Làm rõ những đặc điểm ngôn ngữ trong phương thức diễn xướng, nhằm xác định giá trị của những bài ca đám cưới của người Mường ở Thanh Hoá nói riêng và của dân tộc Mường ở Việt Nam nói chu
Trang 1ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG BÀI CA ĐÁM CƯỚI
NGƯỜI MƯỜNG THANH HOÁ
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 5 04 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TẠ VĂN THÔNG
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tìm hiểu tác phẩm văn học dân gian Mường dưới góc
độ ngôn ngữ là việc hoàn toàn mới mẻ nên bước đầu gặp không ít khó khăn Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết nhận được sự hướng dẫn khoa học tận tình của thầy Tạ Văn Thông, với sự chỉ giáo của thầy Nguyễn Nhã Bản, thầy Nguyễn Văn Lợi, cô Đỗ Thị Kim Liên, cùng sự cung cấp tư liệu, và góp ý chân tình của bác Cao Sơn Hải đã giúp cho luận văn hoàn thiện hơn
Tôi bày xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc nhất tới các các thầy cô giáo, bác Cao Sơn Hải và các bạn đồng môn đã động viên, giúp tôi hoàn thành luận văn này
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan, đây là luận văn của bản thân thực hiện Nếu không đúng sự thực chúng tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Vinh, ngày 10 tháng 11 năm 2004 Người viết
TRỊNH THỊ HÀ
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 1
A: Khoa học tự nhiên I Ngành Công nghệ thông tin 8
II Ngành Toán 20
1 Phương pháp giảng dạy 32
2 Đaị số – Lí thuyết số
3 Giải tích 32
4 Hình học 43
2 Xác suất và toán ứng dụng 46 2 Toán điều khiển
49 2.6.Tiểu kết 62 Chương 3 : Đặc điểm ngôn ngữ của những bài ca đám cưới 64
Mường Thanh Hoá xét về mặt ngữ nghĩa 3.1 Dẫn nhập 64 3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của lớp từ vựng 65 3.3 Các hình tượng tiêu biểu 79
Trang 53.4 Tiểu kết 84
Trang 6MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Trong quốc gia đa dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc đều có một tài sản văn hoá văn nghệ mang vẻ độc đáo riêng Trong tổng thể các giá trị văn hoá văn nghệ dân gian đó , vốn văn học dân gian cổ truyền có một vị trí rất quan trọng Chính
vì lẽ đó mà từ nhiều năm qua, các nhà khoa học nghiên cứu văn nghệ dân gian đã tập trung sưu tầm nghiên cứu và giới thiệu, nhằm bảo tồn và phát huy vốn văn học dân gian truyền thống của các dân tộc, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển nền văn hoá chung của cả nước.Đến nay nhiệm vụ ấy càng trở nên cấp thiết, bởi thực tiễn đời sống hiện nay đã tác động một cách toàn diện vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo nên những biến đổi hết sức đa dạng phức tạp, làm cho nhiều giá trị, nhiều sắc thái văn hoá cổ truyền đang có nguy cơ bị lai tạp và mai một
1.2 Dân tộc Mường có lịch sử hình thành sớm, có cùng nguồn gốc với dân tộc Việt ( Kinh ) Trong quá trình phát triển, người Mường đã sáng tạo nên một tài sản văn học dân gian riêng biệt, khá đồ sộ về số lượng, phong phú về thể loại, đa dạng về phong cách … Trong số đó không thể không nhắc đến những bài ca trong sinh hoạt đám cưới của người Mường Các tác phẩm này đã quy tụ những hiện tượng văn hoá và ngôn ngữ hết sức độc đáo Tuy nhiên việc nghiên cứu về lĩnh vực này còn rất hạn chế Làm rõ những đặc điểm ngôn ngữ trong phương thức diễn xướng, nhằm xác định giá trị của những bài ca đám cưới của người Mường ở Thanh Hoá nói riêng và của dân tộc Mường ở Việt Nam nói chung, là một nghiên cứu có ý nghĩa cả về lí luận và thực tiễn
1.3 Với người Mường, trong suốt chặng đường dài trong lịch sử xã hội dân tộc này những bài ca được coi là linh hồn của các đám cưới, là cốt lõi của của sinh hoạt văn hoá đám cưới Tuy nhiên hiện nay sự tồn tại sinh động của nó chỉ
Trang 7được lưu lại ở một số vùng xa xôi hẻo lánh của cộng đồng Mường hoặc được ghi lại một phần trong các văn bản sưu tầm, trong trí nhớ của những người Mường cao tuổi Điều này làm nảy sinh yêu cầu bảo tồn và phát triển hình thức văn nghệ dân gian độc đáo này,và càng cho thấy ý nghĩa thiết thực của đề tài
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VỀ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HỌC DÂN GIAN
MƯỜNG
Nghiên cứu về các đặc điểm của nhiều mặt văn hoá dân tộc Mường nói chung đã và đang được nhiều người quan tâm Cho đến nay việc nghiên cứu đã đạt được một số kết quả có giá trị Các công trình đã công bố đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau Nhưng nhìn chung lĩnh vực được tập trung nghiên cứu nhiều nhất là ngôn ngữ, một trong những yếu tố của văn hoá tộc người
Tiếng Mường thường được nghiên cứu trong mối quan hệ với tiếng Việt
Có thể liệt kê một danh sách các tác giả tiêu biểu như sau : Nguyễn Dương Bình, Phạm Đức Dương, Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Đình Khoa, Nguyễn Văn Tài, Hà Văn Tấn, Nguyễn Kim Thản…Tuy nhiên mỗi tác giả lại nghiên cứu ở một số khía cạnh khác nhau
Giáo sư Phạm Đức Dương khẳng định : “ Ngôn ngữ tiền Việt Mường đã suất hiện ở lưu vực sông Hồng cách đây khoảng 4000 năm Tại đây ngôn ngữ này đã tiếp xúc lâu dài với nhóm Tày cổ để hình thành ngôn ngữ Việt Mường chung ” 53; 21
Cũng căn cứ vào quan điểm tiếng Việt và tiếng Mường có chung một dạng tiền ngôn ngữ cổ xưa, tác giả Nguyễn Dương Bình đã tìm hiểu đặc điểm ngữ âm,
từ vựng, ngữ pháp của tiếng Mường, và khẳng định : “ Hai ngôn ngữ Việt và Mường có những điểm tương đồng về ngữ pháp, ngữ âm và từ vị cơ bản khá rõ rệt” 6 ; 28
Như vậy, tiếng Mường và tiếng Việt đã được xác định là có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong các tác phẩm văn học dân gian Mường lưu tồn đến
Trang 8ngày nay còn lưu giữ khá nhiều những yếu tố cổ của ngôn ngữ tiền Việt - Mường nói chung, cũng như thể hiện khá đậm nét những bản sắc văn hóa riêng độc đáo của dân tộc Mường Tuy nhiên cho đến nay việc nghiên cứu các tác phẩm văn học dân gian Mường còn rất hạn chế Các tác phẩm văn học dân gian Mường mới chỉ được chú ý sưu tầm biên soạn giới thiệu và nghiên cứu một cách
có hệ thống từ những năm 1964 Đã có rất nhiều tác phẩm đủ các thể loại ( truyện, thơ, ca dao…) như vậy được sưu tầm và giới thiệu Tuy nhiên, khi tìm hiểu các tác phẩm văn học dân gian Mường, các nhà nghiên cứu chủ yếu xoay
quanh tác phẩm nổi tiếng của người Mường là Sử thi Đẻ đất đẻ nước Đã có các
bài viết của các tác giả Trương Sĩ Hùng, Vũ Ngọc Khánh, Phan Ngọc, Đặng Thái Thuyên… Mỗi tác giả đề cập đến những khía cạnh khác nhau của tác phẩm trên :Trương Sỹ Hùng tìm hiểu tác phẩm dưới góc độ thể loại 77 ; Vũ Ngọc Khánh lại tìm thấy trong sử thi này những tư liệu có liên quan đến dân tộc học
79 ; Tác giả Phan Ngọc lại chú ý đến vị trí xuất hiện của các phẩm đối với nền văn học dân tộc Mường 96 ; Tác giả Đặng Thái Thuyên lại xoay quanh những
mô tip sáng tạo vũ trụ 118 …
Các thể loại dân ca cũng được giới nghiên cứu bắt đầu lưu ý Có thể kể đến công trình của tác giả Mai Thị Hồng Hải tiếp cận với thể loại dân ca Xường của người Mường từ góc độ văn học dân gian [69]
Riêng về bài ca đám cưới của người Mường từ trước cho tới nay chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào thực sự chú ý mà mới chỉ dừng lại ở mức độ sưu tầm biên dịch và giới thiệu Luận văn của chúng tôi bước đầu đi vào tìm hiểu dưới góc độ ngôn ngữ, tuy là một lĩnh vực nghiên cứu mới mẻ nhưng hi vọng sẽ góp một phần nhỏ vào công cuộc giữ dìn và phát huy nguồn di sản văn hoá phong phú của tộc người Mường
3 NHIỆM VỤ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Trang 9Những bài ca đám cưới của người Mường một thời là linh hồn trong đám cưới, nhưng như đã nói ở trên do hoàn cảnh lịch sử và sự giao lưu ồ ạt xô bồ của
xã hội ngày nay, nét bản sắc văn hoá độc đáo này chỉ còn được lưu giữ ở những nơi xa xôi hẻo lánh Trước thực trạng đó, cùng với niềm say mê và nỗ lực của bản
thân, tác giả Cao Sơn Hải đã sưu tầm biên soạn cuốn Những bài ca đám cưới
Mường Thanh Hoá xuất bản năm 2003
Đây là cuốn sách được biên soạn công phu theo hình thức song ngữ Việt - Mường, có độ tin cậy cao Trong cuốn sách đã tập hợp tư liệu về các lời ca bám sát theo các nghi lễ trong một đám cưới Mường Toàn bộ văn bản lời ca trong sách những bài ca đám cưới Mường Thanh Hoá gồm 18 bài ca được sắp xếp theo trình tự nghi lễ trong đám cưới Mường như sau :
4 Nhà gái đưa dâu lên
Nhá mống vé lới lênh man
5 Nhà trai mời nhà gái lấy
nước rửa chân 56-57
Lới nhá ông mới nhá
6 Lời khấn trong phòng cô
7 Lời khấn chúng sinh 60 Lới lởi “ Cơn nghèn “ 193 17
8 Bài ca trải chiếu trong
buồng cô dâu 60-69 Vé đếu trải chiều 193-203 244
9 Lời đáp của nhà trai 69-70 Lới đảp của nhá ông 203 21
10 Bài ca vắt áo 70-71 Vé đếu dọc dắng 240-205 44
11 Đáp của nhà trai 72-73 Lới đảp dọc dắng của nhá
12 Bài ca cúng cáo tổ tiên
ngày ra mặt rể 73-97 Bảo cơm sểt 207-231 600
Trang 1013 Mo đám cưới
14 Lời chào về của nhà gái
164-166 Lới cháo vến của nhá ông 294-295 57
16 Bài ca trải chiếu*
169-174 Vé đếu trải chiều 298-302 107
17 Bài ca vắt áo*
175-177 Vé đếu dọc dắng 302-304 45
177-185 Xướng khẻch du 304-310 156
Phần phụ lục có 2 bản: Bài ca Vắt khăn áo và bài ca Trải chiếu ( bài 16 và
17 ) Nhận thấy đây là hai bản khác cả về dung lượng lẫn nội dung và cách thể hiện nên chúng tôi xem đều là đối tượng nghiên cứu của luận văn
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn chúng tôi sẽ cố gắng làm sáng rõ những vấn
đề sau : một số đặc điểm khái quát về người Mường, đặc điểm văn nghệ dân gian của người Mường ở Thanh Hoá, các đặc điểm về vần thơ nhịp điệu, cách sử dụng
từ ngữ, kết cấu, giá trị ngữ nghĩa và các hình tượng tiêu biểu trong phần lời của bài ca trong đám cưới của người Mường ở Thanh Hoá
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng các phương pháp sau :
- Phương pháp phân tích văn bản : Từ những văn bản ( bài ca ) đã có sẵn ,
người nghiên cứu phải tiến hành các thao tác phân tích ra các thành tố trong văn bản, để từ đó chỉ ra được biểu hiện đa dạng về âm, vần, tiết tấu, kết cấu…( hình thức ngữ âm ), việc sử dụng các từ đơn và từ phức (ghép và láy ) để tạo nên các hình tượng nghệ thuật cụ thể
- Phương pháp tổng hợp : Từ những sự kiện khác nhau ( mới thoạt nhìn có
vẻ rời rạc cá biệt ) được nhận thấy qua quá trình phân tích, nhiệm vụ của người
Trang 11nghiên cứu là phải khái quát tổng hợp để tìm ra các quy tắc chung ( về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp ) trong đối tượng đang khảo sát Đó chính là công việc tìm ra các đặc trưng ngôn ngữ Mường trong các bài ca đám cưới
- Phương pháp thống kê : Những con số thống kê và sự đánh giá chúng
(chẳng hạn về loại kết cấu, số từ ghép và từ láy,loại hình tượng…) là cơ sở để phân tích và tổng hợp, đồng thời là những minh chứng thuyết phục cho những kết luận có được trong luận văn Trong luận văn các số liệu thống kê được thực hiện
trên cơ sở văn bản Những bài ca trong đám cưới Mường Thanh Hoá [70]
5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
5.1.Về lý luận
Đây là lần đầu tiên mặt hình thức ( ngôn ngữ ) của các bài ca đám cưới Mường được xem xét tương đối đầy đủ ( những nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào hình thức diễn xướng, nội dung và các khía cạnh nghệ thuật xây dựng hình tượng dưới cái nhìn văn chương hoặc văn hoá thuần tuý) Việc xem xét ngôn
từ trong các bài ca này ( với mục đích chỉ ra các đặc điểm ngữ âm và từ ngữ được
sử dụng trong văn bản ) không chỉ giúp tìm hiểu cái hay cái đẹp và các quy tắc ngôn ngữ trong nghệ thuật Mường mà còn giúp cho những nghiên cứu văn học và văn hoá học trong nghiên cứu văn nghệ dân gian Mường
Với những kết quả ban đầu, luận văn hi vọng đặt được vấn đề cho những nghiên cứu tiếp theo về đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật Mường trong văn nghệ dân gian Mường ( không chỉ dừng lại trong các bài ca đám cưới )
5.2.Về thực tiễn
Luận văn là một đóng góp nhỏ vào việc giới thiệu, tôn vinh, bảo tồn và phát triển vốn văn nghệ dân gian Mường nói chung và các bài ca đám cưới ( cốt lõi của sinh hoạt văn hoá cưới xin của người Mường ) nói riêng Việc giữ gìn và phát huy những nét bản sắc văn hoá của dân tộc Mường như thế là thực hiện chủ
Trang 12trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với các dân tộc thiểu số trong đó
có người Mường, đồng thời cũng thoả mãn ước nguyện của dân tộc Mường
Việc chỉ ra những quy tắc sử dụng ngôn từ Mường của những bài ca đám cưới
là nhằm chỉ ra cái hay cái đẹp trong ngôn ngữ nghệ thuật đã được bao thế hệ người Mường sử dụng khi diễn xướng những bài ca về tình yêu và hạnh phúc của cộng đồng Mường Nó giúp cho người Mường thêm hiểu, tự hào, yêu quý và trân trọng ngôn ngữ Mường, thứ của cải vô cùng quý giá của dân tộc mình Từ đó người Mường sẽ có ý thức bảo vệ và phát triển ngôn ngữ dân tộc mình, trước áp lực của sự hoà đồng ( và hoà tan ) văn hoá và ngôn ngữ đang diễn ra ồ ạt tự phát như hiện nay
6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm 98 trang Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm có
Trang 13CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC MƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA BÀI CA ĐÁM
CƯỚI TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI MƯỜNG THANH HOÁ
1.1 KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC MƯỜNG
1.1.1 Vài nét về dân số, tên gọi và địa bàn cư trú
Dân tộc Mường là một trong số 54 dân tộc ở Việt Nam Theo tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 1999 thì người Mường có 1.137.511 người, đứng thứ 6 trong số các dân tộc ở Việt Nam ( sau người Kinh, Tày, Thái, Hoa và Khơ
me ) Người Mường có mặt và sinh sống ở hầu khắp các tỉnh thành trong cả nước, nhưng tập trung chủ yếu ở Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ, Hà Tây, Sơn La…
Địa bàn cư trú của người Mường thường là những vùng thung lũng lòng chảo, xung quanh có đồi núi bao bọc và ở những nơi gần nguồn nước Theo tài
liệu điều tra của J.Cuisinies trong sách Người Mường địa lý, nhân văn và xã hội
học có đoạn : “ Ở tỉnh Yên Bái người ta chỉ thấy một làng Mường nhỏ bên bờ
sông Hồng, tất cả các làng khác tụ tập trên cao nguyên Nghĩa Lộ Trong tỉnh Phú Thọ người ta thấy một số người Mường được phân chia gần đều nhau trong các làng ở bên bờ hay gần bờ sông Hồng và trong những làng ở trên những ngọn núi Trong tỉnh Hoà Bình nơi đông dân Mường nhất người ta gặp người Mường chủ yếu ở cao nguyên Cao Phong và dọc theo những đường đi khó khăn bắt đầu từ các châu Đà Bắc đến Thạch Bi Ở tỉnh Thanh Hoá người Mường sống ở các huyện Ngọc Lặc, Thạch Thành, Lang Chánh, Bá Thước, Cẩm Thuỷ…Đó là tập đoàn những Mường Lớn Hầu hết người Mường đến sát thung lũng sông Mã, sông Bưởi và sông Chu Phải nói rằng cư dân Mường thích ứng với loại địa hình gần như trung du Sống ở cao nguyên nhưng lại gần nguồn nước ” 1;15
Trang 14Về tên gọi, hiện nay Mường là tộc danh chính thức của người Mường
Trong đời sống cũng như trong văn học dân gian người Mường thường tự gọi
mình là Mol ( Hoặc Mual,Mul, Mor… tuỳ theo từng địa phương ) Mol có nghĩa
là “người”
Hình thái kinh tế chủ yếu của người Mường là sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và thủ công Phương thức canh tác của dân tộc này nói chung còn thô sơ và lạc hậu : chọc lỗ,tra hạt, giẫm ruộng lầy,đàn trâu quần ruộng trũng….Chăn nuôi thì theo hình thức thả rong là chính Họ thường nhìn vào con trâu để đánh giá kinh tế gia đình, nếu nhà nào nhiều trâu thì đó chính là gia đình khá giả Nghề thủ công của người Mường chủ yếu là dệt vải Vào bất cứ nhà người Mường nào ta cũng thấy một khung cửi và bộ trang phục nàng dâu đẹp hay xấu đều do sự khéo tay của các nàng, bởi các cô dâu đều phải tự làm ra bộ trang phục để mặc trong ngày cưới
Xã hội cổ truyền của người Mường chỉ có hai tầng lớp chính Đó là tầng lớp thống trị nhà lang và tầng lớp bị trị nhà dân Tầng lớp lang đạo vừa có quyền lại vừa có thế nên nhà lang chỉ đạo mọi công việc trong bản Mường Sau cách mạng Tháng Tám, chế độ lang đạo được xoá bỏ nhưng những ảnh hưởng về văn hoá vẫn ít nhiều tồn tại đến ngày nay
“ Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui ” chính là một trong những nét đặc trưng văn hoá Mường mà bất cứ người nào khi đặt chân đến vùng Mường đều có thể nhận thấy Người Mường rất thích ăn cơm nếp Diễn trình vò lúa - xay giã, ngâm gạo, bắc niếng, vớt gạo vào hông đồ, xôi chín đỗ ra quạt, đựng vào mủng…Tuần tự ấy đã trở thành thói quen, nét đẹp truyền thống, người con gái Mường nào cũng thuộc như in diễn trình này như một vòng quay ngàn đời mang đậm bản tính tộc người
Trang 15Nhà ở của người Mường là nhà sàn ( nhà gác ) - tiếng Mường gọi là Nháa Róo
“ nhà hình mai rùa ” Theo sử thi Đẻ đất đẻ nước khi con người bắt được rùa, rùa xin tha và hứa sẽ bày cách làm nhà Sau đó con người “Nhìn bốn chân rùa
làm nên cột cái Nhìn xương sườn dài, sườn cụt mà xếp làm rui Nhìn đầu, nhìn đuôi làm chái Nhìn tai, nhìn mắt làm cửa sổ Nhìn lỗ ăn lỗ ỉa làm cửa thang lên Nhìn hai bên mai rùa làm mái ” Cũng chính bởi lẽ đó mà người Mường có tục
thờ thần rùa
Trên đây là một số đặc điểm chung về tên gọi, địa bàn cư trú, nhà ở của người Mường Những yếu tố này phần nào đó sẽ ảnh hưởng đến nét sinh hoạt văn hoá, văn nghệ dân gian và tâm lí tộc người, tạo nên những nét đặc trưng riêng mang đậm bản tính của người Mường
1.1.2 Văn hoá văn nghệ dân gian và tục lệ cưới xin của người Mường
Tuy chưa có chữ viết riêng, nhưng văn hoá truyền miệng của người Mường
đã để lại hàng trăm tác phẩm văn học có giá trị đủ các thể loại : truyền thuyết, sử thi, cổ tích, truyện cười, tục ngữ, ca dao và đặc biệt là truyện thơ Nhiều truyện
thơ dài nổi tiếng của người Mường được nhiều dân tộc khác biết đến như Út Lót
- Hồ Liêu, Nàng Nga - Hai Mối, Tráng Đồng…Đặc biệt sử thi Đẻ đất đẻ nước là
một áng văn đồ sộ Đây là một tác phẩm văn học đặc biệt có giá trị về nhiều mặt, không chỉ riêng đối với dân tộc Mường
Mo Đẻ đất đẻ nước có vai trò đặc biệt trong lễ thức tang ma Đồng thời
cùng với các bài mo khác cấu thành tiếng hát tiễn biệt người quá cố, văn tế tang
ma được ấn định như một phần quan trọng không thể thiếu được khi dâng cúng tiễn đưa người đã khuất
Hát mỡi, hát xường, hát rang, hát ru, hát đúm trong văn nghệ dân gian Mường là các tiểu loại hát mà giai điệu thể hiện được các trạng thái tư tưởng tâm hồn con người và âm thanh nhịp nhàng muôn vẻ của thiên nhiên
Trang 16Nhạc không lời và nhạc khí của dân tộc Mường cũng rất đồ sộ và phong phú Bên cạnh nhạc trống đồng trầm hùng thường trình tấu ở các lễ hội long trọng
và trong tang ma, người Mường còn có âm nhạc cồng chiêng được sử dụng rất rộng rãi khi mừng vui đón khách trong hội lễ, đám cưới, lúc lên nhà mới, được mùa…Có lúc loại nhạc này lại được sử dụng ở âm sắc trầm hùng điểm cho ca hát ứng đối, thay lời để nói chuyện, giục giã khi giáp trận, khi săn bắn và cả trầm buồn khi đưa tiễn người quá cố Nhị, thanh la, chũm choẹ, trống các loại, sáo và đặc biệt là đàn môi… tạo thành những bộ nhạc cụ làm nên nét đặc sắc âm nhạc Mường
Trong đám cưới Mường, tiếng cồng có vị trí rất quan trọng Khi hai bên đối đáp, bên nào đối đáp khéo, hoặc có đoạn hát hay, thì tiếng cồng được điểm lên để khen ngợi Cồng trong lễ cưới có thể được xem như đại diện thứ hai của hai họ
Có khi nó cũng làm nhiệm vụ thông tin giữa hai họ Cùng với hai họ, cồng góp phần vào việc đưa đón dâu rể thêm chu đáo, chúc tụng mời chào hai họ, làm cho đám cưới thêm không khí vui vẻ, ấm cúng
Trang 17Múa cây bông ( ảnh chụp)
Nghệ thuật múa Mường tuy hơi ít nhưng cũng khá đặc sắc như : múa sạp,
múa trống, múa sắc bùa, múa pồn pôông, múa gậy, múa kiếm, múa quạt ma…
Ở dân tộc Mường có nhiều điệu múa mang tính nhân bản sâu sắc và chỉ được múa trong đám ma như điệu múa quạt ma - đây là điệu múa mang đậm nét
lễ thức tín ngưỡng của người dân Mường
Mỹ thuật, kiến trúc của dân tộc Mường cũng rất độc đáo và nổi tiếng, đặc biệt là hoa văn trên cạp váy Mường, các dạng hoa văn đa dạng và đạt đến tính cách điệu, điển hình cao Có thể kể đến tượng bằng đá hình đầu người, đầu thú, tượng thành hoàng,bà chúa, tiên cô được tạc và vẽ ở nhiều hang động đình chùa ở vùng người Mường cư trú
Nói đến văn hoá Mường chúng ta không thể không nói đến các lễ hội phong tục tín ngưỡng Người Mường thực hiện nghi lễ tôn giáo cộng đồng phần lớn đều được tiến hành dưới danh nghĩa gia đình, gia tộc Nghi lễ chủ yếu thực hiện các nội dung : cầu cúng trời đất, sông suối, cỏ cây, các vị thành hoàng của mường bản… Nhưng quy mô chu đáo nhất vẫn là cầu cúng tổ tiên, vì người Mường coi tổ tiên là trung tâm của thế giới siêu nhiên, thế giới hồn vía, thế giới của mường ma
Tổ tiên là người sinh thành tạo dựng nên gia đình gia tộc, là người đã từng cùng chung sống với con cháu trong một mái ấm gia đình Là người gần gũi cả khi sống cũng như khi chết, luôn chi phối mọi mặt trong cuộc sống của mọi thành viên trong gia đình, nội tộc Người Mường quan niệm sự sống vẫn tồn tại sau khi chết, vì vậy họ đã quy định những nội dung cũng như hình thức để thờ cúng,và điều đó phần nào hình thành nên một nền tảng tôn giáo trong quan niệm này Bởi vậy ngay trong đám cưới của người Mường các nghi thức cúng tổ tiên cũng được thực hiện khá công phu chu tất Người Mường đã sáng tác ra những bài ca dài để
“báo cáo” với tổ tiên rằng con cháu họ đã nên vợ nên chồng…
Trang 18Đám cưới của người Mường có những đặc điểm văn hoá đáng chú ý :
Người Mường quan niệm con người muốn sống và tồn tại được phải có gia đình, vì gia đình là tổ ấm, là nơi trú ngụ của con người Thực chất thì gia đình là cầu nối giữa các cá nhân và xã hội, mỗi thành viên trong gia đình có một vị trí và vai trò khác nhau, trong gia đình có kinh tế, có đạo đức, có lề luật… Gia đình còn
có chức năng duy trì nòi giống và chăm lo giáo dục các thế hệ của tương lai
Đến bản Mường ta thấy có nhiều gia đình ba thậm chí bốn thế hệ chung sống với nhau, và sống với nhau rất đoàn kết trong một nhà Trong gia đình người Mường, người cha là người chăm lo, chỉ đạo công việc gia đình và cũng là người
có quyền hơn cả Khi ăn cơm, người con dâu không được ngồi chung mâm với bố chồng và anh chồng, con dâu không được căng màn và ngồi trên giường bố và anh chồng Bao giờ ông bà và bố mẹ cũng ở gần với vợ chồng người con trai trưởng Như thế có nghĩa là con trưởng phải có trách nhiệm bảo vệ và nuôi dưỡng chính cho ông bà, cha, mẹ khi họ già nua đau ốm Cứ như thế, các thế hệ người Mường đã duy trì và phát triển qua bao đời nay, và các gia đình được tiếp nối nhau qua nghi thức đầy ý nghĩa và bao giờ cũng chu tất
Một số đặc điểm trong trang phục và đồ trang sức của cô dâu - chú rể : Cũng như các dân tộc sống trong nền kinh tế tự cung tự cấp, khuynh hướng giáo dục thẩm mĩ mang tính tộc người ở người Mường được hình thành rất sớm
Từ tuổi ấu thơ họ được mang trên mình bộ trang phục truyền thống do chính bàn tay người mẹ dệt may nên Đến tuổi 13 -14 các thiếu nữ Mường đã phải đặt bông,
se sợi, nhuộm màu dệt vải, dệt thổ cẩm và phải tự tay làm ra trang phục cho bản thân Trong quá trình đó người mẹ là người dạy dỗ, chỉ bảo cho các tác phẩm đầu tay của con gái mình Đây cũng là bước để các cô gái chuẩn bị cho hạnh phúc dài lâu sau này Bàn tay họ phải chứng tỏ với gia đình nhà chồng về sự nết na và đầu
óc thẩm mĩ của mình qua các tác phẩm tự tay làm ra tặng gia đình bên chồng, như gối kê đầu, gối kê tay, cạp váy, khăn, chăn… Tuy không có luật nào quy định
Trang 19nhưng nó đã trở thành lệ, để rồi từ đó không ai tự tách mình ra khỏi sự giáo dục
tư duy thẩm mĩ vốn đã được xã hội hoá từ lâu này
Trang phục chú rể : Trong ngày cưới chú rể đội khăn xếp ( giống người
Việt xưa ) mặc áo dài tay, cổ nẹp cao một đốt ngón tay, áo dài gần trùm mông có hàng cúc ở hai vạt trước, thân áo may vừa phải, thường là màu nâu hoặc màu chàm, mặc chiếc quần may rộng dài đến mắt cá chân, bên ngoài khoác thêm chiếc
áo chùng Áo chùng nam dài đến đầu gối, cổ cao và cứng hơn áo thường, đằng trước có một vạt rộng trùm từ bên trái sang bên phải, khuy cài ở nách và sườn phải , hai bên xẻ tà cao tới hông Bộ trang phục này chưa mặc lần nào và do chính bàn tay mẹ sắm cho từ khi người con trai đến tuổi vị thành niên
Trang phục cô dâu : Trang phục của cô dâu Mường giống với trang phục
thường ngày của phụ nữ Mường, tuy nhiên cô dâu thường đội “ nón dứa quai thao” Đây là một vật không thể thiếu của cô dâu, loại nón này rất hiếm nên nhà nào có con gái phải sắm sanh chuẩn bị ngay từ khi con gái còn nhỏ Nón có hình nhọn, trong lòng nón thêu tựa cạp váy, trên chóp có hoa Bộ trang phục cô dâu đẹp hay xấu là do sự khéo léo của bàn tay chính mình Người Mường có tục thử thách ba năm, cho nên trong thời gian thử thách cô dâu tự làm ra bộ trang phục để mặc trong ngày cưới
Trang 20Người Mường dệt vải( ảnh chụp)
Trang phục phụ nữ Mường là váy ống màu đen có trang trí ở phần đầu
(thường gọi là cạp váy ) Đầu váy Mường được dệt bằng chất liệu tơ tằm, nhuộm nhiều sắc màu rất công phu tạo ra những hoa văn hình rồng, hươu và nhiều hoa văn hình học rất tinh tế
Khăn thắt lưng gọi là “tênh ” thường có màu xanh lơ, xanh lục, hoặc màu tím.Áo của phụ nữ Mường là áo ngắn - tiếng Mường gọi là áo “pằng”, dài tay, thường màu trắng, vàng, hồng Họ thường quấn chiếc khăn nhuộm chàm quanh đỉnh đầu Trong ngày cưới cô dâu mặc thêm bên ngoài một chiếc áo chùng dài đến bắp chân
Quan sát trang phục của cô gái Mường trong ngày cưới hay trong ngày hội
ta thấy : khăn chàm đội đầu, yếm trắng , áo ngắn, áo chùng, thắt lưng xanh, váy,
áo ngắn nằm trong váy để lộ rõ phần cạp váy phô trương trước ngực Tất cả đều vừa vặn, mới, màu sắc tươi tắn, tựa như vẻ mặt rạng rỡ của cô dâu Khác với người Mường ở Hoà Bình, người Mường ở Thanh Hoá không đội khăn màu trắng, vì phong tục người Mường ở Thanh Hoá chít khăn tang màu trắng
Đồ trang sức của cô dâu gồm có : đôi khuyên tai, vòng cổ, đôi vòng tay,
hai nhẫn, chuỗi dây xà tích bên hông Tất cả những thứ này đều bằng bạc do bố
mẹ sắm cho trước khi về nhà chồng Những đồ trang sức này không chỉ làm tăng thêm độ duyên dáng cho người con gái, mà còn có ý rằng về nhà chồng, không được bố mẹ chăm sóc nữa, bố mẹ rất lo cho con nên sắm cho những đồ vật này Người Mường có kinh nghiệm chỉ cần nhìn vào vòng cổ và vòng tay : Nếu thấy
Trang 21có màu trắng trong là mạnh khỏe, bình thường, ngược lại nếu có màu đục đen sỉn
là đang ốm, cần có thuốc để chữa trị
Trong đám cưới Mường còn có tục hát đối đáp Khi đoàn khách nhà trai đi đón dâu đến cổng rồi, nhà gái còn đóng cổng để hát ra câu đối, nếu nhà trai lâu hoặc không hát đối được thì nhà gái sẽ treo tổ kiến, chọc cho kiến ra nhiều để đốt nhà trai, thanh niên nhà gái còn ném củ ráy hay quả khế để trêu ghẹo thanh niên nhà trai, nhưng không ai giận mà vẫn đều cười nói vui vẻ Đám cưới Mường cho chúng ta thấy một nghệ thuật ứng xử khéo léo và tinh tế của người Mường mà nổi lên là phong cách khiêm nhường, kính trọng và nể nang Điều này được thể hiện rất đậm nét qua hệ thống nghi lễ, những lời thưa gửi của đôi bên gia đình, qua lời mo cúng tổ tiên
Từ những điều khái lược nêu ở trên, có thể thấy người Mường có một truyền thống văn hoá và văn nghệ dân gian độc đáo đậm đà bản sắc dân tộc Chỉ riêng về đám cưới Mường cũng đã bộc lộ được phần nào những quan niệm về hệ thống nghi lễ, cách ứng xử cũng như những sinh hoạt văn nghệ phong phú đó
1.2 TIẾNG MƯỜNG VÀ ĐẶC ĐIỂM NGỮ ÂM TIẾNG MƯỜNG
1.2.1 Tiếng Mường
Theo sự phân loại cội nguồn ( hay còn gọi là sự phân loại phổ hệ, phân loại thân tộc ) được nhiều nhà ngôn ngữ học chấp nhận hiện nay, tiếng nói của dân tộc Mường - tiếng Mường thuộc nhánh Việt - Thà Vựng ( còn gọi là Vietic , gồm các ngôn ngữ : Kinh ( Việt ), Mường, Nguồn, Pọong, Thổ, Cuối, Đan Lai, Li Hà, Rục, Mày, Sách, Mã Liềng, Kri Phọong, Arean ) của chi Mon - Khmer ( gồm các nhánh : Việt - Thà Vựng (Vietic); Paloang - Wa (Palaungic ); Khmú - Kxinh Mul (khmuic ); Katu - Bru ( Katuic ); Bahnar ( Bahnaric ); Khmer ) trong ngữ hệ Nam Á
Xét về mặt loại hình, tiếng Mường ( cũng như tiếng Việt ) thuộc loại hình các ngôn ngữ đơn lập Những đặc điểm của loại hình các ngôn ngữ đơn lập ( mà
Trang 22tiếng Mường là một thành viên ) này thường được nhắc đến là: Từ không có sự biến đổi hình thái khi đảm nhận các chức vụ khác nhau trong câu, tức là tự nó không có khả năng diễn đạt bằng hình thức của mình những ý nghĩa phụ về mặt ngữ pháp; Phần lớn các từ thuộc vốn từ cơ bản và các hình vị cấu tạo từ có hình thức là đơn âm tiết ( có hình thức là một âm tiết - một tiếng), đồng thời rất nhiều
từ lại có hình thức song tiết, và đa số được cấu tạo theo cách ghép và láy ( các từ ghép và các từ láy ); Quan hệ giữa ngữ pháp của các từ trong câu chủ yếu được biểu thị bằng các trật tự từ và các hư từ …
Tiếng Mường là một ngôn ngữ về cơ bản là thống nhất Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau ( trong quá khứ cũng như hiện tại )trong đó chủ yếu là sự không liên tục trong giao tiếp ngôn ngữ, tiếng Mường ở những vùng khác nhau cũng có khác biệt ít nhiều về từ ngữ và ngữ âm Không những tiếng Mường ở các tỉnh cách xa nhau có những sự khác biệt ( ví dụ : ở Nghĩa Lộ, Hoà Bình, Thanh Hoá, Sơn Tây…) mà ngay ở một tỉnh cũng có thể ghi nhận những sự không tương đồng Chẳng hạn tiếng nói của người Mường chỉ ở tỉnh Hoà Bình trong bốn vùng đất được truyền tụng trong câu “ Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động “ cũng
có những điểm khác nhau về ngữ âm và trong đó tiếng Mường Vang ở huyện Lạc Sơn được xem là “ dễ nghe và dễ hiểu hơn cả ” 115 ; 469 Hoặc người Mường ở Thanh Hoá phân biệt ( theo cảm thức ) thành hai vùng tiếng : tiếng Mường Trong ( tiếng nói ở một số xã thuộc huyện Ngọc Lặc, Lang Chánh, Bá Thước…) và tiếng Mường Ngoài ( tiêu biểu là tiếng Mường ở một số xã thuộc huyện Ngọc Lặc và ở huyện Thạch Thành 111 ; 26 Tuy nhiên trong xu thế giao tiếp xã hội ngày càng mở rộng như hiện nay, sự khác biệt trong tiếng nói ở các vùng Mường
có xu hướng ngày càng thu hẹp lại
Cần phải ghi nhận một thực tế ngôn ngữ hiện nay ở vùng Mường, đó là trạng thái song ngữ Mường - Việt Tiếng Mường là ngôn ngữ chưa có sự thể hiện bằng chữ viết ( những quy định chính tả tạm thời để ghi tiếng Mường cho đến
Trang 23nay phần lớn căn cứ trên chữ Quốc ngữ và mang tính cá nhân ) Hiện nay tiếng Mường phần lớn được sử dụng trong gia đình, làng xóm của cộng đồng Mường Ngược lại tiếng Việt ( ngôn ngữ họ hàng rất gần của tiếng Mường ) là ngôn ngữ phổ thông trong cả nước, được dùng và phổ biến trong giáo dục văn hoá, trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong các mặt giao dịch hành chính cũng như thương nghiệp Trạng thái song ngữ tự nhiên như đã nói ở trên, hiện nay tỏ ra có ích lợi đối với sự phát triển kinh tế-xã hội ở vùng Mường, nhưng nếu xét về lâu dài nếu không có những biện pháp bảo tồn và phát triển tiếng Mường như một yếu
tố văn hoá, thì tiếng Mường có thể dần bị thu hẹp các chức năng xã hội, bị mai một.Tuy nhiên hiện nay người Mường vẫn đang tự hào và tôn trọng tiếng nói đã được lưu truyền lại từ bao đời của dân tộc mình - tiếng Mường Đó là tiếng mẹ
đẻ của hơn một triệu người Mường, là tiếng nói mỗi người Mường đã được nghe
từ thủa còn trong nôi cho đến khi lớn lên thành người, là hình thức của sử thi nổi
tiếng Đẻ đất để nước, của những truyện thơ Út Lót - Hồ Liêu, Huỳ Nga - Hai
Mối và Nàng Ờm - Chàng Bồng Hương , của những sinh hoạt văn nghệ dân gian
rất đáng ghi nhớ như : xường, rang, bộ mẹng, mo, hát ru, đồng dao, cổ tích và cả những bài ca trong đám cưới
1.2.2 Đặc điểm ngữ âm tiếng Mường
Người Mường và người Việt nói chung, tiếng Mường và tiếng Việt nói riêng
có quan hệ cội nguồn hết sức gần gũi nhau Qua công trình nghiên cứu của mình tác giả Nguyễn Thế Phương khẳng định “ Hai thứ tiếng ấy không phải chỉ ở mức
độ họ hàng với nhau, mà chính là chúng đã có một nguồn gốc với nhau Nói cách khác, tiếng Mường chính là thứ tiếng Việt cũ, là tiền thân của tiếng Việt hiện nay Nghĩa là tiếng Việt chính là tiếng Mường đã trải qua quá trình biến hoá, biến đổi phong phú hơn ” dẫn theo 58 ; 18
Trang 24Chính bởi vậy đặc trưng ngữ âm ( đặc điểm âm tiết, thanh điệu, nguyên âm, phụ âm ) của tiếng Việt và tiếng Mường có những điểm tương tự nhau Khi xem xét đặc điểm ngữ âm tiếng Mường tác giả Nguyễn Kim Thản [124] dựa trên cơ sở
so sánh này và chỉ ra những đặc điểm sau :
1.2.2.1 Âm tiết
Trong đặc điểm cấu âm tiếng Mường, một âm tiết đơn giản nhất phải gồm
có hai thành tố là một âm gốc ( nguyên âm đơn hoặc đôi ) và một thanh điệu Một
âm tiết phức tạp nhất trong tiếng Mường bao gồm 6 thành tố với sự phân bố như sau :
âm
đầu
thanh điệu
âm nối âm gốc âm tiết âm cuối
Ví dụ về một âm tiết với thành phần 6 thành tố:
khwềiŋ : quên
Qua sơ đồ và ví dụ trên ta nhận thấy thanh điệu bao trùm lên phần vần và
có thể ảnh hưởng tới âm đầu Trong trường hợp phát âm bình thường, trường độ của âm tiết không ổn định ( không tăng giảm theo số lượng thành tố )
Trong tiếng Mường có các kiểu âm tiết sau :
Âm tiết mở ( không có âm cuối ),ví dụ : ro(no), ti(đi), ka(gà)…
Âm tiết nửa mở ( khi có âm cuối là bán nguyên âm ), ví dụ : kạu(gạo), thái(tai)
Âm tiết nửa khép ( khi có âm cuối là phụ âm vang ), ví dụ : vẳm(mắm), hơm(thơm)…
Âm tiết khép ( khi có phụ âm cuối là phụ âm tắc ), ví dụ : thiết(ong đốt), lạik(nhạt)…
1.2.2.2 Thanh điệu
Thanh điệu là yếu tố bắt buộc để hình thành âm tiết tiếng Mường Gần giống với đặc điểm thanh điệu vùng địa phương Nghệ Tĩnh, thanh điệu tiếng Mường gồm có 5 thanh, khoảng cách giữa khởi điểm cao nhất và khởi điểm thấp nhất
Trang 25không xa lắm làm cho các thanh điệu tiếng Mường cao hơn các thanh điệu tiếng Việt tương ứng
Thanh 1: Là thanh khởi điểm cao nhất trong tất cả các thanh, đường nét bằng
phẳng, trường độ vừa phải, cường độ hơi mạnh, điểm kết thúc cao bằng khởi điểm Thanh này chỉ xuất hiện trong các âm tiết mở, nửa mở, nửa khép Thanh 1 gần giống thanh ngang trong tiếng Việt nhưng điểm xuất phát và điểm kết thúc cao hơn Được gọi là thanh ngang cao Thanh này không dùng dấu để ghi
Ví dụ : nu : nâu; ta : da; tlu : trâu
Thanh 2 : Khởi điểm hơi thấp so với thanh 1, đường nét tương đối bằng
phẳng, cường độ bình thường, điểm kết thúc thấp hơn khởi điểm một chút Thanh này thường xuất hiện trong các âm tiết mở, nửa mở, nửa khép gần như thanh ngang
trong tiếng Việt Được gọi là thanh ngang thấp Dấu “huyền” được dùng để ghi thanh này
Ví dụ : khờm : sớm ; con cài : con gái ; òng : uống
Thanh 3 : Khởi điểm ở giữa thanh 1 và thanh 2, đường nét võng xuống rồi uốn
nhẹ lên, cường độ hơi mạnh ở giữa, điểm kết thúc cao hơn khởi điểm một chút, trường độ vừa phải Thanh này thường xuất hiện trong các kiểu âm tiết mở, nửa
mở, nửa khép Gần giống thanh hỏi trong tiếng Việt, được gọi là thanh trũng Dấu
“hỏi” dùng để ghi thanh này
Ví dụ : nả : nỏ; trưởc : trước; vảc : vác
Thanh 4 : Khởi điểm gần cao bằng khởi điểm thanh 1, hơi võng xuống một chút
rồi vút lên cao, cường độ hơi mạnh, điểm kết thúc cao nhất và có hiện tượng yết hầu hoá Thanh này có thể xuất hiện trong mọi kiểu âm tiết, gần giống thanh sắc trong tiếng Việt nhưng phần đầu trũng hơn Được gọi là thanh lên và dấu sắc dùng để ghi thanh này
Ví dụ : đướng : đường; xướng : xường; ngá : ngứa
Trang 26Thanh 5 : Khởi điểm thấp nhất trong 5 thanh ( thấp hơn khởi điểm của thanh 2
một chút ) đường nét thoai thoải xuống, trường độ vừa phải, cường độ bình thường, điểm kết thúc thấp nhất Gần giống thanh nặng trong phương ngôn Bắc trung bộ của tiếng Việt Thanh này xuất hiện trong cả 4 kiểu âm tiết Được gọi là thanh xuống và dấu “nặng” dùng để ghi thanh này
u
uô
ô
o (Trong đó : â, a là nguyên âm ngắn
độ nâng của e và ê không rõ rệt như trong tiếng Việt)
âm miệng
Trang 27hai tiêu
1.2.2.5 Những quy định về chính tả và thanh điệu
Theo Nguyễn Kim Thản, có thể dùng dấu câu tiếng Việt cho dấu câu tiếng Mường Cách viết tên riêng trong tiếng Mường như cách viết tên riêng trong tiếng Việt Đồng thời, cũng có thể dùng các dấu ghi thanh điệu trong chính tả Quốc ngữ để ghi các thanh tương tự trong tiếng Mường
Những đặc điểm ngữ âm cũng như những quy định về chính tả và thanh điệu như trên đã được thể hiện rất rõ qua cách ghi trước đây ở văn bản bài ca đám cưới Mường ở Thanh Hoá [70]
1.3.TỤC CƯỚI HỎI VÀ BÀI CA ĐÁM CƯỚI CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở THANH HOÁ
1.3.1 Thanh Hoá và địa bàn cư trú của người Mường
Thanh Hoá có toạ độ địa lý 190
30’ - 20030’ vĩ độ bắc, 1040 - 106030’ kinh độ đông, phía bắc giáp Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình 175 km; phía nam và tây nam giáp Nghệ An hơn 160 km ; phía tây nối liền sông núi với tỉnh Hủa Phăn ( nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào ) dài 192 km Phía đông mở rộng ra phần giữa vịnh Bắc bộ với đường biển dài hơn 102 km 56 ; 7
Với diện tích tự nhiên là 11.168,1 km2
địa bàn Thanh Hoá có thể phân làm hai miền khá rõ rệt : miền núi và miền xuôi Con sông Mã bắt nguồn từ Điện Biên Phủ, chảy qua Sơn La, Sầm Nưa ( Lào ) vào Thanh Hoá tại địa phận Mường Lát Dòng sông Mã xuyên suốt hai miền, từ Quan Hoá, Bá Thước, Cẩm Thuỷ đỗ xuống Vĩnh Lộc, Yên Định, Thiệu Hoá, Hà Trung rồi ra biển Đông ở hai cửa sông : Lạch Hới và Sóng Lèn Các con sông khác như sông Chu, sông Yên, sông
Âm, sông Bưởi… cùng nhiều nhánh sông nhỏ khác đã làm nên diện mão xứ Thanh “ Có núi rừng, có miền thung lũng trung du, có đồng bằng và có biển ”
126 ;170
Trang 28Cư trú trên đất Thanh Hoá là các tộc người : Kinh, Thái, Khơ mú, Mường,
H’mông, Dao, Thổ trong lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam, Thanh Hoá luôn gắn bó với vận mệnh của dân tộc “ Xứ Thanh là vị trí địa - chiến lược, địa chính trị, địa - văn hoá quan trọng của Việt nam”126;274 Và với một chiều dài lịch sử của vùng đất xứ Thanh đã có một nền văn học dân gian phong phú mang sắc thái riêng độc đáo , trong đó không thể không nói đến vốn văn nghệ của dân tộc Mường, tộc người có số dân đông nhất trên địa bàn miền núi Thanh Hoá
Theo bản đồ hành chính hiện nay, miền núi Thanh Hoá chiếm 2/3 diện tích
tự nhiên toàn tỉnh, gồm 11 huyện là Quan Hoá, Quan Sơn, Mường Lát, Như Xuân, Như Thanh, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Ngọc Lặc, Lang Chánh, Thường Xuân , Bá Thước
Theo thống kê của Ban dân tộc và miền núi Thanh Hoá ngày 01/04/19999 Dân số Người Mường ở Thanh Hoá là 322.869 người phân bố như sau :
Huyện Mường Lát : 231 người = 0,83% cư dân toàn huyện Huyện Quan Hoá : 9242 người = 22,3% cư dân toàn huyện
Huyện Quan Sơn : 625 người = 1,97% cư dân toàn huyện Huyện Bá Thước : 46638 người = 47% cư dân toàn huyện Huyện Lang Chánh : 12820 người = 37,43%cư dân toàn huyện Huyện Ngọc Lặc : 55581 người = 44% cư dân toàn huyện Huyện Cẩm Thuỷ : 52550 người = 56,8% cư dân toàn huyện Huyện Thạch Thành : 68387 người = 50,4% cư dân toàn huyện Huyện Thường Xuân : 1390 người = 1,6% cư dân toàn huyện Huyện Như Xuân : 3189 người = 21,9% cư dân toàn huyện Huyện Như Thanh : 17402 người = 21,9% cư dân toàn huyện
Trang 29Ngoài ra còn một số người Mường cư trú xen kẽ tại 26 xã thuộc các vùng thấp ( như Vĩnh Lộc, Thọ Xuân, Tĩnh Gia, Hà Trung, Triệu Sơn, Yên Định và thị
Xã Bỉm Sơn ), tổng số là 14817 người
Từ số liệu trên cho thấy người Mường ở Thanh Hoá cư trú tập trung nhất là
ở các huyện : Bá Thước, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc, Thạch Thành
Theo các nhà nghiên cứu, người Mường Thanh Hoá đã có mặt và sinh sống
ở đây từ rất lâu đời và gồm nhiều bộ phận cấu thành Bộ phận Mường gốc tự gọi
mình là Móon Ha ( Mường Trong ) và bộ phận từ nơi khác đến được gọi là Móon
Hée ( Mường Ngoài ) Các bộ phận này sống xen kẽ với nhau tạo thành các
“chòm lúng” Mường, thường giống nhau về cách sinh hoạt, chỉ khác nhau về cách phát âm và trang phục : “Ở Thanh Hoá vùng người Mường thường là các cư dân có mặt đã lâu đời Các chòm lúng ở đây, tuy người Mường trong nội tỉnh, hoặc Ninh Bình, Hoà Bình di cư vào mà ở xen kẽ với nhau hoặc có nơi là người Kinh từ đồng bằng Thanh Hoá chuyển lên lâu đời thành người Mường nhưng xét
kỹ thì các vùng thung lũng rộng màu mỡ như Sa Lung, Thiết Ống, Hồ Điền, Cổ Lũng, vùng có núi thấp như Ngọc Lặc, Cẩm Thuỷ thì người Mường đã có ở đây
từ rất xưa ” 104; 66
1.3.2 Khái quát về văn nghệ dân gian Mường ở Thanh Hoá
Ở Việt Nam dân tộc Mường phân bố trên một địa bàn tương đối rộng, Tuy nhiên nơi người Mường cư trú tập trung nhất vẫn là tỉnh Hoà Bình và Thanh Hoá Nhìn chung nếp sống của người Mường là thống nhất và trong quá trình phát triển văn hoá của họ vẫn bảo lưu khá rõ nét những sắc thái văn hoá đặc trưng của tộc người
Khi xét về văn nghệ dân gian vùng Mường xứ Thanh, chúng tôi đặt trong mối quan hệ tổng thể văn nghệ dân gian vùng Mường nói chung trên cơ sở những nét tương đồng và thống nhất là chủ yếu Có thể vùng Mường xứ Thanh có những sắc thái riêng biệt so với các vùng Mường khác về mặt phong tục tập quán chúng
Trang 30ta rất dễ nhận biết xuất phát từ hoàn cảnh tự nhiên và lịch sử riêng Song những sắc thái riêng biệt và độc đáo trong lĩnh vực văn nghệ dân gian - một lĩnh vực thể hiện cái nhìn thẩm mĩ của con người thì cần có công trình lớn hơn để nghiên cứu Trong luận văn này, khi khái quát văn nghệ dân gian Mường, chúng tôi không có
ý so sánh với các vùng Mường khác mà đặt nó trong tổng thể để tìm hiểu
Nhìn chung người Mường ở Thanh Hoá có một tài sản văn nghệ dân gian phong phú với sự hiển diện đa dạng của các thể loại như sử thi , truyện thơ, cổ tích, dân ca, mo…
Sử thi Đẻ đất đẻ nước được sưu tầm ở Thanh Hoá không chỉ là niềm tự hào
của người Mường nơi đây mà còn có giá trị lớn trong số các tác phẩm thể loại sử thi của nền văn học dân tộc Mường
Truyện thơ Mường nổi bật bởi tính chất độc đáo hấp dẫn và khối lượng đồ
sộ Những truyện thơ tiêu biểu của người Mường như : Nàng Nga - Hai Mối, Út
Lót - Hồ Liêu, Nàng Ờm - Chàng Bồng Hương…được lưu truyền rộng rãi ở các
vùng Mường xứ Thanh Những truyện thơ này không chỉ được diễn xướng và sống động trong sinh hoạt văn nghệ mà còn ăn sâu vào tiềm thức của người Mường, có ảnh hưởng đến những sinh hoạt văn hoá, tập quán ứng xử của mọi người dân Mường
Đến với vùng Mường xứ Thanh vào dịp tháng ba âm lịch ai cũng sẽ cảm nhận được mùi hương dịu ngọt của loài hoa Bông Trăng - loài hoa gắn với huyền
thoại tình yêu của Nàng Ờm - chàng Bồng Hương Hoa Bông Trăng có năm cánh,
nở thành chùm, mới nở có màu trắng sau chuyển thành màu đỏ Người Mường nói màu trắng và màu đỏ của hoa tượng trưng cho tình yêu trong trắng nồng nàn thuỷ chung của nàng Ờm và chàng Bồng Hương Hoa Bông Trăng cũng chính là loài hoa tượng trưng cho tình yêu thuỷ chung của người Mường Ngày nay người Mường xứ Thanh còn truyền nhau rằng núi Làn Ai (Ái Thương, huyện Bá Thước
Trang 31) là nơi nàng Ờm - chàng Bồng Hương đưa nhau lên đó, ăn lá ngón để đưa nhau cùng về mường ma và ở bên nhau mãi mãi
Về đất Mường Đủ ( thuộc xã Thạch Bình, huyện Thạch Thành ngày nay) chúng ta lại được gặp nhiều chứng tích của chuyện tình nàng Nga và chàng Hai
Mối Trong cuốn Văn hoá truyền thống Mường Đủ, hai tác giả Trần Thị Liên và
Nguyễn Hữu Kiên 86 cho biết ở Mường Đủ trước kia có đền thờ nàng Nga ( còn gọi là đền Mẫu ) Cách đền Mẫu chừng 1 km có một khu đất rộng, tương truyền một thời là vườn dâu của nhà Nàng Nga Tương truyền rằng nơi mà nàng Nga và chàng Hai Mối gặp nhau trao vật kỷ niệm là ở xã Thành Trực Tại đây còn ba cây đa đứng gần nhau , nhân dân địa phương cho rằng đấy chính là hồn của nàng Nga, chàng Hai Mối và vua Ao Ước biến thành
Bằng cách duy trì một số tập quán ứng xử, tập quán sinh hoạt văn hoá, người Mường nơi đây muốn mọi người tin rằng những tình tiết trong các truyện thơ này đều có thật
Bên cạnh thể loại lớn là sử thi và truyện thơ thì mo, xường, rang, bọ mẹng,
ví, đúm của người Mường phát triển khá mạnh trên các vùng Mường xứ Thanh Trong tâm trí của người Mường thì mụ Dạ Dần sau khi sáng tạo ra đất Mường đã sáng tạo ra mo, xường, rang… sau đó gánh đi gieo giống trên khắp đất Mường Trên đường đi không may bị gãy đòn triêng, nên mo, xường, rang…rơi xuống không đều nơi được nhiều nơi được ít Trong tâm niệm của người Mường ở Thanh Hoá thì mụ Dạ Dần bị “ Đứt gánh Mường Ai, đứt quai Mường Ống ” nên bao nhiêu xường gốc đều trút xuống cả nơi đây Điều đó nhằm lí giải cho sự phong phú đa dạng của xường ở Thanh Hoá
Các sinh hoạt văn hoá văn nghệ của người Mường xứ Thanh cũng có những nét riêng gắn với phong tục tập quán Hàng năm vào rằm tháng ba, tháng bảy là mùa lễ hội Pồn pôông - đây là sinh hoạt văn hoá truyền thống của người Mường Trong lễ hội này, sau phần lễ thức của ông Mo bà Máy chủ trì là đến
Trang 32phần hội Đây là phần do ông Mo bà Máy mời các con Mày, con Nuôi vào cùng chơi với các trai gái trong làng Phần hội này thực chất là cuộc đối đáp xường rang giữa những nam nữ trong làng Ở đây ta bắt gặp một nhu cầu thường thấy của các lễ hội dân gian Sự tồn tại trong diễn xướng dân gian của lễ hội là xuất phát từ những nhu cầu về sự bình yên, hạnh phúc, sự cầu may của các cá nhân,và mọi gia đình trong cộng đồng Bên cạnh đó nó còn xuất phát từ nhu cầu giải trí, giải toả tâm lí con người sau một chu kì lao động sản xuất
Xã hội Mường cổ truyền thống là một xã hội nông nghiệp tự cung tự cấp, chậm phát triển Bản, làng là những đơn vị hành chính hầu như khép kín, không gian sinh tồn là thung lũng ,chân núi, nên mỗi dịp có lễ hội pồn pôông - mọi người dân Mường đều náo nức trông chờ Trong đêm lễ hội tiếng xường, tiếng rang đan xen vào nhau Đây cũng là dịp trao đổi tình cảm của chàng trai cô gái qua lời ca tiếng hát vì lễ hội nào cũng là cơ hội để các chàng trai cô gái tìm đến với nhau Lễ hội pồn pôông cũng là nơi tập họp, sản sinh những lời xường rang, những bài ca nghi lễ, trữ tình của người Mường, và cũng từ đó để những thế hệ khác nhau có dịp ca những bài ca trong đám cưới của con trẻ
Trước đây, vào những ngày đầu xuân đến các vùng Mường xứ Thanh còn gặp một số hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian hấp dẫn như : Phường Bùa, tục Kết Chạ, Hội Chùa…Hàng năm ở một số Mường lớn thường còn có hội chùa như hội chùa Mèo ở Mường Khô ( nay thuộc xã Điền Trung, huyện Bá Thước ) hội chùa Rồng ở Mường Phẩm ( nay thuộc xã Cẩm Thạch, huyện Cẩm Thuỷ ) … Gọi
là chùa nhưng thực chất ở đó chủ yếu là nơi diễn ra các sinh hoạt văn hoá văn nghệ Các hội Chùa thường được tổ chức vào dịp tháng Giêng Trong ngày hội hát
nhiều trò chơi diễn ra cùng một lúc như : ném còn, kéo dây, đối đáp xường…
Qua những nét khái quát sơ bộ trên, bước đầu cho chúng ta thấy người Mường xứ Thanh có một tài sản văn nghệ dân gian phong phú với sự hiển diện
Trang 33của nhiều thể loại Điều hấp dẫn và lí thú là hầu như tất cả mọi cảnh vật thiên nhiên, những tên người, tên địa danh, những gò đồi bến bãi … nơi đây đều còn lưu giữ những chứng tích huyền thoại, gắn với những truyện thơ, sử thi của người Mường Điều này phản ánh rõ diện mạo văn nghệ dân gian của người Mường Xứ Thanh là khá hoàn chỉnh và độc đáo bởi tính hấp dẫn và quy mô đồ sộ của nó
Từ trước đến nay, chúng ta vẫn thường quan niệm rằng văn học dân gian của các tộc người thiểu số có hai thể loại tiêu biểu và đặc sắc là sử thi và truyện thơ Do đó, công tác sưu tầm, nghiên cứu cũng được tập trung nhiều cho hai thể loại này Tuy nhiên đối với người Mường, thì bên cạnh hai thể loại trên dân ca cũng là một thể loại tiêu biểu và độc đáo Trong đời sống của người dân tộc thiểu
số nói chung người Mường nói riêng, thường có quan niệm “ thiếu tiếng đàn tiếng hát như muối thiếu cơm ” Bởi vậy trong đám cưới thì lời ca tiếng hát càng
có vai trò quan trọng Trong một thời gian dài ( kể từ trước Cách mạng Tháng Tám 1945 ) những bài ca trong đám cưới có vị trí khá quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần của người Mường nói chung và người Mường Thanh Hoá nói riêng
Nhìn một cách tổng thể, văn nghệ dân gian của người Mường Thanh Hoá như một mảng màu đậm trong tổng thể bức tranh văn nghệ dân gian Mường Điều nay không làm giảm đi tính thống nhất của văn nghệ dân gian Mường mà ngược lại, nó làm cho nền văn nghệ dân gian Mường thêm phong phú và đa dạng
1.3.3 Vai trò của bài ca đám cưới trong lễ thức cưới hỏi của người Mường 1.3.3.1.Về đặc điểm bài ca đám cưới
Những bài ca đám cưới Mường là tập hợp hệ thống lời ca của đại diện nhà trai và đại diện nhà gái hát lên khi thể hiện các nghi thức giao tiếp giữa hai họ, hoặc ông mo khấn lên trong các nghi thức cúng bái tổ tiên Những bài ca trong đám cưới cũng nằm trong hệ thống dân ca Mường, nhưng khác với các thể loại
Trang 34như : xường, rang, ví, đúm…Bài ca đám cưới nằm trong hệ thống dân ca nghi lễ, bởi vậy nét nổi bật lên ở đây là tính chất tự sự
Trong bài ca đám cưới không phải tất cả các bài đều hát theo một làn điệu
mà tuỳ theo lễ thức mà có những làn điệu khác nhau Ví dụ : Bài ca cúng cáo tổ
tiên, Mo đám cưới…do ông Mo khấn lên khi làm lễ Những bài ca như ; Bài ca trải chiếu, bài ca vắt sống áo trong phòng cô dâu … lại do bà già đại diện nhà gái
hát lên theo một làn điệu riêng Những lời xin mở cổng, lời mời nhà gái lấy nước
rửa chân lại được hát lên theo một làn điệu khác…
Đối với người Mường, bài ca trong đám cưới được xem là phương tiện giao tiếp đặc biệt giữa đôi bên gia đình thông gia cũng như sự giao tiếp giữa con người với thế giới siêu nhiên ( là tổ tiên và thần thánh ) Ngôn ngữ để thực hiện sự giao tiếp này là ngôn ngữ bắt nguồn từ ngôn ngữ đời sống và chủ yếu là lời nói vần Tác giả Phan Đăng Nhật đã đi đến một khái quát “ Từ ngôn ngữ thông thường đến ngôn ngữ thơ ca : lời nói vần Lời nói vần là hình thức trung gian giữa ngôn ngữ thông thường và ngôn ngữ thơ ca, thể thơ hoàn chỉnh ”99;16
Trong cuộc sống hàng ngày của người Mường, ta thường bắt gặp lời nói vần trong nhiều tình huống đa dạng phong phú Chẳng hạn khi có con gái lớn muốn gả chồng, muốn nhờ ông mối, bà mối, người ta thường có câu: “ Cơm léénh ví niềng, tổt xiềng ví mơ ”( Cơm lành vì niếng tốt tiếng vì mơ ); Khi muốn nói về tình yêu quý với con cái họ thường có câu : “ Ngon nhất cơm, hơm nhất con” ( Ngon nhất cơm, thơm nhất con )
Khi sáng tác những bài ca đám cưới, các tác giả dân gian cũng xuất phát từ những nguyên tắc giao tiếp của đưòi sống Tuy nhiên, ngôn ngữ trong bài ca là những lời nói có vần, từ đó tạo nên sự nhịp nhàng uyển chuyển, làm cho người nói dễ trình bày ý tưởng, còn người nghe dễ tiếp nhận, làm cho không khí ngày cưới thêm vui vẻ Bởi vậy những lời ca trong đám cưới mang tính chất thủ tục nghi lễ nhưng không nặng nề, trái lại mang tính nghệ thuật
Trang 351.3.3.2.Vai trò của bài ca đám cưới trong lễ thức cưới hỏi của người Mường
Tục lệ cưới xin của người Mường ở Thanh Hoá bao gồm nhiều giai đoạn, mỗi vùng có một lệ tục riêng, và cũng tuỳ thuộc hoàn cảnh kinh tế gia đình mà lễ cưới hỏi diễn ra lớn nhỏ khác nhau Nhìn chung để dựng vợ gả chồng cho con, hai bên gia đình thường phải qua các thủ tục sau : dò ý, đi dạm, lễ ăn hỏi, lễ ra mặt rể và cưới
Trong các bước dò ý, đi dạm và lễ ăn hỏi chưa xuất hiện những bài ca mang tính lễ thức Phải đến lễ ra mặt rể và lễ cưới là hai lễ quan trọng nhất thì bài ca đám cưới mới thực hiện các chức năng giao tiếp mang tính nghi lễ
Lời xin mở cổng : Trong ngày ra mặt rể, khi ông mối dẫn đầu đoàn nhà trai
đến cổng nhà gái Cổng bè nhà gái liền bị đóng sập xuống và từ hai bên bờ rào quả xanh được ném ra tới tấp vào chú rể và đoàn người Một ông già ( ông mối hoặc chú, bác ) nhà trai đứng ra nói lời “xin mở cổng” Nhà gái thôi ném, nhà trai đặt khiêng cơm mở cổng xuống cạnh đường Khi ấy, cổng bè nhà gái mới mở lên đoàn người nhà trai đi vào sân Tục ném rể này và khiêng cơm mở cổng gần giống như tiền cheo của người Việt Ý nghĩa của việc ném rể có thể nhiều nhưng chủ yếu là nhận mặt chú rể một cách ấn tượng
Bài ca cúng cáo tổ tiên ngày ra mặt rể : Trong lễ ra mắt rể, sau khi đến nhà
gái làm các thủ tục xã giao xong, chú rể được mời lên ngồi cạnh ông mối Lúc này ông mối giới thiệu tên tuổi chú rể cho mọi người cùng rõ hơn Sau đó đại diện nhà gái ( ông cậu, ông chú hoặc ông bác ) đứng dậy làm lễ cúng trình tổ tiên Nội dung bài cúng trình này nhằm cho tổ tiên biết từ nay trong nhà đã có con rể, con rể đã trở thành con cháu trong họ, con gái mình đã có chồng và đã là con nhà người khác
Giao của hồi môn : Trước khi đoàn đưa dâu lên đường, đại diện nhà gái
đứng ra trao lễ vật và của hồi môn cho gia đình nhà trai Để công việc này diễn ra
Trang 36một cách trang trọng, người đại diện nhà gái ca bài ca “giao của hồi môn” Đại diện nhà trai cũng thể hiện sự kính trọng bằng việc ca lời ca cảm ơn để đáp lại
Nhà trai mời nhà gái lấy nước rửa chân : Khi đoàn đưa dâu đã đến nhà trai,
mẹ chồng ra đón dâu và cầm tay cô gái đưa đến chỗ rửa chân Một bà già đại diện cho gia đình nhà trai cầm gáo nước và ca bài ca mời nhà gái lấy nước rửa chân Sau đó bà già tiếp tục dắt cô dâu đến chân cầu thang lên nhà sàn và tiếp tục ca bài
ca mời lên thang để chúc phúc cho đôi vợ chồng trẻ
Bài ca trải chiếu : Sau khi bước lên nhà sàn cô dâu được đưa vào lạy vua
bếp bốn lạy sau đó được đưa thẳng vào buồng cô dâu Ở đây đôi chiếu nhà gái mang đến được mở ra Một bà lão khá giả có đủ con trai con gái, phúc hậu được nhà gái nhờ từ trước đứng ra để ca bài ca trải chiếu và trải chiếu lên giường cô dâu Để đáp lại, một bà già nhà trai đứng ra ca bài ca cảm ơn
Bài ca vắt sống áo lên sào trong phòng cô dâu : Lúc này rương đồ dùng
của cô gái được mở ra Bà già nhà gái trịnh trọng chọn những váy áo đẹp nhất vắt lên chiếc sào bằng cây song trong phòng cô dâu đồng thời ca bài ca này Sau đó thì đại diện nhà trai cũng ca lời cảm ơn
Lời khấn trong phòng cô dâu : Lễ cúng này được thực hiện trong phòng cô
dâu mới nhằm trả ơn tổ tiên đã đi theo và khai quang phòng để đôi vợ chồng trẻ được sống mát mẻ yên ổn không bị quấy quả Sau khi làm lễ xong thì mâm cơm cúng được dùng làm bữa ăn tượng trưng của đôi vợ chồng, cùng tham dự có phù dâu và phù rể
Mo đám cưới : Sau khi lễ lạy trình tổ tiên và các bậc cao niên của cô dâu và
chú rể được thực hiện xong, thì trong các đám cưới to còn có hát mo mừng đám cưới Đây là bài ca dài nên nhiều nhà phải sửa soạn bữa ăn tạm cho mọi người
Mo đám cưới chủ yếu kể về các sự tích : sự tích trời đất, sự tích bản mường, sự tích con người… Người ta còn kể cả câu chuyện tình yêu của đôi bạn trẻ dẫn đến cuộc hôn nhân hôm nay
Trang 37Xường đám cưới : Đêm xuống khi tất cả các nghi lễ của đám cưới đã xong,
mọi người uống rượu cần vui vẻ và nghe xường đám cưới Bài xường này được
ca lên cho vui cửa vui nhà đồng thời nội dung của nó nhằm khuyên bảo dặn dò con dâu mới trong cách cư xử đối với cha mẹ gia đình chồng
Lời chào về của nhà gái và bài ca cảm ơn tặng trầu lúc chia tay :Đây là
những bài ca được diễn ra khi toàn bộ lễ cưới đã thực hiện xong Sau một đêm cùng uống rượu cần và nghe hát, hai họ chia tay nhau để trở về với công việc thường ngày Sau khi nhà trai đã làm cỗ bàn để tiễn nhà gái, họ chia tay lưu luyến Đại diện gia đình nhà gái nói lời chào về và để ghi nhớ ngày cưới của đôi trẻ được diễn ra tốt đẹp, nhà gái con tặng trầu nhà trai và hát bài ca tặng trầu …
Như vậy qua hệ thống bài ca thể hiện trong đám cưới, chúng ta phần nào thấy được một số nét trong văn hoá ứng xử của người Mường Đó là sự kính trọng nể nang lẫn nhau giữa hai gia đình cô dâu và chú rể Mặc dù hệ thống bài ca mang tính chất nghi lễ nhưng không hoàn toàn cứng nhắc mà vẫn có sự uyển
chuyển trữ tình qua cách thể hiện bài hát
Từ việc phân tích đánh giá vai trò của những bài ca đám cưới Mường ở Thanh Hoá, chúng ta có thể nhận thấy hệ thống bài ca này có vị trí quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần của họ Nó vừa là phương tiện để đôi bên gia đình thêm hiểu nhau, tình cảm đôi bên gia đình thêm gắn bó đồng thời đây cũng
là một phong tục tập quán đẹp của người Mường, vừa có chức năng thẩm mĩ vừa
có chức năng giáo dục góp phần hoàn thiện nhân cách con người
Trang 38CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG BÀI CA ĐÁM CƯỚI
XÉT VỀ PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC
2.1 DẪN NHẬP
Do quan hệ cội nguồn nên ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ văn chương nói riêng của người Mường và người Việt có những nét thống nhất với nhau Tuy nhiên văn chương bao giờ cũng là sản phẩm của đời sống tâm hồn, tình cảm, tập quán sinh hoạt của con người, mang những đặc trưng phong cách riêng của mỗi dân tộc Bởi vậy bên cạnh những nét chung, văn học dân gian Mường còn có những nét riêng khá độc đáo Bài ca đám cưới Mường được sáng tác theo thể tự do Phần lời có kết cấu đa dạng không cố định về số lượng
âm tiết trong một dòng, số lượng dòng trong một bài cũng thay đổi không theo một khuôn mẫu nhất định
2.2 ĐẶC ĐIỂM VỀ VẦN
Vần, theo tác giả Mai Ngọc Chừ là: “sự hoà âm, sự cộng hưởng nhau theo quy luật ngữ âm nhất định giữa hai từ hoặc hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ thực hiện những chức năng nhất định như liên kết dòng thơ, gợi tả nhấn mạnh sự ngừng nhịp” [ 40 ; 12]
Trang 39Dựa vào các tiêu chí gieo vần khác nhau, người ta chia ra các loại vần khác nhau :
Phân loại theo thanh điệu : có vần bằng và vần trắc
Dựa vào mức độ hoà âm : có vần chính, vần thông, vần ép
Dựa vào các thành tố kết thúc âm tiết có : vần mở, vần nửa mở, vần khép, vần nửa khép
Qua khảo sát vần trong bài ca đám cưới Mường Thanh Hoá chúng tôi nhận thấy cách gieo vần và sử dụng vần của các tác giả dân gian Mường như sau : Vần có thể xuất hiện ở nhiều dòng thơ liên tiếp nhưng cũng có khi bỏ cách quãng một số dòng không có vần :
Câu rí tôi vé đà rối Tôi kể xa con đếu rằng khảc
Tôi kể mốt chuyến rơn cần rơn hài Cho đôi sôn ní nhờ lế
Chiến bở đới ní đi qua đới khảc
Kể chiến xông đần xông đền
Trong nhá đền món nhơ rứng sâu cải Lải món như rứng sâu chênh
Đừng đần dấn rênh, mấn rênh ăn giấu cò Đìn khường nhếu tru nhếu bó
Trênh nhá giấu cơm kho ló siềng Giấu viềng giấu hông
Nhếu đố đống xenh chìn vạc mưới Của sươi ngưới sổch
[70;230 ]
Dịch :
Chuyện ấy tôi nói đã rồi
Trang 40Bây giờ tôi kể sang chuyện khác Tôi muốn kể con đường cấy hái
Để truyền lại đôi con nhớ lấy Truyền từ đời này cho tới mai sau Chuyện nhiều con giàu của
Trong nhà đông người như rừng rau cải Người nảy nở như bãi rau dền
Làm nên giàu nên có Dưới sân nhiều trâu nhiều bò Trên nhà nhiều xôi lắm lúa Nhiều niếng nhiều hông Nhiều đồ đồng xanh chín vạc mười Của tươi người tốt
Trong đoạn thơ trên hai câu đầu bắt vần với nhau, năm câu sau không có vần, bảy câu cuối lại có vần Như vậy có thể có lúc có vần nhưng cũng có lúc không có vần
Qua khảo sát vần trong bài ca đám cưới, có thể thấy được một số vần sau :
2.2.1 Vần chân và vần lưng
Vần chân : Là những vần đứng ở vị trí cuối dòng thơ Tuy nhiên vần chân
trong bài ca đám cưới không hoàn toàn giống vần chân ở các thể loại thơ khác Vần chân trong thơ Đường luật và thơ tự do thường có những dạng : vần liền, vần cách, vần ôm xét theo các âm tiết hiệp vần của các dòng thơ trong một khổ thơ