1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ TÀI NỘI DUNG CẶP PHẠM TRÙ CÁI CHUNG – CÁI RIÊNG VÀ VẬN DỤNG VÀO QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

13 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 249,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN Học phần: TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN Đ Ề TÀI : NỘI DUNG CẶP PHẠM TRÙ CÁI CHUNG – CÁI RIÊNG VÀ VẬN DỤNG VÀO QUÁ TRÌNH PHÁT

Trang 1

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

Học phần: TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN

Đ

Ề TÀI : NỘI DUNG CẶP PHẠM TRÙ CÁI CHUNG – CÁI RIÊNG VÀ VẬN DỤNG VÀO QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM.

Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2022

Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện Lớp

Mã sinh viên

: Đào Thị Hữu : Nguyễn Thị Thu Hà : F14D

: F14076

Trang 2

Table of Content

No table of contents entries found

s

Trang 3

I MỞ ĐẦU:

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Năm 1986 trở về trước nền kinh tế nước ta là nền kinh tế sản xuất nhỏ, mang tính

tự cung tự cấp vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Mặt khác do những sai lầm trong nhận thức về mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế nước ta ngày càng tụt hậu, khủng hoảng trầm trọng kéo dài, đời sống nhân dân thấp Muốn thoát khỏi tình trạng đó con đường duy nhất là phải đổi mới kinh tế Sau đại hội Đảng VI năm 1986 nền kinh tế nước ta chuyển sang một hướng đi mới: phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường

có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa- đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Sau hơn 35 năm thực hiện đổi mới, nền kinh tế nước ta ngày càng ổn định, vững chắc hơn, các cân đối nền kinh tế cơ bản được đảm bảo, tốc độ tăng trưởng duy trì

ở mức khá cao, quy mô và tiền lực kinh tế tăng lên Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu Đảng và nhà nước ta đạt được thì nền kinh tế thị trường vẫn còn nhiều hạn chế, điều này đòi hỏi sự học tập, tiếp thu những kinh nghiệm của nhân loại trên cơ sở cân nhắc, lựa chọn phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam Trong quá trình học hỏi đó, triết học Mác – Lênin, đặc biệt là phạm trù triết học cái chung và cái riêng có vai trò làm kim chỉ nam trong mọi hoạt động nhận thức

về kinh tế thị trường

Vì vậy em đã chọn đề tài “Nội dung cặp phạm trù cái chung – cái riêng và vận

dụng vào quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.” làm nội dung cho bài tiểu luận này với mong muốn tìm hiểu

rõ hơn về vai trò của cái chung và cái riêng trong trong quá trình phát tiển nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, từ đó liên hệ thực tiễn và liên hệ đến bản thân nhằm góp phần xây dựng nước ta ngày càng giàu mạnh, phát triển, văn minh, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

Trang 4

Tìm hiểu về cặp phạm trù cái chung – cái riêng và mối quan hệ giữa chúng, từ đó liên hệ, vận dụng đến quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Để đạt được mục đích này thì đề tài phải giải quyết 2 nội dung Thứ nhất là làm rõ khái niệm, mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Thứ hai là làm rõ tính quy luật chung và đặc điểm đơn nhất của quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam từ đó liên hệ bản thân

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1.Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu về vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng vào phân tích kinh tế thị trường ở Việt Nam

3.2.Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi về không gian: Việt Nam

Phạm vi về thời gian: hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:

4.1.Cơ sở lý luận:

Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về phạm trù cái chung và cái riêng

4.2.Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu và trình bày tiểu luận, tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; đồng thời vận dụng quan điểm khách quan, quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển, quan điểm lịch sử cụ thể, quan điểm thực tiễn

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài:

5.1.Ý nghĩa lý luận:

Tiểu luận góp phần làm rõ các vấn đề về cặp phạm trù cái chung – cái riêng và mối quan hệ của cái chung – cái riêng Đồng thời, vận dụng vào quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Trang 5

Tiểu luận có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo để tiếp tục đi sâu nghiên cứu cặp phạm trù cái chung – cái riêng và vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng vào phân tích kinh tế thị trường ở Việt Nam

5.2.Ý nghĩa thực tiễn:

Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều nhận thấy đường lối phát triển kinh tế là yếu tố đầu tiên quyết định sự thành bại trong quá trình chuyển biến nền kinh tế từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế thị trường Đặc biệt, nước ta hiện nay phải trau dồi thêm cho mình những kiến thức, kinh nghiệm để phát triển, vững mạnh thêm nữa Hơn thế nữa, nước ta còn là một nước lạc hậu, kém phát triển so với các quốc gia khác Vì vậy, ta phải học tập thêm kinh nghiệm, cách làm việc của các quốc gia khác, điển hình là một số nước đang thuộc top như Mỹ, Singapo, Nhật Bản, Trung Quốc,…

I NỘI DUNG:

Phần 1: Phần lý luận:

1 Cặp phạm trù cái chung – cái riêng:

1.1.Khái niệm cái chung, cái riêng, cái đơn nhất:

“Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một trong những sự vật, hiện tượng,

quá trình riêng lẻ, xác định trong thế giới khách quan mà trong chúng có chứa thuộc tính hay yếu tố chung” Ví dụ: Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường xuyên tiếp xúc với các sự vật, hiện tượng, quá trình khác nhau như ngôi nhà, cái bàn, cái ghế, hiện tượng ô nhiễm không khí, quá trình ra hoa của một cái cây, Mỗi sự vật, hiện tượng riêng lẻ đó được gọi là cái riêng

“Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ một mặt (thuộc tỉnh, yếu tố) không

chỉ có ở trong cái riêng (sự vật) này mà còn được lập lại trong những cái riêng (sự vật) khác” Ví dụ: Cái chung của người Việt Nam là có một lòng nồng nàn yêu nước, cái chung của chủ nghĩa tư bản là bóc lột giá trị thặng dư của công nhân làm thuê, cái chung của sinh viên là đi học, thi cử

“Cái đơn nhất” là phạm trù được dùng để chỉ những nét, những mặt, những

thuộc tính… chỉ có ở một kết cấu vật chất nhất định và không được lặp lại ở bất

Trang 6

cứ một kết cấu vật chất nào khác Về mặt ngữ nghĩa, “cái đơn nhất” gần giống với cái cá biệt Ví dụ: Đỉnh núi Everest cao nhất thế giới với độ cao 8.850 mét Độ

cao 8.850 mét của Everest là cái đơn nhất vì không có một đỉnh núi nào khác có

độ cao này

1.2.Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung, cái riêng và cái đơn nhất:

“Thứ nhất, cái chung chỉ tồn tại trong những cái riêng và thông qua những cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của chính mình” Ví dụ: Không có cái cây nói

chung tồn tại bên cạnh cây mai, cây đào, cây quất Nhưng cây mai, cây đào, cây quất nào cũng có rễ, thân, lá, có quá trình lý hóa để duy trì sự sống Những đặc tính này lặp lại ở những cây riêng lẻ, và được phản ánh trong khái niệm “cây” Đó

là cái chung của những cái cây cụ thể Rõ ràng cái chung tồn tại thực sự, nhưng không tồn tại ngoài cái riêng mà phải thông qua cái riêng

“Thứ hai, cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn đến cái chung và thông qua cái chung mà những cái riêng có liên hệ chuyển hóa lẫn nhau” Ví dụ,

mỗi con người là một cái riêng, nhưng mỗi người không thể tồn tại ngoài mối liên

hệ với tự nhiên và xã hội Không cá nhân nào không chịu sự tác động của các quy luật sinh học và quy luật xã hội Đó là những cái chung trong mỗi con người Như vậy sự vật, hiện tượng riêng nào cũng bao hàm cái chung trong nó

“Thứ ba, cái chung chỉ là một bộ phận của cái riêng, do đó cái riêng không gia nhập hết vào trong cái chung, bên trong cái riêng còn chứa cái đơn nhất”.

Có thể khái quát mối quan hệ cái chung, cái riêng bằng công thức như sau:

Cái riêng = Cái chung + Cái đơn nhất

Công thức trên có thể không đúng một cách tuyệt đối, nhưng trong một chừng mực nào đó thì nó có thể nói lên được quan hệ bao trùm giữa cái chung và cái riêng Cái chung chỉ giữ phần bản chất, hình thành nên chiều sâu của sự vật, còn cái riêng là cái toàn bộ vì nó là một thực thể sống động Trong mỗi cái riêng luôn tồn tại đồng thời cả cái chung và cái đơn nhất Nhờ thế, giữa những cái riêng vừa

có sự tách biệt, vừa có thể tác động qua lại với nhau, chuyển hóa lẫn nhau

Trang 7

“Thứ tư, trong những điều kiện xác định, cái đơn nhất và cái phổ biến hay cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau: Cái mới thường xuất hiện dưới dạng cái đơn nhất, qua quá trình phát triển mở rộng, cái mới sẽ chiến thắng cái cũ

và trở thành cái phổ biến Cải cũ ban đầu thường tồn tại dưới dạng cái phổ biến, sau đó nó ngày càng suy yếu, thu hẹp dần thành cái đơn nhất và cuối cùng mất đi” Ví dụ: Trong quá trình phát triển của sinh vật xuất hiện những biến

dị ở một hoặc một số ít cá thể riêng biệt biểu hiện thành đặc tính mà khi ngoại cảnh thay đổi nó trở nên phù hợp hơn thì đặc tính được bảo tồn, duy trì ở nhiều thế hệ và trở thành phổ biến của nhiều cá thể Ngược lại những đặc tính không phù hợp sẽ mất dần đi và trở thành cái đơn nhất; hoặc là trước Đại hội Đảng lần thứ VI thì kinh tế thị trường chỉ là cái đơn nhất, còn cái chung là cơ chế bao cấp; nhưng từ sau Đại hội thì kinh tế thị trường lại dần trở thành cái chung, còn kinh tế tập trung bao cấp thành cái đơn nhất, chỉ còn tồn tại trong một số lĩnh vực quan trọng như an ninh quốc phòng, an ninh năng lượng

Đôi khi sự phân biệt giữa cái chung và cái đơn nhất chỉ mang tính tương đối Có những đặc điểm xét trong nhóm sự vật này là cái đơn nhất, nhưng nếu xét trong nhóm sự vật khác lại là cái chung Ví dụ: Cá trê là cái chung nếu xem xét trong các loại cả trẻ ( vàng, đen, trắng ) nhưng nó lại là cái riêng nếu xem xét trong tất

cả các loại cá ( cả trẻ, cả phi, cá rô )

1.3.Ý nghĩa phương pháp luận:

1.3.1 Ý nghĩa lý luận:

Vì “cái chung” chỉ tồn tại trong và thông qua “cái riêng”, nên chỉ có thể tìm hiểu, nhận thức về “cái chung” trong “cái riêng” chứ không thể ngoài “cái

riêng” Để phát hiện, đào sâu nghiên cứu “cái chung”, ta phải bắt đầu nghiên cứu

từ những sự vật, hiện tượng riêng lẻ cụ thể chứ không thể xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Để giải quyết những vấn đề riêng, phải giải quyết những vấn đề chung có tính lý

luận Vì “cái riêng” gắn bó chặt chẽ với “cái chung”, không tồn tại bên ngoài

Trang 8

mối liên hệ dẫn tới “cái chung”, nên nếu muốn giải quyết những vấn đề riêng

một cách hiệu quả thì không thể bỏ qua việc giải quyết những vấn đề chung Nếu không giải quyết những vấn đề chung – những vấn đề mang ý nghĩa lý luận – thì

sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, tùy tiện Nếu bắt tay vào giải quyết những vấn đề riêng trước khi giải quyết những vấn đề chung thì ta sẽ không có định hướng mạch lạc

Bất cứ cái chung nào cũng tồn tại trong cái riêng nhưng đã được cải biến, vì thế

khi áp dụng cái chung vào từng trường hợp riêng cần được cá biệt hóa Vì “cái

chung” tồn tại như một bộ phận của “cái riêng”, bộ phận đó tác động qua lại với

những bộ phận còn lại của “cái riêng” mà không gia nhập vào “cái chung”, nên bất cứ “cái chung” nào cũng tồn tại trong “cái riêng” dưới dạng đã bị cải biến.

Tức là, luôn có sự khác biệt một chút giữa “cái chung” nằm trong “cái

riêng” này và “cái chung” nằm trong “cái riêng” kia Sự khác biệt đó là thứ yếu,

rất nhỏ, không làm thay đổi bản chất của “cái chung”.

Nếu cái đơn nhất có lợi, biến nó thành cái chung Cái chung không mong muốn, biến nó thành cái đơn nhất Vì trong quá trình phát triển của sự vật, trong những

điều kiện nhất định, “cái đơn nhất” có thể biến thành “cái chung” và ngược lại,

nên trong hoạt động thực tiễn, ta cần hết sức tạo điều kiện thuận lợi cho “cái đơn

nhất” phát triển, trở thành “cái chung” nếu điều này có lợi Ngược lại, phải tìm cách làm cho “cái chung” tiêu biến dần thành “cái đơn nhất” nếu “cái

chung” không còn phù hợp với lợi ích của số đông mọi người.

2 Vận dụng cặp phạm trù cái chung và cái riêng của phép duy vật biện chứng vào việc phân tích kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam hiện nay:

2.1.Quy luật chung của quá trình phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam:

Quá trình phát triển mô hình KTTT mỗi quốc gia đều có màu sắc riêng đó là những điều kiện đặc thù về mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Bên cạnh đó nhất thiết có đặc điểm chung mang tính quy luật mà khi theo mô hình kinh tế này đất nước chúng ta buộc phải trải qua

Trang 9

Một đặc điểm chung cơ bản dễ nhận ra đó là cũng như mọi nước khác, chúng ta cũng chịu sự phận công lao động theo nhiều ngành nghề, có sự khác biệt về sở hữu tài sản và đặc biệt lợi nhuận là động lực cho sự phát triển Nền kinh tế nước

ta cũng vận động theo quy luật vốn có của nền KTTT đó là quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ và phát triển các loại thị trường như thị trường tài chính, thị trường chứng khoán, thị trường lao động đây là những đặc điểm tốt mà kinh tế thị trường đem lại

Kinh tế thị trường định hướng XHCN do người lao động làm chủ Điều này có thể trên cơ sở nhà nước thực sự của dân, do dân và chế độ công hữu Trong đó, người lao động đóng vai trò sở hữu tư liệu sản xuất

Đặc điểm chung nữa là những vấn đề tiêu cực mà kinh tế thị trường đem lại, đó là

sự phân hóa giàu nghèo sâu sắc, sử dụng cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên gây ô nhiễm môi trường, nạn thất nghiệp gây khó khăn cho cuộc sống của nhiều người, các tệ nạn xã hội cũng gây sức ép to lớn cho nền kinh tế nước ta làm cho kinh tế nước ta phát triển mất cân đối

2.2.Đặc điểm đơn nhất của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:

Thứ nhất là mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Để có thể phân biệt nền kinh tế thị trường của nước ta so với nền kinh tế thị trường khác phải nói đến mục đích chính trị mục tiêu kinh tế xã hội mà Đảng và nhân dân đã chọn Mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nhằm thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Làm cho dân giàu: Nội dung căn bản của dân giàu là mức bình quân GDP đầu người tăng nhanh trong một thời gian ngắn và khoảng cách giàu, nghèo trong xã hội ngày càng được thu hẹp

Làm cho nước mạnh: Thể hiện ở mức đóng góp to lớn của nền kinh tế thị trường cho ngân sách quốc gia; ở sự gia tăng ngành kinh tế mũi nhọn; ở sự sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn tài nguyên quốc gia; ở sự bảo vệ môi trường sinh

Trang 10

thái, bảo vệ các bí mật quốc gia về tiềm lực kinh tế, khoa học, công nghệ và an ninh, quốc phòng

Làm cho xã hội công bằng, văn minh: Thể hiện ở việc xử lý các quan hệ lợi ích ngay trong nội bộ nền kinh tế thị trường, ở đó việc góp phần to lớn vào giải quyết các vấn đề xã hội, ở việc cung ứng các hàng hóa và dịch vụ có giá trị không chỉ về kinh tế mà còn có giá trị cao về văn hóa, xã hội

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam lấy lợi ích và phúc lợi toàn dân làm mục tiêu Phát triển kinh tế thị trường để phát triển lực lượng sản xuất, giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất; xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội nâng cao đời sống nhân dân bằng việc đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn Kinh tế thị trường bản thân nó là nội lực thúc đẩy tiến trình kinh tế – xã hội Mục tiêu này thể hiện rõ mục đích phát triển kinh tế thị trường là vì con người, nâng cao đời sống nhân dân, mọi người điều được hưởng thụ thành quả của sự phát triển

Thứ hai là vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tồn tại nhiều hình thức sở hữu với nhiều thành phần kinh tế khác nhau Theo quan điểm tại đại hội XII của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay có bốn thành phần kinh tế gồm: thành phần kinh tế nhà nước, thành phần kinh tế tập thể, thành phần kinh tế tư nhân và thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Các thành phần kinh tế độc lập với nhau bình đẳng với nhau trước pháp luật Nhà nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển Ngoài ra mỗi thành phần kinh tế chịu sự tác động của các quy luật kinh tế riêng bên cạnh tính thống nhất giữa các thành phần kinh tế cũng có sự khác nhau thậm chí có thể có mẫu thuẫn khiến cho nền kinh tế thị trường ở nước ta có khả năng phát triển theo những hướng khác nhau Các thành phần kinh tế khác nhau dựa trên các quan hệ sở hữu khác nhau và thường đại diện cho những giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau Do đó trong quá trình cùng phát triển chúng đan xen đấu tranh mâu thuẫn và phát triển theo những

Ngày đăng: 27/04/2022, 05:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w