Các tư liệu sử dụng trong bài viết: Hình ảnh đi chụp thực địa Tại một số xã của Tỉnh Sơn La : Bản Lưng - huyện Sông Mã , Bản Bó –thành phố Sơn La… Phỏng vấn các già làng, trưởng bản, th
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN TÌM HIỂU VỀ:
NHÀ SÀN DÂN TỘC THÁI
Giáo viên hướng dẫn:
Nhóm sinh viên thực hiện :
Lê Thị Thanh An 10k5
Đèo Thuận Thắng 10k5
Khương Hải Hoàn 10k5
Nguyễn Văn Thắng 10k3
Mục lục: Chương 1: Đôi điều về dân tộc Thái.
Chương 2: Kiến trúc độc đáo của nhà sàn dân tộc Thái Sơn La
Chương 3: Nhà sàn dân tộc Thái thời hiện đại ở Sơn La.
Chương 4: Tín ngưỡng dân gian được thể hiện trong kiến trúc nhà sàn dân tộc Thái Chương 5: Giá trị vật chất tinh thần của nhà sàn người Thái.
Chương 6: Bài học.
Trang 2Các tư liệu sử dụng trong bài viết:
Hình ảnh đi chụp thực địa Tại một số xã của Tỉnh Sơn La : Bản Lưng - huyện Sông Mã , Bản
Bó –thành phố Sơn La…
Phỏng vấn các già làng, trưởng bản, thầy mo, thầy cúng, nghệ nhân văn hoá dân gian,cùng đồng bào người dân tộc
Tư liệu từ 1 số bài viết của Trần Vân Hạc: http://vanhac.org/
Tìm kiếm tài liệu qua mạng internet, thư viện tỉnh
Thông tin từ 1 số địa chỉ Web:
http://vietbao.vn/Kham-pha-Viet-Nam/Xen-ban-Net-van-hoa-truyen-thong-cua-dan-toc-http://vifash.com.vn/p0c80s155n558/trang-phuc-net-dac-trung-trong-van-hoa-thai.htm
Trang 3Chương 1: Đôi điều về dân tộc Thái.
*Dân tộc Thái có khoảng 60 vạn người bao gồm nhiều ngành, mỗi ngành lại chia làm nhiềunhóm khác nhau : Thái Đen, Thái Trắng và Thái Đỏ gồm nhiều nhóm phức tạp cư trú chủ yếu
ở Mộc Châu ( Sơn La), Mai Châu ( Hòa Bình) và các huyện miền núi hai tỉnh Thanh Hóa vàNghệ Tĩnh : Thái Mai Châu , Thái Mộc Châu và Thái Thanh Hoá
*Dân tộc Thái thuộc nhóm địa phương : Ngành Đen(Thái Đen), Ngành Trắng(Thái Trắng)
và thuộc nhóm ngôn ngữ Tày Thái
I/ Dân cư
1/ Thái Đen ( hay còn gọi là Táy Đăm).
Địa bàn cư trú: chủ yếu ở hai tỉnh Sơn La , HoàngLiên Sơn , và các huyện Điện Biên , Tuần Giáo tỉnhLai Châu Ở miền tây Thanh Hoá và Nghệ Tĩnh ,những nhóm Tày Thanh (Man Thanh), Tày Mười, TàyKhăng đã bị ảnh hưởng nhiều về văn hoá và nhânchủng của các dân cư địa phương và Lào
Nguồn gốc: Đến Việt Nam vào khoảng thế kỷ XI va XII Tày Thanh từ Muờng Thanh (ĐiệnBiên) qua Lào và Thanh Hoá tới Nghệ Tĩnh cách đây 200,300 năm Nhóm này gần gũi với TháiYên Châu và chịu ảnh huởng văn hoá Lào Nhóm Tày Mười là 1 phần cư dân xã Chiềng Pấc divào Thanh Hoá và Nghệ Tĩnh từ thời Lê Thái Tổ
2/ Thái Trắng (Táy Đón).
Địa bàn cư trú: Chủ yếu ở Lai Châu và các huyệnQuỳnh Nhai, Bắc Yên, Phủ Yên (Sơn La)
Nguồn gốc: Thái Trắng là con cháu người Bạch Y đã
cư trú từ lâu ở Tây Bắc và Nam Vân Nam Nhưng đếnđầu thiên niên kỉ thứ 2 sau Công Nguyên, họ mớichiếm được ưu thế ở dọc hữu ngạn sông Hồng và tỉnhLai Châu Đến thế kỉ thứ XIII, họ đã làm chủ MuờngLay Ở vùng ven sông Hồng, họ đến sớm hơn nguờiThái Đen vì trong hành trình hành quân, Lạng Chượng
đã gặp cái tù trưởng Thái Trắng ở dọc đường Bộ phậnThái Trắng sau phát triển thế lực sang các vùng QuỳnhNhai (Sơn La), Mường Tè (Lai Châu), tới Mường Tấc(Phủ Yên) và một bộ phận xuống Đà Bắc và ThanhHoá
Trang 4+) Địa bàn cư trú: Chủ yếu ở Mộc Châu (Sơn La), MaiChâu (Hà Sơn Bình) và các huyện miền núi 2 tỉnh ThanhHoá và Nghệ Tĩnh
+) Nguồn gốc: Nhóm Thái Mộc Châu từ Lào sang từ thế
kỉ thứ XIV, chịu ảnh hưởng về nhân chủng và văn hoá của
cả hai nghành Thái Trắng và Thái Đen Nhóm Thái MaiChâu gốc từ miền Bắc Hà (Hoàng Liên Sơn) chuyển về vàokhoảng thế kỉ thứ XIV, từ đó xuống Mường Khòong (ThanhHoá) và một số ngược lên Châu Mộc (Sơn La) hoà vàonhóm Thái cũ đã ở đó Người Thái Thanh Hoá tiếp tục được
bổ sung bằng những luồng thiên di từ Lào qua hay Tây Bắc
về, có quan hệ qua lại về huyết thống với văn hoá và ngườiMường
II/ Kinh tế:
Dân tộc Thái có nền kinh tế khá đa dạng, họ biết tận dụng tất cả những tài nguyên sẵn có cũngnhư sáng tạo và phát minh ra những công cụ để phục vụ cho công việc của họ dưới đây lànhững hình thaí kinh tế chủ yếu của dân tộc Thái
1/ Lúa nước:
<= Cọng nước Khi đến Việt Nam , người Thái đã biết làm ruộng nước, nước là yếu tố quan trọng bậc nhấttrong việc trồng lúa, cần quanh vụ và khi có nước mới bắt đầu cáy cấy được,chính vì thế mà
họ có nhiều kinh nghiệm trong việc đào mương, đắp phai, bắc ống dẫn nước về ruộng cũngnhư trong việc sử dụng một cách phổ biến và rất tài tình chiếc cọng nước_một thứ máy mócgiản đơn vào việc dẫn nước vào ruộng
2/ Nương rẫy
Nương Thái có 2 loại : Nương và rẫy Như là nương lúa, ngô, sắn, làm hai hoăc ba nămphải bỏ hóa, thường đi đôi với công cụ là gậy chọc lổ hay là cuốc Nương bông, chàm đãđược xới, bón kỹ Loại nương này đã bắt đầu được thâm canh nhưng chưa đến mức độ chuyểnhóa thành ruộng hay thành vườn được
Trang 5Nhưng sau ngày giải phóng , việc trồng lúa có tăngnăng suất cao hơn nhờ vào việc tiếp thu những kỹ thuật
và phương pháp canh tác mới “ Nước ,phân ,cần, giống,”được chú trọng và giải quyết theo khả năng của địaphương với sự giúp đỡ của chính phủ Đã xuất hiệnnhững máy móc nông nghiệp cày , bừa máy , máy bơmnước .vv những công trình thủy nông loại nhỏ hayvừa vv Đất được khai thác mạnh hơn nhờ làm thủylợi,bỏ phân tro, tăng diện tích, tăng vụ
3/ Rừng
Nhờ ruộng đất, đời sống cư dân Thái có phần sung túc hơn các cư dân quanh vùng Nhưng
họ cũng chưa thoát khỏi đói kém do lũ lụt, hạn hán gây ra và họ vẫn tồn tại và phát triển đếntận bây giờ là nhờ có rừng phòng hộ và từ đó họ phát triển được kinh tế rừng, cung cấp cho họcác thứ rau củ, hạt dại,nấm, mộc nhĩ, măng, rêu , và các loại côn trùng , dưới khe suối còn cótôm, cua,ốc cá nhỏ Những thứ đó thường xuyên tham gia vào hai bữa ăn chính hàng ngàycủa đồng bào Nên hái lượm vẫn đóng một vị trí nhất định trong đời sống kinh tế của cư dânngười Thái
Rừng còn cung cấp cho đồng bào Thái những nguyên vật liệu để làm nhà , đan lát những gia
cụ , cung cấp củi đun, dầu thắp sáng, những cáy thuốc và những lâm thổ sản quý, và do chínhsách thu mua lâm thổ sản và khuyến khích việc khai thác và trông rừng , có hợp tác xã đã thunhập được một số tiền mặt lớn góp phần nâng cao đời sống xã viên
4/ Chăn nuôi, đánh cá
Rừng không chỉ là nguồn cung cấp ,dự trữ nguyênliệu lương thực,là đất để săn bắn,mà còn là nơi chăn giasúc.Ở dây ít có đồng cỏ lớn .Nhưng ở từng địaphương ,người Thái vẫn tìm kiếm được chỗ để tha rôngtrâu bò trong những lúc không dùng chúng vào sảnxuất
Nghề đánh cá khá phát triển: “Pày kin pà, ma kinlảu” tức đi ăn cá, về uống rượu là câu nói cửa miệngcủa đồng bào Cá là món ăn có trong bữa cơm hằngngày, và không thể thiếu được trên mâm lễ và khi nhà
có khách khứa
5/Dệt vải
Có thể coi phụ nữ Thái là những thợ dệt chăm chỉ,lành nghề ,sản xuất không những đủ chănmàn ,quần áo cho gia đình mà còn đem trao đổi.Người Thái nổi tiếng với những tấm thổ cẩmdệt rất tinh vi với những mô típ hoa văn hình thú ,chim ,cây cối
Trang 6Dệt vải là một nghề thủ côngtruyền thống lâu đời của ngườiThái Hình ảnh cô gái Thái bênkhung cửi, nét đẹp quen thuộc vẫnthường gặp ở mỗi nhà trong làngbản.Họ dệt ra những tấm vải thổcẩm rất tinh xảo và đẹp.
III/ VĂN HÓA
áo, quần, thắt lưng và các loại khăn.
Áo nam giới có hai loại, áo cánh ngắn và áo dài Áo ngắnmay bằng vải chàm, kiểu xẻ ngực, tay dài hoặc ngắn, cổ tròn.Khuy áo làm bằng đồng hay tết bằng nút vải, có hai túi phía vạttrước có khi có túi con ở phía ngực trái
Áo ngắn loại này hầu như không có trang trí hoa văn, mà chỉdịp trang trọng người ta mới thấy nam giới Thái mặc tấm áocánh ngắn mới, lấp ló đôi quả chỉ (mak may) ở đầu đường xẻ tàhai bên hông áo Mak may quấn bằng chỉ mầu xanh, đỏ vàng,xen kẽ nhau
TRANG PHỤC NỮ
Cũng như nhiều dân tộc khác, trang phục của phụ nữ Thái còn bảo lưu và thể hiện rõ nétnhất bản sắc văn hóa dân tộc Các bộ phận của nữ phục Thái gồm: áo ngắn, (xửa cỏm), áo dài(xửa chái và xửa luổng), váy (xỉn), thắt lưng (xải cỏm), khăn (piêu), nón (cúp), xà cạp (pepănkhạ), các loại hoa tai, vòng cổ, vòng tay, xà tích…
Mô hình thiếu nữ Thái dệt vải Khuyên tai của dân tộc Thái đen
Trang 7Y phục phụ nữ Thái– Lai Châu Y phục phụ nữ Thái Trắng – Sơn La
Áo ngắn của người Thái có nhiều loại, trong đó xửa cỏm (áo ngắn bó sát người có hàng cúcbướm) là đặc trưng hơn cả Loại áo xửa cỏm may vừa khít thân, rất ngắn, gấu áo vừa chấmcạp váy, làm tôn thêm những đường nét đẹp của người phụ nữ Bởi thế, loại áo phụ nữ này rấtkhó may cắt, sao cho bó sát người vừa làm cho người mặc cử động thoải mái
Váy (xỉn) cùng với xửa cỏm tạo nên dáng nét chính của bộ nữ phục Thái Thắt lưng (xài ẻo)làm bằng vải tơ tằm hay sợi bông màu xanh lam hoặc tím xẫm, giữ cho cạp váy quấn chặt lấy
eo bụng
Nói về bộ trang phục nữ Thái không thể thiếu chiếc khăn piêu Chiếc khăn piêu được các
cô gái Thái thêu thùa rất cầu kì, nó thể hiện sự khéo léo của mỗi cô gái Piêu tết 3 sừng là piêuthường dùng, piêu tết 5 hay 7 sừng là piêu sang, dùng làm quà biếu, đội lúc bản mường có hội
Trang 8tự nó đã bao quát cả âm dương, ngũ hành một cách tổng thể Xét riêng từng phần, sự hài hoàcũng lại là một nét riêng tạo nên một tác phẩm vô cùng quyến rũ
Xôi nếp đựng trong “ếp khảu” Hình ảnh người phụ nữ Thái bên bếp lửa
đang dùng “Tàu hày”để đồ xôi.
Đối với người Thái, trong một mâm cơm, các món ăn bao giờ cũng phải đảm bảo đủ 2 yếu tố âm,dương Chúng bổ sung, pha trộn cho nhau làm thực khách mê mải cùng hương rượu, quấn quít với những hương vị được gia giảm rất kỹ càng Món cá mang tính âm (hàn) nên khi ăn, người Thái dùng với một số gia vị mang tính dương như: ớt, sả, gừng, tiêu để cân bằng Và những vị cay này cũng lại được điều hoà bằng vị chua của khế, của chanh Mang trong mình hơi thở của núi rừng rộng thẳm cùng những sản vật được thiên nhiên ưu đãi
Món Pà pỉnh tộp Chuẩn bị làm món rêu nướng
Trang 94, Phương tiện vận chuyển.
Do sinh sống bên cạnh dòng sông, con suối, người Thái nổi tiếng là những người đi thuyềngiỏi Nhiều người du lịch không hết lời ca ngợi cách lái thuyền của họ vượt qua các thácghềnh, xuôi ngược sông Đà Ngày xưa, trước khi lấy vợ,người thanh niên Thái buộc phải lênrừng kiếm gỗ đóng xong chiếc thuyền độc mộc cho mình Nổi tiếng ở vùng Thái là chiếcthuyền đuôi én dùng để chở hàng, dọc các dòng sông lắm thác ghềnh Thân thuyền thon, mũithuyền nhọn, phảng phất như hình chiếc thuyền trên trống đồng Ngọc Lũ Thuyền có nhiềuloại: có loại to 5 mái chèo, có loại nhỏ 2 mái chèo Thuyền to dài tới 15-16m, có thể chở được
20 tạ hàng
Đến ngày nay, bên cạnh những phương tiện giao thông vận tải cổ truyền còn thấy thôngdụng ở nông thôn, đã xuất hiện những phương tiện hiện đại: ôtô, xe đạp, thuyền gắn máy.Mạng lưới đường sá đã mở rộng xuống các làng mạc, tao điều kiện cho đồng bào dễ tiếp xúcvới văn minh bên ngoài của cả nước, thúc đẩy sự phát triển về các mặt kinh tế, xã hội, vănhoá ở địa phương
B/Văn hoá phi vật thể.
1, Ngôn ngữ.
a, Tiếng nói
Người Thái nói các thứ tiếng thuộc nhóm ngôn ngữ gốc Thái của hệ ngôn ngữ Thái-Kadai.Trong nhóm này có tiếng Thái của người Thái (Thái Lan), tiếng Lào của người Lào, tiếngShan ở Myanma và tiếng Choang ở miền nam Trung Quốc Tại Việt Nam, 8 sắc tộc ít ngườigồm Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái được xếp vào nhóm ngôn ngữ Thái
b, Chữ viế t
Sách cổ của người Thái
Ở Việt Nam, Thái là dân tộc thiểu số có tiếngnói và sớm có chữ viết riêng Theo cuốn Quan TôMương (kể chuyện Mường) thì chữ Thái Đendòng Tạo Xuông, Tạo Ngần ở đất Mường Lò (nay
là huyện Văn Trấn và thị xã Nghĩa Lộ - Yên Bái)
đã có từ thế kỉ XI
Chắc chắn chữ Thái là phương tiện duy nhất đểghi chép các thông tin kinh tế, xã hội, văn hoá củadân tộc Và như thế chữ Thái cổ đã trở thành disản văn hoá của tộc người và nhân dân Thái
2,Tôn giáo tín ngưỡng.
Do sinh sống bằng nông nghiệp trong điều kiện còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, khoa học cònkém phát triển, người Thái tin rằng các lực lượng siêu nhiên quyết định số phận của họ Họ tin trên trời có Then Luông là đấng cai quản trời đất,loài người và vạn vật, Then Luông được các quần thần giúp việc Còn ở trần gian, bất cứ nơi nào cũng có các ma cai quản Muốn lập bản, khai phá ruộng,
Trang 10phát nương, đánh cá, săn thú đều phải xin phép các ma ruộng, ma nương, ma rừng ma suối… Những
vị thần trên trời, các ma dưới trần cùng với ma nhà, ma họ, những ông bà cụ kị đã mất là những lực lượng phù hộ, bảo vệ con người.
Thầy mo đang cúng lễ
Người Thái theo trật tự gia đình phụ quyền, có hìnhthức thờ cúng tổ tiên Người Thái có nơi thờ cúng từngdòng tộc, từng dòng họ Chỗ đó có thể là một rừng cấm,một gốc cây, một hòn đá Nếu người trong một họ liênkêt với nhau bằng việc thờ cúng ma dòng họ, thời thànhviên trong gia đình liên kết với nhau bằng việc thờ manhà
Bố mẹ đã khuất được coi là siêu linh tác động đến toàn
bộ đời sống của con cháu Chỉ có người chủ nhà mớiđược thay mặt gia đình cúng ma nhà, chủ trì lễ xên hươn,cầu xin tổ tiên nói chung phù hộ cho con cháu
3, Văn hoá dân gian
Sinh sống hàng ngàn năm trên dải đất Việt Nam thừa hưởng một nền văn minh cổ truyềnlớn lao của cha ông người Thái đã góp phần cống hiến không nhỏ vào kho tàng văn hoá chungcủa cả dân tộc Việt Nam Nhờ có văn tự, cư dân Thái đã lưu lại cho đến nay nhiều sách,chuyện ghi trên giấy, trên lá cây Đó là những cuốn sách sử chép tay dày hằng trăm trang,những bộ luật hay tập quán tương đối hoàn chỉnh, phản ánh tình hình xã hội đương thờinhững bản trường ca làm kích động lòng người, những chuyện thơ tuy khuyết danh nhưngđầy giá trị nghệ thuật, những tập dân ca những bài hát đồng giao những bài hát răn đời, nhữngtầp ghi chép những nghi lễ tôn giáo …Có thể nói vốn văn nghệ cổ truyền Thái rất phong phú Thơ ca dân gian chiếm một vị trí rất lớn gồm những câu ca dao, những tập thơ tình yêu,thơ ca hát trong dịp hội hè, đám cưới, mừng lên nhà mới ,trong những dịp lao động sản xuất,cho đến những bản trường ca, những truyện thơ lịch sử
Đất Thái còn nổi tiếng về múa Múa còn gọi là múa xoè Ban đầu xoè có hình thức đơngiản và có tính phổ thông Có điệu xoè vòng hay xoè theo hàng, múa theo nhịp đàn hay theođiệu hát khi vui chơi dưới ánh trăng hay lúc nghỉ giữa hai thời gian sản xuất Sau cách mạng,nghệ nhân dân gian mới phát triển thành những điệu xoè mang biểu diễn lên sân khấu nhưđiệu xoè khăn, xoè quạt, xoè nón, xoè bướm, xoè đèn…
Thiếu nữ Thái múa điệu múa dân tộc Thiếu nữ Thái múa quạt
Trang 11Chương 2: Kiến trúc độc đáo Nhà sàn dân tộc Thái ở SƠN LA.
Nhà sàn của người Thái Tây Bắc là một công trình kiến trúc đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc,ta sẽ tìm hiểu điều này qua những nét chính sau:
I Sơ đồ mặt đứng
II Sơ đồ mặt bằng và phân chia không gian nội thất trong nhà sàn
III.Kết cấu khung
IV Họa tiết trang trí nhà sàn
V Một số kiểu cầu thang nhà sàn
VI Vật liệu làm nhà sàn
I Sơ đồ mặt đứng.
Nhà sàn của người Thái - "hướn hạn phủ táy" là một công trình kiến trúc tài hoa, hoà đồng
với thiên nhiên, đất trời cùng vạn vật Từ kiến trúc xây dựng đến nghệ thuật trang trí đều bắtnguồn từ thực tế cuộc sống khách quan được cách điệu hoá đạt tới trình độ thẩm mỹ cao Cộng đồng người Thái sống thành những bản, mường, ở những thung lũng Cuộc sống hoàvới thiên nhiên để tiện cho việc gieo cấy lúa nước, trồng lanh dệt vải nên ngôi nhà sàn củangười Thái đặc trưng khác biệt với nhà ở của các dân tộc khác
Trang 12Khí hậu Tây Bắc khắc nghiệt, hàng năm có thể chia làm 3 mùa : hanh, sương, mưa Mùahanh từ tháng 10 đến tháng Giêng, mùa sương từ tháng 2 đến tháng 5, mùa mưa từ tháng 6đến tháng 9 Từ xa xưa, trong nhận thức của người Thái là phải làm một kiểu nhà an toàn,chịu đựng được những điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên Vì thế, những ngôi nhà truyềnthống ra đời gắn với đồng bào hàng ngàn năm, giúp họ tồn tại, phát triển Để có được ngôinhà sàn vừa ý, người Thái phải chọn những loại gỗ tốt làm khung nhà, mái lợp gianh,bây giờthì đa phần là lợp ngói
Chùm ảnh đi chụp thực tế 1 ngôi nhà sàn ở bản Lưng-xã Chiềng en-huyện Sông Mã-SơnLa.
Phía trước nhà Nhìn chéo từ phía trước nhà.
Phía sau nhà.
Nhà sàn thường cao hơn mặt đất chừng 2 mét,như vậy giúp chống được ẩm thấp,thú dữ(ngày xưa), phía trên để sinh hoạt, phía dưới có thể dùng để chăn nuôi Mặt sàn được lát bằngnhững cây bương, tre, vầu hoặc gỗ. Điều đặc biệt, trong nếp nhà sàn truyền thống là mặc dùđược cấu trúc từ các loại cây gỗ và cây có dóng, lợp bằng cỏ tranh hay ván thông, nhưngkhông hề dùng đến một mẩu sắt nhỏ nào trong thiết kế xây dựng Tất cả các hệ thống dâychằng buộc, thắt khá công phu và tinh xảo bằng lạt tre, giàn mây hoặc vỏ những cây chuyêndùng trong rừng Tuy đơn sơ, mộc mạc, nhưng nhà sàn rất chắc chắn và bền với mưa rừng,gió núi và khí hậu ẩm ướt quanh năm. Có những ngôi nhà tồn tại tới hàng trăm năm tuổi
Ảnh đi chụp thực tế 2 ngôi nhà sàn khác ở xã Chiềng Lề-Sơn La.
Trang 13II Sơ đồ mặt bằng và phân chia không gian nội thất trong nhà sàn.
Nhà sàn cổ của người Thái bao giờ cũng làm số gian lẻ, hai đầu hồi - "tụp cống" khum khum như mai rùa, gắn với truyền thuyết về thuở khai thiên lập địa, thần rùa "Pua tấu” dạy
cho người Thái biết cách làm nhà theo hình rùa đứng để tránh được lũ lụt và thú dữ