1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của những danh từ chỉ con vật trong ca dao nam bộ

133 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi con vật xuất hiện trong câu ca dao mang ý nghĩa không giống nhau, ý nghĩa không đơn thuần như nhau mà có những đặc điểm ý nghĩa riêng rất độc đáo, rất thú vị, tạo nên nhóm tín hiệu t

Trang 1

HỒ THỊ KIM THANH

ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP, NGỮ NGHĨA CỦA NHỮNG DANH TỪ CHỈ CON VẬT

TRONG CA DAO NAM BỘ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2015

Trang 2

HỒ THỊ KIM THANH

ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP, NGỮ NGHĨA CỦA NHỮNG DANH TỪ CHỈ CON VẬT

TRONG CA DAO NAM BỘ

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60.22.02.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

GS TS ĐỖ THỊ KIM LIÊN

NGHỆ AN - 2015

Trang 3

Mặc dù bản thân đã có nhiều nổ lực cố gắng để thực hiện đề tài nhưng

vì thời gian hạn hẹp cũng như năng lực bản thân có hạn, cho nên luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế Vì vậy, chúng tôi mong được sự thông cảm của quý thầy (cô) và bạn đọc

Thực hiện đề tài này tôi xin chân thành cảm ơn GS TS Đỗ Thị Kim Liên người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, nghiêm túc và cảm ơn các thầy

cô giảng dạy khoa Ngôn ngữ - Trường Đại học Vinh đã tận tình giảng dạy, cung cấp kiến thức cho chúng tôi, cảm ơn người thân, bạn bè đã ủng hộ, động viên, giúp đỡ chúng tôi hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn!

Nghệ An, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Hồ Thị Kim Thanh

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và nhiệm vụ 2

3 Lịch sử nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của đề tài 6

6 Cấu trúc luận văn 7

Chương 1 MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8

1.1 Vấn đề danh từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt 8

1.1.1 Định nghĩa 8

1.1.2 Đặc điểm của danh từ 9

1.1.3 Phân loại các tiểu nhóm của danh từ 9

1.2 Những đặc điểm của ca dao 14

1.2.1 Khái niệm ca dao 14

1.2.2 Đặc điểm của ca dao 17

1.3 Vài nét về vùng đất và con người Nam Bộ 24

1.3.1 Vẻ hoang vu của thiên nhiên 25

1.3.2 Hình ảnh người đi khai hoang 27

1.3.3 Ca dao Nam Bộ - ca dao vùng sông nước 31

1.4 Tiểu kết chương 1 34

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA LỚP DANH TỪ CHỈ CON VẬT TRONG CA DAO NAM BỘ 36

2.1 Đặc điểm cấu tạo, khả năng kết hợp của nhóm danh từ chỉ con vật trong ca dao Nam Bộ 36

2.1.1 Về vị trí 36

Trang 5

2.3 Đặc điểm và khả năng kết hợp của danh từ 41

2.3.1 Các tiểu nhóm danh từ chỉ con vật hoặc liên quan đến con vật 41

2.3.2 Danh từ chỉ động vật kết hợp với động từ đứng sau 45

2.3.3 Danh từ chỉ động vật kết hợp với tính từ đứng sau 45

2.3.4 Danh từ chỉ động vật kết hợp với đại từ đứng sau 46

2.4 Khả năng đảm nhận chức vụ chính phụ danh từ chỉ con vật 46

2.4.1 Số liệu thống kê 46

2.4.2 Mô tả - nhận xét 47

2.5 Một số cấu trúc thường gặp của danh từ chỉ con vật trong tập "Bộ hành với ca dao" của Lê Giang 49

2.5.1 Cấu trúc lặp 49

2.5.2 Cấu trúc so sánh 53

2.5.3 Cấu trúc đối 56

2.5.4 Cấu trúc đối đáp 57

2.5.5 Cấu trúc sóng đôi 58

2.5.6 Chơi chữ 59

2.6 Tiểu kết chương 2 63

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA LỚP DANH TỪ CHỈ CON VẬT TRONG CA DAO NAM BỘ 65

3.1 Khái niệm ngữ nghĩa 65

3.1.1 Phân biệt khái niệm ý nghĩa, ngữ nghĩa, nghĩa 65

3.1.2 Nghĩa thực và nghĩa biểu trưng 66

3.2 Ngữ nghĩa các tiểu nhóm danh từ chỉ con vật trong Ca dao Nam Bộ 69

3.2.1 Thống kê và định lượng 69

3.2.2 Mô tả và phân tích các tiểu nhóm danh từ trong Ca dao Nam Bộ 69

Trang 6

3.3.1 Khái niệm đặc trưng 83

3.3.2 Khái niệm văn hóa 84

3.3.3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 85

3.3.4 Đặc trưng văn hóa của người Nam Bộ qua lớp danh từ chỉ con vật 87

3.4 Tiểu kết chương 100

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN 107 PHỤ LỤC

Trang 7

Bảng 2.1 Thống kê vị trí xuất hiện của danh từ chỉ con vật được

khảo sát 36

Bảng 2.2 Tần số xuất hiện của danh từ chỉ con vật trong một bài ca dao 37

Bảng 2.3 Đặc điểm cấu tạo của danh từ chỉ con vật trong một bài ca dao 39

Bảng 2.4 Các tiểu loại danh từ trong tập "Bộ hành với ca dao" 41

Bảng 2.5 Chức vụ ngữ pháp của danh từ chỉ con vật 46

Bảng 2.6 Thống kê số bài ca dao có câu lặp ở cấp độ dòng 50

Bảng 3.1 Ngữ nghĩa các tiểu nhóm danh từ chỉ con vật trong ca dao Nam Bộ 69

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn học dân gian là kho tàng quí giá của nền văn học dân tộc Việt

Nam Nó ra đời và tồn tại cho đến ngày hôm nay là cả một quá trình thử thách, gọt dũa, sàng lọc của thời gian Vì vậy, văn học dân gian có sức sống bền vững và đã trở thành những viên ngọc quý giá, sáng lấp lánh của những người bình dân Ca dao có một vị trí vô cùng quan trọng, độc đáo trong vườn văn học dân gian dân tộc cũng như trong lòng độc giả thưởng thức Kho tàng ca dao người Việt là sự tập hợp những hương sắc, những giá trị tâm hồn người Việt Nếu ca dao dân ca Bắc Bộ ra đời từ cái nôi của dân tộc Việt, tiêu biểu là đất tổ Hùng Vương, ca dao dân ca Trung Bộ ra đời từ Huế, cố đô của một thời ngự trị các triều đình phong kiến Việt Nam thì ca dao dân ca Nam Bộ như một đứa em út biết kế thừa có chọn lọc và phát huy vốn văn hóa dân gian ấy Đây là nguồn tư liệu vô cùng thú vị và hấp dẫn đối với giới nghiên cứu và cũng là đối tượng để các nhà nghiên cứu đi sâu khám phá, tìm hiểu ở mọi phương diện

1.2 Ca dao Nam Bộ đồng hành với những nhát cuốc, luống cày, khai

phá vùng hoang vu đồng bằng Nam Bộ "Từ thủa cha ông đi mở cỏi", đã gieo

vào lòng người những khúc ca tươi đẹp, thấm đẫm chất nhân văn Trong các loại hình văn hóa văn học dân gian Nam Bộ, ca dao là kho tri thức vô cùng phong phú và độc đáo không chỉ về nội dung mà cả hình thức nghệ thuật thể

hiện Trong hệ thống từ ngữ của cuốn "Bộ hành với ca dao" do Lê Giang

(sưu tầm - sưu tập - biên soạn) thì những danh từ chỉ con vật xuất hiện khá lớn Đây là những danh từ có những đặc trưng riêng về cấu trúc, ngữ nghĩa Chúng có khả năng thể hiện rất tinh tế và sâu sắc cách cảm, cách nghĩ, cách tri nhận của người dân Nam Bộ Con vật đã đi vào thế giới văn học mang ý

Trang 9

nghĩa biểu trưng cho con người với những phẩm chất, nhân cách, thân phận, thái độ và một thời của đời con người Mỗi con vật xuất hiện trong câu ca dao mang ý nghĩa không giống nhau, ý nghĩa không đơn thuần như nhau mà

có những đặc điểm ý nghĩa riêng rất độc đáo, rất thú vị, tạo nên nhóm tín hiệu thẩm mĩ dân gian, và đó cũng chính là lí do chúng tôi lựa chọn đề tài:

"Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của những danh từ chỉ con vật trong ca dao Nam Bộ"

2 Đối tượng và nhiệm vụ

2.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những danh từ chỉ con vật trong

3218 bài ca dao từ tập "Bộ hành với ca dao" của Lê Giang, Nxb Trẻ, Thành

phố Hồ Chí Minh, 2004

2.2 Nhiệm vụ

Đề tài hướng tới thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Thống kê, phân loại các danh từ chỉ con vật trong tập "Bộ hành với ca dao"

- Trên cơ sở đó, chúng tôi mô tả, phân tích làm rõ những đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của lớp danh từ đó

- Rút ra những nhận xét về đặc trưng, về văn hóa, con người xứ sở sông nước Nam Bộ

3 Lịch sử nghiên cứu

Văn học dân gian từ trước đến nay, ca dao vốn là đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, khám phá như: Hoàng Tiến Tựu, Bùi Mạnh Nhị,

Mã Giang Lân, Vũ Ngọc Phan, Chu Xuân Diên, Đinh Gia Khánh,

Việc nghiên cứu lớp danh từ chỉ con vật trong ca dao Nam Bộ đã và đang là những vấn đề mới mẻ, được nhiều người quan tâm, khám phá, khai thác ở nhiều góc độ

Người đầu tiên đề cập trực tiếp biểu tượng con vật trong ca dao là Vũ

Trang 10

Ngọc Phan, tác giả cuốn sách Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam Trong công

trình này, tác giả nhấn mạnh: "Một đặc điểm trong tư duy hình tượng của nhân dân Việt Nam về cuộc đời: đời người với đời con cò và con bống" [37, tr.60]; "Người lao động đã lấy những con vật nhỏ bé để tượng trưng cho cuộc

sống lam lũ của mình", hay "Người dân lao động Việt Nam đem hình ảnh con

cò và con bống vào ca dao, dân ca là đưa một nhận thức đặc biệt về một khía cạnh của cuộc đời vào văn nghệ, lấy cuộc đời của những con vật trên đây là tượng trưng về nét đời sống của mình" [37, tr.71]

Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi pháp ca dao đã dành hẳn một chương viết về các biểu tượng như: cây trúc, cây mai, hoa nhài, con bống con

cò Ông cho rằng: "Biểu tượng là hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan,

thể hiện quan điểm thẩm mĩ, tư tưởng của từng nhóm tác giả (có khi của riêng một tác giả), từng thời đại, từng dân tộc và từng khu vực cư trú"; " Nội dung

mà các biểu tượng thể hiện chủ yếu là những nam nữ nông thôn với những

mối quan hệ xã hội, hành vi cùng những tư tưởng tình cảm tâm trạng của họ" [20, tr.309]

Trong cuốn Ca dao Việt Nam và những lời bình, tác giả Vũ Thị Thu Hương đã tập hợp các bài viết về các biểu tượng con vật, cây, hoa Trên các

báo, tạp chí khác nhau của các tác giả như: Trương Thị Nhàn, Mai Ngọc Chừ, Đặng Hiến, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Xuân Lạc,

Với bài viết "Giá trị biểu tượng nghệ thuật của các vật thể nhân tạo

trong ca dao cổ truyền dân tộc Việt Nam", tác giả Trương Thị Nhàn đã đi sâu

nghiên cứu thế giới vật thể nhân tạo trong ca dao cổ truyền người Việt và cho rằng đây là thế giới vật thể mang giá trị biểu trưng nghệ thuật Trên cơ sở đó, tác giả kết luận: "Khả năng biểu tượng hóa nghệ thuật của các vật thể ngôn ngữ nhân tạo trong ca dao góp phần tạo nên một nét đặc trưng rất cơ bản trong nghệ thuật ngôn ngữ của ca dao; ngôn ngữ nghệ thuật ca dao mang tính

Trang 11

khái quát cao điển hình của tính hàm súc và "ý tại ngôn ngoại" trong những sáng tác văn học" [32, tr.212]

Tác giả Mai Ngọc Chừ trong bài viết Ngôn ngữ ca dao Việt Nam cho

rằng "Ngôn ngữ ca dao không chỉ mang chức năng thông báo thuần túy mà còn có thông báo thẩm mĩ" [8, tr.123]

Tác giả Phan Thị Thanh Nhàn có bài viết Hoa bưởi trong ca dao, đã

kết luận: "Tâm hồn Việt Nam hẳn cũng trong sạch thơm tho, rất nhiều câu ca dao tình tứ và dịu dàng như hoa" [33, tr.209]

Tác giả Nguyễn Xuân Lạc với bài Bắc cầu dải yếm cho chàng sang

chơi đã đưa ra kết luận: "Tất cả đã được lọc qua trái tim nghệ sĩ của người

bình dân Việt Nam để dệt thành một trong những biểu tượng cao đẹp nhất của tình yêu, cái cầu trong ca dao!" [24, tr.214]

Năm 1995, luận án tiến sĩ Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm

mĩ không gian trong ca dao của Trương Thị Nhàn tiếp tục nghiên cứu một

biểu tượng không gian như: núi, rừng, sông, ruộng, bến, đình, chùa, Góp

phần đáng kể trong lĩnh vực nghiên cứu biểu tượng ca dao biểu hiện đời sống tinh thần con người Việt Nam

Tác giả Bùi Mạnh Nhị trong bài viết Công thức truyền thống và đặc

trưng cấu trúc của ca dao trữ tình đăng trên Tạp chí Văn học, 1997 cho rằng:

"Công thức truyền thống của ca dao có nhiều loại, biểu tượng là một trong số

đó và trong biểu tượng chính là chìa khóa mở bí mật đặc trưng cấu trúc của

những sáng tác thơ ca trữ tình dân gian"

Tác giả Phạm Thu Yến trong cuốn Những thế giới nghệ thuật ca dao,

đã nghiên cứu biểu tượng trong thơ ca trữ tình dân gian như: khái niệm biểu tượng, phân biệt biểu tượng với ẩn dụ, khẳng định biểu tượng - yếu tố nghệ thuật đặc thù gắn với đặc trưng thể loại, sự hình thành và phát triển của biểu tượng thơ ca dân gian

Trang 12

Trong cuốn Tính cách văn hóa người Việt ở Nam Bộ như một hệ thống

của tác giả Trần Ngọc Thêm, ông viết "Chính khả năng có tần số xuất hiện cao hơn là khả năng đại diện và đầy đủ cơ sở thể hiện đặc trưng tính cách văn hóa ví như loài cá" hay "Khuynh hướng đơn giản hóa trong biểu trưng ước lệ

nghệ thuật" [42, tr.114] Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu của Trần Văn Nam, theo nguồn: Người viễn xứ; Sông Cửu Long Online bài

Tính cách Nam Bộ qua biểu trưng ca dao Trần Phỏng Diêu trên báo điện tử

nét Tính cách người Nam Bộ qua ca dao Trần Minh Thương trên báo điện tử nét như: Ca dao dưới cái nhìn giọng điệu, Hình tượng con rắn trong văn hóa

dân gian Tây Nam Bộ, Chuyện mèo - chuột trong đời sống người bình dân Tây Nam Bộ, Con rồng trong ca dao dân gian Trong những bài viết, ông có

những kết kết luận như: "Con rắn đi vào đời sống, sinh hoạt văn hóa dân gian của người đồng bằng Từ lời ca, điệu hò, câu lý, đến những truyền thuyết, cổ tích, ca dao, rắn ít khi vắng mặt Hình tượng con rắn trong dân gian thường tượng trưng cho hạng người xấu, lòng dạ nham hiểm, cần phải tránh xa nơi hang hùm nọc rắn, hay hạng người như Sư hổ mang"; hay "Tính nết của cả mèo và chuột cũng như mối quan hệ mèo chuột" đã trở thành đề tài cho lời ăn tiếng nói dân gian Qua những thành ngữ, tục ngữ, ca dao chứa hình ảnh mèo chuột cho chúng ta thấy được đời sống tâm hồn của người bình dân hết sức phong phú và đa dạng Nó trở thành một trong những nét văn hóa nhận thức của họ"; "Với nhiều biện pháp tu từ ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, hoán dụ, đặc sắc Con rồng trong ca dao dân ca góp phần làm giàu thêm, đẹp thêm cho kho tàng ngôn ngữ tiếng Việt"

Tóm lại, việc tìm hiểu, nghiên cứu về ca dao Việt Nam là nguồn đề tài phong phú, hấp dẫn được nhiều nhà nghiên quan tâm Song, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ hệ thống lớp danh từ chỉ con vật trong ca dao Nam Bộ

Trang 13

4 Phương pháp nghiên cứu

Triển khai đề tài này, chúng tôi sử dụng và phối hợp các phương pháp chính sau đây:

4.1 Phương pháp thống kê - phân loại

Chúng tôi khảo sát, thống kê những câu ca dao có chứa lớp danh từ chỉ

con vật trong tập Bộ hành với ca dao, từ đó phân loại làm cơ sở để đi sâu

phân tích đặc điểm ngữ pháp - ngữ nghĩa của lớp danh từ này

4.2 Phương pháp phân tích - ngữ nghĩa

Từ mối quan hệ ngữ nghĩa bản thể, nghĩa sự vật, nghĩa biểu tượng, từ

đó chúng tôi chỉ ra các nhóm ngữ nghĩa chủ yếu của danh từ chỉ con vật

4.3 Phương pháp tổng hợp

Phương pháp này, chúng tôi phân tích các ngữ liệu đã thống kê, đi đến khái quát đặc điểm, đặc điểm ngữ pháp - ngữ nghĩa của lớp danh từ chỉ con vật

Đây là thao tác cuối cùng, chúng tôi đi đến tổng hợp các ngữ liệu được phân loại, thống kê, phân tích từ đó rút ra một số nhận xét về văn hóa sông nước của người Nam Bộ trong ca dao Nam Bộ một cách có hệ thống

5 Đóng góp của đề tài

Đây là đề tài đầu tiên đi sâu vào tìm hiểu Đặc điểm ngữ pháp, ngữ

nghĩa của những danh từ chỉ con vật trong ca dao Nam Bộ, từ đó rút ra một

số nhận xét về văn hóa sông nước của người Nam Bộ trong ca dao Nam Bộ một cách có hệ thống

Thống kê đầy đủ các bài ca dao có danh từ chỉ con vật Thống kê vị trí, tần số xuất hiện của danh từ chỉ con vật trong một bài; các dạng cấu tạo của danh từ chỉ con vật; miêu tả các tiểu nhóm danh từ chỉ con vật hoặc liên quan đến con vật; mô tả ngữ nghĩa của các danh từ chỉ con vật chi tiết Chỉ ra và phân tích được một số đặc trưng văn hóa Nam Bộ qua danh từ chỉ con vật

Trang 14

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chính được triển khai thành 3 chương:

Chương 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp của những danh từ chỉ con vật trong

ca dao Nam Bộ

Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của những danh từ chỉ con vật trong

ca dao Nam Bộ

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Vấn đề danh từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt

1.1.1 Định nghĩa

Theo Từ điển tiếng Việt, định nghĩa “Danh từ tiếng dùng để gọi một

người, một vật hoặc một sự gì; Sách, xe, bàn là danh từ; đi, đứng, viết là động từ” [ 38, tr.337]

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học: “Danh từ là từ loại

có ý nghĩa phạm trừ "sự vật", có các phạm trù ngữ pháp giống, số, cách (được thể hiện không giống nhau ở các ngôn ngữ khác nhau), thực hiện các chức năng ngữ pháp khác nhau trong câu, như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ” [50, tr.67]

Theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt: định

nghĩa “Danh từ là lớp từ có ý nghĩa phạm trù sự vật, biểu thị những đơn vị có thể nhận thức được trên cơ sở tồn tại của chúng dưới hình thức những hiện tượng trong tự nhiên và xã hội hoặc trong sự suy nghĩ của con người” [24, tr.44]

Ví dụ:

- Tự nhiên: Nhà, bàn, ghế, sách, bút, áo, quần

- Xã hội: bộ đội, sinh viên, học sinh, nông dân, xã viên, thanh niên, cán bộ

- Tư tưởng: tinh thần, văn hóa, khái niệm, tư duy, vật chất, thượng đế

Theo tác giả Diệp Quang Ban trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1,

thì “Danh từ biều thị mọi "thực thể" tồn tại trong thực tại, được nhận thức và được phản ảnh trong tư duy của người bản ngữ như là những sự vật” [3, tr.89]

Ngoài ra, bàn về danh từ còn phải kể đến một số tác giả khác như: Nguyễn Kim Thản, Đinh Văn Đức, Lê A, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Hữu Quỳnh, Lê Xuân Thại

Trang 16

1.1.2 Đặc điểm của danh từ

- Về mặt nghĩa: Danh từ là những từ chỉ sự vật

- Về khả năng kết hợp

+ Danh từ có khả năng làm trung tâm của cụm danh từ Theo mô hình

cụm danh từ Nguyễn Tài Cẩn đưa ra có 7 vị trí

Tất cả / những / cái / con / mèo / đen / ấy

1 2 3 D1 D2 -1 -2

+ Danh từ có khả năng đứng sau những từ chỉ vị trí: trên, dưới, trong, ngoài

Ví dụ: Nó đi ra ngoài sân

Nam đang làm bài tập trong nhà

+ Danh từ có khả năng làm chủ ngữ và một số thành phần khác trong câu + Danh từ không trực tiếp làm vị ngữ Muốn làm vị ngữ phải có quan

hệ từ là đứng trước

Ví dụ: Huyền Trân là một vị công chúa

1.1.3 Phân loại các tiểu nhóm của danh từ

1.1.3.1 Phân loại

Theo Diệp Quang Ban trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt: Việc phân loại

danh từ thành các lớp con khá đa dạng và phức tạp Đó là vì trong nội bộ danh

từ, sự biểu hiện các đặc trưng phân loại thường đan chéo vào nhau, thiếu rành mạch dứt khoát giữa các lớp con trên cả ba mặt: ý nghĩa, khả năng kết hợp và chức năng cú pháp Bởi vậy, quá trình phân loại thường tiến hành từng bước,

ở mỗi bước vận dụng tiêu chuẩn theo một diện đối lập thích hợp để tách dần các lớp con trong danh từ

Dưới đây là kết quả phân loại theo một số diện đối lập trong nội bộ danh từ

- Đối lập danh từ riêng / danh từ chung

- Đối lập trong danh từ chung

Trang 17

+ danh từ tổng hợp / danh từ không tổng hợp

+ danh từ đếm được / danh từ không đếm được

Theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt phân

loại: Danh từ riêng / danh từ chung [danh từ chung tổng hợp / danh từ chung

không tổng hợp - chỉ loại và không chỉ loại (đơn vị/ chất liệu/ chỉ người/ động

- thực vật/ đồ đạc/ trừu tượng)]

1.1.3.2 Các tiểu nhóm của danh từ

a Nhóm danh từ riêng

- Ý nghĩa: Định danh các sự vật riêng, dùng để gọi người, sự vật

Ví dụ: Ba Cá Sấu, Bến Nghé, Năm Sài Gòn, Chợ Rẫy

- Đặc điểm ngữ pháp

+ Có khả năng kết hợp với từ chỉ xuất cái

Ví dụ: Cái cô Thu Loan này

Cái thằng Mới này láo thật

+ Có khả năng kết hợp với danh từ chung đứng trước

Ví dụ: Huyện Đức Thọ Thi hào Nguyễn Du

D chung D riêng D chung D riêng

+ Có khả năng kết hợp với đại từ chỉ định ở phía sau: này, kia, ấy Đặc

biệt khi có từ cái chỉ xuất đứng ở phía trước thì phải có định ngữ

Ví dụ: Cái thằng Năm Sài Gòn này không bao giờ thèm dùng nước mắt lừa dối người

+ Không kết hợp với số từ (1, 2, 3 ) và đại từ chỉ tổng thể (tất cả, cả)

Trang 18

Gần nhau: Sách vở, vợ chồng, nhà cửa

Giống nhau: phố xá, làng xóm, chim chóc

- Khả năng kết hợp:

+ Có khả năng kết hợp được với đại từ tổng thể (cả, tất cả, tất thảy)

+ Có khả năng kết hợp được với danh từ chỉ đơn vị

+ Có khả năng kết hợp với số từ

b.2 Nhóm danh từ chỉ loại - danh từ chỉ đơn vị

* Danh từ chỉ loại

- Ý nghĩa: Mang ý nghĩa mờ nhạt, không biểu thị một sự vật hiện tượng

nào: con, cây, cục, cái, chiếc, bức, hòn, tấm, mảnh Những từ này thường

dùng để xác định ý nghĩa cá thể, ý nghĩa chủng loại Chúng thường đứng trước những danh từ chung để có tác dụng loại biệt hóa, cá thể hóa những danh từ chung đó

Chẳng hạn:

+ Cái, chiếc → đứng trước danh từ chỉ sự vật

Khi chiếc lá xa cành

Lá không còn màu xanh (Lời bài hát)

Cái bàn này ba chân

+ Con → đứng trước danh từ chỉ động vật

Con cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao (Ca dao) + Tấm → đứng trước danh từ chỉ sự vật có bề mặt, mỏng, tròn vẹn Tấm ảnh, tấm lịch, tấm ván, tấm thảm → chỉ sự vật có bề mặt, mỏng Tấm lòng, tấm hình, tấm áo, tấm thân → chỉ sự tròn vẹn

+ Hòn → đứng trước danh từ chỉ những vật có độ dày, hình dáng

không cố định: hòn đá, hòn than, hòn đất, hòn núi

+ Bức → đứng trước danh từ chỉ vật có bề mặt thường mỏng: bức

tranh, bức ảnh

Trang 19

+ Cuốn, quyển → đứng trước danh từ chỉ vật có độ dày / mỏng liên quan đến tri thức

* Danh từ chỉ đơn vị

- Ý nghĩa: Thường dùng để xác định ý nghĩa đo lường, tính toán của sự

vật Khác với danh từ chỉ loại, ý nghĩa phạm trù thực thể của danh từ rõ hơn:

cân (thóc), mét (vải), mẫu (ruộng), lít (nước)

- Khả năng kết hợp (chung cho cả danh từ chỉ loại):

+ Có khả năng kết hợp với đại từ chỉ tổng thể

Ví dụ: /Cả/ cân thóc; / tất cả/ mẫu ruộng

+ Có khả năng kết hợp với số từ

Ví dụ: /4/ cân thóc; /10/ lít nước + Không có khả năng kết hợp với danh từ chỉ loại vì nó đứng ở vị trí của danh từ chỉ loại Nếu kết hợp được thì nó lâm thời chuyển sang danh từ chỉ vật

Ví dụ: Cái cân thịt (-); 1 cái cân (+)→ cân là danh từ chỉ vật

- Danh từ chỉ đơn vị được chia thành hai nhóm:

+ Danh từ chỉ đơn vị chính xác: chúng thường làm thành hệ thống:

đơn vị chiều dài (mét, kilomet); đơn vị trọng lượng (gam, kilôgam); đơn vị diện tích (ki lô mét vuông); đơn vị tiền tệ (đồng, xu)

+ Danh từ chỉ đơn vị không chính xác: bầy, đàn, toán, lũ, bọn

Trang 20

+ Có khả năng kết hợp với cái chỉ xuất

Ví dụ: Đem cái thứ thịt ấy vất đi (+)

+ Không có khả năng kết hợp trực tiếp với số từ (1, 2, 3, 4 )

Ví dụ: Hai vàng này (-); Ba thịt (-)

* Danh từ chỉ người

- Ý nghĩa: Chỉ quan hệ thân thuộc, nghề nghiệp, chức vụ của người

trong xã hội: ông, bà, cha, mẹ, bác sĩ, công nhân, giáo viên, thủ trưởng

- Khả năng kết hợp

+ Có khả năng kết hợp với những đại từ tổng thể:

Tất cả giáo viên đều có mặt (+)

+ Có khả năng kết hợp với những số từ:

Lớp ta có 40 học sinh (+)

+ Có khả năng kết hợp với cái chỉ xuất (nhưng cần có danh từ chỉ loại ở giữa)

Cái con người ấy, ai cầu mà chi

* Danh từ chỉ đông vật - thực vật

- Ý nghĩa: Thường chỉ những loài vật hoặc thực vật

- Khả năng kết hợp

+ Có khả năng kết hợp với đại từ tổng thể:

Tất cả bồ câu đã bay đi hết

+ Có khả năng kết hợp với số từ (có từ chỉ loại ở giữa)

Ba con lợn rừng Tám cây chanh

+ Có khả năng kết hợp với cái chỉ xuất (có danh từ chỉ loại ở giữa)

Cái cây bưởi này ít quả quá

Cái con chim nài không chịu hót

* Danh từ chỉ đồ vật, khái niệm trừu tượng

- Ý nghĩa: Thường chỉ đồ vật hoặc khái niệm trừu tượng

Trang 21

- Khả năng kết hợp

+ Có khả năng kết hợp với những từ chỉ tổng thể (tất cả)

Tất cả sách (+); Tất cả xe đạp (+)

Đối với những danh từ trừu tượng cần có từ mọi đứng giữa

Tất cả mọi nhiệm vụ (+); Tất cả mọi khuynh hướng (+)

+ Có khả năng kết hợp những từ chỉ số lượng

Có năm xe đạp (+); 3 nhiệm vụ (+)

1.2 Những đặc điểm của ca dao

1.2.1 Khái niệm ca dao

Ca dao cũng là một trong những đối tượng được nhiều nhà nnghiên cứu

quan tâm Theo Từ điển Tiếng Việt, khái niệm ca dao được hiểu: 1 Thơ ca

dân gian được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc 2 Thể loại văn vần, thường làm theo thể thơ lục bát (hình thức giống như thơ ca cổ truyền) [38, tr.126]

Tác giả Vũ Ngọc Phan định nghĩa: "Ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm khúc được như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu dân ca" Với định nghĩa này tác giả đã xem ca dao là một thuật ngữ chỉ một thể thơ dân gian Ông cho rằng: "Nếu xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao là ở chỗ được hát lên trong hoàn cảnh nhất định, trong những nghề nhất định, hay những địa phương nhất định Dân ca thường mang tính chất địa phương, không như ca dao là những bài ít có tính địa phương dù nội dung ca dao dù có nói về một địa phương nào thì chúng vẫn được phổ biến

rộng rãi" [37, tr.42-43]

Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính: "Ca dao được hình thành từ dân ca Khi nói đến ca dao, người ta thường nghĩ đến lời ca Khi nói đến dân ca, người ta nghĩ đến cả làn điệu và những dạng thức hát nhất định Như vậy, không có nghĩa là toàn bộ hệ thống những câu hát của một loại dân ca nào đó

Trang 22

(như hát trống quân, hát quan họ, ) cứ tước bớt tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi thì sẽ đều là ca dao" Chính vì vậy ông định nghĩa: "Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách" [20, tr.79]

Theo tác giả Minh Hiệu cho rằng: "Ở nước ta, thuật ngữ ca dao vốn là

từ Hán - Việt được dùng rất muộn Có thể muộn đến hàng ngàn năm so với thời gian đã có" [16, tr.50]

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, khái niệm ca dao được hiểu như sau:

Ca dao còn gọi là phong dao Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu

Ca dao là danh từ chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca

Do tác động của hoạt động sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian, ca dao đã dần dần chuyển nghĩa Cho đến nay, các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam đã dùng danh từ ca dao để chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi) với nghĩa này, ca dao là thơ dân gian truyền thống

Từ sau cách mạng tháng Tám (1945) trên sách báo nước ta đã xuất hiện

danh từ "ca dao mới" để phân biệt với "ca dao cổ" (hay ca dao cổ truyền) "Ca

Trang 23

dao mới" khác với "ca dao cổ" về khá nhiều phương diện (về thời gian, hoàn

cảnh, lực lượng sáng tác, hệ thống đề tài, chủ đề, phương thức và phương tiện lưu truyền, phổ biến ) Ngoài phương thức sáng tác và lưu truyền bằng miệng

của nhân dân "ca dao mới" còn được sáng tác và phổ biến bằng văn tự của các

văn nghệ sĩ chuyên nghiệp hoặc nghiệp dư Những tập ca dao thành văn được xuất bản trong mấy chục năm qua (như ca dao kháng chiến, ca dao chống Mỹ,

ca dao chống hạn, ) thiên về truyền thống chính trị là một hiện tượng mới chưa từng có trong lịch sử ca dao trước cách mạng tháng Tám (1945) Dựa vào

chức năng với hệ thống đề tài, có thể phân "ca dao cổ" (hay ca dao cổ truyền)

thành những loại ca dao khác nhau, như ca dao ru con, ca dao tình yêu, ca dao

về tình cảm gia đình, ca dao than thân, ca dao trào phúng [10, tr.26]

Theo Từ điển văn học Việt Nam, khái niệm ca dao là danh từ chung chỉ

toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu [2, tr.45]

Ca dao ra đời, tồn tại và được diễn xướng dưới hình thức những lời hát trong các sinh hoạt dân ca, trong đó các loại hình đối đáp là sinh hoạt trọng yếu và phổ biến nhất; mặt khác ca dao cũng phần nào được hình thành từ xu hướng cấu tạo những lời có vần, có nhịp trong sinh hoạt dân gian, do đó vẫn thường được dùng trong lời nói hằng ngày Như vậy, trong hai lĩnh vực ca hát và lời nói hằng ngày, ca dao đều có xu hướng được dùng như một loại ngôn ngữ trao đổi trực tiếp Đặc điểm về chức năng trên đây của ca dao cổ truyền sẽ chi phối nhiều đặc điểm khác về cấu tứ và cấu trúc hình thái câu thơ của ca dao

Trong Việt Nam văn học sử yếu, tác giả Dương Quảng Hàm cho rằng:

“Ca dao (ca: hát; dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình, phong tục của người bình dân.” [13, tr.11]

Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam, tập 1, Văn học dân gian, phần 1,

định nghĩa: “Ca dao là những bài hát có hoặc không có chương khúc, sáng tác

Trang 24

bằng thể văn vần dân tộc (thường là lục bát) để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm.” [32, tr.3]

Các nhà nghiên cứu văn học dân gian Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên cho rằng: "Ca dao vốn là thuật ngữ Hán Việt Theo cách hiểu thông thường thì ca dao là lời của các bài dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy, hoặc ngược lại là những câu thơ có thể bẻ thành những làn điệu dân ca" [19, tr.295-296]

Tuy có nhiều cách hiểu, cách lập luận khác nhau, mỗi cách hiểu cho một nhận định làm cơ sở khảo sát Chúng tôi sử dụng khái niệm ca dao của

Từ điển tiếng Việt: Thơ ca dân gian được truyền miệng dưới dạng những câu

hát không theo một điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho

dễ nhớ, dễ thuộc

1.2.2 Đặc điểm của ca dao

1.2.2.1 Đặc điểm về nội dung

Ca dao Việt Nam có một vị trí vô cùng quan trọng, có truyền thống lịch

sử lâu đời trong vườn văn học dân gian dân tộc Ca dao được ví như một dòng sông lớn, bắt nguồn từ hàng trăm con sông nhỏ từ khắp mọi miền của đất nước đổ về Với đặc điểm là thơ trữ tình, ca dao là tiếng nói tâm hồn, tiếng nói tình cảm, là nơi lưu giữ nhiều giá trị tinh thần của nhân dân Nó là khuôn thước cho lời thơ trữ tình Ca dao dù kết cấu theo lối đối đáp hay kể chuyện, chủ thể trữ tình ẩn hay hiện thì ta vẫn cảm nhận được những cung bậc tình cảm của người đang giải bày Do đó, nội dung trong ca dao rất phong phú, đa dạng như: tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu gia đình, tình yêu nam nữ

Ra đời trong xã hội cũ, ca dao trữ tình là những tiếng hát than thân, phản kháng; những lời ca yêu thương cất lên từ những cuộc đời còn nhiều xót xa, cay đắng nhưng đằm thắm ân tình của người bình dân Việt Nam sau lũy tre làng, bên giếng nước, gốc đa, sân đình, Bên cạnh đó còn có những bài ca dao hài hước thể hiện tinh thần lạc quan, dí dỏm, tinh nghịch nhưng rất trí

Trang 25

thông minh của người lao động Không những thế ca dao còn thể hiện tư tưởng đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong cuộc sống xã hội

Ngoài biểu hiện đời sống tình cảm, đời sống vật chất của con người, ca dao còn phản ánh ý thức lao động, sản xuất của nhân dân Việt Nam và tình hình xã hội thời xưa về các mặt kinh tế, chính trị,

1.2.2.2 Đặc điểm về hình thức

Khi nhắc đến hình thức nghệ thuật trong ca dao, các giới nghiên cứu thường đề cập đến thể thơ và cấu tứ trong ca dao

Hình thức ca dao thể hiện rất phong phú và đa dạng, các thể thơ trong

ca dao đều là những thể thơ dân tộc: thể lục bát (chính thể và biến thể), thể song thất lục bát (chính thể và biến thể) Đây là hai thể thơ được dùng nhiều

nhất đồng thời cũng tiêu biểu và quan trọng nhất trong ca dao truyền thống Trên cơ sở kết hợp các biến thể trên, ca dao còn cung cấp thêm những biến

thể hỗn hợp (hợp thể)

a Thể lục bát

Đây là thể thơ được dùng rộng rãi và thường xuyên nhất trong ca dao Thể lục bát gồm những cặp câu (mỗi câu gồm hai vế, vế trên 6 âm tiết, vế

dưới 8 âm tiết "Thượng lục hạ bát")

- Ở lục bát chính thể, số âm tiết mỗi dòng không thay đổi, vị trí gieo vần cố định chỉ có vần bằng Nhịp phổ biến là nhịp chẵn (2/2/2), đôi khi thay đổi theo yêu cầu thay đổi cảm xúc, tâm lý (3/3 và 4/4)

Chiều chiều/ mây phủ/ Ải Vân Chim kêu/ ghềnh đá/ ngẫm thân/ thêm buồn (C15)

Cam sành/ chê đắng/ chê hôi Hồng rim/ chê lạt/ cháo bồi/ khen ngon (C351) Dao vàng tiện/ đốt mía mưng

Ta chưa quên bạn/ bạn đừng quên ta (D684)

Trang 26

- Ở lục bát biến thể, số âm tiết trên mỗi dòng có thay đổi, thường là tăng

Dầu non mòn biển cạn, lời con bạn anh nhớ hoài Đàng xa mới rõ biết tài con ngựa hay (D693)

Cầu kiều ván mỏng gió rung Bạn về sửa lại cho ta đi chung một cầu (C372) Thể lục bát là một cống hiến lớn của ca dao trong văn học dân gian nói chung Đây là thể thơ phù hợp với ngôn ngữ Việt và tâm hồn Việt và cũng là thể thơ sở trường của các nhà thơ lớn Việt Nam Chính lối lục bát chính thể với vần bằng thay đổi đều đặn, vị trí gieo vần bắt dính liên tiếp, câu lục bát trên với câu lục bát tiếp theo đã mở đường cho sự hình thành những truyện thơ dài hơi của dân tộc về sau: (Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, thơ lục bát Nguyễn Bính, Huy Cận, Nguyễn Duy, )

b Thể song thất lục bát

Tuy không phổ biến và giàu sức biểu hiện bằng lục bát, nhưng cũng là thể thơ bắt nguồn từ dân ca, mang cốt cách dân tộc độc đáo Thể song thất lục

bát (hay lục bát gián thất) tạo nên một sự biến đổi mới mẻ so với thể lục bát,

rất thích hợp để diễn tả tâm trạng, tình cảm đặc biệt, những nỗi buồn đau uất hận, những sự gây cấn, khúc mắc, những xung đột gay gắt trong tâm trạng con người

Lụa làng Trúc vừa thanh vừa bóng May áo chàng cùng sóng áo em Chữ tình cùng với chữ duyên Xin đừng thay áo mà quên lời nguyền (L21)

Thể song thất lục bát cũng có những biến thể khá hay như:

Ngày xem núi, núi cao xanh ngắt Đêm xem trăng, trăng tắt sao mờ Một mình em chừ lòng dạ ngẩn ngơ

Trang 27

Đêm năm canh giường không gối lạnh, biết chờ đặng không?

(N190-1639)

c Thể vãn

Trong ca dao truyền thống của người Việt có mặt hầu hết các thể thơ

Trong đó, các thể thơ đơn giản (câu ngắn, ít âm tiết) thường được gọi là cá

thể nói lối hay các thể vãn Tùy theo số âm tiết của mỗi câu từ 2-3 đến 4-5 mà

có các thể vãn (vãn 2, vãn 3, vãn 4, vãn 5) Các thể thơ này đều có trong tục

ngữ, câu đố và được dùng phổ biến trong đồng giao và ca dao nghi lễ, phù chú Ca dao trữ tình chỉ sử dụng thể vãn 4, đôi khi có xe thể vãn 5

Cơm nước đã ngơi Xin anh ngồi chơi

Để em than thở Đôi dân cách trở Đường cái xa xôi!

Chẳng đâu hơn nữa, anh ơi!

d Thể hỗn hợp

Trong ca dao, thể thơ này không được dùng nhiều bằng thể lục bát nhưng nhiều hơn thể song thất lục bát Thể này là sự kết hợp tự do các thể thơ vốn có của cao dao

Lòng lại dặn lòng dù non mòn biển cạn

Dạ lại dặn dạ dù nát đá vàng phai

Dù cho trúc mọc thành mai

Em cũng không xiêu lòng lạc dạ, nghe ai phỉnh phờ

(L359-1403)

Về cấu tứ trong ca dao: trong mỗi bài ca dao không chỉ có ý mà còn có

tứ Ý là nội dung tương đối độc lập với hình thức, còn tứ đã được tổ chức, thể hiện dưới một hình thức nghệ thuật nhất định, làm nên cái hay riêng trong mỗi bài ca dao Trong ca dao truyền thống, những câu, những bài giống nhau hoặc

Trang 28

gần nhau về ý nhưng có cấu tứ khác nhau khá phổ biến Vì thế, mỗi bài ca dao

có cấu tứ riêng rất độc đáo và nhiều khi rất tinh tế mà người đọc cần phải cảm nhận được

1.2.2.3 Đặc điểm về cấu trúc

Về mặt cấu trúc, ca dao là một phạm vi rất rộng lớn, bao gồm sự tổ chức thanh điệu, vần, nhịp, tổ chức nội dung cấu tạo, ý tứ, đoạn mạch, độ dài ngắn Vì thế, sự nghiên cứu một cách toàn diện các phương diện khác nhau của cấu trúc ca dao là rất khó và đến nay mới chỉ có một số nhận xét bước đầu

về một số phương diện nhất định

Xét theo quy mô (độ dài ngắn) có thể phân ca dao (chủ yếu là ca dao lục bát) bộ phận lớn nhất của ca dao thành ba loại chính

- Loại ca dao ngắn từ 1-2 câu

- Loại ca dao trung bình 3-5 câu

- Loại ca dao dài từ 6 câu trở lên

Xét theo phương thức thể hiện, diễn đạt, ca dao có ba phương thức thể hiện đơn và ba phương thức thể hiện kép

* Ba phương thức thể hiện đơn

+ Phương thức đối đáp

+ Phương thức trần thuật

+ Phương thức miêu tả

* Ba phương thức thể hiện kép

+ Trần thuật kết hợp với đối thoại

+ Trần thuật kết hợp với miêu tả

+ Kết hợp cả ba phương thức: trần thuật, miêu tả, đối thoại

1.2.2.4 Đặc điểm về biện pháp tu từ

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Ngôn ngữ được sử dụng có hiệu quả cao có nghĩa là ngôn ngữ phải giúp con

Trang 29

người chuyển tải được một cách đầy đủ nhất những nội dung cần thực hiện

trong giao tiếp (kể cả dạng nói và dạng viết) Theo Cù Đình Tú lí giải cho

rằng: “Phong cách học là một bộ phận của ngôn ngữ học nghiên cứu nguyên tắc, quy luật lựa chọn và hiệu quả lựa chọn, sử dụng toàn bộ các phương tiện ngôn ngữ nhằm biểu hiện một nội dung tư tưởng, tình cảm nhất định trong những phong cách chức năng ngôn ngữ nhất định" [46, tr.29]

Muốn cảm nhận được cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ, ta cần khảo sát, phân loại và miêu tả có hệ thống phương tiện tu từ được sử dụng trong văn bản Qua đó, ta sẽ thấy được giá trị nghệ thuật của các phương tiện tu từ và các biện pháp tu từ ấy trong việc biểu hiện tư tưởng, tình cảm của tác phẩm văn học

Phương tiện và biện pháp tu từ là những yếu tố quan trọng tạo nên vẻ đẹp của tác phẩm văn học dân gian, nhất là thơ ca trữ tình Ca dao là một trong những thể loại được thể hiện khá thành công và rộng rãi Chỉ cần đọc qua ca dao của bất cứ vùng đất nào, ta cũng có thể dễ dàng nhận thấy Về ngữ âm, cách gieo vần, tạo nhịp, phối ứng thanh điệu, sử dụng từ láy, phép điệp từ, điệp âm và được sử dụng với tần số cao Về từ vựng việc sử dụng

các lớp từ mang dấu ấn phong cách như: từ địa phương, từ địa danh, từ nghề

nghiệp, từ thi ca, từ sinh hoạt Về ngữ nghĩa, những biện pháp tu từ ưa

dùng như: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, thậm xưng, chơi chữ, nói giảm, nói

tránh Về cú pháp như: phép lặp, câu hỏi tu từ, phép song song được sử

dụng khá nhiều Qua những tìm hiểu trên, ta có thể khẳng định, ca dao là mãnh đất màu mỡ cho việc nghiên cứu các từ loại hay từ pháp học (Từ và cấu tạo từ) trong ngữ pháp tiếng Việt, các biện pháp và phương tiện tu từ trong văn học

a Biện pháp tu từ so sánh

Theo tác giả Đinh Trọng Lạc: “So sánh là biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong

đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng

Trang 30

nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng" [21, tr.154]

So sánh là một nét đặc sắc của nghệ thuật diễn tả trong ca dao Tác giả Hoàng Tiến Tựu đã nhận xét: "so sánh, ví von là hai thủ pháp nghệ thuật được

sử dụng thường xuyên và phổ biến nhất trong ca dao truyền thống"

Trong "Kho tàng ca dao người Việt", biện pháp so sánh được sử dụng

khá phong phú, đa dạng như: những vật dụng xung quanh cuộc sống con người, hay những sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên

Chàng ơi phụ thiếp làm chi

Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng [18, tr.542]

Chàng ơi thương thiếp mồ côi

Như bèo cạn nước biết trôi đàng nào! [18, tr.542]

b Biện pháp tu từ ẩn dụ

Theo Đinh Trọng Lạc: "Ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương đồng hay giống nhau (có tính chất hiện thực hoặc tưởng tượng ra) giữa khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) A được định danh với khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) B có tên gọi được chuyển sang dùng cho A" [21, tr 52]

Theo tác giả Nguyễn Phan Cảnh: "Ca dao lấy việc khai thác các từ đồng nghĩa lâm thời làm phương tiện biểu hiện cơ bản Vì thế, hình tượng ngôn ngữ ca dao trước hết là những hình tượng ẩn dụ" [4, tr.232]

Ta thấy rằng phần lớn các câu, bài ca dao đều có cấu trúc mang tính ẩn

dụ Tác giả Nguyễn Phan Cảnh cho rằng: "Có thể nói không quá đi rằng mỗi câu ca dao trước hết là những hình tượng ẩn dụ" [4, tr.232]

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng (A,34)

Cảm thương con dế ở hang Đêm mưa ngày nắng, sõi sàng tiếng kêu (C,136)

Trang 31

c Biện pháp tu từ phóng đại

Bên cạnh hai biện pháp tu từ so sánh và ẩn dụ, ca dao còn sử dụng biện pháp phóng đại

Chiều chiều vịt lội sang sông

Trời gầm đá nẻ, thiếp không bỏ chàng (C,606)

Dù ai xấu xí như ma

Tắm nước sông Đá cũng là người tiên (D,703)

Theo Đinh Trọng Lạc: “Phóng đại (còn gọi: khoa trương, thậm xưng, ngoa ngữ, cường điệu) là dùng từ ngữ hoặc cách diễn đạt để nhân lên gấp nhiều lần những thuộc tính của khách thể hoặc hiện tượng nhằm mục đích làm nổi bật bản chất của đối tượng cần miêu tả, gây ấn tượng đặt biệt mạnh mẽ” [22,tr 46]

Như vậy, muốn cảm nhận, chiếm lĩnh giá trị đích thực của tác phẩm văn học dân gian, đặc biệt là ca dao, ta cần nắm và đánh giá được chức năng

và vai trò của phương tiện tu từ và biện pháp tu từ - những yếu tố quan trong góp phần tạo nên giá trị thẩm mĩ cho văn học Đây là chìa khóa hướng đến sự tri nhận, sự cảm thụ giá trị tác phẩm văn học

1.3 Vài nét về vùng đất và con người Nam Bộ

Nhiều nhà nghiên cứu về vùng đất Nam Bộ đều có cùng chung nhận xét: Nam Bộ là vùng đất có sức thu hút mạnh mẽ dân cư của cả nước Là vùng đất nằm ở phía Nam của đất nước, là vùng đất mới khai phá, là nơi hội

tụ của nhiều dân tộc sinh sống như: dân tộc Khơ - me, dân tộc Chăm, dân tộc Hoa, dân tộc Kinh Cách đây hơn 300 năm, vùng đất này chứng kiến nhiều cuộc di dân từ miền Bắc, miền Trung đến khai phá và lập nghiệp Ngoài người dân Chân Lạp còn có những người dân di cư từ các tỉnh miền Trung như: Quảng Nam, Quảng Ngải, Quảng Trị, Quảng Bình, do các chính sách ngoại giao, quân sự, kinh tế và di dân của chúa Nguyễn nhằm mở rộng

bờ cõi

Trang 32

Nam Bộ gồm 17 tỉnh từ Bình Phước trở xuống phía Nam là hai thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ Miền đất Nam Bộ hình thành hai khu vực lớn: Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Nam Bộ là vùng đất vừa có bề dày lịch sử văn hóa lại vừa giàu sức trẻ Từ vị thế địa lí, văn hóa, Nam Bộ đang trở thành trung tâm của quá trình tiếp biến văn hóa Điều đó phần nào tạo cho vùng đất này những nét đặc thù, diện mạo mới đối với các vùng văn hóa khác ở Việt Nam

1.3.1 Vẻ hoang vu của thiên nhiên Nam Bộ

Vùng Nam Bộ giàu đẹp đáng tự hào ngày nay lại là vùng đất bỏ hoang hàng ngàn năm từ sau khi đế quốc Phù Nam tan rã vào thế kỷ thứ VI Bao nhiêu thế kỷ trôi qua, mảnh đất màu mỡ này vẫn ngủ yên vì người bản địa vốn quá thưa thớt lại lạc hậu về kỹ thuật nông nghiệp Cũng có thể một phần

do thiên nhiên sẵn giàu có, ưu đãi nên họ không cần khai thác thêm Những vùng đất cao đủ trồng tỉa, những con rạch thừa cá tôm, những cánh rừng thừa hương liệu, gỗ,… đã đảm bảo cho đời sống Mãi đến thế kỷ thứ XVII,

những người Việt đầu tiên đi mở cõi đến vùng đất mới, nhận ra ngay vẻ

hoang sơ của nó:

Cỏ mọc thành tinh Rắn đồng biết gáy

Khung cảnh Nam Bộ thời ấy:

Rừng thiêng nước độc thú bầy

Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội đầy như bánh canh

Nét hoang sơ của thiên nhiên Nam Bộ buổi đầu khai phá thể hiện ở môi trường khắc nghiệt rừng thiêng nước độc:

Tháp Mười nước mặn, đồng chua

Nửa mùa nắng cháy nửa mùa nước dâng

Sấu và Cọp là hai loại tượng trưng cho sức mạnh hoang dã luôn luôn đe

doạ con người Tục ngữ xuống sông hớt trứng sấu, lên bờ xỉa răng cọp và

Trang 33

thành ngữ hùm tha, sấu bắt khá phổ biến trong lời ăn tiếng nói của nhân dân

mãi cho đến ngày nay Ca dao nói nhiều về hai loài này Trên cạn có cọp, cọp đua, cọp um

dù cọp tới lui là mối nguy hiểm nhưng con người cũng phải bám đất để sinh cơ lập nghiệp Nhiều giai thoại dân gian về chuyện đấu với cọp vẫn còn Nếu trên

bờ có cọp thì dưới nước có sấu, sấu lội, sấu cắn chưng, sấu vẫy vùng:

- Tháp mười sinh nghiệp phèn chua

Hổ mây, cá sấu thi đua vẫy vùng

Nét hoang dã của đất nước Nam Bộ còn thể hiện gián tiếp qua tâm trạng lo sợ của người đi khai hoang, cảnh vật lạ lùng khiến cho người ta sợ mọi thứ:

- Tới đây xứ sở lạ lung Chim kêu cũng sợ,cá vùng cũng ghê

- Chèo ghe sợ sấu ăn chưng Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma

Song song với nét hoang vu nêu trên, thiên nhiên có phần ưu đãi cho người đi tìm cuộc sống mới Tín ngưỡng dân gian Nam bộ vẫn tin rằng:

Trang 34

Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhơn Sản vật trời cho thật là phong phú và dường như luôn sẵn có Gạo thì Đồng Nai, gạo Cần Đước, gạo Cần Thơ, v.v., lúa thì có lúa nàng co, nàng quốc, lúa trời, v.v Các câu ca dao sau đây nói lên điều đó:

- Hết gạo thì có Đồng Nai Hết củi thì có Tân Sài chở vô

Hay: - Cám ơn hạt lúa nàng co

Nợ nần trả hết, lại no tấm lòng

- Ai ơi về miệt Tháp Mười

Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn

Nhóm từ gạo thơm và gạo trắng nước trong (hoặc nước trong gạo trắng) được lặp lại như một điệp khúc của bài ca về sự giàu có:

- Tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi Gạo thơm Nàng Quốc em nuôi mẹ già

Hay: - Đồng Nai gạo trắng nước trong

Ai đi đến đó thì không muốn về

Trong một chừng mực nào đó có thể gắn sự giàu có sản vật tự nhiên với nét hoang sơ của môi trường Vì thiên nhiên hoang vu nên tất cả các loài vật đều có điều kiện để sinh sôi nảy nở Ngược lại chính sự tồn tại của các loài trong tự nhiên một cách “tự do” với số lượng nhiều tạo nên chất hoang sơ, tính sẵn có:

- Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng

Về sông ăn cá về đồng ăn cua

Hay: - Bắt cua làm mắm cho chua

Gởi về quê nội khỏi mua tốn tiền…

1.3.2 Hình ảnh người đi khai hoang trong ca dao Nam Bộ

Trước đây ba thế kỷ Nam Bộ là vùng đất hoang vu với rừng thiêng nước độc, đâu đâu cũng gặp rắn, cá sấu, cọp và voi… Sau mấy trăm năm

Trang 35

vùng đất này đã trở thành nơi trù phú nhất nước

- Mẹ mong gả thiếp về vườn

Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh

- Biên Hoà bưởi chẳng đắng the

Ăn vào ngọt lịm như chè đậu xanh

Những người trồng tỉa ngày sau phải nhớ đến những bậc tiền nhân, những người đi khai hoang, mở cõi Nhìn toàn cục đó là kết tinh của mồ hôi

và xương máu của nhiều thế hệ kế tiếp nhau đầy cảnh hoang sơ lùi dần vào quá khứ Bắt đầu là cuộc khai khẩn miền Đông với lời khích lệ những bậc mày râu: Làm trai cho đáng thân trai/ Phú Xuân đã trải Đồng Nai đã từng Rồi người đi lập nghiệp đến miền Tây:

- Cần Thơ gạo trắng nước trong

Ai về xứ bạc thong dong cuộc đời

Hay: - Bạc Liêu nước chảy lờ đờ

Dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu

Bởi người Triều Châu nói riêng, người Hoa nói chung, có mặt ở Nam

Bộ gần như cùng lúc với người Việt; họ vừa là những trung thần của nhà Minh, âm mưu chống lại nhà Thanh, vừa là người đi khai hoang Tinh thần phóng khoáng và lòng mến khách của người Việt Nam giúp họ gắn bó với mảnh đất này Dương Ngạn Dịch, Mạc Cửu, Trần Thượng Xuyên, là người Hoa được nhắc nhở đến như những nhân vật lịch sử Ở thị trấn Hà Tiên ngày nay, Lăng Mạc Cửu xây trên một ngọn đồi có hàng chữ ghi công: Khai trấn công thần Người Việt nhìn nhận thực tại này bằng thái độ hoà hợp, đoàn kết Người Hoa đã góp một phần công sức cùng với người Việt mở mang bờ cõi Nếu ban đầu đất Cần Thơ nam thanh nữ tú/ Xứ Rạch Giá vượn hú chim kêu thì sau đó xứ Nam thanh nữ tú lớn dần, xứ vượn hú chim kêu hẹp dần trước

nỗ lực phi thường của những con người gan góc, kiên trì

Trang 36

Tuy nhiên, khi mới đến vùng đất mới, những con người đó vẫn không tránh khỏi cảm giác:

- Tới đây xứ sở lạ lung Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng ghê

Vẫn biết rằng những lưu dân từ miền trung đã quyết chí lập nghiệp, nhưng vẫn là con người giàu tình cảm thì làm sao họ không buồn cho được:

- U Minh, Rạch Giá thị quá Sơn Trường Gió đưa bông sậy dạ buồn nhớ ai

Hay: - Trời xanh kinh đỏ đất xanh đỉa bu

Muỗi cắn làm anh nhớ nàng

Lịch sử đã chứng minh những con người tiên phong đi khai phá đất mới ở phương Nam đã bám đất bằng tất cả sức mạnh của đôi bàn tay, của ý chí vươn tới, của năng lực tổ chức, của tình đoàn kết chung lưng đấu cật Ca dao Nam bộ đã ghi lại những hình ảnh cụ thể:

- Chiều chiều ông Ngữ thả câu Sấu lôi ông Ngữ cắm đầu xuống sông

(Sưu tầm ở Phú Tân - An Giang) Hay: - Chiều chiều ông Lữ đi câu

Sấu cắn ông Lữ biết đâu mà tìm

(Ca dao Đồng Tháp)

Ông Ngữ, Ông Lữ là những con người mang tính tượng trưng, họ là những nông dân Nam Bộ với những cực nhọc, vất vả và không ít khó khăn công việc “phá sơn lâm, đâm hà bá” Câu tục ngữ nhất phá sơn lâm, nhì đâm

hà bá được truyền tụng khá phổ biến trong dân gian Nam Bộ, chỉ hai công việc: khai phá rừng hoang và đánh bắt thuỷ sản, hai việc mang lại cuộc sống

no đủ cho những lưu dân thời kỳ đầu Song, không phải lúc nào họ cũng gặt hái được kết quả mong muốn mà còn có lúc gặp thất bại, phải trả giá đắt

Trang 37

Những bậc tiền hiền, hậu hiền (những thế hệ đầu tiên có công khai phá) được thờ cúng trong đình làng Nam Bộ và ngay trong mỗi gia đình Mỗi khi

có đám giỗ cúng ông bà người Nam Bộ thường bày thêm một mâm ở ngưỡng cửa hoặc ngoài sân gọi là mâm đất đai để tỏ lòng biết ơn những người đầu tiên khai phá đồng thời xin các vị này phù hộ Người ta thường gặp ở gò hoang hoặc gần bờ sông những bộ xương người Chắc rằng đó là xương của những người tiên phong đi khai khẩn đã chết hoặc vì thú dữ hoặc vì bệnh tật, v.v Trong vô số những người như vậy, ca dao Nam Bộ ghi lại vài tên tuổi cụ thể Chẳng hạn:

Chiều chiều quạ nói với diều

Cù lao ông Chưởng có nhiều cá tôm

Ông Chưởng tức là ông Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh, trên đường hành quân đã dừng lại một cù lao (huyện Chợ Mới hiện nay) của An Giang Đoàn quân của ông đã phát hoang, canh tác trên cù lao này Không thể so sánh với ông Chưởng, bậc khai quốc công thần của triều Nguyễn, ông Móm trong bài ca dao sau lại kém may mắn hơn:

Ruộng cò bay dặm dò truông cóc Cháu con ông Móm lăn lóc cơ hàn

Vào đầu thế kỷ XVII, ông Móm là người đầu tiên từ Quảng Ngãi vào khai phá vùng truông Cóc (Đồn Sơn - Gò Công Tây -Tiền Giang) mở đầu cho những người lập nghiệp vùng này

Tóm lại, ca dao Nam Bộ đã ghi lại được hình ảnh của người đi khai phá

đất mới Đôi khi họ như những người lính ra đi không trở lại vì “rừng thiêng

nước độc, thú bầy” Nhưng nét nổi bật của họ không phải là nỗi buồn nhớ

mang mác mà là ý chí vượt gian nan, dũng cảm, gan góc với biết bao nhiêu cực nhọc nguy hiểm để làm công việc khai sơn phá thạch, biến mảnh đất này

từ hoang sơ trở thành nơi trù phú

Trang 38

1.3.3 Ca dao Nam Bộ - ca dao vùng sông nước

Nét nổi bật của địa lý Nam Bộ là mạng lưới sông rạch, kinh đào dày đặc, chằng chịt Ngoài hai hệ thống sông lớn (Cửu Long và Đồng Nai), miền Tây Nam Bộ còn có hệ thống sông nhỏ đổ ra vịnh Thái Lan và mạng lưới kênh tự nhiên cũng như kênh đào Tổng chiều dài của mạng lưới này lên đến 4.900 km Do vậy, đường thuỷ là hệ thống giao thông cực kỳ qua trọng đối với Nam Bộ trong mấy thế kỷ qua “Còn về đất đai miền Đồng Nai - Gia Định thì có nhiều khe ngòi, nhiều đường thuỷ chằng chịt khắp nơi nên không tiện đi

bộ Những người đi buôn bán có chuyên chở bằng những thuyền lớn, cũng phải chở kèm những thuyền nhỏ để dễ đi thông vào các kênh” (Lê Quí Đôn -

Phù Biên tạp lục)

Hệ thống đường thuỷ có tầm quan trọng, nên sinh hoạt của người dân gắn với sông nước: “Ở Gia Định chỗ nào cũng có thuyền ghe hoặc dùng thuyền làm nhà ở, hoặc để đi chợ, đi thăm người thân thích hoặc chở gạo củi

đi buôn bán, rất tiện lợi, mà ghe thuyền chật sông, ngày đêm qua lại…”

(Trịnh Hoài Đức - Gia Định thành thông chí)

Do hệ thống sông rạch, ghe ngòi, kinh đa dạng nên người đi ghe xuồng cũng phải ứng biến theo từng địa hình:

Đường rừng có bốn cái vui Lúc chống, lúc lội, lúc bơi, lúc chèo

Với điều kiện sinh sống như vậy, cha ông chúng ta đã tạo ra các phương tiện giao thông đường thuỷ - thành tựu của văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên: nhà ghe, ghe rối, ghe bầu, v.v Ngoài ra, còn rất nhiều loại ghe xuồng, đặc biệt xuồng ba lá và chiếc ráng tắc Xuồng ba lá đi kèm với cây sào nạng Cây sào có nạng ở dưới gốc để có thể chống được chỗ có nhiều trấp, đất không chưng mà không bị kẹt Chiếc xuồng ba lá cũng như tất cả các loại ghe khác được cải tiến dần để đến một lúc, chiếc vỏ lải ra đời Chiếc vỏ lải đóng ở tắc ráng (tên con rạch ở Rạch Giá) mô phỏng hình thể chiếc ghe lườn

Trang 39

đạt mức độ hoàn thiện về nhiều mặt Dần dần, người ta gọi vỏ lãi này là chiếc tắc ráng Tóm lại, từ chiếc xuồng ba lá với sào nạng, đến chiếc tắc ráng chạy bằng máy đuôi tôm ngày nay là một quá trình lâu dài, cha ông ta đã lao động sáng tạo trên sông nước

Bên cạnh các phương tiện giao thông đường thủy là công cụ đánh bắt

thuỷ sản Bắt cá bằng câu thì có câu thượt, câu nhắp, câu rê, câu dầm, câu

cắm, câu giăng… Công cụ giữ cá bằng hom có lờ, trúm, lộp, đó, rọ, bung, xà di,… Lưới gồm các loại như: xệp, te, đáy, càng chông, vó gặt, vó càng, lưới rùng, lưới chụp…; những công cụ này đi vào ca dao và chúng đã trở thành

những biểu trưng diễn đạt những ý tình sâu lắng:

Cá không câu ăn chê rằng con cá dại

Cá mắc câu rồi nói tại cá ăn tham

Một biểu hiện nữa của văn hoá sông nước là hệ thống từ ngữ gắn với đặc điểm địa lý (bưng, bào, đìa, láng, lung, lạch, con lươn…), gắn với công cụ sản xuất (như đã nêu trên) Đặc biệt các từ ngữ chỉ các trạng thái của nước (nước rong, nước ròng, nước đứng…) rất phong phú:

Nước rong nước chảy tràn đồng

Tơ duyên sẵn có chỉ hồng chưa se

Hò chèo ghe là một biểu hiện khác của nền văn hoá dân gian gắn với sông nước Ghe chở gạo, ghe chở cá, ghe bán buôn, ghe chở người đi làm thuê… đều trở thành ghe hò Hầu hết các địa phương của vùng đồng bằng sông Cửu Long đều có hò chèo ghe Nó đặc biệt phát triển ở Minh Hải, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long Hò chèo ghe có nhiều làn điệu gồm:

hò mái một, hò mái ba, hò mái đoán (cụt) và hò mái trường (dài) Hình ảnh phổ biến trong lời của những điệu hò chèo ghe nói chung vẫn là cảnh trăng sao, mây nước, con thuyền, dòng sông, mái chèo, v.v Chẳng hạn:

Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi

Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê

Trang 40

Bên cạnh những con sông cụ thể như Sài Gòn, sông Tiền, sông Nhà Bè, sông Vàm Cỏ, v.v còn có những con sông điển tích như sông Ngân, sông Tương, lại còn có sông tượng trưng sông Giang Hà… Thế rồi khúc sông, sông dài, sông sâu, sông cạn những biểu trưng nghệ thuật miêu tả những ngăn cách, hoàn cảnh éo le, sự thử thách của cuộc đời:

Sông sâu cá lội ngù ngờ Biết em có đợi mà chờ uổng công

Với tư cách biểu trưng, yếu tố sông, nước kết hợp với các yếu tố khác

như thuyền (ghe, đò, xuồng) cầu tạo nên những cấu trúc đố xứng, diễn đạt

một cách sâu sắc bài ca dao:

Sông sâu biết bắc mấy cầu

Khi thương thì anh thương vội Trong khi đó yếu tố sông lại kết hợp với yếu tố bờ, vực, sóng, cá, tạo

thành những cấu trúc song song: sông - bờ, sông - vực, sông - sóng:

Sông sâu vực thẳm hỡi chàng Đâu đâu cũng vậy anh phụ phàng làm chi

Hay: Sông sâu sóng bủa láng cò

Thương em vì bởi câu hò có duyên

Hệ quả là yếu tố sông nước là các loại cá: cá sặc, cá rô, cá kèo, cá lý

ngự, cá lội, cá cất (nhảy lên) và đặc biệt là cá cắn câu Có rất nhiều bài ca dao

chứa đựng hình ảnh cá - câu ( lờ, đăng, đó…) xoay quanh các mối quan hệ

Tóm lại, môi trường sông nước cộng với công trình xây dựng (cầu),

công cụ sản xuất (câu, lờ, thuyền), phương tiện giao thông (thuyền, đò, xuồng,

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA LỚP DANH TỪ CHỈ CON VẬT TRONG CA DAO NAM BỘ  - Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của những danh từ chỉ con vật trong ca dao nam bộ
ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA LỚP DANH TỪ CHỈ CON VẬT TRONG CA DAO NAM BỘ (Trang 43)
Bảng 2.1. Thống kê vị trí xuất hiện của danh từ chỉ con vật được khảo sát  - Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của những danh từ chỉ con vật trong ca dao nam bộ
Bảng 2.1. Thống kê vị trí xuất hiện của danh từ chỉ con vật được khảo sát (Trang 43)
Bảng 2.2. Tần số xuất hiện của danh từ chỉ con vật trong một bài ca dao Tần số  - Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của những danh từ chỉ con vật trong ca dao nam bộ
Bảng 2.2. Tần số xuất hiện của danh từ chỉ con vật trong một bài ca dao Tần số (Trang 44)
Qua bảng thống kê trên, chúng tôi nhận thấy danh từ chỉ con vật xuất hiện  một  lượt  trong một  bài  ca dao  chiếm  vị  trí  cao  nhất  (64.2%  với  con số  676/1054)  và  danh  từ  chỉ  con  vật  xuất  hiện  từ  sáu  lần  trở  lên  đến  hai  mốt  trong  - Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của những danh từ chỉ con vật trong ca dao nam bộ
ua bảng thống kê trên, chúng tôi nhận thấy danh từ chỉ con vật xuất hiện một lượt trong một bài ca dao chiếm vị trí cao nhất (64.2% với con số 676/1054) và danh từ chỉ con vật xuất hiện từ sáu lần trở lên đến hai mốt trong (Trang 45)
Bảng 2.3. Đặc điểm cấu tạo của danh từ chỉ con vật trong một bài ca dao  - Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của những danh từ chỉ con vật trong ca dao nam bộ
Bảng 2.3. Đặc điểm cấu tạo của danh từ chỉ con vật trong một bài ca dao (Trang 46)
Bảng 2.4. Các tiểu loại danh từ trong tập "Bộ hành với ca dao" - Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của những danh từ chỉ con vật trong ca dao nam bộ
Bảng 2.4. Các tiểu loại danh từ trong tập "Bộ hành với ca dao" (Trang 48)
Bảng 2.5. Chức vụ ngữ pháp của danh từ chỉ con vật Chức vụ ngữ  - Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của những danh từ chỉ con vật trong ca dao nam bộ
Bảng 2.5. Chức vụ ngữ pháp của danh từ chỉ con vật Chức vụ ngữ (Trang 53)
+ Ý nghĩa: nêu/ chỉ những sự vật, người, sự việc, hiện tượng, tình hình. Trong tập "Bộ hành với ca dao" , danh từ xuất hiện với tư cách là chủ  ngữ chiếm số lượng khá lớn - Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của những danh từ chỉ con vật trong ca dao nam bộ
ngh ĩa: nêu/ chỉ những sự vật, người, sự việc, hiện tượng, tình hình. Trong tập "Bộ hành với ca dao" , danh từ xuất hiện với tư cách là chủ ngữ chiếm số lượng khá lớn (Trang 54)
Bảng 3.1. Ngữ nghĩa các tiểu nhóm danh từ chỉ con vật trong ca dao Nam Bộ  - Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của những danh từ chỉ con vật trong ca dao nam bộ
Bảng 3.1. Ngữ nghĩa các tiểu nhóm danh từ chỉ con vật trong ca dao Nam Bộ (Trang 76)
25 Nước trong.. .4 Nước trong thấy đá, cá lội thấy hình - Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của những danh từ chỉ con vật trong ca dao nam bộ
25 Nước trong.. .4 Nước trong thấy đá, cá lội thấy hình (Trang 133)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w