1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Lí luận về giá trị thặng dư,vận dụng lí luận này trong việc nâng cao hiệu quả nền kinh tế thị trường

14 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lí luận về Giá trị Thặng dư, Vận dụng Lí luận Này Trong Việc Nâng Cao Hiệu Quả Nền Kinh Tế Thị Trường
Người hướng dẫn PGS.TS Tô Đức Hạnh
Trường học Trường đại học kinh tế dân lập đô thị
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 118,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ DÂN KHOA ĐÔ THỊ MÔI TRƯỜNG BÀI TẬP LỚN Môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin2 Đề tài Lí luận về giá trị thặng dư,vận dụng lí luận này trong việc nâng cao hiệu quả n[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ DÂN

KHOA: ĐÔ THỊ MÔI TRƯỜNG

BÀI TẬP LỚN

Môn: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin2

Đề tài: Lí luận về giá trị thặng dư,vận dụng lí luận này trong việc nâng cao hiệu

quả nền kinh tế thị trường

SV thực hiện: TỐNG QUỲNH TRANG

Lớp tín chỉ: 9

GV hướng dẫn: PGS.TS TÔ ĐỨC HẠNH

Hà Nội: 5-2013

Mở đầu

Trang 2

Học thuyết giá trị thặng dư là một trong hai phát kiến lớn nhất mà Mac đã đóng góp cho nhân loại Cho đến nay học thuyết giá trị thặng dư vẫn giữ nguy giá trị Tuy nhiên nó cần được phát triển cho phù hợp với thực tiến ngày nay

Trước Mác, ngay cả những nhà kinh tế lỗi lạc như D.Ricado cũng không giải thích được vì sao trao đổi hàng hóa theo đúng quy luật giá trị mà nhà tư bản vẫn thu được lợi nhuận Nhờ phân biệt được phạm trù lao động và tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa Mác đã chứng minh một cách khoa học rằng trong quá trình sản xuất hàng hóa lao động cụ thể của công nhân chuyển giá trị của tư liệu sản xuất đã được tiêu dùng sang sản phẩm, đồng thời lao động trừu tượng của người đó thêm vào một giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao đông của mình.Khoản lớn hơn đó, tức là khoản dư ra ngoài khoản bù vào giá trị sức lao động Mác gọi là giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt

Trong xã hội tư bản, mối quan hệ giữa tư bản và lao động là mối quan hệ cơ bản, sâu sắc nhất, xuyên qua tất cả các quan hệ sản xuất của xã hội đó Gía trị thặng dư, phần giá trị do lao động của công nhân làm thuê sáng taọ ra ngoài sức lao động bị nhà tư bản chiếm không, phản ánh mối quan hệ sản cơ bản nhất đó.Gía trị thặng dư do lao động không công của công nhân làm thuê sáng tạo ra

là nguồn gốc làm giàu của giai cấp các nhà tư bản, sản xuất ra giá trị thặng dư là

cơ sở tồn tại của chủ nghĩa tư bản Toàn bộ hoạt động của nhà tư bản hướng đến tăng cường việc tạo ra giá trị thặng dư thông qua hai phương pháp cơ bản là tạo ra giá trị thặng dư tuyệt đối và tạo ra giá trị thặng dư tương đối

Trang 3

Phần I: Lí luận về giá trị thặng dư

I.Giá trị thăng dư

Giá trị thặng dư được Mac xem là giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê sáng tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không

Có thể lấy một ví dụ như sau để giải thích: Giả sử một người lao động trong một giờ làm ra được giá trị sản phẩm là 1000 đồng Đến giờ thứ hai trở đi, trên

cơ sở sức lao động đã bỏ ra ở giờ thứ nhất, người lao động đó sẽ làm ra được

1100 đồng Số tiền chênh lệch đó chính là giá trị thặng dư sức lao động

Giá trị thặng dư được tạo ra trong quá trình sản xuất nhưng lưu thông là điều kiện không thể thiếu được Công thức T-H-T’ với T’=T+m: Được gọi là công thức chung của tư bản Mọi

tư bản đều vận động như vậy nhằm mục đích mang lại giá trị thặng dư Vậy số tiền trội hơn (ΔT) hay giá trị thặng dư (m) sinh ra từ đâu?

Thoạt nhìn, hình như giá trị thặng dư sinh ra trong lưu thông Vậy có phải do bản chất của sự lưu thông đã làm cho tiền tăng thêm và do đó hình thành giá trị thặng dư hay không?

+ Nếu mua - bán ngang giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị: từ tiền thành hàng hoặc từ hàng thành tiền Còn tổng số giá trị trong tay mỗi người tham gia trao đổi trước sau vẫn không thay đổi

+ Trong trường hợp trao đổi không ngang giá, hàng hóa có thể bán cao hơn hoặc thấp hơn giá trị Nhưng, trong nền kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất đều vừa

là người bán, vừa là người mua Cái lợi mà họ thu được khi bán sẽ bù lại cái thiệt khi mua hoặc ngược lại

Trang 4

+ Trong trường hợp có những kẻ chuyên mua rẻ, bán đắt thì tổng giá trị toàn xã hội cũng không hề tăng lên, bởi vì số giá trị mà những người này thu được chẳng qua chỉ là sự ăn chặn, đánh cắp số giá trị của người khác mà thôi

Giống như em bị ăn trộm móc mất 100 ngàn thì em mất 100 ngàn nhưng số tiền

đó ko mất đi mà nó chuyển vào túi thằng ăn trộm và như vậy tổng tài sản của

XH cũng không tăng lên hay giảm đi

Như vậy lưu thông và bản thân tiền tệ trong lưu thông không hề tạo ra giá trị + Nhưng nếu người có tiền không tiếp xúc gì với lưu thông, tức là đứng ngoài lưu thông thì cũng không thể làm cho tiền của mình lớn lên được

Vậy là tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông" Đó là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản C.Mác là người đầu tiên phân tích và giải quyết mâu thuẫn đó bằng lý luận về hàng hóa sức lao động

Nhưng vì sao nhà tư bản vẫn có lời? Đó là do họ có một thứ hàng hóa đặc biệt,đó chính là HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG

Trong quá trình lao động, sức lao động tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó; phần giá trị dôi ra so với giá trị sức lao động là giá trị thặng dư

Đó chính là đặc điểm riêng của giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động, là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản như trên

II.Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư

Trang 5

1 Phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối

Bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối được tiến hành bằng cách kéo dài tuyệt đối thời gian lao động trong ngày của người công nhân trong điều kiện thời gian lao động cần thiết ( hay mức tiền công mà nhà tư bản tả công cho công nhân là không đổi).Mặt khác sức lao động là thứ hàng hóa đặc biệt vì vậy ngoài yếu tố vật chất người công nhân đòi hỏi phải có thời gian cho những nhu cầu sinh hoạt

về tinh thần, vật chất, tôn giáo của mình Từ đó tất yếu dẫn đến phong trào của giai cấp vô sản đấu tranh đòi giai cấp tư sản phải rút ngắn thời gian lao động trong ngày

Vì vậy, giai cấp tư sản phải chuyển sang một phương pháp bóc lột mới tinh vi hơn, đó là phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối

2 Phương pháp giá trị thặng dư tương đối

Bóc lột giá trị thặng dư tương đối được tiến hành bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết để trên cơ sở đó mà kéo dài tương ứng thời gian lao động thặng dư, trong điều kiện độ dài của ngày lao động không đổi.Cho nên để rút ngắn thời gian lao động cần thiết thì các nhà tư bản phải tìm ra mọi biện pháp, đặc biệt là áp dụng tiến bộ công nghệ vào trong quá trình sản xuất để nâng cao năng suất lao động xã hội, giảm giá thành và tiến tới giảm giá cả thị trường của sản phẩm, đặc biệt nâng cao năng suất lao động xã hội trong những ngành, những lĩnh vực sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng để nuôi sống người công nhân

Từ đó tiến tới hạ thấp giá trị sức lao động

Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối chiếm những ưu thế, thì đến giai đoạn tiếp sau, khi mà kỹ thuật phát triển, sản

Trang 6

xuất giá trị thặng dư tương đối chiếm vị thế chủ yếu Hai phương pháp trên được các nhà tư bản sử dụng kết hợp với nhau để nâng cao trình độ bóc lột công nhân

là thuê trong các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản

Hai phương thức sản xuất giá trị thặng dư nói trên được các nhà tư bản sử dụng kết hợp với nhau để nâng cao trình độ bóc lột công nhân làm thuê trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản

 Giá trị thặng dư siêu ngạch: là phần giá trị thặng dư thu được do tăng năng suất lao động cá biệt, làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó

Xét từng trường hợp, thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời chỉ tồn tại với một nhà tư bản cá biệt, nhanh chóng xuất hiện rồi cũng nhanh chóng mất đi Nhưng xét toàn bộ xã hội tư bản thì giá thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường xuyên.Theo đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch là khát vọng của nhà tư bản và là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kĩ thuật, hợp lí hóa sản xuất, tăng năng suất lao động

Phần II: Thực trạng việc nghiên cứu và vận dụng giá trị thặng dư ở nước ta

Trang 7

I.Tình hình nghiên cứu giá trị thặng dư ở nước ta hiện nay

Để tránh mắc sai lầm mang tính giáo điều, dập khuôn, duy ý chí, môt số kết luận của Mác trong điều kiện lịch sử cũ lại dựa trên phương pháp giả định gắn với mục đích nghiên cứu CNTB cổ điển không nên hiểu và vận dụng nguyên si Trong điều kiện hoàn cảnh mới các nhà nghiên cứu đã chứng minh những luận điểm đúng đắn của Mác: “chỉ có lao động mới tạo ra giá trị và giá trị thặng dư; máy móc tuy có vai trò không thể thiếu trong quá trình sản xuất, là điều kiện để sản xuất ra giá trị thặng dư, nhưng nó không làm tăng giá trị mà chỉ chuyển dần giá trị của bản thaan nó sang sản phẩm mới; phân tích làm rõ vai trò của lao động trí tuệ, lao động quản lý trong quá trình lao động và sản xuất giá trị thặng dư; khẳng định sản xuất tạo ra giá trị thặng dư hay lợi nhuận vẫn là phương thức tuyệt đối của CNTB…”.Qua đó các nhà khoa học đã khẳng định sự đúng đắn của lý luận giá trị thặng dư của Mác trong điều kiện mới của thời đại

II.Thực trạng sản xuất giá trị thặng dư ở nước ta

1 Phát triển và sử dụng nguồn nhân lực ở nước ta

Thống kê cho thấy, năm 2011, tại Việt Nam lực lượng lao động từ 15 tuổi trở

lên chiếm 51,39 triệu người, tăng 1,97% so với năm 2010, trong đó lao động nam chiếm 51,6%; lao động nữ chiếm 48,4% Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 46,48 triệu người, tăng 0,12% Ở Việt Nam, từ năm 2001 tới nay, chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đã được xây dựng và triển khai qua hai giai đoạn 2001- 2005 và đến 2010, Chương trình đã có sự lồng ghép hiệu quả với các chương trình kinh tế xã hội khác đem góp phần thúc

đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động …Cụ thể, trong giai đoạn

2001-2010, với nguồn vốn bổ sung hàng năm từ Ngân sách Nhà nước, đến

Trang 8

nay Quỹ Quốc gia về việc làm đã tích luỹ được trên 3.761 tỷ đồng và được phân bổ cho 63 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội Ngoài ra, có 45 tỉnh, thành phố đã thành lập Quỹ việc làm địa phương với số vốn trên 950 tỷ đồng.Song song với đó, Việt Nam cũng đẩy mạnh hoạt động đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Hiện lao động Việt Nam đã có mặt trên 40 nước và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành nghề các loại Riêng trong giai đoạn 2006-2010, đã đưa được 409 nghìn lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng, trong đó, có trên 30 tỉnh, thành phố có trên 1 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài/năm

2.Khuyến khích đầu tư và sử dụng vốn có hiệu quả

Theo báo cáo đánh giá kinh tế vĩ mô quý I/2013 của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, lạm phát quý I/2013 tăng 2,39% so với đầu năm Đây là mức tăng thấp nhất trong vòng 4 năm trở lại đây Số liệu thống kê của cơ quan này về doanh số bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng ước tăng khoảng 11,7% so với cùng kỳ năm 2012.Nếu loại trừ yếu tố giá thì mức tăng là 4,5% thấp hơn 0,2% so với cùng kỳ năm trước Đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước giảm 4,9% so với cùng kỳ…

Tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong tháng 4/2013 ước đạt 20,4 tỷ USD, giảm 9,8% so với tháng 3/2013; trong đó tổng trị giá xuất khẩu ước đạt 9,7 tỷ USD, giảm 12,1% và tổng trị giá nhập khẩu ước đạt 10,7 tỷ USD, giảm 7,6%.Nhập khẩu thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất của khu vực doanh nghiệp trong nước có xu hướng tăng trở lại

Trang 9

4/2013 ước Tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong tháng đạt 20,4 tỷ USD, giảm 9,8% so với tháng 3/2013; trong đó tổng trị giá xuất khẩu ước đạt 9,7 tỷ USD, giảm 12,1% và tổng trị giá nhập khẩu ước đạt 10,7 tỷ USD, giảm 7,6%.Nhập khẩu thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất của khu vực doanh nghiệp trong nước có xu hướng tăng trở lại

Tính chung trong 4 tháng năm 2013, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam ước đạt gần 79,65 tỷ USD, tăng 17,5% so với cùng kỳ năm 2012; trong đó tổng trị giá xuất khẩu ước đạt 39,46 tỷ USD, tăng 16,9% so với cùng kỳ năm 2012; tổng trị giá nhập khẩu ước đạt 40,19 tỷ USD, tăng 18% so với cùng

kỳ năm 2012

3 Áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất

Theo thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2013 tăng 0,02% so với tháng trước, là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ trong vòng 4 năm qua(so với tháng trước, CPI tháng 4 các năm 2010-2013 lần lượt là: 0,14%; 3,32%; 0,05% và 0,02%) So với tháng 12/2012, CPI tháng 4/2013 tăng 2,41%, cũng là mức tăng thấp nhất trong 4 năm qua (cùng kỳ năm 2012 tăng 2,6%; năm 2011: 9,64%; năm 2010: 4,27%)

Trong 4 tháng đầu năm, vốn FDI đăng ký ước đạt khoảng 8,22 tỷ USD, tăng 17%, vốn thực hiện ước đạt 3,75 tỷ USD, tăng 3,9% với cùng kỳ năm trước; giải ngân vốn ODA đạt khá

Trong khi nhiều doanh nghiệp công bố kết quả kinh doanh thua lỗ, giảm sút trong quý I/2013 thì một số công ty lại “lội ngược dòng” Họ đã làm gì để có sự tăng trưởng đột biến này?

Trang 10

CTCP Nhiệt điện Phả Lại ( PPC) vừa công bố báo cáo tài chính quý I/2013, Theo đó, PPC ghi nhận doanh thu bán hàng trong quý I/2013 là 1.778 tỷ đồng, tăng 64% so với cùng kỳ năm ngoái Doanh thu tài chính đạt 691 tỷ đồng, tăng 352% so với cùng kỳ Trong khi đó, chi phí tài chính, chi phí quản lý doanh nghiệp đều giảm Kết quả, LNTT quý I/2013 của PPC đạt 1.012 tỷ đồng, gấp 6 lần so với cùng kỳ và gấp 2,5 lần kế hoạch lãi 400 tỷ đồng đặt ra cho cả năm 2013

Theo giải trình từ PPC, sở dĩ Công ty có kết quả kinh doanh tốt như trên vì trong quý I/2013, PPC phát hơn 2 tỷ Kwh, tăng 25% so với cùng kỳ Sản lượng điện sản xuất cao là do thời gian này là mùa khô, các nhà máy thủy điện thực hiện tích nước nên hệ thống điện quốc gia yêu cầu PPC phát điện với công suất cao Quý I/2013 cũng là thời điểm PPC không dừng các tổ máy để sửa chữa đại tu nên PPC đạt công suất sản xuất tối đa, làm cho lợi nhuận từ sản xuất điện trong quý I năm nay đạt 351 tỷ đồng, gấp 3 lần cùng kỳ năm ngoái

Phần III: Một số giải pháp để vận dụng giá trị thặng dư

1 Nâng cao chất lượng nguồn lao đông

-Nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp Cải cách phương pháp đào tạo, gắn lý thuyết với thực hành, khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học

Trang 11

-Thường xuyên đào tạo mới và đào tạo lại lao động để đáp ứng nhu cầu thị trường sức lao động đồng thời đảm bảo bình đẳng nhu cầu việc làm cho người lao động Khuyến khích các doanh nghiệp phối hợp với nhà trường trong việc đào tạo

-Đối với các doanh nghiệp cần thực hiên kiểm tra sức khỏe định kì cho công nhân, đặc biệt đối với các ngành nghề làm trong môi trường độc hại

-Cải cách chế độ tiền lương nhưng vẫn duy trì ưu đãi xã hội và bảo hiểm xã hội

2 Thu hút đầu tư trong và ngoài nước

-Cải thiện môi trường kinh doanh trong nước, thực hiện bình đẳng giữa các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân

-Tiếp tục tiến hành cải cách các thủ tục hành chính, giảm bơt các thủ tục hành chính cho các doanh nghiệp

-Không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.Khi nói đến hiệu quả đầu

tư là không chỉ nói đến hiệu quả kinh tế mà còn nói đến hiệu quả xã hội Vì vậy khi đầu tư phải xác định rõ mục đích đầu tư và không được thay đổi mục đích đó trong quá trình đầu tư

-Khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng khoa học kĩ thuật tiên tiến, nâng cao năng suất lao động nhằm thu giá trị thặng dư siêu ngạch

-Đối với các địa phương khi tiến hành đầu tư cấn phát huy lợi thế so sánh của mình nhằm tận dụng tối đa thế mạnh của địa phương

Ngày đăng: 26/02/2023, 14:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w