Qua ca dao dân ca miền Nam Trung bộ, có thể thấy đặc điểm tâm hồn của con người Việt Nam nói chung và con người Nam Trung Bộ nói riêng: gắn bó với cuộc sống, tha thiết với quê hương, say
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
VƯƠNG THỊ ĐÀO
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA CA DAO DÂN CA NAM TRUNG BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Trang 2MỤC LỤC
DẪN NHẬP
1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 5
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU 7
3.1 Phương pháp nghiên cứu 7
3.2 Nguồn ngữ liệu 9
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 9
5 BỐ CỤC LUẬN VĂN 10
NỘI DUNG CHƯƠNG MỘT: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 12
2 ĐẶC ĐIỂM CA DAO DÂN CA 16
3 NGÔN NGỮ CA DAO DÂN CA 18
3.1.Một số bình diện cụ thể 19
3.1.1 Các biện pháp tu từ 19
Trang 33.1.2 Chỗ ngừng 21
3.1.3 Vần và thể thơ 23
3.1.3.1 Thể lục bát 23
3.1.3.2 Thể song thất lục bát 26
3.1.3.3 Thể song thất và thể hỗn hợp 27
3.2 Một số đặc điểm của ca dao dân ca 29
3.2.1 Khẩu ngữ 29
3.2.2 Đối thoại 31
4 GIAO TIẾP VÀ GIAO TIẾP TRONG MÔI TRƯỜNG CA DAO DÂN CA 32
4.1 Giao tiếp 32
4.2 Chức năng giao tiếp trong môi trường ca dao dân ca 33
4.2.1 Ca dao dân ca là phương tiện giao tiếp giữa con người với con người 34
4.2.2 Ca dao dân ca là phương tiện giao tiếp giữa con người với hiện thực khách quan 37
5 TÍNH THỐNG NHẤT TRONG THẾ ĐA DẠNG CỦA CA DAO DÂN CA 39
5.1.Tính thống nhất về nội dung 39
5.1.1.Tình yêu của con người với con người 39
5.1.2.Tình yêu của con người với thiên nhiên 42
5.2.Tính thống nhất về hình thức nghệ thuật 43
5.2.1.Thống nhất về thể thơ 43
5.2.2.Thống nhất về biện pháp tu từ 46
6 SỰ PHÂN CHIA CÁC VÙNG PHƯƠNG NGỮ 50
Trang 47.TIỂỦ KẾT 53
CHƯƠNG HAI: KHẢO SÁT NGÔN NGỮ TRONG CA DAO DÂN CA NAM TRUNG BỘ 1 MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT NAM TRUNG BỘ 54
2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CA DAO DÂN CA NAM TRUNG BỘ 56
2.1 Đặc điểm về từ vựng 60
2.1.1 Từ nghề nghiệp 61
2.1.2 Biến thể ngữ âm 73
2.1.3 Từ địa phương 76
2.1.4 Tiểu từ tình thái 81
2.1.5 Từ láy và các tổ hợp từ láy 83
2.1.5.1 Từ láy đôi 84
2.1.5.2 Từ láy toàn bộ 85
2.1.5.3 Từ láy bộ phận 87
2.2 Một vài so sánh 92
2.2.1 Sự tương đồng 92
2.2.2 Sự khác biệt 97
3 ĐẶC ĐIỂM VỀ BIỂU THỨC NGÔN TỪ 99
3.1 Tính cố định 100
Trang 53.2 Tính thành ngữ 105
3.3 Một vài so sánh 107
3.3.1 Sự tương đồng 108
3.3.2 Sự khác biệt 114
4 TIỂU KẾT 122
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 124
TƯ LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DẪN NHẬP
1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn học dân gian Việt Nam gồm hai phần lớn: phần truyện và phần tục ngữ, ca dao dân ca Phần tục ngữ, ca dao dân ca là phần phong phú nhất trong văn học dân gian của dân tộc ta Đây là phần có giá trị nhất về mặt trí tuệ, tình cảm và nghệ thuật biểu hiện Do đặc điểm nội dung và hình thức ngắn gọn, có vần, dễ nhớ nên nó luôn luôn được nhân dân truyền miệng qua nhiều thế hệ Chính vì vậy, nó luôn được trau chuốt mà vẫn giữ được cái hồn, mặc dù có
thay đổi một vài từ khi đến “cư trú” ở các địa phương khác nhau Có thể nói
mỗi vùng gồm nhiều tỉnh lân cận đều có một vài loại ca dao dân ca riêng biệt Giữa ca dao và dân ca, ranh giới không rõ Nếu xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn cảnh nhất định, trong những nghề nhất định, hay ở những địa phương nhất định Chẳng hạn, hát giao duyên, hát ru em, hát giã gạo, hát đò đưa, hát phường vải, hát giặm Nghệ Tĩnh, hát quan họ Bắc Ninh, Tuy vậy, xét về bản chất, ca dao và dân ca không khác nhau mấy Thực tế, chúng ta đã thấy có một số ca
Trang 7dao được hát lên theo những điệu hát nhất định như hát ví, ngâm, kể vè, Nhiều bài ca dao vẫn giữ nguyên nội dung, khi xây dựng thành dân ca người
ta chỉ thêm những tiếng đệm, tiếng đưa hơi, tiếng láy và điệp khúc mới phổ được vào nhạc Hơn nữa, xét về tính chất là sản phẩm đã hình thành, tức tách khỏi môi trường diễn xướng, chúng hoàn toàn như nhau, khó lòng phân biệt đâu là ca dao, đâu là dân ca Đó là lý do giải thích vì sao luận văn này gộp chúng lại là một
Cũng như tục ngữ, ca dao dân ca là những bài văn vần do nhân dân sáng tác tập thể, được lưu truyền bằng miệng và được phổ biến rộng rãi trong nhân dân Ca dao dân ca được sáng tác ra, có thể được thêm bớt ngay tại chỗ, hoặc được truyền miệng ngay, rồi những người khác sau đó lại thêm bớt, có khi từ địa phương này sang địa phương khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác
và được biến thái cho đến khi hoàn chỉnh về cả lời lẫn ý
Ca dao dân ca Việt Nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình Tình yêu của người lao động Việt Nam biểu hiện trong ca dao dân ca về nhiều mặt: tình yêu giữa đôi bên trai gái, yêu gia đình, yêu xóm làng, yêu thiên nhiên, yêu hòa bình Không những thế, mà ca dao dân ca còn biểu hiện tư tưởng đấu tranh của nhân dân ta trong cuộc sống xã hội, trong những khi tiếp cận với thiên nhiên và sự trưởng thành của tư tưởng ấy qua các thời kỳ lịch sử
Nói đến ca dao dân ca là nói đến phương thức diễn xướng ( bao gồm
cả hình thức diễn xướng và môi trường diễn xướng ) và các làn điệu Ca dao dân ca lấy khung cảnh làng quê, đồng ruộng, mái đình, giếng nước, cây đa… làm môi trường sống Ca hát gắn với con người từ khi lọt lòng đến khi nhắm mắt xuôi tay Ca hát gắn với lao động, với sinh hoạt giải trí vui chơi, với sinh hoạt gia đình, sinh hoạt thôn xóm… Nhưng tùy nơi tùy lúc, tuỳ đối tượng sử
Trang 8dụng và thưởng thức mà lúc nó được hát bằng hình thức tập thể, lúc thì chỉ một cá nhân biểu diễn
Ca dao dân ca của bất cứ miền nào trước hết cũng là tiếng ca của nghĩa tình, tiếng nói của yêu thương Trong sinh hoạt gia đình, làng xã, lúc làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi, khi tiếng nói của con tim đã ở cung bậc cao nhất, người lao dộng dùng lời ca để bày tỏ tâm tình trước cảnh vật, trước những biến chuyển của cuộc đời và trao đổi tâm tình với nhau Tính trữ tình, bởi vậy thấm đượm trong nội dung lẫn âm điệu của các khúc hát dân gian Một chút buồn thoáng qua của con người trước cảnh vật:
Vẳng nghe chim vịt kêu chiều
Thương cha , nhớ mẹ chín chiều ruột đau
Một tình cảm thành kính dâng lên cha mẹ:
Tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi
Gạo de An Cựu mà nuôi mẹ già
Ngoài yếu tố làn điệu phải kể đến hệ thống các phương ngữ Phương ngữ không chỉ là phương tiện nhấn nhá đệm lót cho từng làn điệu mà còn góp phần tạo nên cái bản sắc của ca dao dân ca từng vùng Với tư cách chất liệu, hơn nữa là chất liệu nghệ thuật, các thành tố cấu thành phương ngữ, một mặt đáp ứng những nhu cầu giao tiếp thông thường của một nhóm cư dân cùng sinh sống trên một địa bàn nhất định, mặt khác ca dao dân ca còn phản ánh một khuynh hướng thẩm mỹ cụ thể Khuynh hướng này có khi trải dài trên
một bình diện lớn, chi phối toàn bộ cả một vùng văn hóa
Có thể nói mỗi vùng gồm nhiều tỉnh lân cận đều có một vài loại ca dao dân ca riêng biệt Do điều kiện địa lý và phong tục tập quán của từng vùng mà
ca dao dân ca cũng khác nhau từ vùng này sang vùng nọ Nhiều câu ca dao dân ca có cùng một nội dung nhưng lời thì lại hoàn toàn khác
Trang 9Về thực tiễn sử dụng và phân chia các phương ngữ của tiếng Việt, hiện nay có rất nhiều ý kiến khác nhau Khái niệm Nam Trung Bộ sử dụng ở đây chúng tôi hiểu là vùng đất thuộc phía Nam Trung Bộ trong đối lập với phía Bắc Trung Bộ, và xa hơn Trung Bộ, nằm trong thế đối lập với Bắc Bộ và Nam Bộ Nói cụ thể là vùng đất bao gồm các tỉnh thành: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận và cả Bình Thuận Hơn nữa, sự nhận diện này chỉ có ý nghĩa tương đối, chủ yếu là để tiện làm việc Vùng văn hóa dân gian Nam Trung Bộ vốn là nơi sản sinh ra nhiều điệu hò, vè, lý, Qua ca dao dân ca miền Nam Trung bộ, có thể thấy đặc điểm tâm hồn của con người Việt Nam nói chung và con người Nam Trung
Bộ nói riêng: gắn bó với cuộc sống, tha thiết với quê hương, say sưa trong yêu đương, thủy chung trong tình nghĩa, cần cù thiết thực giản dị mà giàu lòng ước mơ, giàu tinh thần lạc quan yêu đời Tuy nhiên, sắc thái địa phương riêng của phong cách con người Nam Trung Bộ cũng thể hiện rất rõ trong ca dao dân ca vùng mình Đó là phong cách của con người ở vùng đất mới : mãnh liệt thắm thiết nhưng mộc mạc chất phác, ít trau chuốt mượt mà, có cái
gì sống sít và phóng khoáng đến táo bạo Ca dao dân ca Nam Trung Bộ mang những tình cảm đậm đà nhân nghĩa Hơn nữa, đặc điểm ngôn ngữ trong ca dao dân ca Nam Trung Bộ còn mang tính chất đặc trưng của vùng miền này Nhằm góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn học của quê hương Nam Trung Bộ, để tìm hiểu thêm sự khác biệt về mặt định danh, trong luận
văn này, chúng tôi thử tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của ca dao dân ca Nam
Trung Bộ trên một số bình diện ít nhiều có tính chất đặc trưng vùng như từ địa phương, từ nghề nghiệp, các tiểu từ tình thái, các biểu thức ngôn từ, từ
đó có so sánh đối chiếu với một số vùng Bắc Trung Bộ và Nam Bộ để tìm ra
sự tương đồng và khác biệt
Trang 10Tuy nhiên, phải nói ngay rằng, tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất khá cao, đi tìm đặc điểm ngôn ngữ của ca dao dân ca Nam Trung Bộ không
chỉ dừng lại ở các thế đối lập có/ không mà còn phải chú ý đến độ đậm/ nhạt
của các đặc điểm ấy
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Từ lâu, giới nghiên cứu văn hóa dân gian đã chú ý đến văn học dân gian trên phạm vi của cả nước cũng như từng vùng văn hóa Riêng khu vực Nam Trung Bộ cũng có không ít công trình đã được công bố, nhất là từ góc
độ tư liệu và văn học
Ca dao dân ca đã được sưu tập và biên soạn từ ngót hai trăm năm trở lại đây Vào nửa cuối thế kỷ XVIII, Trần Danh Ám ( hiệu Liễu Am ) sưu tầm và
biên soạn Quốc phong giải trào, rồi vào đầu thế kỷ XIX, Ngô Đình Thái ( hiệu Tùng Hiên ) tiếp tục sưu tập và biên soạn Nam phong giải trào và Nam
phong nữ ngạn nhi Các soạn giả trên đây đã ghi chép tục ngữ ca dao bằng
chữ Nôm, rồi dịch ra chữ Hán và giải thích, có ý đem ca dao Việt Nam so sánh với “ Quốc phong ” trong Kinh thi của Trung Quốc
Vào cuối thế kỷ XIX và sang đầu thế kỷ XX, xuất hiện những sách chữ Nôm sau đây về tục ngữ ca dao:
Thanh Hóa quang phong sử của Vương Duy Trinh ( hiệu Đạm Trai );
An nam phong thổ thoại của Trần Tất Văn ( hiệu Thiên Bản cư sĩ ); Quốc phong thi hợp thái của Nguyễn Đăng Tuyển ( hiệu Tiên Phong và Mộng Liên
Đình ); Việt Nam phong sử của Nguyễn Văn Mại ( tự Tiểu Cao ); Đại Nam
quốc túy của Ngô Giáp Đậu ( hiệu Tam Thanh ); Nam quốc phương ngôn tục ngữ bị lục ( vô danh ); và những sách Quốc ngữ về ca dao như Nam ngạn trích cẩm của Phạm Quang Sán ( hiệu Ngạc Đình ); Gương phong tục ( đăng
trong Đông dương tạp chí ) của Đoàn Duy Bình; Tục ngữ phong dao của
Trang 11Nguyễn Văn Ngọc, Vĩnh Hưng Long thư quán xuất bản lần đầu năm 1928 tại
Hà Nội; Ngạn ngữ phong dao của Nguyễn Can Mộng do hội A-léc-dăng-đơ Rốt xuất bản năm 1941; Hương hoa đất nước của Trọng Toàn, Nhà xuất bản Dân chủ - Sài Gòn, 1949; Hát giặm Nghệ Tĩnh của Nguyễn Đổng Chi;
Litérature annamite của Cordier ( 1925 ); Những bài hát quan họ do Nguyễn
Đình Phúc sưu tầm; Ca dao ngạn ngữ của J Trần Công Hoan ( 1939 ), Editions Hương Phong, Hải Phòng ); Những tài liệu về dân ca của nhà xuất bản quân đội nhân dân; Dân ca quan họ của Ban nghiên cứu âm nhạc Dân gian ( 1959 ),Vụ nghệ thuật ; Dân ca quan họ Bắc Ninh của Nguyễn Văn Phú, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Viêm, Tú Ngọc ( 1962 ), Nhà xuất bản Văn hóa; Ca
dao sưu tầm ở Thanh Hóa của nhóm Lam Sơn ( 1963 ), Nhà xuất bản Văn
học; Ca dao kháng chiến ( 1961 ), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ; Dân ca
miền Nam Trung Bộ ( 1963 ), 2 tập của Trần Việt Ngữ, Trương Đình Quang;
Ca dao ngạn ngữ Hà Nội ( 1971 ), Hội văn nghệ Hà Nội xuất bản; Dân ca Bình Trị Thiên ( 1967 ), Nhà xuất bản Văn học v v
Gần đây, sưu tầm và biên soạn ca dao dân ca còn có các tác giả như Nguyễn Văn Bổn, Nguyễn Xuân Kính, Trần Thùy Mai, Tôn Thất Bình, Trần Huyền Ân, Nguyễn Đình Chúc, Trần Sĩ Huệ, Huỳnh Ngọc Trảng, Ninh Viết Giao, Về ca dao Việt Nam và những lời bình thì có các tác giả như Mã Giang Lân, Vũ Tú Nam, Vũ Ngọc Phan, Cao Huy Đỉnh, Minh Hiệu, Nguyễn Xuân Kính, Trương Thị Nhàn, Mai Ngọc Chừ, Vũ Thị Thu Hương, Trần Thị
An, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Xuân Lạc, Nguyễn Trọng Báu,
Về sắc thái của ca dao dân ca Bắc Bộ, chưa có bài viết nào dành cho vấn đề này Chúng ta chỉ có thể tìm thấy một số nhận xét rải rác ở những bài viết có chủ đề khác, nhân đó bàn về vấn đề này Chẳng hạn, năm 1963 trong khi tập trung viết về ca dao Nam Trung Bộ, Xuân Diệu đã đề cập đến nét riêng của ca dao Bắc Bộ
Trang 12Nghiên Cứu về nội dung ca dao dân ca Nam Bộ có Nguyễn Tấn Phát;
Về đặc điểm nghệ thuật của ca dao dân ca Nam Bộ có Bùi Mạnh Nhị; Về
những biểu hiện sắc thái địa phương của ca dao dân ca Nam Bộ có Bảo Định
Giang; Viết về hình ảnh sông nước trong ca dao Nam Bộ có Nguyễn Chí Bền; Luận văn tiến sĩ của Trần Diễm Thúy về thiên nhiên trong ca dao trữ tình Nam Bộ; Luận văn tiến sĩ của Trần Văn Nam phân tích biểu trưng của ca dao Nam Bộ,
Bàn về nét riêng của ca dao xứ Nghệ có các bài viết của Nguyễn Phương Châm; Nét riêng của ca dao dân ca Nam Trung Bộ còn được đề cập đến trong bài viết của Nguyễn văn Bổn, Ngô Quang Hiển và Trịnh Sâm
Như vậy, có thể nói, từ góc độ ngôn ngữ, số lượng các bài viết về ca dao dân ca Nam Trung Bộ là rất ít, chủ yếu là phần bàn về nghệ thuật
Luận văn này trên cơ sở kế thừa thành tựu của các công trình đi trước, thu thập tư liệu đủ lớn, thông qua quan sát, cố gắng xác lập một số đặc điểm ngôn ngữ, cái làm nên nét riêng của ca dao dân ca vùng đất Nam Trung Bộ
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp nghiên cứu, ngoài các thủ pháp quen thuộc mà bất cứ công trình nghiên cứu dù khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội đều đề cập đến như sưu tập, quan sát, miêu tả, phân loại, luận văn cố gắng sử dụng và phối hợp một số phương pháp khảo sát, nghiên cứu sau:
a Hệ thống – cấu trúc: Chúng tôi hình dung toàn bộ ca dao dân ca cả
nước là một hệ thống, ca dao dân ca ở Nam Trung Bộ cũng là một hệ thống
mà các yếu tố là các văn bản cụ thể đến lượt nó các văn bản cụ thể cũng là một hệ thống Tùy theo quan hệ các câu, các ngữ đoạn là những yếu tố Do
Trang 13vậy, việc xem xét các yếu tố với chỉnh thể và yếu tố với yếu tố có ý nghĩa quan yếu Việc xem xét một số mô hình lặp lại trong biểu đạt cũng xuất phát
từ cách hình dung này
b Phân tích ngữ dụng học
Tiếng Việt nói chung, ca dao dân ca trên khắp các miền đất nước nói riêng là khá thống nhất Màu sắc địa phương không chỉ là những biến thể của một điển thể Do vậy, việc xem xét đặc tính ngữ dụng là việc không thể không nhắc đến Cho nên, trước tiên phải chú ý đến ngữ cảnh, đến sự tương tác trong ngữ cảnh; Việc tìm hiểu ngữ nghĩa có tính chất lâm thời gắn liền với con người sử dụng và hoàn cảnh sử dụng sẽ cho phép chúng tôi có cái nhìn toàn diện hơn về các đặc điểm ngôn ngữ của đối tượng khảo sát
c So sánh – đối chiếu
Phương pháp này giúp chúng ta tìm ra sự tương đồng và khác biệt của cùng một hệ thống Tuy nhiên, khi tiến hành so sánh đối chiếu phải chú ý đến tính tương đồng về cấp độ của các yếu tố đang xem xét Cần lưu ý rằng, tuy việc phân định trong sự hình thành 3 phương ngữ: Bắc, Trung, Nam là điều
dễ chấp nhận, nhưng rõ ràng sự khác biệt ở đây chủ yếu là sự phân bố đậm –
Trang 143.2 Nguồn ngữ liệu
Chúng tôi sử dụng nguồn ngữ liệu lý thuyết bao gồm sách, tạp chí về
ca dao dân ca Việt Nam, ca dao dân ca miền Nam Trung Bộ, ca dao dân ca một số vùng thuộc Bắc Trung Bộ như Bình Trị Thiên, Thừa Thiên – Huế, một số vùng Nam Trung Bộ như Quảng nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, , ca dao dân ca lục tỉnh Nam Kỳ và một số bài viết bàn về ca dao dân
ca Việt Nam nói chung và ca dao dân ca vùng Nam Trung Bộ nói riêng đã được công bố
Luận văn dựa vào các công trình sưu tập đã được xuất bản như sau: + Ca dao dân ca Quảng Nam ( Nguyễn văn Bổn, 2001 )
+ Dân ca miền Nam Trung Bộ ( Trần Việt Ngữ, Trương Đình Quang, 1963 ) + Ca dao dân ca Phú Yên ( Trần Sĩ Huệ, 2006 )
+ Ca dao dân ca Phú Yên ( Trần Huyền Ân, 1995 )
+ Hò khoan Phú Yên ( Nguyễn Đình Chức, 2007 )
+ Dân ca Bình Trị Thiên (Tôn Thất Bình, 1997 )
+ Dân ca Thừa Thiên – Huế ( Trần Thùy Mai, 2003 )
+ Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam ( Vũ Ngọc Phan, 2006 )
+ Ca dao dân ca lục tỉnh Nam Kỳ ( Huỳnh Ngọc Trảng, 2006 )
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Trên cơ sở đặc điểm ngôn ngữ của ca dao dân ca toàn quốc, mục đích
mà luận văn cố gắng đạt đến là chỉ ra một cách có hệ thống đặc điểm ngôn ngữ của ca dao dân ca Nam Trung Bộ Trên cơ sở đó đúc kết một số ứng xử ngôn ngữ thể hiện cá tính của cư dân vùng đất Nam Trung Bộ
Đặc điểm ngôn ngữ sẽ được khảo sát trên bình diện từ vựng bao gồm
các tiểu hệ thống mang tính chất đặc trưng vùng như từ địa phương, từ nghề
nghiệp, các tiểu từ tình thái, v v
Trang 15Các biểu thức ngôn từ có tính lặp lại cũng là đối tượng khảo sát của
luận văn Từ các biểu thức, từ các cách tổ chức văn bản chúng ta có thể khái quát thành các đặc điểm riêng
Như vậy, luận văn không có tham vọng giải quyết những vấn đề lý thuyết như sự phân chia các vùng phương ngữ, vai trò xã hội và phát triển văn hóa vùng trong xã hội hiện đại Luận văn tự đặt ra cho mình một nhiệm vụ rất nhỏ là thông qua các cách định danh, các biểu thức ngôn từ được lặp lại xuất hiện trong ca dao dân ca Nam Trung Bộ, cố gắng xác lập một số đặc điểm ngôn ngữ - các đặc điểm làm nên nét riêng trong tiếng nói trữ tình của người dân vùng đất đã xác định
Kết quả nghiên cứu có thể hé mở một vài gợi ý cho việc lựa chọn và cách thức tiếp cận văn học địa phương nói chung, ca dao dân ca nói riêng Và cũng từ đây, có thể nêu lên một vài cơ sở bước đầu cho việc đối sánh cùng bình diện ngôn ngữ trong ca dao dân ca Bắc Bộ, cũng như ca dao dân ca Nam
Bộ để tìm ra cái phổ biến và cái đặc thù
5 BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài chương Dẫn nhập, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm hai chương:
Chương này trình bày những vấn đề khái quát về đặc điểm chung của
ca dao dân ca, giao tiếp trong môi trường ca dao dân ca, tính thống nhất trong thế đa dạng của ca dao dân ca vùng miền và sự phân chia các vùng phương ngữ Đây là bộ khung lý thuyết, xuất phát điểm để luận văn dựa vào và mô tả những vấn đề cụ thể ở chương sau
Trang 16CHƯƠNG HAI : Khảo sát ngôn ngữ
trong ca dao dân ca Nam Trung Bộ
Trong chương này chúng tôi trình bày một số nét khái quát về ca dao dân ca vùng Nam Trung Bộ, đặc điểm từ với các lớp từ nghề nghiệp, từ địa phương, các biến thể ngữ âm, tiểu từ tình thái, các kiểu từ láy Đồng thời luận văn cũng trình bày đặc điểm của ca dao dân ca vùng này qua một số biểu thức ngôn từ Qua đó chúng tôi tìm ra một số điểm tương đồng và khác biệt giữa ca dao dân ca Nam Trung Bộ với các vùng miền khác
Trang 17và gọi là Cổng Trời:
Đường đi quanh quẩn ruột dê
Chim kêu vượn hót dựa kề bên non
Rồi rừng lại rừng, suối lại suối, vách đá cheo leo, cỏ cây mọc um tùm:
Đường lên Mường Lễ bao xa?
Trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh
Trang 18Nói đến những nơi hiểm yếu và đẹp thì ở Lạng Sơn có bầu Chi Lăng nằm lọt vào giữa hai dãy núi có chỗ phình ra như bầu rượu, lại có đoạn thắt lại như cổ bầu Chính nơi hiểm yếu này, Trần Hưng Đạo và Lê Lợi đã hai lần tiêu diệt giặc ngoại xâm Lạng Sơn còn có những phong cảnh rất đẹp:
Đường lên xứ Lạng bao xa?
Cách một trái núi với ba quãng đồng
Ai ơi, đứng lại mà trông Kìa núi Thành lạng, kìa sông Tam Cờ
Hà Nội, kinh đô xưa của nước ta được coi là một đô thành không những đẹp mà còn là một nơi tích tụ những cái thiêng liêng nhất của đất nước:
Thăng Long, Hà Nội, đô thành
Nước non ai vẽ nên tranh họa đồ
Từ miền Bắc muốn vô miền Trung phải đi qua đèo Ngang hùng vĩ, đèo Ngang nối hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình:
Đèo Ngang nặng gánh hai vai,
Một vai Hà Tĩnh , một vai Quảng Bình
Đất Hoan Châu xưa với phong cảnh xanh tươi:
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biết như tranh họa đồ
Cùng một tâm tình, cùng một ý nghĩ đối với đất nước, nhân dân ta thấy nơi nào trên đất nước cũng đẹp Đến đất Thừa Thiên- Huế thì nghe câu hát:
Đông ba, Gia Hội , hai cầu,
Có chùa Diệu Đế bốn lầu hai chuông
Trên đường di cư, tổ tiên ta đã không quản gian nguy, vượt biển, băng rừng, trèo đèo, lội suối vào Nam khai phá đất hoang, làm ruộng, trồng cây ăn trái:
Trang 19Đi bộ thì khiếp Hải Vân
Đi thuyền thì khiếp sóng Thần, hang Giơi
Hải vân xưa nay vẫn được coi là một cảnh thiên nhiên hùng vĩ của nước
ta Vì ở gần biển nên đèo Hải Vân càng thêm chót vót Qua đèo hải Vân thấy mây bay ở đỉnh núi:
Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm
Về đèo , về dốc hiểm trở, ở Quảng Nam có câu:
Đèo mô cao bằng đèo Cây Cốc,
Dốc mô ngược bằng dốc Phú Trường?
Núi non Quảng Ngãi với những thắng cảnh kỳ thú:
Sông Trà sát núi Long Đầu
Nước kia chảy mãi, rồng chầu ngày xưa Núi Long Đầu lưu danh hậu thế Chùa Thiên Ấn ấn để hậu hoàng
Ai về xứ Quảng cho nàng về theo
Bình Định lại nổi tiếng về dừa Dừa Tam Quan lại rất sai quả Dừa nhiều vô kể nên ca dao Bình Định có câu:
Công đâu công uổng công thừa,
Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan
Trang 20
Đất Phú Yên cũng đèo cao, dốc ngược:
Đèo nào cao bằng đèo Phú Cốc
Dốc nào ngược bằng dốc Xuân Đài Đèo cao, dốc ngược, đường dài
Anh còn qua đặng huống chi vài lạch sông
Nam Bộ sông nước mênh mông, không có núi, đèo như miền Bắc và miền Trung cho nên ca dao dân ca của miền Nam cũng không gập ghềnh, trúc trắc:
Nước Cửu long sóng dồi cuồn cuộn;
Cửa Hàm Luông mây cuốn cánh buồm xuôi
Đất miền Nam là vùng đất của dân khắp nơi trên cả nước đến sinh sống:
Rồng chầu ngoài Huế,
Rõ ràng thiên nhiên trong văn học nói chung, trong ca dao dân ca nói riêng, các yếu tố địa danh, các cách biểu đạt tất cả đều mang hình bóng của con người với tư cách là chủ thể của từng vùng đất Cho nên nói đến ngôn ngữ là nói đến con người
Trang 212 ĐẶC ĐIỂM CA DAO DÂN CA
Giữa ca dao và dân ca, ranh giới không rõ Ca dao là thơ ca dân gian
truyền miệng dưới hình thức những câu hát, không theo một nhạc điệu nhất định Ở ca dao có bài đã thành khúc điệu và có bài chưa thành khúc điệu Người ta còn gọi ca dao là phong dao vì có những bài ca dao phản ánh phong
tục của mỗi thời
Dân ca là những bài hát lưu truyền trong dân gian Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định, thường là không rõ tác giả Dân ca Việt Nam rất phong phú, dân ca xuất hiện ở từng địa phương hay ở từng nghề: có loại hiện nay chỉ ở địa phương nơi nó xuất hiện mới thấy người hát nhưng cũng có loại
đã lan đến nhiều địa phương khác, mà có khi ở những nơi khác này lại có nhiều người hát hơn ở nơi nó xuất hiện; nó đã biến thành dân ca của cả miền
Nếu xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn cảnh nhất định, trong những nghề nhất định,
hay ở những địa phương nhất định Ví dụ hát giao duyên, hát ru em, hát giã
gạo, hát đò đưa, hát phường vải, Tuy vậy, xét về bản chất, ca dao và dân ca
không khác nhau mấy Thực tế chúng ta đã thấy có một số ca dao được hát lên
theo những điệu hát nhất định như hát ví, ngâm, kể vè, Toàn bài vẫn giữ
nguyên số câu, số chữ, không thêm bớt Nhiều bài ca dao vẫn giữ nguyên nội dung, khi xây dựng thành dân ca chỉ thêm vào những tiếng đệm lót và đệm nghĩa, tiếng đưa hơi, tiếng láy và điệp khúc; có như vậy, mới phổ được vào nhạc
Ví dụ mấy câu ca dao sau đây khích lệ chí làm trai:
Làm trai quyết chí tu thân,
Công danh chớ vội, nợ nần chớ lo
Khi nên, trời giúp công cho, Làm trai nên liệu bảy lo mới hào
Trang 22Khi xây dựng bài ca dao trên thành bài ca, người ta thêm vào những
tiếng đệm, tiếng láy theo yêu cầu cả điệu hát Ví dụ “ hát cách” thì bài trên
hát như sau:
Quyết chí mà tu thân ơ,
Công danh là danh chớ vội chứ đã nợ nần mà không lo
Ở mấy câu trên , “ mà, ớ, chứ đã ” là những tiếng đệm; “ là danh” là
tiếng láy
Hay những câu ca dao sau đây :
Trống cơm khéo vỗ nên vông ,
Một bầy con sít lội sông đi tìm
Thương ai con mắt lim dim, Một bầy con nhện đi tìm giăng tơ
Thương ai duyên nợ tang bồng
Muốn cho bài ca dao trên này thành khúc điệu của hát quan họ Bắc Ninh, phải thêm vào như sau :
( Tình bằng ) có cái trống cơm, khen ai khéo vỗ ( ấy mấy ) vông nên vông (
ấy mấy ) vông nên vông,
Một bầy ( tang tình ) con sít lội lội lội sông ( ấy mấy ) đi tìm
Em nhớ thương ai đôi con mắt ( ấy mấy ) lim dim
Một bầy ( tang tình ) con nhện ( i ới a, ấy mấy ) giăng tơ, giăng tơ ( ấy mấy )
đi tìm
Em nhớ thương ai, duyên nợ khách tang bồng
Ở những câu trên này, “ tình bằng, tang tình, ấy mấy” là những tiếng đệm lót; “ có cái, khen ai, em nhớ, khách” là những tiếng đệm nghĩa; những
tiếng “ vông nên vông, lội lội” là tiếng láy; còn “ i ới a ” là tiếng đưa hơi
Trang 233 NGÔN NGỮ CA DAO DÂN CA
Được thử thách qua không gian, thời gian và lòng người, được gọt dũa bởi hàng vạn nhà thơ dân gian vô danh, ngôn ngữ ca dao dân ca đã trở nên những viên ngọc quý óng ánh trong kho tàng văn học dân gian của dân tộc
Có thể nói, ngôn ngữ ca dao dân ca đã kết tụ những đặc điểm nghệ thuật tuyệt vời nhất của tiếng Việt:
Nó có cả những đặc điểm tinh túy của ngôn ngữ văn học mà cụ thể là
ngôn ngữ thơ, đồng thời nó còn là sự vận dụng linh hoạt, tài tình, có hiệu quả cao của ngôn ngữ chung, ngôn ngữ hội thoại là một loại ngôn ngữ truyền miệng đặc biệt: truyền miệng bằng thơ
Bởi vậy, ở ca dao dân ca, chúng ta bắt gặp những cách nói trau chuốt,
mượt mà, ý nhị đầy chất thơ, chẳng hạn:
Đến đây mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa:
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào
Và chúng ta còn gặp cả những lời “ đao to búa lớn” đầy sức mạnh, đầy
tính chất khẩu ngữ:
Chuột chù chê cú rằng hôi
Cú lại trả lời: - Cả họ mày thơm?
Hay:
Chồng gì anh, vợ gì tôi
Chẳng qua là cái nợ đời chi đây
Chính sự kết hợp giữa ngôn ngữ nói, ngôn ngữ hội thoại với ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ gọt dũa đã tạo nên những đặc điểm riêng biệt độc đáo của ngôn ngữ ca dao dân ca
Trang 24Nói gọn lại, ngôn ngữ của ca dao dân ca là ngôn ngữ của đời sống trong sinh hoạt hằng ngày được chắt lọc Tuy không quá gọt dũa trau chuốt nhưng là kết quả của một sự lựa chọn xuất phát từ mục đích giao tiếp thi ca Ngôn ngữ ca dao dân ca không những là tiếng nói của cộng đồng thời hiện đại
mà còn lưu giữ nhiều yếu tố của quá khứ và chắc chắn sẽ còn tồn tại dài lâu trong tương lai Do bảo lưu được cái cũ, nên có thể nói ngôn ngữ ca dao dân
ca còn thể hiện cách ứng xử, cách suy nghĩ của người xưng
3.1 Một số bình diện cụ thể
Ngôn ngữ ca dao dân ca có những đặc điểm “ thơ ” nhất của ngôn ngữ
thơ Việt Nam Vì vậy, nó không chỉ mang chức năng thông báo thuần túy mà
nó còn mang cả thông báo – thẫm mĩ Điều đó được thể hiện trên nhiều bình diện
3.1.1 Các biện pháp tu từ
Xét từ góc độ sử dụng các biện pháp tu từ thì ở ca dao dân ca chúng ta
đã tìm thấy những cách sử dụng mẫu mực, đặc sắc và điển hình nhất:
a So sánh
Đôi ta như thể con bài,
Đã quyết thì đánh , đừng nài thấp cao
Đôi ta như đá với dao
Năng liếc năng sắc, năng chào năng quen
Đôi ta như ngãi Phan Trần, Khi xa ngàn dặm, khi gần bên đôi
b Ẩn dụ
Ai làm cho bướm lìa hoa,
Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng
Trang 25c Nhân hóa
Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi , nhện hỡi, nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch sao mai Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ?
d Phúng dụ
Thực vàng chẳng phải thau đâu
Mà đem thử lửa cho đau lòng
e Hoán dụ
Cầu này cầu ái cầu ân Một trăm con gái rửa chân cầu này, Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt , người phàm rửa chân
f Tượng trưng
Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Những biện pháp tu từ được xây dựng theo quan điểm liên tưởng ở trên
đã tạo nên cho ca dao dân ca cái ý nghĩa bề sâu, nghĩa bóng hay bình diện ngữ
nghĩa thứ hai: đâu chỉ đơn thuần là chuyện bướm, hoa, nhện , cò, cầu, vàng
thau,
Trang 263.1.2.Chỗ ngừng
Trong ngôn ngữ nói và sự ngừng nhịp trong thơ không chỉ có ranh giới giữa các câu và các thành phần câu mà trong nhiều trường hợp còn có chức năng làm tăng thêm sức mạnh biểu đạt ý nghĩa, nâng cao tác dụng thể hiện
nội dung Maiacôpxki nói: “ Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng lực cơ bản
của câu thơ không giải thích được nó đâu, chỉ có thể nói về nhịp điệu như nói
về từ lực hay điện Từ lực hay điện – đó là những dạng của năng lượng”
Như vậy nhịp điệu giữ một vai trò hết sức quan trọng Nó luôn có tác dụng nâng đỡ cảm xúc, làm tăng thêm sức biểu đạt của ca dao dân ca Trong
ca dao dân ca, hiệu quả của chỗ ngừng hoàn toàn không nhỏ
Phá vỡ cái nhịp 2 phẳng lặng , êm đềm trong các câu ca dao lục bát:
Chồng gì anh / vợ gì tôi
Chẳng qua là cái nợ đời chi đây
Chỗ ngừng nhịp cắt đôi câu lục đã nhấn mạnh vào sự chia cắt rạch ròi,
sự li khai dứt khoát “ anh đi đường anh, tôi đi đường tôi”
Ruộng / người cày / vợ / người nuôi,
Con / người mắng mỏ / vợ / người yêu đương
Nhịp điệu 1/2/1/2 trong câu lục rồi nhịp 1/3/1/3 trong câu bát nói lên nỗi khổ cực của người nông dân trong xã hội phong kiến Người nông dân không hưởng được gì từ thành quả của họ làm ra mà bị bọn quan lại cướp trắng thậm chí cả vợ , con của họ
Một ví dụ khác:
Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn
tháng khốn tháng nạn
Đi vay đi dạm được một quan tiền
Ra chợ kẻ Diên mua con gà mái về nuôi,
hắn đẻ ra mười trứng
Trang 27Một trứng: / ung Hai trứng: / ung
Ba trứng: / ung Bốn trứng: / ung Năm trứng: / ung
Sáu trứng: / ung Bảy trứng: / ung Còn ba trứng nở ra ba con Con: / diều tha Con: / quạ bắt Con: / cát lôi Chớ than / phận khó / ai ơi!
Còn da: / lông mọc, / còn chồi: / nảy cây
Bảy dòng thơ ngắn liên tiếp được ngắt nhịp 2/1 đã nói lên những điều trắc trở không may Sau đó là một câu dài bảy tiếng bỏ nhịp, tạo cho người nghe một cảm giác thanh thản hơn, dễ chịu hơn Nhưng rồi ngay sau nó lại xuất hiện ba dòng thơ ngắn với nhịp 1/2 gọn, sắc, gây ấn tượng mạnh về những tai họa, rủi ro lại chất chồng Hai câu cuối thể thơ và nhịp thơ thay đổi Hai câu lục bát trở lại nhịp 2/2/2 rồi 2/2/2/2 bình thường thể hiện thái độ bình tĩnh, ung dung, thanh thản của con người trước tình cảnh khó khăn, rủi ro mà con người liên tiếp gặp phải Đặc biệt là sự ngừng nhịp dứt khoát sau hai âm
tiết “da”, “ chồi” có tác dụng khẳng định chắc chắn niềm tin vào cuộc sống
tương lai
Những câu ca dao trên, nhịp điệu biến hóa thích hợp với việc biểu hiện những tâm trạng khác nhau Điều này thấy rõ chủ yếu ở những bài ca dao biến thể Qua một số ví dụ ở trên có thể thấy rằng ngừng nhịp trong ca dao dân ca
Trang 28không phải bao giờ cũng suôn sẻ, phẳng lặng Trái lại, nó cũng “ ghồ ghề ”,
đa dạng như bản thân của cuộc sống vậy
Nói khác, nhịp trong ca dao chính là nhịp của cuộc sống Bên cạnh nhịp điệu và tiết tấu bình lặng của câu thơ lục bát, để diễn tả các ý nghĩa vượt qua lối mòn, dân gian đã phá vỡ cấu trúc hình thức để chuyển tải một nội dung mới Một số phân tích ở trên cho thấy điều đó
3.1.3 Vần và thể thơ
Một trong những đặc điểm làm cho ca dao dân ca dễ thuộc, dễ nhớ, dễ
đi vào lòng người là ở cách hiệp vần Khác với thơ nói chung, vần trong ca dao dân ca chặt chẽ đến mức tối đa, ở đó, vần chính được thống trị gần như toàn bộ, do đó hiệu quả hòa âm của vần đạt tới mức lý tưởng
3.1.3.1 Thể lục bát
Đại đa số ca dao được sáng tác theo thể lục bát Cặp 6 tiếng + 8 tiếng
là đơn vị tế bào, một chỉnh thể tối thiểu của thể thơ lục bát Nhịp điệu thơ lục bát uyển chuyển, linh hoạt vô cùng, thể lục bát rất có sở trường trong việc diễn đạt các cảm xúc vốn rất phong phú, thể hiện các nội dung hết sức đa dạng của hiện thực Tính chất ngắn gọn của ca dao là một đặc điểm Hiện thực thì phong phú, đa dạng, nhiều khi là phức tạp, tâm hồn, cảm xúc của con người cũng rất lắm cung bậc trong khi đó dung lượng của một lời ca dao rất hạn chế, số lời có từ hai cặp lục bát ( bốn dòng thơ ) trở lên không nhiều Mỗi một lời chỉ phản ảnh được một khía cạnh của hiện thực Do đó có hiện tượng
trái nghĩa, hiện tượng “ nhiều mặt ” trong ca dao
Nhắc đến ca dao là người ta nghĩ đến thể thơ lục bát Theo thống kê trong số 1015 lời của cuốn ca dao Việt Nam của Đinh Gia Khánh ( chủ biên ), Nguyễn Xuân Kính, Phan Hồng Sơn ( 1983 ) biên soạn thì có 973 lời được
Trang 29sáng tác theo thể lục bát, chiếm 95%, các thể còn lại như song thất, song thất lục bát, hỗn hợp, bốn tiếng, chỉ chiếm 5% Như vậy, xét về mặt tổ chức văn bản, ca dao tồn tại chủ yếu dưới hình thức lục bát và là các đơn vị tối giản
Vần khuôn hình điển hình và phổ biến nhất có thể lược qua như sau:
Sau đây là một số ví dụ về sự hiệp vần trong thể thơ lục bát:
Đến đây chẳng lẽ ngồi không
Nhờ chàng giã gạo cho đông tiếng hò
Hay:
Nghe lời bạn nói đậm đà,
Chồng con chẳng phải, rứa mà em thương
Hiện có những cách hiểu rộng, hẹp khác nhau vể lục bát biến thể
“ Lục bát biến thể ở đây được quan niệm là những câu ca dao có hình thức
lục bát nhưng không khít khịt “ trên sáu dưới tám” mà có sự co giãn nhất
định về số lượng âm tiết ( tiếng ).” ( Mai Ngọc Chừ, 1989 )
Trang 30Ở ca dao dân ca có một số lời lục bát biến thể, trong đó khuôn hình về vần vẫn được giữ, còn số tiếng trong mỗi dòng thơ có thể thay đổi Theo sự phân loại của Mai Ngọc Chừ ( Mai Ngọc Chừ, 1991 ), lục bát biến thể có ba loại:
a Dòng lục thay đổi, dòng bát giữ nguyên:
Tưởng giếng sâu, nối sợi dây dài
Hay đâu giếng cạn, tiếc hoài sợi dây
( 7/8 tiếng )
Chàng trẩy đi nước mắt thiếp tôi chảy quanh Chân đi thất thểu lời anh dặn dò
( 9/8 tiếng )
b Dòng lục giữ nguyên, dòng bát thay đổi:
Bao giờ rừng quế hết cay
Dừa tam Quan hết nước thì em đây mới hết tình
( 6/11 tiếng )
Lời nguyền trước cũng như sau
Ta không ham vui bỏ bạn, bạn chớ tham giàu bỏ ta
( 6/12 tiếng )
c Cả hai dòng đều thay đổi:
Em thương anh thầy mẹ ngăm nghe
Cậu cô, chú, bác đòi đậu bè thả trôi
( 7/9 tiếng )
Trang 31Anh xa em ra thì thiên hạ hay vì thúc bá tới xui
Đó băn khoăn đó nhớ, đây bùi ngùi đây thương
( 13/10 tiếng ) Như vậy, trên cái nền của câu 6 và câu 8, ca dao xuất hiện nhiều biến thể Và quả nhiên ở đây là có tính lý do, hình thức thay đổi để chuyển tải một nội dung rộng lớn hơn, nói như ngôn ngữ học tri nhận, càng nhiều hình thức
càng nhiều nội dung ( more of form is more of content )
3.1.3.2.Thể song thất lục bát
Trong ca dao số lời được sáng tác theo thể song thất lục bát chiếm
khoảng 2% Theo Phan Ngọc ( Phan Ngọc, 1984 ), “ cấu trúc từng khổ 7 + 7
+ 6 + 8 tiếng cho phép thể thơ này nói lên được sự đi về của cảm xúc như những đợt sóng lên cao xuống thấp rồi lại dàn ra đón lấy một đợt sóng khác”
Làm theo thể thơ này , mỗi lời ca dao chỉ gồm một khổ bốn dòng thơ; cực kỳ hiếm hoi nếu không muốn nói rằng không có lời nào có độ dài từ hai khổ thơ trở lên:
Lụa làng Trúc vừa thanh vừa bóng
May áo chàng cùng sóng áo em Chữ tình cùng với chữ duyên Xin đừng thay áo mà quên lời nguyền
Ca dao còn có hiện tượng song thất lục bát biến thể:
Nước chảy xuôi , con cá buôi lội ngược
Nước chảy ngược, con cá vược lội ngang Thuyền em xuống bến Thuận An Thuyền anh lại trẩy lên ngàn, anh ơi!
Trang 323.1.3.3 Thể song thất và thể hỗn hợp
Trong ca dao còn có thể song thất và thể hỗn hợp Hai thể thơ này không phổ biến, chỉ chiếm tỉ lệ hơn 1% Hiện tượng song thất không phổ biến nhưng không phải là không có Sau đây là một số ví dụ:
- Gió mùa thu mẹ ru con ngủ
Năm canh chày thức đủ năm canh
- Áo vá vai, vợ ai không biết
Áo vá quàng chí quyết vợ anh
Hiện tượng một lời ca dao được xây dựng bằng hai cặp song thất, trong
đó có một cặp biến thể là hết sức đặc biệt:
Trầu không vôi ắt là thuốc lạt
Cau không hạt ắt là cau già Mình không lấy ta ắt là mình thiệt
Ta không lấy mình ta biết lấy ai?
Thể hỗn hợp trong ca dao dân ca khá đa dạng:
Chiều chiều trước bến Văn Lâu
Ai ngồi ai câu
Ai sầu ai thảm
Ai thương ai cảm
Ai nhớ ai trông Thuyền ai thấp thoáng bên sông Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non
Lời ca dao trên gồm một câu sáu tiếng, bốn câu bốn tiếng và một cặp lục bát Trường hợp dưới đây gồm hai câu năm tiếng và một câu lục bát:
Đường không đi sao biết
Chuông không đánh sao kêu
Trang 33Nghe lời anh nói bao nhiêu Khiến lòng thắc thẻo sớm chiều xót đau
Phần lớn các lời theo thể hỗn hợp gồm những cặp lục bát có xen vào hai câu thất:
Đêm qua nguyệt lặn về tây
Sự tình kẻ đấy, người đây còn dài Trúc với mai, mai về nhớ trúc Mai trở về, mai nhớ trúc không?
Bây giờ kẻ bắc, người đông
Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư
Thể thơ trên đây không phải là song thất lục bát, cũng không phải là
lục bát gián thất, mà là thể hỗn hợp bao gồm nhiều cặp lục bát kết hợp với
một cặp song thất
Trong lời ca dao hỗn hợp các thể dưới đây, mở đầu bằng một cặp lục bát, kết thúc bằng một dòng lục, ở giữa là hai cặp song thất:
Chòng chành như nón không quai
Như thuyền không lái, như ai không chồng Gai có chồng như gông đeo cổ Gái không chồng như phản gỗ không đanh Phản long đanh anh còn đóng được Gái không chồng chạy ngược chạy xuôi Không chồng khổ lắm ai ơi!
Trong những thể hỗn hợp như thế, bên cạnh nhịp điệu uyển chuyển của
những cặp lục bát, vần trắc và tiết tấu theo nhịp 3/4 của các cặp song thất “ có
khả năng nhiều hơn trong việc diễn tả những tình cảm khúc mắc, những nỗi đau khổ uất ức những trở ngại, những nỗi éo le, ” ( Đinh Gia Khánh, Chu
Xuân Diên, 1991 )
Trang 34Từ lục bát đến lục bát biến thể, từ song thất lục bát đến song thất lục bát biến thể, từ các thể thơ có qui định về vần điệu và số từ trong từng dòng đến sự hỗn hợp nhiều thể, giữa một thể với những dòng thơ dài ngắn tự do theo cảm xúc, không bị luật lệ qui định chặt chẽ, tất cả những hiện tượng ấy cho thấy tác giả dân gian không chịu khuôn các sáng tác vào những luật lệ có sẵn, cho nên các sáng tác của họ có phần hồn nhiên, mộc mạc Mặt khác, những hiện tượng như trên chứng tỏ các tác giả dân gian ít có ý thức tuân thủ niêm luật và ít có khả năng dụng công nghệ thuật, tung hoành sáng tạo trong cái khuôn khổ nghiêm ngặt của luật thơ Sự ngắn gọn của các tác phẩm ca dao dân ca phản ánh đặc điểm, hoàn cảnh, điều kiện sáng tác và sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian; tính chất này còn cho thấy tác giả dân gian chưa thể hiện khả năng xây dựng những tác phẩm thơ trữ tình với qui mô đồ sộ
3.2 Một số đặc điểm của ca dao dân ca
Vì có tính chất truyền miệng, ngôn ngữ ca dao dân ca còn phản ánh “
lời ăn tiếng nói” của quần chúng bình dân
3.2.1 Khẩu ngữ
Khẩu ngữ được thể hiện trong ca dao dân ca, trước hết là ở hiện tượng
thêm hoặc bớt âm tiết đối với những vần thơ truyền thống Hiện tượng này
thường rất hay gặp ở thể lục bát Thêm hoặc bớt âm tiết càng làm cho ca dao dân ca gần gũi với lời nói hàng ngày của quần chúng lao động Sau đây là một
số ví dụ như thế:
- Anh ra đi cay đắng như gừng,
Đường xa xôi ngàn dặm, khuyên em đừng nhớ thương
Trang 35- Vì tình anh phải đi đêm,
Vấp năm bảy cái, đất vẫn êm hơn giường
- Dù cho trúc mọc thành mai
Em cũng không xiêu lòng lạc dạ nghe ai phỉnh phờ
Những câu ở trên hoàn toàn có thể gọn lại thành hình thức “ trên sáu
dưới tám” cho đúng lục bát chân chính Nhưng như đã nói, mọi đặc điểm “
dư thừa ” về mặt hình thức đều ít nhiều có liên quan đến nội dung, vả lại, dư
thừa do thêm các yếu tố, hoặc nhấn nhá, đệm lót là một trong những đặc trưng của khẩu ngữ
Nhưng nếu những câu ca dao ấy thuần túy là những câu lục bát thì còn đâu nữa câu nói đích thực còn tươi nguyên nhựa sống của người con gái Đó
là chưa kể nếu đem cắt đi những tiếng “ em”, “ ai ”, được thêm vào ở các
dòng thơ trên đây thì sẽ chẳng còn gì là “ ngôn ngữ của tình yêu ”
Tính chất khẩu ngữ, truyền miệng của ca dao dân ca còn được thể hiện
ở cách sử dụng các lớp từ, đặc biệt là đại từ nhân xưng Các cặp “ anh - em”,
“ chàng – thiếp”, “ mình – ta”, “ chàng – nàng”, “ bậu – qua”, thường có
hương vị đậm đà, ngọt ngào của cách nói trau chuốt, gọt dũa Chẳng hạn:
- Anh còn son, em cũng còn son,
Ước gì ta được làm con một nhà
- Gương kia tróc thủy gương lờ,
Chàng mà xa thiếp dật dờ như điên
- Bậu với qua duyên đà thậm bén,
Biết cha mẹ nàng chọn kén nơi nao
Trang 36- Mình về mình nhớ ta chăng?
Ta về, ta nhớ hàm răng mình cười
Còn các cặp “ anh – tôi”, “ mày – tao” lại mang nặng tính chất khẩu
ngữ mạnh mẽ, quyết liệt:
- Từ ngày tôi ở với anh
Anh đánh anh chửi anh tình phụ tôi
- Chồng gì anh, vợ gì tôi
Chẳng qua là cái nợ đời chi đây
- Nhà mày lắm đất lắm ao Lắm trâu lắm ruộng con tao ăn gì?
3.2.2 Đối thoại
Sự kết hợp giữa phong cách gọt dũa và phong cách đối thoại trong ca dao dân ca nhiều khi rất nhuần nhuyễn Bởi vậy, cũng là hình thức đối thoại, nhưng đối thoại trong ca dao dân ca trong nhiều trường hợp không phải là lời nói trực diện như ngôn ngữ nói hàng ngày mà vẫn đầy chất thi vị Những cách
dùng từ ngữ như “ chàng ơi ”, “ hỡi cô ”, “ mình ơi ”, vừa thể hiện một lời gọi nhưng là một lời gọi – thẫm mĩ, đầy tính chất văn học
- Anh ơi! uống rượu thì say,
Bỏ ruộng ai cày, bỏ giống ai gieo?
- Má ơi, con mượn cái gàu,
Con ra xách nước tưới rau cho rồi
Trang 37- Mặt trời tang tảng rạng đông,
Chàng ơi! Trở dậy ra đồng kẻo trưa
Cái đặc sắc của ngôn ngữ ca dao dân ca chính là ở chỗ nó đã kết hợp được nhuần nhuyễn hai phong cách: ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ hội thoại, nó truyền miệng bằng thơ Chính cái hình thức tồn tại ấy là một trong những điều kiện để ca dao dân ca dễ thấm đượm, thơm lâu trong mỗi con người
Có thể nói được rằng, ngôn ngữ của ca dao dân ca là ngôn ngữ trong sinh hoạt hằng ngày được nghệ thuật hóa Do ca dao dân ca vùng là sản phẩm của hôm qua, đồng thời là của hôm nay và cả ngày mai Do vậy, khi đã tìm hiểu rõ các đặc điểm của nó, chúng ta có thể dự báo được đường đi nước bước
và cả sự phát triển của nó trong xã hội đương đại
4 GIAO TIẾP VÀ GIAO TIẾP
TRONG MÔI TRƯỜNG CA DAO DÂN CA
4.1 Giao tiếp
Có thể hiểu một cách giản dị rằng: giao tiếp là sự truyền đạt thông tin
từ người này đến người khác với một mục đích nhất định nào đó
Sự giao tiếp được thực hiện nhờ hoạt động giao tiếp giữa hai hoặc hơn hai người với nhau trong một bối cảnh nhất định và bằng một phương tiện giao tiếp chung
Các kết quả nghiên cứu về sinh lý học và tâm lý học cho thấy rằng ở con người, nhu cầu giao tiếp dường như mang tính bẩm sinh
Khi giao tiếp, người ta trao đổi tư tưởng, tình cảm, trí tuệ, sự hiểu biết, với nhau và tác động đến nhau Chính nhờ giao tiếp mà con người mới tập hợp với nhau thành cộng đồng xã hội, có tổ chức và hoạt động của xã hội Nhờ giao tiếp mà những tư tưởng và trí tuệ của người này, thế hệ này mới truyền tới người khác, thế hệ khác được
Trang 38Những hoạt động được gọi là giao tiếp đó đã được thực hiện nhờ một công cụ tốt nhất là ngôn ngữ Nhờ nó mà con người có khả năng hiểu biết lẫn nhau Nó là một trong những động lực bảo đảm sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người Ngoài
ngôn ngữ, con người còn có những phương tiện giao tiếp khác như cử chỉ, các
loại ký hiệu, dấu hiệu khác nhau, những kết hợp âm thanh của âm nhạc,
những kết hợp màu sắc của hội họa, So với ngôn ngữ thành tiếng, ngôn ngữ
cử chỉ thật nghèo nàn và hạn chế Ngôn ngữ cử chỉ đó chẳng qua chỉ là một số
rất ít những động tác đơn giản như lắc đầu, gật đầu, nhún vai, nheo mắt,
khom lưng, vẫy tay, chỉ tay, không phải ai cũng hiểu được các cử chỉ như
vậy, nhiều khi “ ý nghĩa” của các cử chỉ cũng không rõ ràng dẫn đến sự hiểu
lầm giữa người tạo cử chỉ và người tiếp thu cử chỉ Các ký hiệu thì chỉ được
sử dụng trong những phạm vi hạn chế chứ không phải là phương tiện giao tiếp của toàn xã hội Bản thân những ký hiệu, dấu hiệu muốn hiểu được vẫn
phải dùng ngôn ngữ thành tiếng để giải thích Chính vì vậy cử chỉ và những
dấu hiệu, tín hiệu khác nhau chỉ là những phương tiện giao tiếp bổ sung cho ngôn ngữ thành tiếng
Nhờ giao tiếp mà con người có thể hiểu nhau trong quá trình sinh hoạt
và lao động Người ta có thể diễn đạt và làm cho người khác hiểu được tư tưởng, tình cảm, trạng thái, nguyện vọng, của mình Có hiểu biết lẫn nhau, con người mới có thể đồng tâm hiệp lực chinh phục thiên nhiên, chinh phục
xã hội, làm cho xã hội ngày càng tiến lên
4.2 Chức năng giao tiếp trong môi trường ca dao dân ca
Ca dao dân ca là ngôn ngữ thành tiếng Nó là một trong những phương tiện giao tiếp đặc sắc nhất của con người Lao động và sản xuất là môi trường
Trang 39để con người thực hiện giao tiếp Ca dao dân ca do nhân dân sáng tác ra để thỏa mãn những yêu cầu của tình cảm Nhân dân ta dùng lời ca tiếng hát để biểu lộ tình cảm của mình với người khác, trao đổi tình cảm cho nhau Qua lao động và sản xuất con người tiếp xúc với nhau bằng lời ca tiếng hát Những câu ca tiếng hát có tác dụng điều chỉnh tiết tấu của động tác, gây phấn khởi, làm cho người ta quên mệt nhọc, làm cho lao động hóa nhẹ nhàng và đạt hiệu xuất cao
4.2.1 Ca dao dân ca là phương tiện giao tiếp giữa con người với con
người
Có thể nói muốn hiểu biết tình cảm của nhân dân Việt Nam dồi dào, thắm thiết, sâu sắc đến mức độ nào, rung động nhiều hơn cả về những khía cạnh nào của cuộc đời thì không thể nào không nghiên cứu ca dao dân ca Việt Nam mà hiểu hết được Ca dao dân ca Việt Nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình của ta Tình yêu của người lao động Việt Nam biểu hiện trong ca dao dân ca về nhiều mặt: tình yêu giữa đôi bên trai gái, yêu gia đình, yêu xóm làng, yêu đồng ruộng, yêu đất nước, yêu lao động, yêu giai cấp, yêu thiên nhiên, yêu hòa bình Không những thế, ca dao dân ca còn biểu hiện tư tưởng đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong cuộc sống xã hội, trong những khi tiếp cận với thiên nhiên và sự trưởng thành của tư tưởng
ấy qua các thời kỳ lịch sử
Như vậy, ngoài sự biểu hiện đời sống tình cảm, đời sống vật chất của con người, ca dao dân ca còn phản ánh ý thức lao động sản xuất của con người và tình hình xã hội thời xưa về các mặt kinh tế và chính trị
Do ở cảm xúc mà cấu tạo nên lời ca, nên tính tư tưởng của con người trong ca dao dân ca không những làm cho người ta thông cảm tình yêu thắm thiết, mặn nồng của họ, mà còn cho người ta thấy phẩm chất của họ trong các
Trang 40cuộc đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh xã hội Họ đã vất vả như thế nào trong công cuộc cải tạo thiên nhiên, hào hứng như thế nào trong khi thu được thắng lợi, họ đã căm hờn những kẻ áp bức bóc lột mình và đã bền bĩ đấu tranh chống những kẻ ấy như thế nào, họ đã chống những sự ngang trái ở đời như thế nào, đã vươn lên không ngừng như thế nào để giành lấy hạnh phúc
Nam nữ thanh niên trong thôn xóm ngày xưa gặp nhau trong đám tiệc
là việc hạn hữu; họ được gặp nhau nhiều nhất trong lao động sản xuất cho nên khi họ thổ lộ tâm tình trong câu ca, bài hát thì tâm tình của họ cũng gắn liền với sản xuất Tình yêu của thanh niên nam nữ là thứ tình yêu hồn nhiên lành mạnh Kết quả là tình yêu của nam nữ thanh niên ở nông thôn vượt qua được bức tường thành của lễ giáo phong kiến Giữa vòng vây của thứ lễ giáo nghiệt ngã, người ta thấy vang lên từ lũy tre xanh, giữa cánh đồng bát ngát, những
bài ca dao dân ca trữ tình trong trắng và tươi đẹp như ánh trăng, như dòng
suối, như chẹn lúa đồng đòng, Tình yêu trong ca dao dân ca là thứ tình yêu
lành mạnh, thắm thiết, hồn nhiên Đó là thứ tình yêu liên quan đến đồng
ruộng, đến xóm làng:
Cô kia đi đường này với ta,
Trồng đậu , đậu tốt; trồng cà, cà sai
Cô kia đi đường ấy với ai, Trồng bông, bông héo; trồng khoai, khoai hà!
Yêu nhau thì dù có khó khăn gian khổ thế nào họ cũng quyết chí vượt qua:
Anh thương em nên phải đi đêm,
Té xuống bờ ruộng, đất mềm không đau