷ đồng (tương đương 9 tỷ USD), tăng gấp 2 lần so với năm 2010 GRDP bình quân đầu người theo giá thực tế năm 2015 trên 68 triệu đồng, tương đương khoảng 3.100 USD

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo đúng định hướng, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng giữ ổn định, tỷ trọng khu vực dịch vụ tăng lên, ngành nông lâm nghiệp và thủy sản giảm dần; năm 2011 cơ cấu kinh tế là: công nghiệp- xây dựng chiếm 57,3%, dịch vụ chiếm 35,2%, nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 7,5%; năm 2012 cơ cấu kinh tế là: công nghiệp- xây dựng chiếm 57%, dịch vụ chiếm 36,2%, nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 6,8%; năm 2013 cơ cấu kinh tế là: công nghiệp- xây dựng chiếm 56,9%, dịch vụ chiếm 36,8%, nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 6,3%, năm 2014 cơ cấu kinh tế là: công nghiệp- xây dựng chiếm 56,9%, dịch vụ chiếm 37,1%, nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 6% Đến năm

2015 cơ cấu kinh tế là: công nghiệp- xây dựng chiếm 56,7%, dịch vụ chiếm 37,7%, nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 5,6% Tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tăng bình quân 14%/năm

Tính chung 5 năm (2011-2015) vốn đầu tư phát triển trên địa bàn đạt trên

290 ngàn tỷ đồng (tương đương 6,5 tỷ USD), tăng bình quân 15,5%/năm, chiếm bình quân khoảng 40,1% GRDP cả giai đoạn Trong đó vốn khu vực nhà nước đạt 52.298 tỷ đồng, chiếm 18% tổng vốn, mức tăng bình quân là 7,1%/năm; vốn ngoài khu vực quốc doanh đạt 102.271 tỷ đồng, chiếm 35,2% tổng vốn, mức tăng bình quân là 33,8%/năm; vốn khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 136.027 tỷ đồng, chiếm 46,8% tổng vốn, mức tăng bình quân là 14,5%/năm Tổng thu ngân sách Nhà nước hàng năm đạt và vượt dự toán Trung ương giao

Đến tháng 9/2015, trên địa bàn tỉnh có 32 Khu công nghiệp đã được thành lập (thêm KCN công nghệ cao Long Thành) với tổng số diện tích đất sử dụng là 9.969,69 ha, diện tích lấp đầy đạt 68,5%, thu hút 1.396 dự án, trong đó gồm 1.021

dự án có vốn đầu tư nước ngoài và 375 dự án trong nước; Có 3 cụm công nghiệp đã đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng (Cụm công nghiệp gốm sứ Tân Hạnh, cụm công nghiệp vật liệu xây dựng Hố Nai 3, cụm công nghiệp Phú Thạnh- Vĩnh Thanh), có 2 cụm công nghiệp đang đầu tư hạ tầng (cụm công nghiệp Phú Cường, cụm công nghiệp Tam An)

(Nguồn : Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch 5 năm giai đoạn 2011-2015 và phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch 5 năm giai đoạn 2015-2020 - UBND tỉnh Đồng Nai)

2.2 Thực trạng chấp hành Luật Giao thông đường bộ của người tham gia giao thông ở Đồng Nai hiện nay

Trang 34

2.2.1 Tình hình trật tự an toàn giao thông và tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

2.2.1.1 Đặc điểm hệ thống giao thông đường bộ tỉnh Đồng Nai

Đồng Nai là tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời

có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên

Trong những năm qua, Đồng Nai đã có bước tiến nhanh trong đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông, nhất là giao thông đường bộ Hệ thống quốc lộ với tổng chiều dài 244,5 km đã và đang được nâng cấp mở rộng thành tiêu chuẩn đường cấp I, II đồng bằng (QL1, QL51), cấp III đồng bằng như QL 20 (tuyến đi Đà Lạt, trên địa bàn tỉnh dài 75km đã được trải thảm lại mặt đường)

Hệ thống đường bộ trong tỉnh có chiều dài 3.339 km, trong đó gần 700km đường nhựa Ngoài ra, hệ thống đường phường xã quản lý, đường các nông lâm trường, KCN tạo nên 1 mạng lưới liên hoàn đến cơ sở, 100% xã phường

đã có đường ô- tô đến trung tâm. Hiện tại Chính phủ đã khởi công xây dựng các dự án giao thông liên kết vùng: Đường cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây; Nâng cấp Quốc Lộ 51 Biên Hòa - Vũng Tàu; và đang có kế hoạch

triển khai đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng quan trọng Theo quy hoạch

trong tương lai gần, hệ thống đường cao tốc đi Bà Rịa - Vũng Tàu và TP Hồ chí Minh, nâng cấp tỉnh lộ 769 nối quốc lộ 20, quốc lộ 1 với quốc lộ 51 sẽ tạo nên một mạng lưới giao thông hoàn chỉnh, phục vụ nhu cầu phát triển KTXH địa phương và khu vực

Đây là đặc điểm ảnh hưởng lớn đến tình hình trật tự an toàn xã hội nói chung và tình hình trật tự ATGT nói riêng Do đặc điểm đời sống sản xuất dân cư hiện nay và điều kiện về kinh tế-xã hội và cũng như sự tiện ích của mô tô, xe máy, người dân

Trang 35

ngày càng có nhu cầu cao với loại phương tiện này Nhà nước cho phép các cơ sở sản xuất liên doanh lắp ráp xe mô tô ở Việt Nam, cho nên đây là phương tiện đi lại

và chuyên chở chủ yếu của nhân dân Sự gia tăng của phương tiện giao thông trong điều kiện cơ sở hạ tầng phục vụ cho giao thông vận tải thì chưa đáp ứng kịp

Giao thông Đồng Nai quá tải và lộn xộn, diện tích dành cho hạ tầng giao thông quá ít, các con đường quá tải do lượng xe cá nhân tăng nhanh chóng mặt trong những năm qua, các dự án đào đường khắp nơi, ý thức tham gia giao thông của đại bộ phận nhân dân còn kém, với rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, làm cho bộ mặt giao thông của tỉnh Đồng Nai trở nên lộn xộn

2.2.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc chấp hành và giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ ở Đồng Nai hiện nay

Kết cấu hạ tầng hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh ngày càng xuống cấp nghiêm trọng hoặc một số đoạn, tuyến đang thi công dở dang

có nhiều nguy cơ về tai nạn giao thông Như Quốc lộ 51, Quốc lộ 20 hoặc Quốc lộ 1 nhiều đoạn đọng nước nên thu hẹp mặt đường xe chạy; một số tuyến đường tỉnh, huyện cũng đang xuống cấp nhưng chưa được đầu tư vốn đầy đủ, kịp thời để sửa chữa, khắc phục Tiến độ thi công cầu Hóa An, đường dẫn cầu Đồng Nai còn trì trệ, thòi gian thi công kéo dài; cầu Long Thành do

vị trí xây dựng nằm trên dòng chảy, nước xoáy dẫn đến phương tiện bị trôi dạt, mất khả năng điều khiển dẫn đến va đập vào trụ cầu ảnh hương đến trạt tự ATGT

Phương tiện xe cơ giới tiếp tục tăng nhanh (tăng 8,7% xe ô tô và 9,2%

xe môtô, xe gắn máy), lưu lượng hoạt động hàng ngày gia tăng, trong đó tuyến Quốc lộ 1 mỗi ngày lưu lượng xe ôtô khoảng 50 ngàn lượt; môtô, xe gắn máy khoảng 100 ngàn lượt; Quôc lộ 20: : trên 10 ngàn lượt xe ô tô và 21 ngàn lượt xe mô tô, xe găn máy; Quốc lộ 5i: trên 20 ngàn lượt ôtô, gần 35 ngàn lượt môtô, xe gắn máy Hoạt động vận tải hết sức phức tạp, công tác

Trang 36

quản lý vận tải gặp nhiều khó khăn Ý thức pháp luật về trật tự ATGT, ý thức văn hóa giao thông của một bộ phận không nhỏ người tham gia giao thông còn nhiều hạn chế

Những yếu tố trên đã gây thêm nhiều phức tạp về tình hình trật tự ATGT và nguy cơ về tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh

2.2.1.3 Ùn tắc giao thông

Lực lượng Cành sát giao thông phối hợp Thanh tra giao thông bố trí nhân sự trực thường xuyên hướng dẫn điều tiết giao thông tại các điểm phức tạp, thường xảy ra ùn tắc, các cửa ngõ vào thành phố, thị xã, khu công nghiệp Hạn chế thấp nhất ùn tắc giao thông, bảo đảm giao thông hoạt động bình thường và thông suốt Tuy nhiên, còn xảy ra 13 vụ ùn tắc kéo dài trên 30 phút (tăng 04 vụ), nguyên nhân chủ yếu do sự cố kỹ thuật, phương tiện hư hỏng, mưa ngập đường, mật độ xe cao hoặc tai nạn giao thông

2.2.1.4 Tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn Đồng Nai

Từ tháng 1 đến tháng 12 xảy ra 755 vụ (giảm 29 vụ = -3,7%), chết 343 người (tăng 7 người = +2%), bị thương 912 người (giảm 77 người = -7,8%)

Trang 37

Va chạm 396 0 600

Chủ thể gây ra tai nạn từ nghiêm trọng đến đặc biệt nghiêm trọng

Nguyên nhân gây tai nạn

Người tham gia giao thông lấn trái tim đường 28% Bất ngờ sang đường, chuyển hướng sai luật 19,5%

Trang 38

Đi sai làn đường, phần đường 4,7%

Đi vào đường cấm, ngược chiều, vượt đèn đỏ 5,8%

(Nguồn: Báo cáo Tình hình trật tự an toàn giao thông năm 2015 của

Ban an toàn giao thông tỉnh Đồng Nai)

2.2.2 Thực trạng giáo dục ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ cho người tham gia giao thông ở Đồng Nai hiện nay

2.2.2.1 Thực trạng về ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện nay

Tai nạn giao thông là vấn đề nhức nhối đang được xã hội quan tâm và trở thành hiểm họa đối với bất kỳ ai khi tham gia giao thông Trên thực tế TNGT đang diễn ra từng ngày, từng giờ và có thể cướp đi mạng sống của con người bất kỳ lúc nào Mỗi ngày trôi qua, cả nước lại có hơn 30 người chết và bị thương Đáng buồn hơn khi không ít những nạn nhân của TNGT là học sinh, sinh viên Hàng năm số vụ TNGT vẫn không hề suy giảm, ngược lại nó còn tăng lên rất nhiều Các lỗi của người tham gia giao thông vi phạm cũng hết sức đa dạng như: điều khiển xe gắn máy khi chưa đủ tuổi, đi xe đạp dàn hàng ba, hàng tư, lạng lách, đánh võng, vượt đèn đỏ, chạy quá tốc độ, không đội mũ bảo hiểm Bên cạnh đó, người tham gia giao thông chưa thực hiện tốt văn hóa giao thông, còn bóp còi inh ỏi, lắp các loa to, phát nhạc ầm ĩ trên đường, nói tục, chửi bậy khi đi trên đường, đùa nghịch khi đang lái xe, đứng trên yên sau, dùng chân kéo đẩy xe khác…

Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có nhiều khu công nghiệp, trường học, cơ quan Vì vậy, nhu cầu đi lại của mọi người là khá lớn Thực tế cho thấy, người tham gia giao thông nói chung và tham gia giao thông đường bộ nói riêng vi phạm trật tự ATGT còn nhiều, phương tiện tham gia giao thông của người dân khá đa dạng như xe đạp, xe máy, ô tô… vì thế, các lỗi vi phạm giao thông mà họ gây ra

Trang 39

gây nguy hiểm đến tính mạng con người Nhưng điều đáng nói ở đây là rất nhiều người chưa hề ý thức được sự cần thiết phải tham gia giao thông đúng luật và chưa

ý thức được tác hại của TNGT đối với bản thân mình, với người khác và với toàn xã hội

Hiện tượng học sinh đi xe đạp dàn hàng ba, hàng tư, kéo đẩy nhau, đùa nghịch nhau trên đường, đi xe bằng một tay, một bánh; tình trạng dùng chân, tay kéo đẩy xe khác đặc biệt xuất hiện một số người đi xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm, đi sai phần đường gây TNGT Điều đáng nói là người dân nơi đây cũng chưa

tự giác chấp hành nghiêm chỉnh Luật giao thông đường bộ khi tham gia giao thông Hầu như trên các tuyến đường liên thôn, liên xã phần lớn người tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy, thỉnh thoảng nếu có người chấp hành tốt thì cũng là những người ở vào độ tuổi trung niên Với môi trường sống như vậy đã ảnh hưởng phần nào đến việc hình thành ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người dân nơi đây

Để hiểu rõ hơn về ý thức tham gia giao thông của người dân, tác giả đã trò chuyện, phỏng vấn một số học sinh ở một số trường học, công nhân ở một số công

ty, xí nghiệp Qua phỏng vấn cho thấy, nhiều người chưa có kĩ năng khi tham gia giao thông, nhiều em học sinh còn vi phạm luật giao thông như: đi xe đạp hàng 3, hàng 4, vượt đèn đỏ, rẽ sang đường trái quy định, đi vào đường ngược chiều, nhiều công nhân còn vượt đèn đỏ, chạy quá tốc độ…

Để tìm hiểu thực trạng nhận thức của người dân khi tham gia giao thông, tác giả đã tiến hành khảo sát 700 người, trong đó đại diện cho khối học sinh các trường học là 300 người, đại diện khối công nhân các công ty, xí nghiệp 200 người, đại diện cán bộ, công chức 200 người

Bảng 1: Nhận thức của người tham gia giao thông về tầm quan trọng của giáo dục

TTATGT

Trang 40

Tán thành Không tán

thành

Phân vân TNGT là vấn đề bức xúc, nóng bỏng của toàn

xã hội, cần được mọi người quan tâm 79 % 21 %

Giáo dục TTATGT cho mọi người là rất cần

Thực hiện TTATGT là trách nhiệm của mọi

Cần phải có hiểu biết đầy đủ về Luật giao

thông đường bộ khi tham gia giao thông 74,8 % 25,2 %

Thường xuyên tuyên truyền, nhắc nhở người

thân và bạn bè thực hiện tốt Luật giao thông

đường bộ

67,6 % 32,4 %

(Nguồn:Kết quả khảo sát của tác giả, tháng 02/2016)

Qua khảo sát, phỏng vấn, trò chuyện, tác giả nhận thấy rằng có nhiều người tham gia giao thông đã nhận thức được vai trò quan trọng của việc giáo dục TTATGT là rất quan trọng, cần thiết, phần nào họ đã nhận thức được trách nhiệm của bản thân khi tham gia giao thông Tuy nhiên, vẫn còn một số người tham gia giao thông nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của việc giáo dục kiến thức Luật giao thông đường bộ đối với bản thân Họ chưa thấy được nguyên nhân dẫn đến các vụ TNGT và hậu quả thương tâm mà nó để lại cho con người và xã hội (chủ yếu là đối tượng học sinh), chính vì thế, tỉ lệ không tán thành theo các nội dung mà chúng tôi khảo sát là khá cao, nhất là nội dung: Thường xuyên tuyên truyền, nhắc nhở người thân và bạn bè thực hiện tốt Luật giao thông đường bộ, có tới 32,4% người được hỏi trả lời là không tán thành; nội dung cần phải có hiểu biết đầy đủ về Luật giao thông đường bộ khi tham gia giao thông, có tới 25,2% người được hỏi họ không tán

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[7]. C.Mác, Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
[8]. C.Mác, Ăngghen (2002), Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
[9]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
[10]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
[11]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
[12]. Nguyễn Đăng Dung, Ngô Đức Tuấn, Nguyễn Thị Khế (1996), Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Ngô Đức Tuấn, Nguyễn Thị Khế
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1996
[21]. Đinh Văn Mậu, Phạm Hồng Hải (1977), Lý luận chung về Nhà nước và phỏp luật, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận chung về Nhà nước và phỏp luật
Tác giả: Đinh Văn Mậu, Phạm Hồng Hải
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1977
[22]. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
[23]. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
[24]. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
[25]. Nguyên Nhung, “Nâng cao ý thức pháp luật cho thanh niên, thiếu niên”, tạp chí Nhà nước và pháp luật, tháng 6 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao ý thức pháp luật cho thanh niên, thiếu niên
[29]. Lê Minh Thông (1983), Vài ý kiến về xây dựng và nâng cao ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa của cán bộ trong bộ máy nhà nước, Tăng cường hiệu lực nhà n- ước xã hội chủ nghĩa của ta, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài ý kiến về xây dựng và nâng cao ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa của cán bộ trong bộ máy nhà nước, Tăng cường hiệu lực nhà n-ước xã hội chủ nghĩa của ta
Tác giả: Lê Minh Thông
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1983
[30]. Lê Đức Thiết (1994), Ý thức pháp luật, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội. 31. Từ điển Tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý thức pháp luật
Tác giả: Lê Đức Thiết
Nhà XB: Nxb Quân đội Nhân dân
Năm: 1994
[32]. Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (1995), Những vấn đề cơ bản về Nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 1995
[1]. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2003), Chỉ thị số 32-CT/TW Ngày 09/12/2003 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hàng pháp luật của cán bộ, nhân dân Khác
[2]. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2012), Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04/9/2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông Khác
]3]. Bộ Tư pháp. Thông tư số 18/2010/TT-BTP ngày 05/11/2010 của Bộ Tư pháp quy định về báo cáo viên pháp luật Khác
[5]. Bộ Tư pháp - Vụ Phổ biến, Giáo dục pháp luật (2007); Một số hình thức phổ biến giáo dục pháp luật, NXB Công an Nhân dân Khác
[13]. Giáo trình Triết học Mác-Lênin (1999), Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Khác
[15]. Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, số ngày 12 tháng 6 năm 1999 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w