Do vậy có thể lấy Th-ơng nhớ m-ời hai làm đối t-ợng so sánh với các tác phẩm trên để thấy đ-ợc sự phong phú trong việc biểu hiện cảnh sắc và h-ơng vị đất n-ớc của văn học Việt Nam hiện
Trang 1tr-ờng đại học vinh
khoa ngữ văn
====o0o ====
nguyễn thị thu huyền
đặc điểm ngôn ngữ trong thể ký Th-ơng
nhớ m-ời hai của Vũ bằng
tóm tắt khoá luận tốt nghiệp đại học
vinh 5 2008
Trang 2Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Vũ Bằng (1913 - 1984) là nhà văn rất nặng lòng với nghiệp văn ch-ơng Ông hoạt động trên khá nhiều lĩnh vực: báo chí, sáng tác văn ch-ơng, viết chân dung nhà văn, viết tiểu luận phê bình… ở lĩnh vực nào, ông cũng đạt
đ-ợc những thành công nhất định Riêng trong lĩnh vực văn ch-ơng, ông để lại
một khối l-ợng tác phẩm khá lớn, trong đó có nhiều tác phẩm có giá trị nh- :
Th-ơng nhớ m-ời hai, Miếng ngon Hà Nội, Bốn m-ơi năm nói láo, Miếng lạ miền Nam… Ông luôn có ý thức tìm tòi, sáng tạo để làm mới cho văn ch-ơng, kiến tạo những nét độc đáo riêng, không lặp lại ngay cả trong một tác phẩm D-ờng nh- văn ch-ơng của ông luôn vận động, chuyển mình không ngừng Có thể nói, Vũ Bằng là nhà văn góp phần thúc đẩy sự đa dạng của văn xuôi Việt Nam Tuy nhiên, cuộc đời của ông lắm thăng trầm, bí ẩn, nên vị trí và những
đóng góp của Vũ Bằng chỉ mới đ-ợc khẳng định lại vào tháng 3 năm 2000, khi
Bộ Quốc phòng xác nhận sự thật về nhà văn Đó cũng là lý do khiến cho tác phẩm Vũ Bằng ch-a đến nhiều với độc giả
1.2 Th-ơng nhớ m-ời hai đ-ợc Vũ Bằng sáng tác trong 12 năm (1960 -
1971), một quãng thời gian khá dài Khẳng định về giá trị của tác phẩm này, Văn Giá cho rằng : “Ngay cả ng-ời đọc khó tính nhất cũng phải thừa nhận
Th-ơng nhớ m-ời hai là một tác phẩm thật sự đặc sắc trong nền văn học Việt
Nam hiện đại [9, tr 59] Quả thật, Th-ơng nhớ m-ời hai là một tác phẩm đã để lại ấn t-ợng khá sâu sắc ngay từ lần đầu tiếp xúc với đoạn trích Tháng ba - rét
nàng Bân trong ch-ơng trình chuyên ban Khoa học xã hội ấn t-ợng đó càng
đ-ợc khẳng định khi chúng tôi đ-ợc tiếp xúc trọn vẹn tác phẩm
Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ trong Th-ơng nhớ m-ời hai, chúng tôi mong
Trang 3nhận biết một vài nét đặc thù của ngôn ngữ của một thể loại văn học khá mới mẻ: thể loại hồi ký trữ tình
Th-ơng nhớ m-ời hai là tác phẩm thiên về tính tự biểu hiện Đặt trong bối
cảnh cảnh văn hoá, Th-ơng nhớ m-ời hai có mối quan hệ gần gũi với nhiều tác
phẩm của các nhà văn tên tuổi nh- Thạch Lam, Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Băng
Sơn… Do vậy có thể lấy Th-ơng nhớ m-ời hai làm đối t-ợng so sánh với các tác
phẩm trên để thấy đ-ợc sự phong phú trong việc biểu hiện cảnh sắc và h-ơng vị
đất n-ớc của văn học Việt Nam hiện đại Từ đó, để thấy rõ hơn sự chi phối, ảnh h-ởng lớn của bản sắc văn hóa dân tộc tới sáng tác văn học Đó cũng là một trong những lý do chúng tôi chọn tìm hiểu tác phẩm này
Đặc điểm ngôn ngữ trong Th-ơng nhớ m-ời hai của Vũ Bằng là đề tài có
ý nghĩa thiết thực Nhìn từ góc độ ngôn ngữ, chúng tôi cố gắng hiểu sâu hơn những tâm t-, hoài niệm tác giả Khảo sát sâu hơn khía cạnh ngôn ngữ của tác phẩm ở, góp một phần
2 Lịch sử vấn đề
Sáng tác đầu tiên của Vũ Bằng là truyện ngắn Con ngựa già đăng trên
mũc “Bủt mỡi” của báo Đông Tây năm 1930 Từ đó cho đến cuối đời, Vũ Bằng cho ra mắt bạn đọc một khối l-ợng tác phẩm đồ sộ Nh-ng đến nay, theo Văn Giá, số l-ợng tác phẩm tìm đ-ợc của ông mới đ-ợc hơn một nửa Do vậy, việc nghiên cứu Vũ Bằng ch-a t-ơng xứng với giá trị tác phẩm của ông để lại Theo thống kê của Văn Giá, tính đến năm 2000 mới có 26 bài viết về Vũ Bằng và tác phẩm của ông
Ng-ời đầu tiên viết về Vũ Bằng là Vũ Ngọc Phan trong nhà văn hiện đại
Vũ Ngọc Phan xếp Vũ Bằng vào hàng các tiểu thuyết gia tại ch-ơng tiểu thuyết tả chân Từ đó đến năm 1969 mới có thêm một bài giới thiệu về Vũ Bằng của
Th-ợng Sỹ Đó là lời nói đầu cho cuốn 40 năm nói láo Năm 1970 Tạ Tỵ cho ra mắt cuốn M-ời khuôn mặt văn nghệ, trong đó, tác giả gọi Vũ Bằng là Ng-ời trở
Trang 4về từ cõi đam mê Vũ Bằng đ-ợc đánh giá là một trong m-ời khuôn mặt nổi bật
lúc bấy giờ
Từ đó đến tr-ớc năm 2000, ch-a có một bài nào nghiên cứu về con ng-ời
và tác phẩm Vũ Bằng một cách hệ thống Năm 1999 có nhiều bài viết đăng trên các báo nh- Văn nghệ, Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh…Song các bài viết này cũng chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một số vấn đề trong tác phẩm của ông Chỉ
đến công trình Vũ Bằng – Bên trời th-ơng nhớ của Văn Giá, chúng ta mới có
đ-ợc cái nhìn t-ơng đối hệ thống và toàn diện về Vũ Bằng Trong công trình
này, ngoài bài viết Thân phận và danh tiết giới thiệu khá kỹ về cuộc đời, tác
phẩm của Vũ Bằng, Văn Giá còn trích những bài viết có giá trị về Vũ Bằng và
Th-ơng nhớ m-ời hai Sau đó là in các truyện ngắn của Vũ Bằng tr-ớc và sau
cách mạng Số ít trong cuốn dành giới thiệu th- mục tác phẩm, th- mục nghiên cứu Vũ Bằng Song như Văn Gi² đ± nõi, đõ mỡi chì l¯ nẽt “ph²c th°o bưỡc đầu”
về Vũ Bằng Trong một t-ơng lai gần, chắc chắn sẽ có những công trình nghiên cứu toàn diện, đầy đủ và chi tiết hơn
Về Th-ơng nhớ m-ời hai, đã có một số bài viết đăng trên các báo, tạp chí nh- : Vũ Bằng - Th-ơng nhớ m-ời hai (Tô Hoài, Tạp chí văn học số 1/1991),
Tháng ba - đi tìm thời gian đã mất (Đặng Anh Đào, Tiếng nói tri âm, tập hai –
Nxb Trẻ TPHCM, 1996), Khúc nhạc hồn non n-ớc (Văn Giá - Vũ Bằng bên trời
th-ơng nhớ, Nxb Văn hoá Thông tin, 2000), Th-ơng nhớ m-ời hai và một cảnh quan văn hoá độc đáo (V-ơng Trí Nhàn, Cánh b-ớm và hoa h-ớng d-ơng)…
Năm 1989, khi cuốn Th-ơng nhớ m-ời hai đ-ợc tái bản, ra mắt bạn đọc
thì tên tuổi Vũ Bằng đ-ợc gắn liền với tác phẩm, và gắn liền với những lời ngợi khen nồng nhiệt
Giáo s- Hoàng Nh- Mai - ng-ời viết lời giới thiệu Th-ơng nhớ m-ời hai
có lẽ là ng-ời đầu tiên đã lên tiếng khẳng định ngợi ca sức hấp dẫn của tác phẩm Bằng năng lực cảm nhận văn ch-ơng tinh tế, ông đã chỉ ra hai yếu tố cơ b°n nhất t³o nên sửc cuỗn hủt cùa t²c phẩm l¯ “tấm lòng” v¯ “ngòi bủt t¯i hoa”
Trang 5sách vẫn bày tỏ rất rõ tâm sự của một ng-ời con miền Bắc nhớ da diết quê h-ơng bên kia giới tuyến Chính tấm lòng ấy cùng với ngòi bút tài hoa của Vũ Bằng làm nên giá trị văn ch-ơng của tác phẩm này Nó hấp dẫn chúng ta từng dòng túng trang” Ông nhấn m³nh cuỗn s²ch còn cõ ỷ nghĩa “như mốt nhịp cầu giao lưu văn ho²” vệ nõ đ± giỡi thiếu “nhừng s°n vật túng th²ng ờ miẹn Bắc nưỡc ta” gõp phần “làm cho bạn bè năm châu hiểu biết thêm một khía cạnh đặc sắc của nưỡc mệnh” v¯ “l¯m cho chủng ta cõ ỷ thửc trân tróng hơn đỗi vỡi nhừng gi² trị cùa quê hương” [8, tr.6] B´ng nhừng lội lẻ kh² thận tróng v¯ kín đ²o ông đ± nêu
đ-ợc nét đẹp của áng văn ch-ơng và sức hấp dẫn nó là nỗi nhớ quê h-ơng da diết
Năm 1994, đoạn trích Tháng ba rét nàng Bân của tác phẩm đã đ-ợc đ-a
vào ch-ơng trình lớp 12 Ban khoa học xã hội, phần đọc thêm Tạp chí Kiến thức ngày nay đã mở cuộc thi bình văn trong đó đề thi chính là đoạn trích này Điều
đó có nghĩa là Th-ơng nhớ m-ời hai đã đ-ợc thừa nhận và có một vị trí xứng
đáng trong nền văn học Việt Nam hiện đại Cũng từ đó xuất hiện rất nhiều ý kiến bình và đánh giá về tác phẩm
Đọc đoạn văn Tháng ba rét nàng Bân, Nguyễn Thị Thanh Xuân đã khám
ph² ra vÍ đép trừ tệnh “một nhân tình hào hoa, lịch lãm, biết sống đẹp và cảm ng-ời yêu của mình đến từng chân tơ kẽ tóc” T²c gi° cũng chú ý đến nguồn m³ch t³o nên c²i đép cùa t²c phẩm: “Cái đẹp nh- đã thấy qua tháng ba rét nàng Bân vốn có từ cuộc sống nh-ng cũng là phát hiện riêng của tâm hồn nhà văn”,
chính c²i “kỳ diệu” ấy đ± “làm nên tác phẩm văn ch-ơng để đời– [24] Đặng
Anh Đào lại ca ngợi hết lời về cảnh sắc thiên nhiên trong đoạn văn, coi đó là cuỗn “phim ảnh màu tuyệt đẹp” vẹ “những biến động tinh tế của cỏ cây non
nưỡc” Nhìn chung, có rất nhiều lời nhận xét về đoạn trích Và các tác giả chỉ
dừng lại phân tích cái đẹp của thiên nhiên ở một ch-ơng mà ch-a bao quát hết toàn bộ tác phẩm
Ng-ời dành nhiều tâm huyết nhất khi đi hiểu về Vũ Bằng là Văn Giá Về
tác phẩm Th-ơng nhớ m-ời hai, Văn Giá khẳng định Vũ Bằng là một nhà văn tài
Trang 6năng và xuất sắc trên nhiẹu phương diến: “Ngòi bút của ông tựa nh- một con dao pha sắc nưỡc vúa th³o nghẹ vúa cần mẫn” [22, tr.22] Vð B´ng đ± “tr°i gấm hoa” lên nhừng trang văn V¯ “trang văn d¯nh đề nhỡ vẹ lo¯i hoa sầu đâu xứ Bắc ph°i nõi l¯ tuyết bủt” [22, tr.127] Văn Gi² l³i khàng định: “Vỡi nhừng t²c phẩm hồi kí trữ tình này, ông đã có một vị trí chắc chắn trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Lịch sử thể loại hồi kí nằm trong lịch sử văn học Việt Nam phải nhắc
đễn ông như mốt sữ đõng gõp quan tróng không thề thiễu đước” [22, tr.85] Nhìn lại những ý kiến trên, chúng tôi nhận thấy những công trình, bài báo nghiên cứu về Vũ Bằng và sáng tác của ông nhìn chung là ch-a t-ơng xứng với
sự nghiệp văn học ông để lại Song các tác giả đều thống nhất trong việc đánh giá Vũ Bằng là nhà văn lớn có nhiều cống hiến cho nền văn học n-ớc nhà
Th-ơng nhớ m-ời hai là tác phẩm xuất sắc nhất của Vũ Bằng, là một trong
những tuỳ bút đặc sắc nhất của văn học Việt Nam Nói nh- nhà văn Nguyễn Minh Châu thì bây giờ sách văn học rất nhiều nh-ng tìm những quyển nh-
Th-ơng nhớ m-ời hai “khó lắm” bời “sách hay đâu mà sẵn thế” Th-ơng nhớ m-ời hai là cuốn sách có vẻ đẹp đặc biệt và có sức hấp dẫn với bạn đọc Đặc biệt
ngôn ngữ của tác phẩm man mác chất thơ, nhẹ nhàng mà lắng đọng, ru lòng ng-ời trở về với kí ức m-ời hai tháng thấm đẫm tinh hoa, linh hồn dân tộc
Chính vì vậy Th-ơng nhớ m-ời hai không chỉ đẹp bởi những cảnh sắc thiên
nhiên của xứ Bắc đ-ợc miêu tả trong tác phẩm mà nổi bật trên đó chính là vẻ
đẹp của ngôn ngữ
Trong luận văn này chúng tôi chỉ xin nêu một số nét đặc sắc, độc đáo của ngôn ngữ tác phẩm - cái đẹp làm ph-ơng tiện biểu hiện của mọi cái đẹp Cũng từ
đó có thể hiểu rõ hơn giá trị tác phẩm và vị trí của nhà văn
2.2 Đặc điểm ngôn ngữ trần thuật trong Th-ơng nhớ m-ời hai
Là một tác phẩm kí với đặc tr-ng thể loại là phản ánh chân xác hiện
thực cuộc sống nh-ng Th-ơng nhớ m-ời hai lại đ-ợc viết bằng tình yêu và
nỗi nhớ, bằng cảm hứng lãng mạn, bằng cảm xúc thơ Và tất yếu lời văn
Trang 7không phải là nét riêng biệt của Th-ơng nhớ m-ời hai mà đó là đặc điểm
chung của thể loại tuỳ bút Cái đặc sắc của Vũ Bằng là ông đã tạo chất thơ cho tác phẩm bằng những câu văn, những hình ảnh mang vẻ đẹp riêng độc
đáo Tr-ớc hết, chúng tôi nhận thấy câu văn trong Th-ơng nhớ m-ời hai
phần lớn là câu dài, nhiều thành phần mở rộng, nhịp nhàng cân đối Nhiều câu có cách diễn đạt, cách dùng hình ảnh rất giống với cấu tứ của ca dao
Ví dụ: “Ai bảo đ-ợc non đừng th-ơng n-ớc, b-ớm đừng th-ơng hoa, trăng
đừng th-ơng gió, ai cấm đ-ợc trai th-ơng gái, ai cấm đ-ợc mẹ yêu con, ai cấm đ-ợc cô gái còn son nhớ chồng thì mới hết đ-ợc ng-ời mê luyến mùa xuân“ [13, tr.16] Tác giả còn sử dụng những câu cảm thán, câu hỏi tu từ, trực tiếp bộc lộ cảm xúc : “Đẹp quá đi mùa xuân ơi“ […] Ngôn ngữ
Th-ơng nhớ m-ời hai không chỉ ở bó hẹp trong việc thể hiện các tr-ờng cảm xúc, cảm giác mà còn giàu hình ảnh ở tr-ờng ẩm thực Vũ Bằng đã so sánh việc phối hợp gia vị trong các món ăn thật độc đáo “món r-ơi mà thiếu vỏ quýt“ thì sẽ như “non thiếu nước, trăng thiếu hoa, gái thiếu trai“ Cách dùng từ ngữ, cách tạo lập câu văn, miêu tả hình ảnh đặc sắc ấy đã mang đến cho ngôn ngữ của tác phẩm một vẻ đẹp tự nhiên, dung dị, với chất trữ tình đằm thắm
Với những đặc điểm trên, Vũ Bằng thực sự đã tạo cho mình một phong cách nghệ thuật độc đáo và đặc sắc trong thể loại kí Có thể thấy Vũ Bằng
là cây bút tài hoa
3 Nhiệm vụ của luận văn
Đề tài đ-ợc giải quyết d-ới góc độ ngôn ngữ Trên cơ sở điểm lại những
đặc tr-ng của ngôn ngữ nghệ thuật, luận văn đi vào khảo sát nghiên cứu văn bản tác phẩm, kết hợp các yếu tố nh- thân thế và hoàn cảnh cá nhân những yếu tố có thể tác động tới ngòi bút, qua đó có cái nhìn bao quát về cách thức sử dụng ngôn
ngữ trong Th-ơng nhớ m-ời hai Tìm hiểu về ngôn ngữ, luận văn không đi sâu
vào lý giải các đặc tr-ng ngôn ngữ mà chỉ nêu ra một số lý thuyết ngôn ngữ căn
Trang 8bản liên quan trực tiếp đến đề tài Đặc biệt, chúng tôi sẽ đi vào thể loại ký ở ph-ơng diện khái niệm và đặc điểm ngôn ngữ thể kí sau khi đã tham khảo một
số ý kiến của các nhà nghiên cứu đi tr-ớc Những quan niệm đó sẽ làm cơ sở
cho quá trình nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ trong tác phẩm Th-ơng nhớ
m-ời hai
Tiếp cận tác phẩm Th-ơng nhớ M-ời hai chúng tôi đi sâu vào khai thác
đặc điểm từ ngữ, câu văn và các phép tu từ trong tác phẩm
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm những ch-ơng sau:
Ch-ơng 1: Giới thuyết những vấn đề lên quan đến đề tài
Ch-ơng 2: Từ ngữ trong Th-ơng nhớ m-ời hai
Ch-ơng 3: Câu văn và các phép tu từ trong Th-ơng nhớ m-ời hai
Sau cùng là Tài liệu tham khảo
Trang 9Ch-ơng 1
một số vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài
1.1 Đặc tr-ng ngôn ngữ nghệ thuật và vấn đề phong cách ngôn ngữ tác giả
1.1.1 Đặc tr-ng của ngôn ngữ nghệ thuật
Mỗi một bộ môn nghệ thuật đều có chất liệu riêng Đối với văn học, ngôn
từ đ-ợc xem là chất liệu xây dựng nên hình t-ợng nghệ thuật, cho nên văn học
đ-ợc xem là nghệ thuật ngôn từ Chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ trong các
văn bản nghệ thuật đ-ợc thể hiện ở chỗ tín hiệu ngôn ngữ trở thành yếu tố tạo
nên hình t-ợng Muốn thực hiện chức năng thẩm mỹ, ngôn ngữ nghệ thuật phải
có những đặc tr-ng chung: Tính cấu trúc, tính hình t-ợng, tính cá thể hoá, tính
cụ thể hoá
1.1.1.1 Tính cấu trúc
Mỗi văn bản nghệ thuật tự thân nó là một cấu trúc Các thành tố nh- nội
dung t- t-ởng, tình cảm, hình t-ợng và các thành tố hình thức diễn đạt không
những phụ thuộc lẫn nhau mà còn phụ thuộc vào hệ thống nói chung Sự lựa
chọn, cấu tạo và tổ hợp những thành tố này bị quy định bởi chức năng thẩm mỹ
của các tác phẩm Tính cấu trúc của tác phẩm là tính chất mà theo đó, các yếu tố
trong một tác phẩm phải gắn bó qua lại với nhau, giải thích cho nhau và hỗ trợ
cho nhau để đạt tới hiệu quả diễn đạt Tất cả các yếu tố đó nằm trong một hệ
thống, làm cho văn bản có kết cấu chặt chẽ, lô gíc từ đó tác động đến ng-ời tiếp
xúc văn bản một cách mạnh mẽ Chỉ cần bỏ đi một từ hay thay bằng một từ khác
là đủ làm hỏng cả một câu thơ, phá tan nhạc điệu của nó, từ đó làm cho câu văn
câu thơ lủng củng, khó hiểu và có sự mâu thuẫn với toàn văn bản
Trang 10Tính cấu trúc của ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật là một phạm trù liên kết tất cả các ph-ơng tiện ngôn ngữ hết sức đa dạng trong tác phẩm thành một chỉnh thể nghệ thuật Cái phạm trù đó, theo viện sĩ V.V.Vinogơrađốp là
ph³m trợ “hình t-ợng tác giả” Phạm trù hình t-ợng tác giả có thể hiểu là ng-ời
sáng tạo ra thế giới nghệ thuật của tác phẩm, và là ng-ời đại diện bởi ý định thẩm mỹ, bởi chủ đề t- t-ởng tác phẩm
1.1.1.2 Tính hình t-ợng
Trong ngôn ngữ học, đặc biệt là trong phong cách học, tính hình t-ợng theo nghĩa rộng nhất có thể xác định là thuộc tính của lời nói truyền đạt không chỉ thông tin lôgíc mà còn cả thông tin đ-ợc tri giác một cách cảm tính nhờ hệ thống những hình t-ợng ngôn từ Còn bản thân hình t-ợng ngôn từ đầu tiên có thể đ-ợc xác định nh- là mảnh đạn của lời nói, mang thông tin hình t-ợng không t-ơng đ-ơng với ý nghĩa của những yếu tố đ-ợc lấy tách riêng ra của mảnh đoạn đó cộng lại Một từ trong tác phẩm nghệ thuật không thể đ-ợc coi ngang bằng nh- từ của ngôn ngữ thực hành, vì trong văn bản nghệ thuật, từ có hai bình diện có mối t-ơng quan đồng thời cả với những từ của ngôn ngữ văn hoá nói chung, và những yếu tố của văn bản nghệ thuật nói riêng
1.1.1.3 Tính cá thể hoá
Tính cá thể hoá của ngôn ngữ nghệ thuật ngôn từ đ-ợc hiểu là phong cách tác giả trong ngôn ngữ nghệ thuật Dấu ấn phong cách tác giả thuộc về đặc điểm bản chất, thuộc về điều kiện bắt buộc của ngôn ngữ nghệ thuật Nó không đ-ợc
đặt ra với ngôn ngữ phi nghệ thuật
Dấu ấn phong cách tác giả chỉ có thể có trong tác phẩm nghệ thuật với t- cách là một thể thống nhất của cấu trúc tu từ học, một hệ thống tu từ học hoàn chỉnh đ-ợc liên kết lại bởi hình t-ợng tác giả, bởi ý định thẩm mỹ, bởi chủ đề t- t-ởng tác phẩm
Tính cá thể hoá của tác phẩm đ-ợc thể hiện ngay ở ngôn ngữ tác giả Đó
là sự vận dụng sở tr-ờng, thị hiếu, tập quán, tâm lý, xã hội, cá tính mà hình
Trang 11mình Đối với nhà văn, mỗi ng-ời có giọng điệu riêng nhằm khẳng định phong cách SêKhốp đã nhận định: “Nếu tác giả nào không có cái riêng của mình thì
ng-ời đó sẽ không bao giờ là nhà văn cả”
Tóm lại, tính cá thể là cái độc đáo, đặc sắc, không lặp lại, cái riêng của tất cả các yếu tố trong sáng tác, lối nghĩ, lối cảm, lối thể hiện, những đặc điểm trong cách sử dụng từ ngữ, ngữ pháp, kết cấu đoạn mạch trong biện pháp tu từ Ngôn ngữ riêng của một nhà văn, bút pháp riêng của một nhà văn không phải là
sự kiện rời rạc bao gồm một số l-ợng đổi mới ở các cấp độ Nó là một sự đi chếch cùa mốt c²i to¯n thề cõ hế thỗng so vỡi “c²i to¯n thề cùa ngôn ngừ chung”
1.1.1.4 Tính cụ thể hoá
Ngôn ngữ nghệ thuật có một thuộc tính chung nhất là sự cụ thể hoá hình t-ợng nghệ thuật Sự cụ thể hoá hình t-ợng nghệ thuật là từ bình diện khái niệm của ngôn ngữ sang bình diện hình t-ợng Sự cụ thể hoá này có tính chất tổng hợp, nó đ-ợc diễn đạt trong hệ thống hoàn chỉnh của ph-ơng tiện ngôn ngữ thuộc các cấp độ khác nhau, vốn góp phần vào việc tác động đến trí t-ởng t-ợng của ng-ời đọc, kích thích ng-ời đọc, làm hiện ra tr-ớc mắt ng-ời đọc bức tranh phong phú, sinh động, các biến cố hiện lên trong từng giai đoạn từng vận động, từng trạng thái, trong sự biến đổi liên tục
Tính cụ thể hoá trong nghệ thuật là thuộc tính rộng lớn nhất cuả lời nói nghệ thuật Nó giải thích bản chất sự tác động của từ ngữ nghệ thuật đến ng-ời đọc Chức năng của tính cụ thể hoá là giải thích đặc tr-ng của lời nói nghệ thuật nh-
là đặc tr-ng của hoạt động sáng tạo, nhằm giải thích những bí mật của quy luật sáng tạo nghệ thuật Sự cụ thể hoá trong nghệ thuật đ-ợc thực hiện nhờ cách lựa chọn và tổ chức các ph-ơng tiện ngôn ngữ sang bình diện hình t-ợng của tác phẩm có thể ở tất cả các cấp độ ngôn ngữ
Ngôn ngữ trong văn học phải có tính cô đọng, hàm súc, nói ít gợi nhiều, bản thân tính chính xác nó quy định tính cô đọng hàm súc Nhà văn khi sử dụng
Trang 12văn hóc ph°i “lời chặt, ý rộng ” l¯ “ lời đã hết, ý không cùng ” đề l³i nhiều ấn
1.1.2 Phong cách ngôn ngữ tác giả
Sáng tác văn học nghệ thuật thuộc lĩnh vực sản xuất tinh thần, theo ph-ơng
thửc “cá thể ”, không phải sản xuất theo dây chuyền, có quy trình công nghệ
nh- sản xuất công nghiệp Hơn bất kỳ hình thức lao động nào khác, nó đòi hỏi cá tính sáng tạo của ng-ời nghệ sĩ Chính vì vậy mà nhà thơ Tố Hữu đã nói :
“Mổi ngưội cõ c²ch l¯m cùa mệnh, cách sáng tạo của mình, không bắt ch-ớc ai
đước”[10, tr 209] Qu° vậy, trong s²ng t²c văn hóc mỗi nhà văn là một cá thể riêng Nhiều khi chỉ cần đọc một tập thơ, hay một truyện ngắn, ng-ời đọc cũng
có thể nhận diện đ-ợc “chù nhân” của tác phẩm đó Bởi mỗi tác phẩm đều in
đậm dấu ấn phong cách tác giả Nh¯ văn Macxel Prut đ± nõi: “ Đỗi vỡi nh¯ văn, nhà thơ, phong cách không phải là vấn đề kỹ thuật mà là vấn đề cái nhìn Đó là
sự khám phá ng-ời ta không thể làm một cách cố ý và trực tiếp, bởi đó là một cách khám phá về chất, chỉ có đ-ợc trong cách cảm nhận về thế giới, trong cách biều đ³t nối dung v¯ trong c²ch sụ dũng ngôn ngừ ”
Nh- vậy phong cách có đ-ợc là phải trải qua một quá trình sáng tác mà gắn với thế giới quan, với phẩm chất và nhân cách nhà văn Trong quá trình tìm hiểu phong cách tác giả, chúng ta có thể thấy đ-ợc nét đặc thù, cái nhìn độc đáo riêng biệt của ng-ời nghệ sĩ thể hiện ở sự thống nhất t-ơng đối ổn định của hệ thống hình t-ợng, của các yếu tố ngôn ngữ, các ph-ơng tiện biểu hiện nghệ thuật trong quá trình sáng tạo của tác giả Tất cả dấu hiệu phong cách ấy đúc kết tác phẩm hoàn chỉnh, có tính chỉnh thể, giọng điệu, và một phong thái thống nhất với đầy
đủ hình thức nghệ thuật của nó
Trang 13
Phong cách tác giả có tính độc đáo bền vững nh-ng cũng có sự phát triển
đổi mới Chẳng hạn nh- nhà thơ Huy Cận với ngòi bút hiện thực độc đáo sau cách mạng khác hẳn với Huy Cận phảng phất lãng mạn tr-ớc cách mạng Hay Nguyễn Tuân với thể tuỳ bút sau cách mạng đầy cá tính khác với Nguyên Tuân tr-ớc cách mạng Trong rất nhiều yếu tố biểu hiện phong cách tác giả, ngôn ngữ
đóng một vai trò nổi bật Nó thể hiện qua cách sử dụng từ ngữ, câu, kết cấu
đoạn, những biện pháp tu từ trong tác phẩm của một nhà văn
Trong cái chung rộng lớn lại có cái riêng cá thể cũng nh- ngôn ngữ là của chung mỗi cộng đồng dân tộc, nh-ng vận dụng ngôn ngữ là cái riêng của từng ng-ời do sở tr-ờng, cá tính, thị hiếu, tập quán, sở thích, tâm lý do quá trình rèn luyện của tác giả cũng nh- cách diễn đạt khác nhau của từng tác phẩm Đối với mỗi nhà văn nhà thơ, giọng văn riêng quyết định phong cách Một nhà nghiên cửu văn hóc Nga đ± nhận định r´ng: “Nễu t²c gi° n¯o không cõ c²ch diển đ³t riêng, không có ngôn ngữ của mình thì ng-ời đó sẽ không bao giờ thành nhà
văn, nh¯ thơ c°” Chính vì vậy, mỗi nhà văn đều phải tạo cho mình cách nói
riêng, giọng văn riêng, không lặp lại ng-ời đi tr-ớc
1.2 Thể loại ký và một số đặc điểm của ngôn ngữ ký
1.2.1 Thể loại ký
Ký là một thể loại văn học đồng đẳng với tự sự, kịch, trữ tình Ký đã góp phần xửng đ²ng v¯o sữ ph²t triền chung cùa văn hóc Cõ thề thấy kỷ l¯ “vð khí nhẹ, cơ động và hiệu lực, có thể xông xáo trên tất cả các mặt trận của chiến
trưộng” [20, tr.187] Những tác phẩm ký nh- ở mĩ của Gorki, M-ời ngày rung
chuyển thế giới của Giôn Rít, Viết d-ới giá treo cổ của Phuxích đã v-ợt qua biên
giới của đất n-ớc, chiếm đ-ợc cảm tình của đông đảo bạn đọc thế giới Trong văn học Việt Nam, chỉ tính riêng từ cách mạng tháng Tám đến nay cũng có rất nhiều tác phẩm ký đ-ợc xếp vào hàng ngũ tác phẩm xuất sắc phản ánh những nét đẹp của con ng-ời Việt Nam, những nét đẹp trong đời sống tinh thần phong
Trang 14Ràng của Trần Đăng, ký sự Cao Lạng của Nguyễn Huy T-ởng, Tuỳ bút kháng chiến và Sông Đà của Nguyễn Tuân, Sống nh- anh của Trần Đình Vân, Ng-ời
mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Những ngày nổi giận của Chế Lan Viên, Họ sống
và chiến đấu, Tháng ba Tây Nguyên của Nguyễn Khải, Đ-ờng lớn của Bùi Hiển, Rất nhiều ánh lửa của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng, Cát bụi chân ai và Chiều chiều
của Tô Hoài Tô Ho¯i đ± nõi: “Kỷ cðng như truyến ngắn, truyến d¯i hoặc thơ, hình thức nó đấy nh-ng vóc dáng nó luôn luôn đổi mới, đòi hỏi sáng tạo và thích ửng Cho nên c¯ng chàng nên nhẽt nõ v¯o mốt c²i khuôn”
Tuy nhiên cũng cần phải xác định đặc tr-ng về thể loại của ký Theo Từ
điển thuật ngữ văn học thì “kỷ l¯ mốt lo³i hệnh văn hóc trung gian n´m giừa b²o
chí và văn học, gồm nhiều thể Đối t-ợng nhận thức thẩm mĩ của kí th-ờng là một trạng thái đạo đức - phong hoá xã hội, thể hiện qua những cá nhân riêng lẻ, một trạng thái tồn tại của con ng-ời hoặc những vấn đề xã hội nóng bỏng Kí tôn trọng sự thật khách quan của đòi sỗng, không hư cấu” [tr.111] ở đây, những kí
đã đ-ợc minh định khá rõ ràng, có sức thuyết phục Song trong thực tế sáng tác hiện nay, chúng ta thấy phạm vi của kí rộng hơn Và kí không chỉ là thể loại văn học trung gian giữa báo chí và văn học, theo Gorki nó còn là thể loại “đửng giừa
nghị luận cõ tính chất nghiên cửu v¯ truyến ngắn” [20, tr.189] Giáo trình Lý
luận văn học của tr-ờng Đại học Tổng hợp Hà Nội đã xác định đặc điểm bao
quát cho thể ký khi cho rằng: “C²c thề kỷ văn hóc chù yễu l¯ nhừng hệnh thửc ghi chép linh hoạt trong văn xuôi với nhiều dạng t-ờng thuật, miêu tả, biểu hiện bình luận về những sự kiện và con ng-ời có thật trong cuộc sống, với nguyên tắc ph°i tôn trong tính x²c thữc v¯ chủ ỷ đễn tính thội sữ cùa đỗi tướng miêu t°” [20, tr 191] Chúng tôi nhận thấy việc xác định đặc điểm của kí nh- thế đã giúp
ta phân biệt rõ sự khác biệt của kí với văn học với kí báo chí và các hình thức ghi chép khác về đời sống
Theo chúng tôi, kí là một thể văn ghi chép một cách nghệ thuật và chân xác, bộc lộ những ý nghĩ, cảm xúc, trực tiếp của cá nhân về những sự việc, sự vật,
Trang 15cuộc đời vừa có giá trị thẩm mĩ, có ấn t-ợng lớn với cá nhân ấy, vừa có tính thời
sự, đ-ợc xã hội quan tâm
Trong kí, thời gian đ-ợc trần thuật luôn luôn có sự hoà trộn hai dòng hiện tại và quá khứ Nếu tác phẩm thiên về ghi chép những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ nó sẽ là hồi ký Trong ký ta còn thấy có sự kết hợp chặt chẽ dòng sự kiện, sự việc và dòng t- t-ởng, tình cảm Nếu tác phẩm thiên về miêu tả sự việc,
sự kiện đó sẽ là kí sự hoặc truyện kí Nếu tác phẩm thiên về phản ánh t- t-ởng tình cảm , nó sẽ là tuỳ bút hoặc bút kí Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng ranh giới giữa các thể kí không tuyệt đối Giữa các thể kí luôn luôn có tình trạng chuyển hoá, thâm nhập lẫn nhau
1.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ thể kí
Điểm khác biệt cơ bản của kí với các loại hình văn học khác ở chỗ kí viết những cái có thực trong đời sống, có ý nghĩa thời sự hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp Lịch sử văn học đã cho thấy kí th-ờng phát triển mạnh mẽ trong những thời
kỳ mà xã hội có nhiều biến động
Giống nh- ng-ời viết báo, ng-ời viết kí phải đặc biệt tôn trọng, phải truyền
đạt trung thực, chính xác những sự kiện của đời thực với những nh-ời thực, việc thực, cảm xúc thực Nhà viết kí nào cũng phấn đấu theo ph-ơng châm xác thực
đễn mửc tỗi đa Nh¯ văn Bợi Hiền đ± nõi : “Chủng ta nên nhỡ l¯ trong bủt kí, phóng sự, tính xác thực của sự viếc l¯ điẹu kiến cỗt yễu” [20, tr193] Nhà văn Pôlêvôi cðng cõ ỷ kiễn tương tữ : “Kí thật sự nhất thiết không đ-ợc h- cấu Cuộc sống chúng ta muôn hình muôn vẻ nh- thế, lý thú nh- thế, biết bao sự việc xảy
ra thực cũng không cần thiết phải h- cấu thêm thắt tô vẽ gệ hơn nừa” [30, tr
289] Nh- vậy đặc điểm thể kí mà cũng là nét riêng của kí so với các loại hình văn học khác chính là tính xác thực của nó Cái xác thực ấy có lúc thuộc về khách thể cũng có khi thuộc về chủ thể sáng tạo Do dặc tr-ng này ng-ời viết kí
đòi hỏi một sự chuẩn bị nghiêm túc nh- làm một công trình khoa học Trong tuỳ
bủt “ Ng-ời lái đò Sông Đ¯”, Nguyển Tuân như mốt nh¯ địa lỷ, sụ hóc đã nêu cụ
thể nguồn gốc, dòng chảy, chiều dài và tên của dòng sông qua các thời kì lịch
Trang 16sử: “Sông Đ¯ khai sinh ờ huyến C°nh Đông tình Vân Nam lấy tên l¯ Li Tiên,
tính toàn thân Sông Đà thì chiều dài là 883 nghìn th-ớc met Trong Tờ hoa
Nguyễn Tuân nh- một nhà sinh vật học đ-a ra những con số cụ thể, tỉ mỉ:
“Ngưội ta đ± đ²nh dấu con ong, theo dõi nó, và thấy rằng cái giọt mật làm ra dó,
là kết quả của 2.700.000 chuyến bay đi, đi từ tổ nó đến các nơi có hoa quanh vùng Và trong một nửa lít mật ong đóng chai, phân chất ra đ-ợc 5 vạn thứ hoa tính ra thành b-ớc chân ng-ời thì tổng cộng đ-ờng bay của con ong đó là 800.000 cây sỗ.”
Ngôn ngữ ký là ngôn ngữ trần thuật Do trần thuật ng-ời thật việc thật nên tác phẩm ký có giá trị cung cấp tri thức về cuộc sống và có giá trị nh- t- liệu lịch sử Hoàng Ngọc Hiến đã khẳng định: “Ngoài gây hiệu quả khoái cảm thẩm
mĩ, thể kí gây ở ng-ời đọc những khoái thú trí tuệ bằng việc cung cấp những tri thửc ngưội đóc quan tâm” [29, tr.12] Ho¯ng Phù Ngóc T-ờng cũng có nhận xét tương tữ : “Cợng vỡi c°m xủc văn hóc, bủt kí còn chửa đững cỏi thực vốn là bản gốc của tác phẩm Sức nặng ấy đ-ợc chuyển đi không giống nh- một cảm giác
mĩ hóc m¯ như mốt qu° t²o Niutơn rơi xuỗng tâm họn ngưội đóc” [31, tr.83]
Do phản ánh nhanh nhạy cuộc sống nên ngôn ngữ kí đòi hỏi sáng sủa, ngắn gọn, súc tích, ít lời, không cầu kì Kết cấu th-ờng rõ ràng, theo trình tự diễn biến của sự việc nếu là kí sự, theo tình cảm t- t-ởng nếu là tuỳ bút Tình tiết trong kí không léo lắt quanh co, th-ờng là cụ thể nổi bật Trong ngôn ngữ kí điều quan trọng nhất ng-ời viết phải biết lựa chọn trong hiện thực cuộc sống đa dạng phong phú những con ng-ời, những sự việc vốn đã mang giá trị điển hình, giá trị thẩm mĩ, đồng thời phải biết cách sắp xếp miêu tả để làm nổi bật chúng
Ngôn ngữ kí ghi lại những cái có thật nh-ng không phải bao giờ nhà văn cũng đ-ợc trực tiếp chứng kiến sự thật ấy Nhà văn chỉ có thể ghi lại qua dòng hồi t-ởng, qua lời kể của ng-ời khác Khi ấy nhà văn cần có sự h- cấu và sự hỗ trợ của t-ợng t-ởng Nh- vậy, ngôn ngữ kí cũng có sự h- cấu nh-ng h- cấu
trong kí kh²c vỡi trong truyến Nễu như hư cấu trong truyến l¯ t³o ra c²i “hiện
thực thứ hai” cùa cuốc sỗng thệ hư cấu trong kí thề hiến vai trò chù quan thông
Trang 17qua liên t-ởng, -ớc đoán trong công việc lựa chọn, tổ chức, sắp xếp, bình giá những hiện t-ợng đ-ợc miêu tả để chúng hiện lên với những nét tiêu biểu, điển hình nhất Song chúng ta cũng cần l-u ý rằng dù có h- cấu, kí cũng phải lấy
điểm tựa ở hiện thực khách quan đời sống và tôn trọng tính xác thực của đối t-ợng miêu tả
Trong kí, ngôn ngữ miêu tả cũng rất quan trọng, nó làm tái hiện vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống song nó th-ờng chú trọng nhất, quan tâm nhất đến cái
đẹp của chân lí, đạo đức.Trong Ng-ời lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân đã tập trung
bút lực miêu tả tính cách hung dữ của con sông Đà là để tôn vinh, làm nổi bật vẻ
đẹp của ông Đò, của ng-ời lao động
Đến với tác phẩm kí chúng ta còn bắt gặp kiểu ngôn ngữ giàu cảm xúc của ng-ời nghệ sĩ Trong kí ta thấy có vai trò đặc biệt của cái tôi tác giả - một cái tôi chứng kiến, cái tôi giãi bày
Khi tiếp cận với kí của Vũ Bằng, những lý thuyết trên đây là chìa khoá gợi
mở giúp chúng tôi có một định h-ớng đúng dắn về mặt thể loại, nội dung của một hiện t-ợng kí cụ thể Thông qua đó làm rõ đ-ợc cái độc đáo, riêng biệt và
đặc sắc của ngôn ngữ kí Vũ Bằng, cũng nh- những đóng góp của ông cho nền văn xuôi Việt Nam hiện đại
1.3 Vũ Bằng và Th-ơng nhớ m-ời hai
1.3.1 Vũ Bằng tr-ớc những biến động của lịch sử đất n-ớc
Cuộc đời số phận mỗi con ng-ời đều gắn với một thời đại, một giai đoạn lịch sử nhất định Những biến đổi trong cuộc đời mỗi con ng-ời phụ thuộc vào
sự ứng xử của ng-ời đó với môi tr-ờng và xã hội Cuộc đời Vũ Bằng là một minh chứng cho sự gắn kết lịch sử - con ng-ời nh- thế Mọi biến động lớn trong cuộc đời của nhà văn này đều gắn với những biến động của lịch sử đất n-ớc Tìm hiểu ông trong mối quan hệ đó sẽ lí giải vì sao trong nhiều năm qua, tên
tuổi Vũ Bằng còn xa lạ với một bộ phận độc giả Việt Nam
Trang 18Vũ Bằng tên thật là Nguyễn Đăng Bằng, sinh ngày 3/6/1913 tại Hà Nội Cha mất sớm, Vũ Bằng ở với mẹ từ tấm bé Mẹ ông đã gửi ông vào tr-ờng Albert Sarraut - một tr-ờng trung học pháp nổi tiếng thời ấy với mong muốn sau này Vũ Bằng đi du học Pháp và trở thành một thầy thuốc Nh-ng Vũ Bằng đã không làm theo đ-ợc nguyện vọng của mẹ Ông sỡm “nẽm thân mệnh” v¯o l¯ng báo Lòng đam mê, nhiệt thành và năng khiếu vốn có đã đ-a Vũ Bằng tới những thành công nhất định Nh-ng sự lựa chọn nghề báo cũng là đầu mối cho nhiều biến động phức tạp của cuộc đời Vũ Bằng sau này
Tr-ớc năm 1945, Vũ Bằng bộc bạch: “bấy giộ nưỡc ta đang tr°i qua mốt thời kì hỗn độn Tôi cũng nh- số đông bạn trẻ không có tinh thần lành mạnh, cả ngày chỉ nằm đọc những sách chán đời Dần dần đâm ra chán cả mình, tôi tìm những cuộc dật dục vong nhân để tiêu ma sức khoẻ Tinh thần ngày càng bạc nhước thêm” [3, tr.21] Nhưng cðng v¯o thội điềm n¯y Vð B´ng cðng sỗng đước b´ng nghẹ viễt văn, l¯m b²o như bao nh¯ b²o kh²c lủc bấy giộ, “ông viễt văn làm báo nh- một cách m-u sinh Hơn thế, ông viết nh- một nghiệp ch-ớng Bao nhiêu sung s-ớng, bao nhiêu bất hạnh, cả cái vinh quang và cái nhục cũng từ
đấy m¯ ra c°” [16, tr 13]
Từ sự kiện kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12/1946), Vũ Bằng cùng gia đình phải di tản c- Cuộc sống của gia đình Vũ Bằng nói riêng và những ng-ời tản c- rất khó khăn Sự thiếu thốn về vật chất đã tác động rõ rệt đến tinh thần của mỗi ng-ời dân tản c- Với nhiều động cơ khác khác nhau, có khá nhiều ng-ời, kể cả
mốt sỗ ngưội trong đối ngð tri thửc văn nghế sĩ đ± “dinh tê” (vào trong) Những
ng-ời hồi c- nh- vậy đều phải chịu sự phán xét nghiêm khắc của quần chúng nhân dân ở cả địa bàn hồi c- và ở cả vùng ngoài kháng chiến
Trong hoàn cảnh ấy, Vũ Bằng đã đ-a cả gia đình về Hà Nội Hành động này
đồng nghĩa với việc chấp nhận b°n ²n “ ph°n bối c²ch m³ng”, “phản bội nhân dân” Cõ điẹu đặc biết là Vũ Bằng chủ động chấp nhận cái án đó Ông vẫn viết,
vẫn ho³t đống, âm thầm v¯ lặng lẻ Chính vệ sữ “dinh tê” ấy ho¯n to¯n không
xuất phát từ động cơ ích kỉ cá nhân mà vì đáp ứng lời kêu gọi của sự nghiệp
Trang 19cách mạng dân tộc - Vũ Bằng là một chiến sĩ tình báo Những lời đồn đại, những tai tiếng xung quanh việc hồi c- là một áp lực rất nặng nề đối với Vũ Bằng, song ông chấp nhận nó để làm vỏ bọc an toàn nhất cho cuộc đời hoạt
động tình báo
Nh-ng khó khăn, rắc rối ch-a dừng lại ở đó Năm 1948, Nam Cao cho ra
đời mắt truyện ngắn Đôi mắt D- luận về Vũ Bằng một lần nữa lại rộ lên khi
ngưội ta cho r´ng ông chính l¯ “nguyên mẫu” cùa nhân vật Ho¯ng trong truyến ngắn này Rõ ràng đến lúc này, Vũ Bằng không chỉ chịu hàm oan về việc hồi c-
mà còn mang tiếng là một nhà văn xa rời quần chúng cách mạng, sống ích kỉ theo lối h-ởng thụ Đối với một nhà văn, một ng-ời cầm bút vì lòng yêu th-ơng con ng-ời, vì sự nghiệp cách mạng dân tộc thì điều đó là một cái án rất nặng nề Song trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, Vũ Bằng chấp nhận tất cả Vì v-ợt lên trên hết là một tấm lòng yêu n-ớc, một nghị lực lớn lao Vũ Bằng đã chọn cho mình cách nhập cuộc đẹp đẽ nh- thế
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954), tình hình đất n-ớc có nhiều thay đổi Mỹ đã nhanh chóng thế chân pháp ở miền Nam, miền Bắc hoàn toàn giải phóng Trợ giúp Mĩ là bọn phản cách mạng hoạt động chính trị ráo riết Chúng tuyên truyền, dụ dỗ, lôi kéo đồng bào, tri thức văn nghệ sĩ, đặc biệt là
đồng bào công giáo rời khỏi miền Bắc để vào Nam Vũ Bằng đã nhập vào đoàn ng-ời này, tiếp tục lòng hi sinh cao cả của mình cho sự nghiệp cách mạng của
đất n-ớc Nh-ng d- luận lúc bấy giờ, Vũ Bằng lại nhận thêm một cái án nữa Theo bón ph°n đống v¯o Nam đõ l¯ “ mốt c²i ²n bất th¯nh văn tuyên phạt Vũ B´ng”[16, tr.20] Chỉ có điều nặng nề hơn vì lần này Vũ Bằng vào Nam một
mình, chịu đựng những điều tai tiếng một mình Trong hồi ký Bốn m-ơi năm nói
láo Vð B´ng viễt: “Nh-ng Nam, Bắc cũng là đất n-ớc, sao lại phải coi chuyến đi
này là một cuộc di c- mà không phải là một vụ đi chơi bậy bạ để tiêu sầu khiển hửng?” C²ch gi°i thích n¯y cho thấy quan niếm cùa Vð B´ng kh² tho°i m²i Phải chăng đó là một lời giải thích hợp lý nhất cho sự an toàn của chính nhà văn trong tình hình lúc bấy giờ?
Trang 20Bề ngoài thì thế nh-ng bên trong con ng-ời ấy luôn chứa đựng nỗi đau sâu sắc Chia tay vợ con, quê h-ơng để vào Nam, Vũ Bằng luôn tin rằng sau 2 năm nữa sẽ có hiệp th-ơng thống nhất, Bắc Nam sum họp Lúc đó ông sẽ đ-ợc trở về, đoàn tụ cùng gia đình và sống trong lòng Bắc Việt thân yêu Song niềm tin ấy cứ mờ dần, chuyển thành hi vọng, thành -ớc mong cháy bỏng trong lòng ng-ời con xa quê khi hiện thực lịch sử đất n-ớc đang diễn biến phức tạp Ngày 30/ 4/ 1975 đất n-ớc hoàn toàn thống nhất nh-ng nguyện -ớc của Vũ Bằng vẫn ch-a thực hiện đ-ợc Cái án di c- của ông ch-a đ-ợc xoá bỏ khi ông vẫn tận tuỵ với công tác tình báo Tổ ấm gia đình và miền Bắc yêu th-ơng trở thành hình
ảnh đẹp trong kí ức của Vũ Bằng Hy vọng đã chuyển thành thất vọng và càng buồn đau hơn khi ông đ-ợc tin ng-ời vợ của ông đã mất nơi quê nhà Vũ Bằng
ôm trọn nỗi đau ấy vào cõi vĩnh hằng Năm 1984 ông ra đi, âm thầm lặng lẽ nh- cuộc đời phục vụ cách mạng của ông vậy Ông ra đi khi mà lịch sử vẫn ch-a làm
đ-ợc công việc mà lẽ ra phải làm từ lâu rồi, đó là xác minh sự thật về cuộc đời
Vũ Bằng Mãi đến 1/3/2000 cục tình báo chiến l-ợc quân sự mới thực hiện đ-ợc
điều đó
1.3.2 Kí của Vũ Bằng
Cuộc đời éo le trắc trở nh- một nhu cầu tự thân, nhu cầu đ-ợc giải thoát tâm hồn, cộng với những năng khiếu vốn có đã thúc đẩy ông tìm đến để ký thác tất cả nỗi lòng, tâm sự, trăn trở của mình vào sáng tác văn học Và có lẽ vì vậy
mà ông tìm đến với thể loại hồi ký, tuỳ bút Bởi, hồi ký là thể loại phù hợp nhất với nhu cầu bộc lộ tinh thần chủ quan và nhu cầu tự giãi bày của bản thân Đến với ký nhà văn có cơ hội biểu lộ những cảm xúc không thể kìm nén đ-ợc của mình về quê h-ơng đất n-ớc, về những ng-ời thân yêu ruột thịt, về cội nguồn,
bản sắc văn hoá Phải chăng đây cũng chính là nguyên nhân để Th-ơng nhớ
m-ời hai, Bốn m-ơi năm nói láo, Miếng ngon Hà Nội ra đời
Đọc những sáng tác của Vũ Bằng chúng ta đều cảm nhận đ-ợc trong đó
có một nỗi khắc khoải không gian và thời gian luôn tồn tại suốt cuộc đời xa xứ của ông Trong đó, Vð B´ng hiến ra như mốt “thân phận l³c lo¯i” Bên cạnh
Trang 21ng-ời chiến sĩ yêu n-ớc hoạt động tình báo là nỗi chênh vênh, cô đơn của một tâm hồn cô độc Món nợ tinh thần phải trả cho quê h-ơng, gia đình, bạn bè và nhu cầu giải thoát luôn ám ảnh tâm hồn nhà văn Khi cầm bút cũng là lúc nhà văn bắt đầu quá trình giao tiếp giữa mình với bạn đọc Đó là khoảnh khắc ông
đ-ợc trở về với con ng-ời thật, trở về với cái bản thể của mình
Trong phần Tự ngôn của tác phẩm Th-ơng nhớ m-ời hai, Vũ Bằng bộc lộ:
“Tôi ghi lại th-ơng nhớ m-ời hai không nhằm mục đích gì cao rộng, chẳng qua chỉ đánh dấu những ấn t-ợng hiện ra trong óc những buổi mây chiều gió sớm sầu biệt li vơi sáng đầy chiều thâu nhận đ-ợc trong những khi lạc b-ớc trên nẻo
đ-ờng chật ních những ng-ời bận rộn bên cạnh những ngoại kiều ăn mặc nh-
ph-ờng chèo, nói líu lô buồn nỗi khó nghe!” [16, tr.16]
Mốt Vð B´ng “thân phận l³c lo¯i”, mốt “Vð B´ng sầu xử ”- con ng-ời ấy
đ-ợc kết nên từ ngàn vạn nỗi t-ơng t-, ngàn vạn nỗi nhớ th-ơng và buồn khổ Con ng-ời ấy phải tìm đến văn ch-ơng để giải bày tâm trạng, nỗi niềm sầu xứ với những khắc khoải không gian và thời gian luôn đeo đẳng, để trả món nợ tinh thần cho quê h-ơng, gia đình, bạn bè và giải thoát tâm hồn mình
1.3.3 Vài nét về Th-ơng nhớ m-ời hai
Vũ Bằng đã dành trọn cuộc đời cho nghề viết văn Ông là cây bút viết nhanh viết khoẻ, chuyên cần trên nhiều lĩnh vực Trong hơn 50 năm cầm bút,
ông đã để lại một khối l-ợng sáng tác đáng nể gồm hàng trăm tác phẩm với nhiều thể loại: tuỳ bút, truyện ngắn, hồi kí, bút kí ,tiểu thuyết Trong đó có nhiều
tác phẩm nổi tiếng nh-ng nổi bật hơn cả là Th-ơng nhớ m-ời hai
Tháng giêng năm 1960 Vũ Bằng bắt tay vào viết Th-ơng nhớ m-ời hai, đến năm 1967 vừa viết xong phần Tháng chín, gạo mới chim ngói thì đ-ợc tin vợ mình mất Mãi đến năm 1971, Vũ bằng mới viết xong Th-ơng nhớ m-ời hai Năm 1972 in Th-ơng nhớ m-ời hai tại Nhà xuất bản Nguyễn Đình V-ợng
Mới đầu vừa ra đời Th-ơng nhớ m-ời hai ch-a tạo ra ấn t-ợng gì nổi bật
Mãi đến năm 1989 khi tái bản lần thứ nhất, tác phẩm đã đ-ợc đông đảo bạn đọc
Trang 22đón nhận, đặc biệt là độc giả phía Bắc Cũng từ đó tên tuổi Vũ Bằng gắn liền với
Th-ơng nhớ m-ời hai
Giáo s- Hoàng Nh- Mai là ng-ời đầu tiên viết lời giới thiệu cho cuốn
Th-ơng nhớ m-ời hai, ngợi ca sức hấp dẫn của tác phẩm ông cho rằng cái hấp
dẫn, thu hủt b³n đóc cùa t²c phẩm chính l¯ ờ “tấm lòng” v¯ ngòi bủt “t¯i hoa cùa t²c gi°” Còn Tô Ho¯i, Vð Quần Phương, Nguyển Đăng M³nh đẹu thỗng
nhất khẳng định Th-ơng nhớ m-ời hai là một tác phẩm có giá trị văn ch-ơng,
linh hồn của những trang văn th-ơng nhớ là tình yêu quê h-ơng đất n-ớc của tác giả
Th-ơng nhớ m-ời hai đ-ợc Vũ Bằng viết bằng cảm hứng lãng mạn, bằng
tình yêu và nỗi nhớ về cảnh sắc thiên nhiên đến những thời trân, phong tục, nếp
sống, con ng-ời xứ Bắc Trong Th-ơng nhớ m-ời hai những sản vật ở mọi miền
của quê h-ơng từ quả thơm trái ngọt đén các món ăn, món quà bình dị đều trở th¯nh “thội trân” nhừng s°n vật quỷ cùa c²c mợa Quê hương Bắc Viết còn cõ
“bao nhiêu là chùa đẹp”, “bao nhiêu l¯ c°nh nên thơ” Vẫn chưa hễt, Bắc Viết còn hấp dẫn ta bời miẹn quê ấy quanh năm tưng búng lể tễt hối hè, “ mà hội hè
nào cũng ý vị, mà cũng nên thơ, mà cũng hấp dẫn” [16, tr.58] Cõ thề nõi đễn với Th-ơng nhớ m-ời hai, chúng ta đ-ợc đến với những cảnh đẹp thiên nhiên,
của tâm hồn văn hoá dân tộc trong một không gian nghệ thuật rộng lớn, phong phú đa dạng
Bao trùm lên Th-ơng nhớ m-ời hai là không gian cố h-ơng - không gian
tâm t-ởng - không gian của tình yêu và nỗi nhớ Chính niềm th-ơng nhớ vời vợi
đã tạo ra không gian trang trọng, không gian trìu mếm ôm ấp, vỗ về - một không gian linh thiêng Trong ký ức về một quãng đời êm đẹp, ng-ời ta th-ờng giữ những gì t-ơi tắn, đáng yêu nhất Và hiện lên trong tâm t-ởng, trong niềm yêu nỗi nhớ, vẻ đẹp của những kỷ niệm bao giờ cũng đ-ợc thăng hoa
Có thể khẳng định: trong tác phẩm Th-ơng nhớ m-ời hai, với cảm hứng
lãng mạn, Vð B´ng đ± t²i hiến, mô t° mốt miẹn quê “lộng lẫy gấm hoa” mốt thễ
Trang 23vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên, vẻ đẹp của con ng-ời, vẻ đẹp của di sản tinh thần tổ tiên truyền lại Ch-a ở đâu và ch-a bao giờ chúng ta lại bắt gặp một thế giới nghệ thuật tập trung mô tả tái hiện toàn cái đẹp nh- thế Và điều đáng l-u ý l¯ thễ giỡi nghế thuật ấy mang đậm “dấu” riêng đốc đ²o cùa nhà văn Vũ Bằng - con ng-ời luôn mang nặng nỗi -u t- về việc l-u giữ những nét đẹp của văn hóa dân tộc
Th-ơng nhớ m-ời hai đ-ợc viết bằng thứ ngôn ngữ giàu cảm xúc, đầy thi
vị Và tất yếu lời văn của tác phẩm cũng thấm đẫm chất thơ Câu văn trong
Th-ơng nhớ m-ời hai th-ờng là câu dài, nhiều câu có cách diễn đạt, cách dùng
từ, dùng hình ảnh rất giống với cấu tứ ca dao, câu cảm thán, câu hỏi tu từ, câu
đảo bộc lộ tình cảm, cảm xúc trực tiếp Cách dùng những từ ngữ, những câu văn, những hình ảnh đặc sắc ấy đã mang đến cho lời văn của tác phẩm một vẻ đẹp riêng
Giọng điệu tác phẩm mang âm h-ởng giọng điệu trần thuật độc đáo, đặc
sắc ở Th-ơng nhớ m-ời hai, Vũ Bằng với t- cách ng-ời kể chuỵên đã xuất hiện
ở rất nhiều ngôi thứ khác nhau với cách x-ng hô khác nhau Khi đứng ở ngôi thứ nhất, ngưội kề không chì xưng “tôi” m¯ còn xưng “mình”: “Đi vào giữa ánh sáng mơ hồ ấy, mình cảm thấy nh- bay trong không gian vô bờ bến” Điẹu đặc biệt là dù ng-ời kể ở vị trí nào, đối t-ợng ng-ời kể h-ớng tới là ai chúng ta cũng
đều nhận thấy nổi bật một giọng điệu chủ đạo đó là giọng độc thoại với chính mình Chính điều này đã tạo cho tác phẩm sắc thái trữ tình và giọng điệu thật
độc đáo, không thể trộn lẫn: giọng tự tâm tình hoài niệm
Đọc Th-ơng nhớ m-ời hai, chúng ta nhận thấy hình t-ợng tác giả - con
ng-ời niếm trải và tài hoa hiện diện ở khắp mọi nơi Con ng-ời ấy không chỉ biết rung động say mê, biết nâng niu trân trọng gom góp những cái đẹp bình dị, nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống mà còn biết cách tái tạo, l-u giữ và truyền lại cái đẹp cho mọi ng-ời Con ng-ời ấy đã biết sống đẹp và làm phong phú cho cuộc sống Song cái đẹp của cuộc sống đó lại đ-ợc thể hiện ở ph-ơng diện ngôn ngữ, lấy ngôn ngữ làm ph-ơng tiện biểu đạt Thông qua ngôn ngữ, hình ảnh quê h-ơng
Trang 24đát n-ớc hiện lên đầy chất thơ, mộc mạc mà trữ tình Ngôn ngữ nghệ thuật Vũ Bằng nh- thể đ-ợc phù phép, đầy quyền năng mê hoặc ng-ời đọc Văn Giá khi
cảm nhận về ngôn ngữ trong Th-ơng nhớ m-ời hai của Vũ Bằng đã nhận xét:
“Viễt lo³i văn họi kỷ nhừng nhỡ cợng thương n¯y rất khó tránh những từ ngữ trữc tiễp đ³i lo³i như “nhỡ lắm”, “yêu lắm”, “thương lắm” V¯ nễu chì cõ vậy nếu nh- có nhớ th-ơng đến mấy câu văn cũng trở nên nhạt nhẽo Vũ Bằng đã không kiêng kị những lời văn trực ngôn nh- thế mà văn ch-ơng vẫn cảm động
và quyến rũ Hoá ra ông đã làm đ-ợc một điều rất khó làm, đó là cấp cho câu văn những nội dung có tính cảm giác hết sức tinh vi và phong phú Muốn tạo
đ-ợc loại câu văn này, ngoài việc sử dụng rất nhiều những câu hỏi tu từ, chỉ còn một cách miêu tả thật kỹ l-ỡng và chính xác những ấn t-ợng, những cảm xúc ngũ quan Vũ Bằng cực kỳ tài giỏi ở điểm này Không một câu văn nào của ông
ở trạng thái trung tính, khách quan, mà tất cả đều đ-ợc phổ bằng những cảm giác nghiệm sinh sống động của toàn bộ con ng-ời tác giả, trong đó nhiều câu
đạt đến độ ảo điệu, với vẻ đẹp trang nhã rất mực của ngôn từ Đây là quy định
đặc điểm câu văn Vũ Bằng: kéo dài, miêm man, trùng điệp các lớp ngôn từ, đầy nhiệt hứng và lôi cuốn ng-ời đọc, đồng thời cũng là điều chủ yếu làm nên sức
quyến rũ của Th-ơng nhớ m-ời hai
Đi sâu vào nghiên cứu ngôn ngữ trong Th-ơng nhớ m-ời hai chúng ta lại
cảm nhận sâu sắc hơn về vẻ đẹp ngôn từ trong tác phẩm, cũng từ đó cho chúng
ta có cái nhìn chính xác về Vũ Bằng - ngòi bút khai lối mở đ-ờng đầy cho lối viết chất thơ, giàu cảm xúc và cảm hứng trữ tình trong ngôn từ
Trang 25hệ thống ngôn ngữ, tạo thành kho từ vựng của mỗi ng-ời ở mỗi ng-ời, từ đ-ợc tích luỹ dần và tồn tại trong tiềm năng ngôn ngữ và trong vốn từ vựng của từng ng-ời, trong từ tồn tại ở trạng thái tĩnh, với các tiềm năng nhất định
Khi các cá nhân thực hiện hoạt động giao tiếp với nhau thì các từ là cần thiết trong vốn từ đ-ợc huy động và kết hợp với nhau thành các cụm từ, các câu, ngôn bản để thể hiện các nội dung giao tiếp và làm cơ sở để các cá nhân đạt
đ-ợc mục đích giao tiếp Chính trong quá trình tham gia vào hoạt động giao tiếp,
từ mới thực sự có cuộc sống sinh động, mới bộc lộ rõ và cụ thể hoá các thuộc tính hay đặc điểm thuộc vào bình diện khác nhau của nó và thậm chí có thể có những biến đổi và chuyển hoá đa dạng, phong phú hơn khi nó tồn tại trong trạng thái tĩnh của hệ thống ngôn ngữ
Khi chuyển từ dạng tĩnh điềm tĩnh trong hệ thống ngôn ngữ cùng trạng thái trong giao tiếp, các yếu tố ngôn ngữ nói chung và từ nói riêng cũng đồng thời chuyển từ dạng trừu t-ợng, khái quát sang một dạng cụ thể sinh động Bởi vì hình thành và tồn tại của từ trong hệ thống ngôn ngữ nhìn một cách tổng thể
là để phục vụ cho toàn thể xã hội, cho hoạt động và t- duy và giao tiếp nói chung Trong quá trình hoạt động giao tiếp những từ mới đ-ợc tạo ra Cái mới
đó chính là mầm mống và động lực cho những vận động và sự phát triển không ngừng của ngôn ngữ
Từ thực tiễn ngôn ngữ khác nhau và ngay trong trạng thái tĩnh ch-a hành chức năng của hệ thống ngôn ngữ, cũng tồn tại những từ tiềm tàng năng lực giao
Trang 26tiếp và mối chức năng nh- thế sẽ hệ thống hoá trong từng hoàn cảnh giao tiếp
cụ thể
Trong nghệ thuật không có hiện t-ợng nghệ thuật chung chung mà chỉ
có các hình t-ợng nghệ thuật gắn liền với một chất liệu cụ thể: hình t-ợng hội hoạ, hình t-ợng âm nhạc, hình t-ợng sân khấu, hình t-ợng văn học, tính chất,
đặc tr-ng của một loại hình nghệ thuật gắn liền với đặc điểm và khả năng nghệ thuật của chất liệu đ-ợc dùng làm cơ sở cho nghệ thuật đó Chính vì vậy sẽ không hiểu đ-ợc đặc tr-ng của văn học nếu bỏ qua đặc điểm thể hiện nghệ thuật của ngôn từ
Có thể nói, từ ngữ có vai trò quan trọng trong tác phẩm văn học, tr-ớc hết nó là yếu tố để tạo nên hình hài của tác phẩm, tạo nên sự sống cho hình t-ợng tác phẩm Tiếp xúc với một tác phẩm văn học nào tr-ớc hết ta bắt gặp một văn bản ngôn từ Đặc điểm của lớp từ này là trực tiếp chịu sự quy định của quy luật ngôn ngữ nh- ngữ âm, ngữ pháp từ vựng, phong cách học, đồng thời lại chịu
sự chi phối của quy luật thơ văn, thể loại Từ ngữ còn là chất liệu để nhà văn thể hiện các hình t-ợng trong tác phẩm của mình Xuyên qua lớp ngôn ngữ từ ta bắt gặp các chi tiết tạo hình, các tình tiết sự kiện và từ đó hiện lên các sự vật, phong cảnh, con ng-ời, quan hệ xã hội, thế giới, những hiện t-ợng lạ
Từ ngữ trong văn học có vai trò rất quan trọng, nó phản ánh một cách chính xác và khách quan tài năng ngôn ngữ và vận dùng từ trong tác phẩm của một nhà văn
2.2 Những đặc sắc về từ ngữ trong Th-ơng nhớ m-ời hai
2.2.1 Các tr-ờng từ vựng tiêu biểu
2.2.1.1 Tr-ờng cảm xúc
Quê h-ơng miền Bắc trong thế giới nghệ thuật Th-ơng nhớ m-ời hai tr-ớc
hết đ-ợc diễn tả bằng những tr-ờng cảm xúc rung động, bằng tình yêu và nỗi nhớ nên từ cảnh sắc thiên nhiên đến những thời trân, phong tục tập quán, nếp sống con ng-ời đều đ-ợc mỹ lệ hoá Trong văn học Việt Nam đã có nhiều không
Trang 27ít phẩm ký đặc sắc ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của tâm hồn văn hóa Việt Nam Nh-ng thông th-ờng, mỗi tác phẩm chỉ ghi lại một nét của cuộc sống
trong một không gian hẹp, ở một địa danh cụ thể Đến với Th-ơng nhớ m-ời hai,
cảm xúc trong bối cảnh không gian nghệ thuật rộng lớn, phong phú và đa dạng
Ta bắt gặp trang văn đầy cảm xúc ngợi ca của Vũ Bằng khi viết về thiên nhiên xứ Bắc khiến cho cảnh t-ợng đó hiện lên với dáng vẻ lung linh huyền ảo
và đầy quyễn rð “Mợa xuân cùa tôi - mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội
là mùa xuân có m-a riêu riêu, gió lành lạnh có tiếng nhãn kêu trong đêm xanh,
có tiếng trống chèo vang vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp nh- thơ mộng ấy đấy, cái mùa xuân thần thánh của tôi nó làm cho ng-ời ta muốn phát điên lên nh- thế đấy, ngồi yên không chịu đ-ợc nhựa sống trong ng-ời căng lên nh- máu căng lên trong lộc của loài nai, nh- mầm non cây cối, nằm im mãi không chịu đ-ợc phải trỗi ra thành những cái là nhỏ li
ti dơ tay vẫy những cặp uyên -ơng đứng cạnh ( ) Đẹp quá đi, mùa xuân ơi - Mợa xuân cùa H¯ Nối thân yêu cùa Bắc Viết thân mễn” [16, tr 20 – 25]
Những dòng cảm xúc đ-ợc viết bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh làm sống lại cả một thế giới “thần tiên” với những phong tục những nghi lễ thiêng liêng trong những ngày lễ tết mà không phải ng-ời Việt Nam nào cũng hiểu hết ý nghĩa của
nõ Rọi nhừng “thội trân”, nhừng s°n vật bệnh dân, phồ biễn trong đội sỗng dân gian nh-ng đ-ợc Vũ Bằng nâng niu ca ngợi và trân trọng hơn c° nhừng thử “cao lương mỳ vị” ờ trên đội: “Gỡm thay l¯ c²i xử Bắc Viết mễn thương, không gi¯u bằng ai, không sang bằng ai mà sao lại sản xuất đ-ợc cái cà, cái d-a, cái t-ơng c²i mắm ngon “quỷ khỗc thần sầu” đễn thễ”
Trong Th-ơng nhớ m-ời hai thông qua ngôn ngữ Vũ Bằng đã trực tiếp phô
bày nỗi nhớ th-ơng, yêu mến của mình với cố h-ơng Rất nhiều khi ta gặp tình
yêu v¯ nổi nhỡ “đề trần ” Trong Tự ngôn có một câu văn đã đ-ợc lặp đi lặp lại
từ “nhớ” 12 lần: “Nhỡ qu², bất cử c²i gệ cùa Hà Nội cùng nhớ, bất cứ cái gì của Bắc Việt cũng nhớ, nhớ từng cánh đồng lúa con gái mơn mởn nhớ đi, nhớ từng tiếng hát của ng-ời mẹ ru con buổi tr-a hè mà nhớ lại, nhớ hoá sấu rụng đầu
Trang 28đưộng H¯ng Trỗng m¯ nhỡ xuỗng.” Càng yêu, cảm xúc càng đ-ợc bộc lộ một cách trực tiếp: “Cõ ph°i t³i mệnh thương yêu phần tụ nên yêu luôn tú bông hoa
mà yêu xuống đến trái cây yêu từ cái lá hoè lăn tăn mà yêu sang chùm hoa mộc” Cợng trong t²c phẩm ta cõ thề bắt gặp rất nhiẹu câu văn như: “ Bắc viết mến th-ơng ơi! nhớ Bắc Việt ngày tr-ớc quá, nhớ sao nhớ quá thế này! mà càng nhỡ l³i c¯ng yêu” [16, tr.98] Hay “đất nưỡc thân yêu đép đễn cho ta mốt c²i thủ tuyết kứ thanh cao, tuyết kứ trang nh±” [16, tr.37] Có thể thấy những câu văn
bộc lộ cảm xúc trực tiếp là là nét độc đáo trong ngôn ngữ Th-ơng nhớ m-ời hai Cũng trong Th-ơng nhớ m-ời hai, có tới 158 lần xuất hiến tú “đép”, cõ câu tỡi 4
lần nhắc tỡi tú “đép”, nhừng cũm tú, “nhỡ vô kề l¯ nhỡ”, “đép như thễ mỡi gói l¯
đép”, “yêu nh- thế mới gọi là yêu”, “đép nhất trần ho¯n” lặp đi lặp lại nhiều lần nh-ng không hề gây cả giác khó chịu Có lẽ, do những từ ngữ ấy đ-ợc bật ra, tr¯n ra tữ nhiên trong dòng “thiên lỷ tương tư” cùa t²c gi°
Phải nói rằng, tình cảm của Vũ Bằng dành cho quê h-ơng thật cảm động Trong suốt thời gian đằng đẵng xa quê, d-ờng nh- Vũ Bằng chỉ sống bằng những kỷ niệm Sống trong nỗi sầu thiên lý t-ơng t-, tâm hồn nhà văn đã thành một sợi dây đàn, sẵn sáng rung động tr-ớc nét bình dị, thân quen nhất để ngân lên những thanh âm tuyệt diệu
2.2.1.2 Tr-ờng cảm giác
Th-ơng nhớ m-ời hai không chỉ mang đậm tr-ờng cảm xúc, mà tr-ờng
cảm giác cũng xuyên suốt toàn bộ tác phẩm Đọc Th-ơng nhớ m-ời hai, chúng
ta cảm giác nh- mình đang hoà lẫn vào thiên nhiên, đất trời đầy huyền ảo của Bắc Việt, cảm giác nh- đang đ-ợc th-ởng thức những món ăn ngon lạ đậm tính
ẩm thực và hơn hết nh- đ-ợc thả mình trong không khí vui nhộn của ngày lễ tết,
lễ hội
Bằng ngôn ngữ miêu tả sắc nét và giàu tính biểu cảm, Vũ Bằng đã đ-a ng-ời đọc đến với Bắc Việt trong tâm t-ởng, đầy quyến rũ và mang đậm văn hoá tinh thần
Trang 29Đọc Th-ơng nhớ m-ời hai, hầu nh- ai cũng có cảm giác Vũ Bằng đang tả
bầu trời, ánh trăng, làn gió, chân mây, cỏ cây hoa lá ở góc sân nhà mình, đang tả
vẻ đẹp của khu v-ờn nhà mình, xóm mình, quê mình song không ai lại không cảm thấy ngỡ ngàng tr-ớc vẻ đẹp kỳ ảo của những cảnh thực rất đỗi thân quen
đó Có đ-ợc sự thành công này, là do cách lựa chọn đối t-ợng miêu tả của Vũ Bằng cùng với ngôn ngữ sắc sảo, giàu hình ảnh, sắc nét và sinh động Đặc biệt,
Vũ Bằng chú ý đặc tả những cảnh sắc t-ơi sáng, trong trẻo nhất, những h-ơng thơm, những lay động êm dịu, những nét trẻ trung thanh xuân, hữu tình nhất Chính vì thế, tác phẩm đã tạo cho ng-ời đọc cảm giác nh- đang đ-ợc đi vào một
“Thiên Thai nơi trần thễ”
Cảm nhận đầu tiên của ng-ời đọc khi tìm hiểu tr-ờng nghệ thuật của
Th-ơng nhớ m-ời hai là thiên nhiên nơi đây sáng t-ơi trong trẻo đến lạ kỳ, bầu
trội “trong như ngóc” nhừng lủc “trội nắng ấm trông cử y như l¯ ngóc lưu ly”
Cõ khi bầu trội l³i hiến ra “trong vắt như lóc qua mốt tấm v°i xanh” Tuyết diếu nhất l¯ bệnh minh khi “ trên nẹn trội trong cõ nhừng l¯n sõng họng rung đống như nhừng c²nh con ve sầu mỡi lốt” Trăng th²ng giêng “trong trÍo đễn kứ l³”,
²nh trăng “không v¯ng m¯ trắng như sừa, trong như nưỡc Ôn Tuyẹn” ở các con suỗi “nưỡc trong văn vắt” Cây l² nơi nơi đẹu tươi xanh mướt m¯, nhất l¯ v¯o th²ng ba Khi ấy “l² cây s³ch bong ra lõng l²nh như trong mốt phim °nh m¯ tuyết diếu” Sau mưa “ l² cây õng ²nh nưỡc mưa, l² tươi hơn hỡn”
Tác giả còn sử dụng rất nhiều từ láy gợi tả ánh sáng lấp lánh lung linh của v³n vật Riêng tú “ lung linh” đước xuất hiến lặp đi, lặp l³i mưội lần, bầu trội
“lung linh”, ²nh trăng “lung linh”, mặt nưỡc “lung linh”, cây l² “lõng l²nh”, tr²i qu° “õng ²nh” đất trội ngập trong nhừng sắc m¯u s²ng t-ơi rực rỡ Quê h-ơng Bắc Việt của Vũ Bằng là một miền quê có cảnh sắc thiên nhiên tuyệt diệu, trong sáng nh- pha lê, huyền ảo, lung linh nh- ngọc
Th-ơng nhớ m-ời hai còn hấp dẫn ta bởi là một thiên nhiên ngát h-ơng
tạo cho ta cảm giác tinh tế làm dậy lên cái h-ơng sắc thơm mát dịu dàng trong cả không gian mênh mông rộng lớn của cố h-ơng Các đ-ờng phố Hà Nội đến
Trang 30tỗi thấm đẫm hương thơm “ngan ng²t mợi hương sừa” Hương thơm cùa cỗm vòng “thơm ngót ng¯o mợi đất nưỡc quê hương” Đề rọi rội H¯ Nối, vẹ c²c làng quê thôn xóm nơi nào chúng ta cúng cảm nhận đ-ợc những h-ơng thơm vô cùng quyễn rð mổi lủc xuân vẹ, c° quê hương “nửc mốt mợi hương ngan ng²t” cùa cà V¯ th²ng s²u “không khí nửc mợi hoa chanh” dệu dịu, êm êm khiến cho ta có cảm giác “như ờ trong giấc mống” Đặc biết l¯ hương thơm cùa hoa sầu đâu -
lo³i hoa bẽ xíu ấy vậy m¯ Vð B´ng c°m nhận lo³i hoa ấy cõ hương thơm kứ l³”
“Ngưội kh²ch xa quê” sau mấy chũc năm “vẫn c°m như còn thấy thoang tho°ng
đâu đây mợi thơm m²t mÍ, dịu d¯ng” cõ lủc l³i cõ c°m gi²c như “uỗng c²i h-ơng thơm của quê h-ơng vào tận tâm can tứ phễ” V¯ đề c°m nhận đước trong c²i “hương quê” huyẹn diếu đõ chắc chắn ph°i cõ c° tệnh quê thơm ng²t cùa ng-ời con xa xứ
Miêu tả cảnh sắc cố h-ơng, Vũ Bằng còn đặc biệt chú trọng lựa chọn đặc tả những âm thanh tạo nên một thiên nhiên vang âm rất sống động Có những
âm thanh đ-ợc nghe bằng thính giác Đó là âm thanh của những chú ve “mốt giàn nhạc tuyệt vời, mốt b°n nh³c kứ diếu” khiễn “thiên h³ mê ly” v¯ qua nhừng
“chợm l², nhừng c¯nh cây”, chúng ta sẽ đ-ợc nghe tiếng gió: “giõ rệ r¯o như kề chuyến xa xưa v¯ giũc ngưội xích l³i gần nhau cho ấm cỏi lòng hơn mốt chủt”
Th-ơng nhớ m-ời hai còn có những âm thanh kì diệu Khi đứng trên đỉnh H-ơng
Sơn sẻ đước “nghe rỏ r¯ng c²i hơi thờ cùa vð trũ bao la, cùa túng vệ tinh tủ”
Kỳ diệu hơn, có thể nghe đ-ợc âm thanh của những lay động rất khẽ khàng
“tiễng gệ nhà bẽ như tiễng sõng xa xa m¯ l³i như tiếng đàn hát của thần tiên Đó l¯ tiễng cùa mợa xuân”
Nhà văn Vũ Bằng đã nghe đ-ợc hơi thở vũ trụ, nghe tiếng của trời tình, của trăng, của mùa xuân, của suối, của gió những âm thanh ấy không thể nghe bằng tai mà nghe bằng cả tâm hồn, cả tấm lòng gắn bó thiên nhiên, yêu thiên nhiên tha thiết Những câu văn thấm đẫm chất thơ ấy gợi cho ta thấy vẻ đẹp thiên nhiên - một thiên nhiên sống động, một thiên nhiên hiền hoà, một thiên nhiên êm dịu, gắn bó chan hòa với con ng-ời Vì lẽ đó, đến với thế giới nghệ
Trang 31thuật của Th-ơng nhớ m-ời hai có những lúc chúng ta có cảm giác đang lạc vào
thế giới Đ-ờng thi
Viết về món ăn, Vũ Bằng cũng tạo cho ng-ời đọc cảm giác nh- trực cảm nhận h-ơng vị của những miếng ăn đó Miêu tả một thức quả với màu sắc vàng óng ả, h-ơng thơm ph-ng phức: “miễng dửa sao nõ v¯ng thễ nhì, v¯ng cử như l¯ mật ong, mà cũng thơm ph-ng phức nh- l¯ mật ong” [16, tr 110], ông còn miêu tả hạt gạo tám, cái hạt cơm trong muốt, trắng tinh, ong óng nh- con ong, có khói bỗc lên ng¯o ng³t Rau cần cðng gới c°m vỡi m¯u “xanh ngăn ngắt, tươi hơn hỡn” Rỏ r¯ng t° c²c mõn ăn, Vð B´ng gới cho ta c°m nhận rung động tr-ớc vẻ
đẹp về màu sắc, dáng hình của chúng
Trong những trang văn miêu tả quá trình chế biến các món ăn, chúng ta
có thể thấy đ-ợc cái thú ẩm thực của Vũ Bằng: “râu cần x¯o vỡi huyễt heo, bõp nhỏ; rau cần với bắp cải, cho ít rau răm vào muối xổi, lấy ra ăn với thị đông hay kho tàu và nếu nấu cháo ám mà không có rau cần thì hỏng, y nh- thể đi vào mốt kho°ng vưộn m¯ không cõ hoa, đi trong mợa xuân m¯ không cõ bưỡm” [16, tr.59] Nhừng mõn ăn đước chễ biễn tú rươi rất phong phủ “rươi tr²ng trửng, r-ơi mắm, r-ơi nấu với củ cải theo kiểu tam xà đại hội hay là r-ơi xào xâm xấp n-ớc với củ niễng Đặc biệt món nào cũng phải có vỏ quýt Thiếu vỏ quýt nhất định không phải là r-ơi nữa, cũng nh- non thiếu n-ớc, trăng thiếu hoa, gái thiếu trai nhất định không cách gì tạo nên đ-ợc bài thơ ý nhị” [16, tr 169] Chỉ với những ngôn từ miêu tả cụ thể Vũ Bằng đã nh- đ-a ng-ời đọc đến với h-ơng vị ẩm thực, th-ởng thức những món ăn lạ kỳ chỉ có Bắc Việt mới có
2.2.1.3 Tr-ờng thời gian
Th-ơng nhớ m-ời hai là tác phẩm miêu tả cuộc sống ở cố h-ơng trong
m-ời hai tháng Đó là một vòng quay tuần hoàn của thời gian Bởi thế cái thời gian m-ời hai tháng - một năm ấy có sức bao quát rộng lớn Tầm vóc của nhà văn Vũ Bằng đã đ-ợc thể hiện rất rõ trong cách lựa chọn thời gian nghệ thuật ấy
Thời gian nghệ thuật chủ yếu của th-ơng nhớ m-ời hai là thời gian thời
Trang 32vợi đã tạo ra một thời gian trìu mến ôm ấp, vỗ về - thời gian thiêng Cố h-ơng Bắc Việt vốn đã rất nhiều kỷ niệm, nhiều ký ức đẹp Trong ký ức về quãng đời
êm đẹp ấy, ng-ời ta th-ờng l-u giữ lại những gì t-ơi tắn, đáng yêu nhất Và hiện lên trong tâm t-ởng, trong niềm yêu nỗi nhớ, vẻ đẹp của những kỷ niệm bao giờ cũng đ-ợc thăng hoa
Viết về m-ời hai tháng nhớ th-ơng, ngôn ngữ cũng giàu cảm xúc th-ơng nhớ, Nỗi nhớ nhung, tình cảm da diết ấy nhuốm lên từng câu, chữ Khoảng cách m-ời hai tháng hồi ức kết hợp với thời gian hiện tại tha h-ơng đã khiến cho tâm hồn ấy thao thức, và càng khiến cho ký ức của m-ời hai tháng Bắc Việt lại vọng
về rõ mồn một với những nét đẹp đầy hấp dẫn và quyến rũ Những hoạt động văn hoá, những nét đẹp ở khắp mọi miền, từ thủ đô Hà Nội đến những vùng miền hẻo lánh, xa xôi đều đ-ợc gợi nhắc trong suốt m-ời hai tháng của ký ức
Tháng giêng “là tháng đầu của mùa xuân, ng-ời ta càng trìu mến, không
có gì lạ hết Ai bảo đ-ợc non đừng th-ơng n-ớc, b-ớm đừng th-ơng hoa, trăng
đừng th-ơng gió, ai cấm đ-ợc trai th-ơng gái, ai cấm đ-ợc mẹ yêu con, ai cấm
đ-ợc cô gái còn son nhớ chọng thệ mỡi hễt đước ngưội mê luyên mợa xuân” Tháng giêng với mùa xuân t-ơi đẹp, rung động bao tâm hồn bao ng-ời, không khí trong lành với cơn gió lành lạnh, m-a riêu riêu, dòng ng-ời đi chùa khấn may đầu năm Không khí thật êm đềm và ấm cúng, tình ng-ời xích lại thắm thiết hơn, còn mợa xuân thệ “đép qu², mợa xuân ơi”, cà hoa cðng rung rinh trưỡc sắc trời tháng giêng
Tháng hai, hoa đào nở rộ, ng-ời dân sống thanh nhàn với không khí mùa xuân, các cô gái hoà lẫn trong vẻ đẹp hoa đào
Tháng ba - rét nàng Bân “tháng ba thì trời đất quả là kỳ ảo Bảo rằng th²ng ấy còn rẽt, không đủng, m¯ b°o l¯ hễt rẽt rọi cðng không đủng nừa” Đất trời trong xanh, cảnh sắc nh- thay áo mới, con ng-ời thấy nhẹ nhõm dễ chịu trong không khí m²t mÍ ấy “Th²ng ba ờ miền Bắc có những ngày huyền ảo nh- thế đấy Nếu là ng-ời thích ví von, anh có thể ví tháng ấy với một cô gái có sắc
đẹp nghêng thành nghiêng n-ớc Và nếu nh- tháng chạp, tháng giêng, rét đài,