Trường Đại Học Khoa Học Tự NhiênĐại học Quốc Gia Hà Nội Tìm hiểu về đa dạng và tình trạng bảo tồn động vật có xương sống ở Việt Nam, lấy ví dụ ở nhóm thú... Nhận thấy tầm quan trọng của
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
-Trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên
TIỂU LUẬN
Học phần ĐỘNG VẬT HỌC ĐỘNG VẬT CÓ XƯƠNG SỐNG
Sinh viên: Đinh Văn Tú – 19001225 Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thành Nam
a
Trang 2Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Đại học Quốc Gia Hà Nội
Tìm hiểu về đa dạng và tình trạng bảo tồn động vật có xương sống
ở Việt Nam, lấy ví dụ ở nhóm thú
Trang 3Mục lục
Nội dung
Mục lục c Lời cảm ơn d
Mở Đầu 0
1 Lý do chọn đề tài 0
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Đối tượng nghiên cứu 1
4 Phạm vi nghiên cứu 1
5 Kết cấu của đề tài 1
Nội Dung 2
1 Đa dạng sinh học ở Việt Nam 2
1.1 Đa dạng hệ sinh thái và sự suy thoái của các hệ sinh thái tự nhiên 2
1.2 Đa dạng loài và sự suy giảm các loài tự nhiên 3
2 Tình trạng bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam 3
2.1 Tình trạng bảo tồn nói chung 3
2.2 Bảo tồn nhóm Thú 5
2.3 Sao la 6
Mối đe dọa 7
Hoạt động bảo tồn 7
Kết Luận 9
Tài Liệu Tham Khảo 10
Phụ Lục 11
c
Trang 4Lời cảm ơn
Chuyến đi nào rồi cũng kết thúc, em mong học kỳ vừa qua dẫu còn nhiều khó khăn, bất cập, vẫn có thể để thầy cảm nhận được một học kỳ thành công.
Bài tiểu luận này có lẽ cũng sẽ kết thúc học phần này Bản thân em còn nhiều thiếu sót, dù đã cố gắng song khó tranh khỏi những sai lầm, em mong thầy thông cảm và giúp em sửa đổi.
Cuối cùng, sức khỏe là tối quan trọng, đặc biệt trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay Em mong thầy giữ gìn sức khỏe và luôn tích cực, yêu đời.
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5Mở Đầu
1 Lý do chọn đề tài
Đa dạng sinh học đang bị suy thoái nghiêm trọng Trong vài thập
kỷ qua, tình trạng mất đa dạng sinh học diễn ra ở mức báo động trên toàn thế giới, từ các nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản đến các nước kém phát triển ở Châu Phi, Châu Á và Mỹ Latinh.
Các loài động vật, đặc biệt là các loài có giá trị về y học, làm trang sức như hổ, tê giác, chồn và gấu trắng, đang bị tiêu diệt đến mức tuyệt chủng đáng báo động.
Theo ước tính, hàng năm có 25.000 đến 50.000 loài tuyệt chủng và đa số
những loài này chưa được nhận dạng Số liệu được công bố tại Hội nghị bảo tồn thế giới, Liên minh bào tồn thế giới (IUNC), đa số loài trong sách đỏ ngày càng tăng vọt Sách đỏ năm 2004 cho thấy có 12.259 loài bị đe doạ.
Bất kỳ sự mất cân bằng nào đều sẽ dẫn tới khủng hoảng Sự mất cân bằng trong tự nhiên chắc chắn đã, đang và sẽ tiếp tục làm trầm trọng thêm những hậu quả khó lường Vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học ngày càng trở lên cấp thiết, cần được chú ý và đáng được chính thức quan tâm, vì hiện tại, vì tương lai!
Nhận thấy tầm quan trọng của việc bảo tồn, bài tiểu luận được
em hoàn thành với tên đề tài: “ Tìm hiểu về đa dạng và tình trạng bảo tồn động vật có xương sống ở Việt Nam, lấy ví dụ ở nhóm thú”.
0
Trang 62 Mục đích nghiên cứu
Thông qua quá trình tìm hiểu và làm
tiểu luận, đầu tiên em cũng hy vọng bản
thân có thể tích lũy thêm kiến thức, đạt
được những hiểu biết làm sáng tỏ hơn về
công cuộc bảo tồn đa dạng sinh học, ở
đây chính là nhóm Thú Biết và hiểu,
chúng giúp em có cái nhìn sâu sắc hơn về hậu quả, thực trạng, khó khăn, thách thức
mà những người “anh hùng” bảo tồn đã và đang phải đối mặt, từ đó cũng rút ra những bài học, quy tắc và xác lập được đúng đắn tư tưởng, lan tỏa lòng biết ơn.
Hơn thế nữa, sau bài luận này, em hy vọng qua đây có thể giới thiệu tới mọi người một tài liệu tham khảo giá trị cho những nghiên cứu tiếp theo hay chí ít là một bài chia sẻ được đón nhận.
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong bài tiểu luận là sự đa dạng và việc bảo tồn động vật có xương sống ở Việt Nam nói chung và nhóm Thú nói riêng.
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi trong bài tiểu luận giới hạn, nội dung chủ yếu mang tính tìm hiểu, liệt kê và đánh giá sơ bộ.
5 Kết cấu của đề tài
Bài tiểu luận theo kết cấu trực tiếp triển khai lần lượt, từ trình bày
đa dạng động vật ở Việt Nam tới tình trạng bảo tồn nói chung, nhóm Thú nói riêng, nêu ví dụ cụ thể về loài Sao La (Pseudoryx
nghetinhensis) sau đó mở rộng bàn luận, cuối cùng đưa ra kết luận.
Trang 7Nội Dung
1 Đa dạng sinh học ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới Hệ sinh thái đa dạng cung cấp nước sạch, giúp giữ đất,
là vùng đệm chống bão và các cú sốc về khí hậu, đồng thời là cơ sở để phát triển các hoạt động kinh tế dựa vào thiên nhiên, trong đó có du lịch Bảo tồn đa dạng sinh học là một thành tố quan trọng để đạt được phát triển bền vững cũng như cung cấp hàng hóa công cộng toàn cầu.
1.1 Đa dạng hệ sinh thái và sự suy thoái của các hệ sinh thái tự nhiên
Việt Nam có các kiểu hệ sinh thái rất đa dạng, ở những vùng địa lí không lớn cũng có nhiều kiểu hệ sinh thái Kết quả nghiên cứu cho thấy có 95 kiểu hệ sinh thái thuộc 7 dạng hệ sinh thái chính ở trên cạn; 39 kiểu hệ sinh thái đất ngập nước, gồm
28 kiểu đất ngập nước tự nhiên và 11 kiểu đất ngập nước nhân tạo; 20 kiểu hệ sinh thái biển khác nhau Có thể kể đến một số hệ sinh thái tiêu biểu sau đây:
Hệ sinh thái rừng: Hệ sinh thái rừng ở Việt Nam khá phong phú với các kiểu rừng kín vùng cao, rừng kín vùng thấp, rừng thưa với hệ thực vật vô cùng phong phú.
Hệ sinh thái rừng ngập mặn: Đây là loại hình hệ sinh thái đặc thù ở vùng triều cửa sông, ven biển nước ta Chúng góp phần quan trọng vào việc bảo vệ đất đai, điều hoà khí hậu đồng thời là môi trường sinh sống của nhiều động thực vật vùng triều có tính đa dạng lớn
và còn là nơi nuôi dưỡng ấu trùng của nhiều thuỷ sản có giá trị.
Hệ sinh thái rạn san hô: Khu vực và thành phần các loài san hô biển nước ta rất phong phú Rạn san hô cũng như rừng trên mặt đất, không chỉ cho nguồn lọi sinh vật thuỷ sản lớn mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trạng thái cân bằng của cà vùng nước.
Hệ sinh thái đầm phá, vũng, vịnh: Loại hình hệ sinh thái này chủ yêu tập trung ven biển miền Trung nước ta Chúng là nơi sinh sống của nhiều sinh vật cửa sông, các loài rong tảo nước lợ, nơi phân bố của nhiều nhuyễn thể hai mảnh quý như trai ngọc, sò, vẹm và một số vùng là nơi cư trú của các loài chim nước có giá trị thuộc đối tượng bảo tồn của Công ước Ramsar.
Thành phần các quần xã trong các hệ sinh thái nêu trên cũng rất đa dạng, cấu trúc quần xã trong các hệ sinh thái phức tạp, nhiều tầng bậc, nhiều nhánh Đặc
2
Trang 8điểm này làm cho đa dạng hệ sinh thái ở Việt Nam có nhiều điểm khác biệt so với các nước trên thế giới.
Các hệ sinh thái ở Việt Nam phần lớn là những hệ sinh thái có tính mềm dẻo, có khả năng thích ứng và phục hồi nhanh trước những biến động môi trường Vì vậy, chúng có tính ổn định không cao, thế cân bằng sinh thái dễ bị phá vỡ khi có tác động từ bên ngoài hay nội tại 1.2 Đa dạng loài và sự suy giảm các loài tự nhiên
Việc Nam là một trong những nước có đa dạng sinh học cao thứ 16 trên thế giới, về các loài động vật, thực vật và vi sinh vật, do sự phong phú về các dạng địa hình, khí hậu Sau đây là các con số thống kê:
về thực vật, các kết quả điều tra cho thấy nước ta có khoảng 13.894 loài thực vật, trong đó có 2.400 loài thực vật bậc thấp, 11.494 loài thực vật bậc cao, 14 loài cỏ biển, 151 loài rong biển.
về động vật trên cạn: Cho đến nay đã thống kê xác định được 312 loài
và phân loài thú trên cạn, 840 loài chim, 260 loài bò sát, 200 loài giun đất, 162 loài ếch Tính độc đáo của đa dạng sinh học ở Việt Nam khá cao: gần 10% số loài động thực vật (chim, thú và cá) của thế giới tìm thấy ở Việt Nam, gần 40% loài thực vật thuộc loài đặc hữu.
về vi sinh vật: Đã ghi nhận 7500 loài, trong đó có hơn 2800 loài gây bệnh cho thực vật, 1500 loài gây bệnh cho người
và gia súc và hơn 700 loài vi sinh vật có lợi.
Các hệ sinh thái của Việt Nam còn là nơi cư trú của một số động vật quý hiếm trên thế giới Trong mỗi hệ sinh thái đặc trưng của Việt Nam, tính đa dạng loài cũng rất lớn như hệ sinh thái rạn san hô có trên 400 loài san hô khác nhau, gồm 80 giống, 17 họ.
Bên cạnh tính đa dạng cao của các loài sinh vật trong các hệ sinh thái thì sự giảm sút ngay càng nhiều các cá thể, các loài trong tự nhiên
là vấn đề đáng báo động ở Việt Nam Về mức độ suy thoái, Việt Nam được xếp vào nhóm 15 nước hàng đầu thế giới về số loài thú, nhóm 20 nước về số loài chim, nhóm 30 nước về số loài thực vật lưỡng cư.
2 Tình trạng bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam
2.1 Tình trạng bảo tồn nói chung
Nhiều cá nhân và tổ chức chính phủ Việt Nam đã nhận thấy một loạt các hoạt động của con người đe dọa các loài sinh vật, môi trường sống và hệ sinh thái Việt Nam, đồng thời cần có những nỗ lực bảo tồn nhanh chóng để chống lại những hậu quả tiêu cực Các cá nhân và tổ chức, cả trong nước và quốc tế, đang cố gắng bảo tồn, bao gồm việc cải thiện luật pháp liên quan đến bảo vệ động vật hoang dã,
Trang 9phát triển hệ thống khu bảo tồn, nỗ lực bảo tồn cấp loài và đề ra những lợi ích kinh tế để bảo tồn đa dạng sinh học Việt Nam, cùng với các nước láng giềng, được các tổ chức bảo tồn quốc tế lớn xếp hạng ưu tiên cao trong hành động bảo tồn Do bị giới hạn nguồn tài nguyên, các tổ chức này sử dụng nhiều chiến lược khác nhau để đặt ra các mức ưu tiên nhằm tập trung và đầu tư hiệu quả thông qua ước lượng về sự phong phú của các loài, sự hiện diện của các loài đặc hữu, mức độ nghiêm trọng của các mối đe dọa và khả năng đạt được các mục tiêu cụ thể, để xếp hạng các khu vực cần hành động bảo tồn.
Chiến lược thiết lập mức độ ưu tiên của Tổ chức Bảo tồn Quốc tế xác định các khu vực toàn cầu tương đối rộng lớn dựa trên hai tiêu chí: mỗi khu vực phải chứa ít nhất 1.500 loài thực vật đặc hữu và 70% môi trường sống ban đầu của khu vực (tối thiểu) phải biến mất Cách tiếp cận này cố gắng bảo tồn càng nhiều loài trong một khu vực càng nhỏ càng tốt Ba mươi bốn điểm nóng được xác định cho đến nay chiếm 2,3% tổng diện tích thế giới Toàn bộ Việt Nam nằm trong Điểm nóng Ấn-Miến, bao gồm lục địa Đông Nam Á và miền nam Trung Quốc.
Tổ chức bảo tồn Chim (BirdLife) cũng đề ra chiến lực tập trung ưu tiên, trong đó Việt Nam có bốn khu vực gắn liền với dãy Trường Sơn được công nhận là Vùng Chim Đặc hữu và trở thành trọng tâm của các nỗ lực bảo tồn.
Các công cuộc bảo tồn cấp quốc gia và địa phương đã có lịch sử lâu đời ở Việt Nam, và một số phong trào này có nguồn gốc văn hóa và tâm linh mạnh mẽ Những
cố gắng chính thức của Việt Nam bắt đầu ngay sau khi giành được độc lập Năm
1960, Hồ Chí Minh, khi đó là chủ tịch của miền Bắc Việt Nam, đã phát động phong trào trồng cây gọi là Tết trồng cây Nhiều mục tiêu của nó bao gồm sản
xuất gỗ, trái cây và củi; giảm thiểu xói mòn; trồng rừng; và cải thiện cảnh quan và môi trường của đất nước Năm 1962, ông rời bỏ cuộc Chiến tranh Việt-Mỹ đủ lâu để dành công viên quốc gia đầu tiên của miền Bắc Việt Nam, Vườn quốc gia Cúc Phương, một sáng kiến có tầm nhìn xa, dựa trên môi trường chính trị Chưa đầy một năm sau, tại một cuộc họp với các quan chức vùng cao miền Bắc và miền Trung Việt Nam, ông nói: ‘‘Việc tàn phá rừng hiện nay sẽ dẫn đến những ảnh hưởng nghiêm trọng đến khí hậu, năng suất và đời sống Rừng là vàng Nếu chúng
ta biết cách bảo tồn và quản lý tốt thì nó sẽ rất có giá trị '' (Võ Quý và cộng
sự, 1992, 76).
4
Trang 102.2 Bảo tồn nhóm Thú
Mười phần trăm loài động vật có vú, chim và cá trên thế giới là được tìm thấy
ở Việt Nam, và hơn 40% các loài thực vật địa phương là đặc hữu Trong những năm gần đây, ba loài thú lớn và hai loài thú nhỏ mới đã được phát hiện, chẳng hạn như Sao La (Pseudoryx nghetinhensis) hay mang Vũ Quang (Megamunticus vuquangensis), rất khác với bất kỳ loài nào hiện được biết đến, đến mức phải tạo ra một chi riêng biệt trong hệ thống phân loại của phương Tây Những khám phá ngoạn mục này đã củng cố
ý nghĩa toàn cầu về đa dạng sinh học của Việt Nam Vào cuối những năm 1990, khoảng
30 tổ chức phi chính phủ quốc tế và hơn 15 cơ quan song phương và đa phương tham gia vào các dự án bảo tồn tại Việt Nam (NGO Resource Center Vietnam 1999; UNDP 1999), cho thấy rằng cộng đồng quốc tế các nhà bảo tồn đều mong muốn bảo tồn sự giàu có này.
Những nỗ lực bảo tồn đầu tiên của Việt Nam đã được thực hiện vào những năm 1960, khi một vườn quốc gia đầu tiên – Vườn Quốc gia Cúc Phương được thành lập Tuy nhiên, chỉ đến năm 1986, Chiến lược Bảo tồn Quốc gia mới được phát triển Tiếp theo là Kế hoạch Quốc gia về Môi trường và Phát triển Bền vững năm 1991, Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993, Kế hoạch Hành động Môi trường Quốc gia và Kế hoạch Hành động Đa dạng Sinh học năm 1995 Kế hoạch cuối cùng được xây dựng với sự hỗ trợ của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc ( UNDP) phối hợp với Quỹ Thiên nhiên Toàn cầu (WWF) và Liên minh Bảo tồn Thế giới (IUCN) Cơ quan tổ chức chính cho việc thực hiện Kế hoạch ion của Đạo luật Đa dạng Sinh học là Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (MoSTE) phối hợp chặt chẽ với
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) và các cơ quan thực hiện khác như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (MARD), Bộ Thủy sản (MoF), Trung tâm Khoa học Tự nhiên Quốc gia và Công nghệ (Thủ tướng Chính phủ Việt Nam 1995) Các cơ quan hỗ trợ và thực hiện chứng thực tính cấp thiết cao đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học vì nhiều nguồn tài nguyên đa dạng sinh học đang bị đe dọa bởi việc mở rộng, xâm lấn và khai thác nông nghiệp IUCN (1999) và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường và Cơ quan Môi trường Quốc gia (1999) nhấn mạnh rằng việc duy trì đa dạng sinh học là điều cần thiết cho sự phát triển của các hệ sinh thái, có ý nghĩa tức thời đối với kinh tế và xã hội hiện tại Họ cho rằng nguồn gen có giá trị kinh tế lớn và có tiềm năng đóng góp kinh tế thông qua nghiên cứu và sản xuất thuốc và tinh dầu chiết xuất từ thực vật Ngoài ra, Bộ NN & PTNT theo đuổi chiến lược phát triển du lịch sinh thái, gắn chặt với việc hình thành hệ thống khu bảo tồn Các khu bảo tồn và vườn quốc gia được coi là những điểm đến du lịch quan trọng đối với cả khách quốc tế và lượng khách Việt Nam ngày càng tăng Ý nghĩa đối với đa dạng sinh học giữa những người chơi này dựa trên giá trị sản xuất cho các sản phẩm có thể được thu hoạch thương mại trong tương lai và các giá trị không sử dụng trực tiếp như giải trí và du lịch (McNeely 1988).
5
Trang 112.3 Sao la
Sao la, được mệnh
danh là "Kỳ lân châu Á”,
là một trong những loài
thú lớn đặc hữu có nguy
cơ tuyệt chủng cao nhất
trên thế giới Cho đến
nay chưa có nhà sinh
vật học nào từng nhìn
thấy Sao la ngoài tự
nhiên, và những hình
ảnh hoang dã hiếm hoi
của loài này có được là
nhờ vào
hệ thống bẫy ảnh do các nhà bảo tồn thiết lập trong các khu rừng tại Lào và Việt Nam Chính vì sự quý hiếm và bí ẩn đó mà ít người biết được tính cấp thiết của việc bảo vệ những cá thể Sao la cuối cùng, cũng như sự quan trọng của việc dành nguồn lực cho công tác bảo tồn trước khi loài này hoàn toàn biến mất Khi đó Việt Nam và Lào sẽ mất đi một trong những biểu tượng đa dạng sinh học của mình.
Tên: Tên khoa học: Pseudoryx nghetinhensis, tên khác: Bò Vũ Quang
Tình trạng bảo tồn: Cực kì Nguy cấp (theo Sách đỏ IUCN).
Kích thước: Cao khoảng 80cm từ chân đến vai, nặng 80 – 100 kg.
Nơi sinh sống: Phân bố rải rác tại khu vực rừng xanh nhiệt đới tại dãy Trường Sơn, dọc theo biên giới Tây Bắc – Đông Nam Việt Nam và biên giới Lào.
Quy mô quần thể loài: Chưa xác định, có thể chỉ còn chưa đến 50 các thể ngoài tự nhiên (theo kế hoạch bảo tồn Sao la công bố năm 2012)
Năm 1992, Sao la lần đầu tiên được phát hiện bởi các nhà nghiên cứu qua những dấu tích còn sót lại của chúng, được cung cấp bởi một người thợ săn ở Vườn Quốc gia (VQG) Vũ Quang, Hà Tĩnh Năm 1998, Hình ảnh đầu tiên của loài Sao la trong tự nhiên được ghi lại bằng bẫy ảnh ở VQG Pù Mát, Nghệ An Một con Sao la bị mắc bẫy được thả về tự nhiên ở huyện A Lưới, Thừa Thiên Huế.
Năm 2013, lần gần nhất một cá thể Sao la được nhìn thấy ngoài
tự nhiên qua hình ảnh được chụp lại bằng máy bẫy ảnh.
6