1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích cặp phạm trù nội dung và hình thức. Thực tiễn áp dụng cặp phạm trù “nội dung – hình thức” trong vấn đề thương hiệu, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.

12 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích cặp phạm trù nội dung và hình thức. Thực tiễn áp dụng cặp phạm trù “nội dung – hình thức” trong vấn đề thương hiệu, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
Trường học Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 31,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn áp dụng cặp phạm trù “nội dung – hình thức” trong vấn đề thương hiệu, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Giúp các bạn có tài liệu tham khảo cho kì thi đạt kết quả tốt. Đây là bài mình đã làm và đạt 8đ trong kì thi vừa rồi, mọi người tham khảo nhé

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 2

I Cơ sở lý luận 2

1 Khái niệm: nội dung, hình thức 2

2 Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung - hình thức 3

a Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức 3

b Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức 3

trong quá trình vận động phát triển của sự vật c Sự tác động trở lại của hình thức đối với nội dung 4

3 Ý nghĩa phương pháp luận 5

II Vận dụng cặp phạm trừ này vào phát triển 6

thương hiệu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam 1 Thực tiễn áp dụng cặp phạm trù “nội dung – hình thức” 6

trong vấn đề thương hiệu, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam 2 Một số giải pháp để giải quyết vấn đề 10

thương hiệu của nước ta hiện nay

III KẾT LUẬN 15

C DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

A MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang từng bước hội nhập sâu rộng với kinh

tế khu vực và trên thế giới; gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO), các Hiệp

Trang 2

định thương mại tự do đa phương, song phương được ký kết (FTA).Cùng với những cơ hội thuận lợi, quá trình này cũng đặt ra những khó khăn thách thức không nhỏ Đó là, cạnh tranh sẽ diễn ra quyết liệt không chỉ ở thị trường nước ngoài mà ngay cả thị trường trong nước Đặc biệt là cạnh tranh về chất lượng, thương hiệu sản phẩm hàng hóa, nếu chúng ta không thực hiện hiệu quả chiến lược phát triển thương hiệu bền vững thì sản phẩm hàng hóa của chúng ta không có chỗ đứng trên thị trường trong và ngoài nước

Chúng ta hướng tới mục đích xây dựng hình ảnh về Việt Nam là một quốc gia

có uy tín về hàng hoá và dịch vụ đa dạng phong phú với chất lượng cao; Tăng cường sự nhận biết của các nhà phân phối và người tiêu dùng trong và ngoài nước đối với các sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam Từ đó có chiến lược xây dựng, phát triển  thương hiệu hàng hóa sản phẩm của mình có chất lượng cao, có uy tín, góp phần nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế; chinh phục người tiêu dùng và là niềm tự hào của người Việt Nam trong quá trình hội nhập Đây chính là vấn đề mà cặp phạm trù "Nội dung - hình thức" của Triết học Mác đề cập tới Thông qua đó vận dụng cặp phạm trù "Nội dung - hình thức" để giải quyết vấn đề thương hiệu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

B Nội dung

I Cơ sở lý luận

1 Khái niệm: Nội dung và hình thức

a Thế nào là nội dung

Nội dung là phạm trù triết học dùng để chỉ tổng thể tất cả các mặt, yếu tố tạo nên sự vật, hiện tượng

b Thế nào là hình thức

Hình thức là phạm trù triết học dùng để chỉ phương thức tồn tại, biểu hiện

và phát triển của sự vật, hiện tượng ấy là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố cấu thành nội dung của sự vật, hiện tượng và không chỉ là cái biểu hiện ra bên ngoài, mà còn là cái thể hiện cấu trúc bên trong của sự vật, hiện tượng

Trang 3

Một tác phẩm văn học được in thành sách đều có kích thức, hình dáng, màu sắc là hình thức bề ngoài; hình thức bên trong của tác phẩm được in trong cuốn sách đó, như bố cục của tác phẩm, hình tượng nghệ thuật, ngôn ngữ, phong cách được dung để diễn đạt nội dung, những vấn đề của cuộc sống mà tác phẩm

đó muốn nói lên Đây chính là hình thức mà CNDVBC muốn đề cập đến trong cặp phạm trù nội dung và hình thức

Ví dụ: Nội dung của một cơ thể động vật là toàn bộ các yếu tố vật chất như tế bào, các khí quan cảm giác, các hệ thống, các quá trình hoạt động của các hệ thống,

để tạo nên cơ thể đó Hình thức của một cơ thể động vật là trình tự sắp xếp, liên kết các tế bào, các hệ thống, tương đối bền vững của cơ thể Hay mỗi phân tử nước: Các yếu tố vật chất làm cơ sở cấu thành nên nó là 2 nguyên tử hyđrô và 1 nguyên

tử ôxy (nội dung), cách thức liên kết hóa học của chúng là H - O - H (hình thức),

2 Mối liên hệ biện chứng giữa nội dung - hình thức

a Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức

Nội dung là những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật, còn hình thức là hệ thống các mối liên hệ tơng đối bền vững giữa các yếu tố của nội dung N

ội dung và hình thức luôn gắn bó chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất Không có hình thức nào tồn tại thuần tuý không chứa đựng nội dung, ngược lại cũng không có nội dung nào lại không tồn tại trong một hình thức xác định Nội dung nào có hình thức đó

Nội dung và hình thức không tồn tại tách rời nhau, nhưng không phải vì thế mà lúc nào nội dung và hình thức cũng phù hợp với nhau Không phải một nội dung bao giờ cũng chỉ đọc thể hiện ra trong một hình thức nhất định, và một hình thức luôn chỉ chứa một nội dung nhất định, mà một nội dung trong quá trình phát triển có thể

có nhiều hình thức thể hiện, ngược lại, một hình thức có thể thể hiện nhiều nội dung khác nhau

Thí dụ, quá trình sản xuất ra một sản phẩm có thể bao gồm những yếu tố nội dung giống nhau như: con người, công cụ, vật liệu Nhưng cách tổ chức, phân công trong quá trình sản xuất có thể khác nhau Như vậy, nội dung quá trình sản xuất được diễn ra với những hình thức khác nhau Hoặc cùng một hình thức tổ chức sản xuất như nhau nhưng được thực hiện trong những ngành, những khu vực, với những yếu tố vật chất khác nhau sản xuất ra những sản phẩm khác nhau Vậy là một hình thức có thể chứa dựng nhiều nội dung khác nhau

Trang 4

b Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức trong quá trình vận động phát triển của sự vật

Vì khuynh hướng chủ đạo của nội dung là biến đổi, còn khuynh hướng chủ đạo của hình thức là tương đối bền vững, chậm biến đổi hơn so với nội dung Dưới sự tác động lẫn nhau của những mặt trong sự vật, hoặc giữa các sự vật, với nhau trước hết làm cho các yếu tố của nội dung biến đổi trước; còn những mối liên kết giữa các yếu tố của nội dung, tức hình thức thì chưa biến đổi ngay, vì vậy hình thức sẽ trở nên lạc hậu hơn so với nội dung và sẽ trở thành nhân tố kìm hãm nội dung phát triển Do xu hướng chung của sự phát triển của sự vật, hình thức không thể kìm hãm mãi sự phát triển của nội dung mà sẽ phải thay đổi cho phù hợp với nội dung mới

Ví dụ, lực lượng sản xuất là nội dung của phương thức sản xuất còn quan hệ sản xuất biến là hình thức của quá trình sản xuất Quan hệ sản xuất biến đổi chậm hơn, lúc đầu quan hệ sản xuất còn là hình thức thích hợp cho lực lượng sản xuất Nhưng do lực lượng sản xuất biến đổi nhanh hơn nên sẽ đến lúc quan hệ sản xuất lạc hậu hơn so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sẽ trở thành yếu tố kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển Để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, con người phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với lực lượng sản xuất Như vậy sự biến đổi của nội dung quy định sự biến đổi của hình thức

c Sự tác động trở lại của hình thức đối với nội dung

Hình thức do nội dung quyết định nhưng hình thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại nội dung Sự tác động của hình thức đến nội dung thể hiện ở chỗ: Nếu phù hợp với nội dung thì hình thức sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy nội dung phát triển; nếu không phù hợp với nội dung thì hình thức sẽ ngăn cản, kìm hãm sự phát triển của nội dung

3 Ý nghĩa phương pháp luận

Thứ nhất, hình thức của sự vật, hiện tượng do nội dung của nó quyết định, là kết quả những thay đổi của nội dung và để đáp ứng những thay đổi đó thì sự thay đổi hình thức phải dựa vào những thay đổi thích hợp của nội dung quyết định nó; do vậy, muốn biến đổi sự vật, hiện tượng thì trước hết phải tác động, làm thay đổi nội dung của nó.,

Thứ hai, hình thức chỉ thúc đẩy nội dung phát triển khi nó phù hợp với nội dung nên để thúc đẩy sự vật, hiện tượng phát triển nhanh, cần chú ý theo dõi mối quan

Trang 5

hệ giữa nội dung đang phát triển với hình thức ít thay đổi, và khi giữa nội dung với hình thức xuất hiện sự không phù hợp thì trong những điều kiện nhất định phải can thiệp vào tiến trình khách quan, đem lại sự thay đổi cần thiết về hình thức để nó trở nên phù hợp với nội dung đã phát triển và bảo đảm cho nội dung phát triển hơn nữa, không bị hình thức cũ kìm hãm

Thứ ba, một nội dung có thể có nhiều hình thức thể hiện và ngược lại nên cần sử dụng mọi hình thức có thể có, mới cũng như cũ, kể cả việc phải cải biến các hình thức vốn có, lấy hình thức này bổ sung, thay thế cho hình thức kia để làm cho bất

kỳ hình thức nào cũng trở thành công cụ phục vụ nội dung mới V.I Lênin kịch liệt phê phán thái độ chỉ thừa nhận các hình thức cũ, bảo thủ, trì trệ, chỉ muốn làm theo hình thức cũ; đồng thời cũng phê phán thái độ phủ nhận vai trò của hình thức cũ trong hoàn cảnh mới, chủ quan, nóng vội, thay đổi hình thức cũ một cách tùy tiện,

vô căn cứ

II Vận dụng cặp phạm trừ này vào phát triển thương hiệu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

1 Thực tiễn áp dụng cặp phạm trù “nội dung – hình thức” trong vấn đề thương hiệu, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

Thương hiệu về bản chất là uy tín, danh tiếng của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ hoặc của doanh nghiệp mà khách hàng nhận biết, nhớ đến thông qua nhãn hiệu hàng hoá

và những yếu tố ẩn chứa bên trong nhãn hiệu đó Rõ ràng, thương hiệu là một tài sản vô hình của doanh nghiệp, nó là tổng hợp của nhiều yếu tố, những thành quả

mà doanh nghiệp đã tạo dựng được trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của mình Sự nổi tiếng của thương hiệu là một lợi thế trong kinh doanh và là một bảo đảm cho lợi nhuận tiềm năng của doanh nghiệp Vì thế, xây dựng và phát triển thương hiệu là một vấn đề hết sức cần thiết đối với mọi doanh nghiệp để có thể cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài, nhất là trong điều kiện chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Theo đánh giá của Tổ chức định giá thương hiệu quốc gia Brand Finance, giá trị thương hiệu Việt Nam tăng 226%, từ 141 tỷ USD (năm 2016) lên 319 tỷ USD (năm 2020); xếp hạng thương hiệu Việt Nam đã tăng 17 bậc (từ vị trí thứ 50 năm 2016 lên vị trí thứ 33 năm 2019) và nằm trong nhóm thương hiệu mạnh.Năm

2021, Bộ Công Thương triển khai các hoạt động thiết thực, như: 1- Tổ chức chuỗi

sự kiện Tuần lễ thương hiệu quốc gia năm 2021 chào mừng Ngày Thương hiệu Việt Nam (ngày 20-4); 2- Truyền thông, quảng bá về Chương trình "Thương hiệu

Trang 6

quốc gia Việt Nam” và các sản phẩm đạt thương hiệu quốc gia tại “Triển lãm hybrid Tuần lễ thương hiệu quốc gia Việt Nam 2021 tại Singapore - sản phẩm Halal và thực phẩm chế biến” và tuyên truyền, quảng bá tại Tuần văn hóa các nước tại Hà Lan…; 3- Phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai hoạt động xét chọn sản phẩm tham gia trưng bày tại Triển lãm thế giới Expo 2020 Dubai và xây dựng bộ sản phẩm truyền thông (video clip TVC, ấn phẩm sách điện tử,…) về Chương trình “Thương hiệu quốc gia Việt Nam” và sản phẩm đạt thương hiệu quốc gia Việt Nam, Chương trình thương hiệu ngành thực phẩm Việt Nam trình chiếu tại Triển lãm và trên cổng thông tin điện tử của Triển lãm; 4- Phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam mở chuyên mục “Thương hiệu quốc gia Việt Nam” phát sóng trên kênh VTV1 và triển khai các hoạt động tuyên truyền, quảng bá

về thương hiệu quốc gia trên các phương tiện thông tin đại chúng

Ngoài ra, Bộ phối hợp và hỗ trợ các bộ, ngành khác triển khai nhiều đề án thuộc Chương trình “Thương hiệu quốc gia Việt Nam” nhằm nâng cao năng lực xây dựng và phát triển thương hiệu, tuyên truyền, quảng bá cho thương hiệu quốc gia

và các sản phẩm đạt thương hiệu quốc gia trên các phương tiện truyền thông ở trong và ngoài nước

Thực hiện tuyên truyền, quảng bá chỉ dẫn địa lý cho một số sản phẩm tiêu biểu của các địa phương tại thị trường nước ngoài (như thanh long Bình Thuận, cà phê Sơn

La, cà phê Buôn Mê Thuột, cà phê Khe Sanh, cà phê Cầu Đất, vải Thanh Hà, vải Lục Ngạn, chè Shan tuyết, xoài Yên Châu) bằng các sản phẩm truyền thông điện tử video clip, flip book,… nhằm tăng cường quảng bá, giới thiệu thương hiệu sản phẩm Việt Nam trên toàn thế giới (1)

Những năm qua, các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều thành công trong việc xuất khẩu một số mặt hàng vào các thị trường truyền thống Tuy nhiên, các doanh nghiệp vẫn quá chú trọng về số lượng, trong khi vấn đề thương hiệu chưa thực sự được quan tâm, nên một số nông sản Việt Nam có chất lượng và uy tín cao trên thị trường thế giới, như nước mắm Phú Quốc, cà phê Buôn Ma Thuột, gạo Nàng Hương… thường bị các doanh nghiệp nước ngoài sử dụng trên những sản phẩm không có xuất xứ Việt Nam

Nhìn chung các doanh nghiệp Việt Nam còn chưa nhận thức được đầy đủ về tầm quan trọng, ý nghĩa của vấn đề thương hiệu và vai trò của nó đối với bản thân sự phát triển của mình Quan niệm về thương hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn vẫn xuất phát từ mục tiêu ngắn hạn, lợi ích trước mắt, dưới sức ép của doanh số, thiếu tầm nhìn dài hạn và thậm chí còn mang tính cảm tính Trên thực

tế , nhiều doanh nghiệp không nhận thức rõ sự cần thiết tạo dựng và phát triển

Trang 7

thương hiệu nên đã không có chiến lược thương hiệu một cách rõ ràng, vì vậy lãng phí nhiều thời gian và có thể bỏ mất nhiều cơ hội thuận lợi Qua nhiều điều tra và khảo sát, số doanh nghiệp hiểu biết về thương hiệu, nhãn hiệu vẫn còn hạn chế Khảo sát hơn 500 doanh nghiệp của Bộ Công Thương tại Báo cáo khảo sát doanh nghiệp - Bộ Công Thương năm 2020 cho thấy, ấn tượng về hình ảnh biểu trưng cho sản phẩm hàng hóa Việt Nam còn mờ nhạt do chỉ có 20% doanh nghiệp đầu tư xây dựng thương hiệu và chỉ chú trọng đăng ký tại Việt Nam, chưa đăng ký tại thị trường nước ngoài, thiếu quan tâm khai thác và quản lý thương hiệu Công tác quảng bá xúc tiến hình ảnh trên các phương tiện thông tin đại chúng chưa được doanh nghiệp thực hiện đồng bộ, còn ít xuất hiện logo có giá trị cao Uy tín và chất lượng sản phẩm là hai yếu tố thường được chú trọng đầu tiên khi nhắc đến thương hiệu (63,4%) Tuy nhiên, gần 50% doanh nghiệp không có bộ phận chuyên trách

về tiếp thị hoặc thương hiệu; 49% doanh nghiệp do ban giám đốc trực tiếp chỉ đạo thực hiện Những người có vai trò quản lý thương hiệu hầu hết đều được đào tạo trong nước, trừ một số rất ít (dưới 5%) được đào tạo tại nước ngoài Có đến 20% doanh nghiệp không đầu tư chi phí cho việc dựng thương hiệu Trên 70% doanh nghiệp đầu tư dưới 5% doanh số cho việc xây dựng và phát triển thương hiệu

Nước ta có lợi thế và tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp, thuận lợi để sản xuất các sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới chất lượng cao, đa dạng, đặc trưng theo từng vùng, miền Tuy nhiên, việc đưa nông sản Việt Nam ra thị trường quốc tế đang đối diện nhiều thách thức, nhất là nguy cơ mất thương hiệu do chưa được đăng ký bảo hộ trước đó Trên thực tế, số lượng sản phẩm nông sản của Việt Nam

đã xây dựng được thương hiệu và được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý cả trong nước và thị trường quốc tế còn hạn chế. Chỉ có một tỷ lệ nhỏ hàng xuất khẩu Việt Nam tiêu thụ qua hệ thống phân phối trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam trên các thị trường trọng điểm (EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc…), còn lại chủ yếu xuất qua các trung gian phân phối Thương hiệu hàng Việt Nam còn mờ nhạt trong con mắt người tiêu dùng nước ngoài Lợi thế cạnh tranh của hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu vẫn dựa trên giá cả, chưa dựa nhiều vào giá trị

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, tính cạnh tranh cao đòi hỏi các doanh nghiệp phải có chiến lược xây dựng, phát triển, quảng bá và bảo vệ thương hiệu ngay từ thị trường trong nước Thời gian vừa qua, nhiều doanh nghiệp đã chú trọng xây dựng và có sự đầu tư thích đáng cho công tác này Tuy nhiên, việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ và thiếu tính chuyên nghiệp, đồng bộ Nội dung các chiến lược thương hiệu không được định vị một cách rõ ràng, dẫn đến hiệu quả của việc xây dựng và phát triển thương hiệu không cao.Việc xây dựng chiến lược và kế

Trang 8

hoạch xây dựng phát triển thương hiệu  thường ít có sự đóng góp của các đơn vị tư vấn chuyên nghiệp vì doanh nghiệp chưa tin tưởng và hài lòng khi sử dụng dịch vụ Dịch vụ của đơn vị tư vấn nước ngoài chưa được sử dụng nhiều, nhưng các doanh nghiệp đã sử dụng đều có mức độ hài lòng cao hơn so với dịch vụ trong nước

2 Một số giải pháp để giải quyết vấn đề thương hiệu của nước ta hiện nay

Để có được sự thành công, doanh nghiệp cần chú trọng vào tất cả yếu tố cả bên ngoài lẫn bên trong, nếu chỉ chú trọng vào xây dựng sản phẩm, con người và các yếu tố bên trong mà không chủ ý đầu tư phát triển thương hiệu thì chưa chắc doanh nghiệp có thể thành công dù họ xây dựng được sản phẩm hoàn hảo Ngược lại, nếu chỉ đầu tư phát triển thương hiệu mà quên đi cải tiến sản phẩm, chiến lược kinh doanh, phát triển con người thì chắc chắn khách hàng của họ sẽ không tin dùng Các yếu tố bên trong doanh nghiệp luôn giữ vai trò quyết định, muốn doanh nghiệp phát triển thì trước hết phải có những chiến lược đúng đắn và sự nỗ lực hết mình của toàn thể nhân viên Thương hiệu chỉ là phần hỗ trợ cho sự phát triển đó, sau khi đã thay đổi về chất của doanh nghiệp để phát triển thì sự thay đổi thương hiệu phù hợp sẽ tạo nên những thành công rực rỡ hơn cho doanh nghiệp

Vì vậy, các doanh nghiệp cần thiết nhận biết vai trò của thương hiệu, tạo sự phù hợp giữa thương hiệu và các yếu tố của doanh nghiệp để doanh nghiệp thu được lợi ích cao nhất, và theo thời gian khi mà thương hiệu không còn phù hợp thì cần có những cải tiến để thương hiệu luôn thể hiện được vai trò to lớn của nó trong sự phát triển của doanh nghiệp Một số giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, về nhận thức: xây dựng thương hiệu trước hết cần phải được bắt đầu từ trong tư duy và nhận thức, từ chính hoài bão và ước mơ của chủ thương hiệu Cần nhận thức đúng về vai trò của thương hiệu trong từng thời kỳ phát triển của doanh nghiệp đồng thời cũng cần nhận thức rằng việc xây dựng thương hiệu không phải

là việc của riêng giám đốc thương hiệu hay của nhân viên chuyên trách nào mà đó

là trách nhiệm, nghĩa vụ và cũng là quyền lợi của mỗi cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp Các doanh nghiệp cần đào tạo đội ngũ chuyên gia về xây dựng thương hiệu, giỏi về kinh doanh, hiểu biết về sản phẩm và có kiến thức về sở hữu công nghiệp, có óc thẩm mỹ trong thiết kế nhãn hiệu cho sản phẩm, không ngừng nâng cao kiến thức cho đội ngũ bán hàng, mậu dịch viên Để mỗi nhân viên là một đại sứ cho thương hiệu của mình người lãnh đạo cần triển khai các chương trình

Trang 9

nội bộ như: tổ chức nhiều buổi chia sẻ tầm nhìn cho nhân viên; tổ chức huấn luyện

về thương hiệu cho tất cả mọi người trong doanh nghiệp Từng vị trí công việc của doanh nghiệp phải hiểu được vai trò của họ trong việc bảo vệ và phát triển thương hiệu, mỗi nhân viên phải có ý thức được rằng mỗi một ứng xử không khéo có thể làm tổn thương đến thương hiệu

Thứ hai, doanh nghiệp cần hiểu rằng cơ sở của thương hiệu là sản phẩm, chất lượng dịch vụ và văn hóa doanh nghiệp Sản phẩm, dịch vụ tồi là cách nhanh nhất

để làm mất thương hiệu trên thị trường Vấn đề cốt lõi trong việc giữ gìn và phát triển thương hiệu bền vững là phải kết hợp hoàn hảo giữa chiến lược thương hiệu với chiến lược sản phẩm và giữ vững văn hóa doanh nghiệp Thương hiệu là hình ảnh của sản phẩm, dịch vụ, của văn hóa doanh nghiệp và chất lượng của hình ảnh này chính là phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm, dịch vụ và dấu ấn văn hóa riêng của doanh nghiệp Doanh nghiệp phải xây dựng được uy tín và hình ảnh thương hiệu bằng cách không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ chăm sóc khách hàng, xây dựng mạng lưới phân phối, đưa thương hiệu đến với người tiêu dùng, đảm bảo sự gần gũi giữa thương hiệu và khách hàng Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần không ngừng đầu tư vào nghiên cứu phát triển, tạo sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng

Phối hợp, lồng ghép các nguồn lực hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại từ Trung ương đến địa phương; các tổ chức quốc tế, hiệp hội, doanh nghiệp tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại gắn với xây dựng và phát triển thương hiệu nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm xuất khẩu và tham gia vào những khâu có giá trị cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.Chương trình “Thương hiệu quốc gia Việt Nam” ngoài việc lựa chọn các thương hiệu dẫn đầu như hiện nay, cần lựa chọn, khai thác

cả những sản phẩm độc đáo, có chỉ dẫn địa lý ở các địa phương, tích hợp các giá trị, tri thức bản địa và thương mại hoá Việc mở rộng thương hiệu quốc gia, mở rộng các thương hiệu tập thể mang chỉ dẫn địa phương, vùng miền sẽ có tính khuếch trương mạnh Thương hiệu sản phẩm gắn với các vùng, miền sẽ có tác dụng quan trọng thúc đẩy xuất khẩu Cần đưa vào chiến lược thúc đẩy xuất khẩu, gắn kết thương hiệu vùng, miền với thương hiệu quốc gia

Thứ ba, các doanh nghiệp cần xây dựng cho mình một thương hiệu hàng hóa và đăng ký bảo hộ thương hiệu ngay vì điều đó là một đảm bảo lâu dài cho việc xây dựng những giá trị cho tương lai, cho sự cạnh tranh của doanh nghiệp với thị trường, và quan trọng là tạo cho doanh nghiệp hành lang an toàn để tránh những trở ngại trong con đường kinh doanh và đầu tư của mình Khi doanh nghiệp tạo

Trang 10

được một thương hiệu riêng cho sản phẩm của mình và đăng ký bảo hộ thương hiệu thì doanh nghiệp có thể độc quyền khai thác nó, tạo ra ưu thế trong kinh doanh, để bảo vệ uy tín doanh nghiệp, tạo điều kiện để thực hiện hiệu quả việc quảng cáo, hướng dẫn tiêu dùng về hàng hóa và dịch vụ từ đó làm tăng doanh thu, lợi nhuận cho doanh nghiệp và cũng có thể chuyển nhượng cho đối tượng khác hoặc tính gộp giá trị thương hiệu vào tài sản doanh nghiệp khi liên doanh, liên kết căn cứ vào thị phần, sự ổn định, tính quốc tế, xu hướng phát triển và sự bảo hộ thương hiệu của doanh nghiệp.nghiên cứu, xây dựng chính sách khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam chủ động tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu với hàng hóa có thương hiệu, giá trị gia tăng cao Tăng cường cơ chế hợp tác toàn diện với

hệ thống phân phối lớn ở các thị trường khu vực Có cơ chế, chính sách nhằm động viên, khuyến khích doanh nghiệp, hiệp hội và người Việt Nam ở nước ngoài từng bước xây dựng kênh phân phối hàng hóa Việt Nam tại nước sở tại Chú trọng tập huấn, đào tạo lại việc ứng dụng các kỹ năng nghiên cứu thị trường, marketing, kỹ năng đàm phán quốc tế, nghiệp vụ kỹ thuật ngoại thương, trình độ ngoại ngữ, ứng dụng tin học, nâng cao tay nghề… đối với các doanh nghiệp

Thứ tư, nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu Nhà nước cần có chương trình tổng thể tầm quốc gia nhằm tăng cường nhận thức và hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình xây dựng và bảo vệ thương hiệu, quảng bá và phát triển thương hiệu Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ như: khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư vào xây dựng thương hiệu, đơn giản hoá thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đăng ký thương hiệu nhanh chóng, hỗ trợ doanh nghiệp trong đào tạo, huấn luyện, cung cấp thông tin, tư vấn cho doanh nghiệp xây dựng và quảng bá thương hiệu, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu thương hiệu, có chính sách bảo vệ hình ảnh đất nước, con người, sản phẩm hàng hoá Việt Nam thông qua thương hiệu sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp Các doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ và hiệu quả với các hiệp hội chuyên ngành, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Cục Xúc tiến Thương mại (Bộ Thương mại)… để tận dụng có hiệu quả sự hỗ trợ về xúc tiến thương mại, quảng

bá sản phẩm, thu thập thông tin, chắp nối các kênh phân phối, tư vấn pháp luật…

Hy vọng rằng, với những gợi mở mang tính chiến lược trên các doanh nghiệp Việt

có cơ sở nền tảng để thay đổi từ tư duy chiến lược đến thực thi cụ thể các công cụ, qua đó phát triển thương hiệu bền vững và lâu dài

III Kết luận

Ngày đăng: 28/06/2023, 22:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w