1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bg doc chat hoc phan 2 1019

72 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Chất Hữu Cơ Phân Lập Bằng Phương Pháp Cất Kéo Theo Hơi Nước
Trường học Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội
Chuyên ngành Hóa học Công nghiệp
Thể loại Báo cáo học phần
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 912,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trình bày được độc tính, cơ chế và nguyên nhân gây ngộ độc của một số chất độc được phân lập bằng phương pháp cất kéo theo hơi nước hydrogen cyanid và dẫn xuất cyanid, etanol và metanol

Trang 1

CÁC CHẤT HỮU CƠ PHÂN LẬP BẰNG PHƯƠNG PHÁP CẤT KÉO

THEO HƠI NƯỚC MỤC TIÊU

1 Trình bày được độc tính, cơ chế và nguyên nhân gây ngộ độc của một số chất độc được phân lập bằng phương pháp cất kéo theo hơi nước (hydrogen cyanid

và dẫn xuất cyanid, etanol và metanol)

2 Nêu được các triệu chứng ngộ độc và cách điều trị ngộ độc hydrogen cyanid

và dẫn xuất cyanid, etanol và metanol

3 Nêu được nguyên tắc của phương pháp kiểm nghiệm các chất độc này

HYDROGEN CYANID (ACID CYANHYDRIC, ACID PRUSSIC) VÀ DẪN

Nông nghiệp: thuốc diệt côn trùng, diệt chuột có chứa etyl thiocyanat, metyl thiocyanat được chuyển hoá trong cơ thể thành cyanid gây độc

Y học: Natrinitroprussid (thuốc giãn mạch, điều trị cao huyết áp) phóng thích cyanid khi tiếp xúc với ánh sáng hay chuyển hoá thành cyanid; Hg(CN)2trước đây được dùng làm thuốc trị giang mai Laetrile (thuốc trị ung thư) chứa amygdalin có thể biến đổi thành cyanid

Chiến tranh: Chất độc hoá học, thuốc khai hoang

Tự nhiên: Amygdalin và các cyanogenic glycoside khác được tìm thấy trong hạt thực vật (hạnh nhân đắng, mơ, mận, táo ) lá anh đào, khoai mì, măng tre, nấm độc Cyanid cũng có trong khói thuốc lá, khói từ sự cháy của các sản phẩm từ cao su, plastic

Tổng hợp hoá học

Hoá phân tích: Các hợp chất cyanid thường gặp là hydrogen cyanid (HCN) và các dẫn xuất kalicyanid, (KCN), natricyanid (NaCN), calci cyanid (Ca(CN)2)

1.2 Tính chất

Trang 2

HCN là một chất chất lỏng dễ bay hơi, không màu, rất độc Dung dịch của HCN trong nưốc gọi là acid hydrocyanic, acid cyanhydric, acid prussic.HCN có vị đắng, nóng, mùi hạnh nhân đắng.HCN rất dễ tan trong nước, cồn.Hydrogen cyanid (HCN)

và dẫn xuất cyanid là chất độc cực mạnh, có tác dụng nhanh nhất trong tất cả các chất độc, hấp thu tốt qua nhiều đường như da, màng nhầy, hệ tiêu hoá, hệ hô hấp

2 ĐỘC TÍNH

2.1 Cơ chế gây độc

Ức chế enzym cytocrom oxydase, ngăn cản sự vận chuyển điện tử trong chuỗi hô hấp tế bào Cyanid tạo phức hợp với hem của cytocrom, ngăn cản sự kết hợp vối oxy của hem Tổ chức tế bào bị huỷ hoại do không sử dụng được oxy của máu.Trung tâm

hô hấp ở hành tuỷ bị giảm oxy nhiều nhất nên ngừng thở là nguyên nhân chủ yếu gây

tử vong

2.2 Liều độc

2.2.1 Ngộ độc qua đường hô hấp (hơi HCN)

Liều gây ngộ độc cấp: 50 ppm (0,05mg/ L không khí).>150 ppm (0,15mg/L không khí) có thể gây tử vong.Gây tử vong ngay ở nồng độ 300 ppm (0,3mg/L không khí) Giới hạn cho phép trong không khí nơi làm việc: 4,7 ppm (5mg/m3không khí)

2.2.2 Ngô độc qua đường tiêu hoá (dẫn xuất Cyanid)

Liều gây tử vong đối với người lớn: 150mg - 200mg (KCN, NaCN)

3 NGUYÊN NHÂN GÂY NGỘ ĐỘC

3.1 Do tự sát hay đầu độc: (bằng HCN hay KCN) gây chết rất nhanh và hữu hiệu

3.2 Do tai biến

Ăn phải hạt, ngũ cốc có cyanid như hạt hạnh nhân đắng, khoai mì, măng tre, nấm độc Tiêm truyền dung dịch, natriprussid nhanh hay trong thòi gian dài

3.3 Do ô nhiễm môi trường

Nước ngầm bị nhiễm cyanid, môi trường bị nhiễm độc khi sử dụng các hợp chất cyanid để diệt côn trùng, diệt chuột

Trang 3

lẫn, hôn mê, thở gấp, nhanh chóng trụy tim mạch, tim ngừng đập, ngừng thở và chết rất nhanh (có thể sau 1 - 2 phút)

4.2 Ngộ độc bán cấp

Chóng mặt, nhức đầu, nôn mửa, khó thỏ, có cảm giác sợ hãi, lo lắng nhưng vẫn tỉnh táo Sau đó xuất hiện các triệu chứng rối loạn thần kinh, co giật, giãn đồng tử, cứng hàm, ngạt thở, hô hấp chậm, mặt tái xám (hội chứng cyanose), chân tay lạnh, trụy tim ,mạch và chết sau 30 phút.Nếu sống sót cũng bị tổn thương ở tim và các di chứng về thần kinh

4.3 Ngộ độc mạn tính

Thường xuyên bị đau đầu, nôn, chóng mặt, suy nhược cơ thể

5 ĐIỂU TRỊ

5.1 Điều trị không chuyên biệt

5.1.1 Ngộ độc qua đường hô hấp

Đưa nạn nhân ra khỏi môi trường nhiễm độc Làm hô hấp nhân tạo, cho thở oxygen 100% hay hỗn hợp carbogen.Tiêm thuốc trợ tim (cafein, camphor, niketamid ) Nếu có trụy tim mạch thì tiêm thẳng ouabain vào tim.Điều trị các triệu chứng như hôn mê, hạ huyết áp, co giật nếu có

5.1.2 Ngô độc qua đường tiêu hoá

Cho uống than hoạt Gây nôn Rửa dạ dày càng sớm càng tốt, uống thêm than hoạt và thuốc tẩy xổ nhẹ.Thẩm phân máu được chỉ định ở nạn nhân bị suy thận

5.1.3 Ngộ độc qua đường da

Cởi bỏ quần áo, rửa vùng da bị nhiễm độc với nhiều nước và xà bông

5.2 Điều trị chuyên biệt (antidotes)

5.2.1 Bộ KIT antidote của cyanid

Bao gồm amyl nitrit, natri nitrit và natrithiosulfat Cơ chế giải độc:

Amyl nitrit và natri nitrit: Oxy hoá hemoglobin (Fe2+ → Fe3+) thành methemoglobin có khả năng kết hợp với cyanid, tạo thành cyanomethemoglobin

Natrithiosulfat: cung cấp sulfur cho phản ứng biến đổi cyanid (CN) của cyanmethemoglobin thành thiocyanat (SCN-) ít độc và đào thải dễ dàng hơn qua nước tiểu, dưới tác dụng của enzym eyanid - thiosulphat sulfur transferase

Cách sử dụng

- Amyl nitrit: hít hơi amyl nitrit từ ống chứa 0,3mL/5 phút

- Natri nitrit: tiêm tĩnh mạch dung dịch natri nitrit 3% (300mg /l0ml), tốc độ 2,5ml - 5ml/l phút

Trang 4

Chú ý: Vì methemoglobin cũng là một chất độc đôi vối cơ thể nên không nên sử dụng nếu triệu chứng nhẹ hay chẩn đoán chưa chắc chắn, đặc biệt nếu có nghi ngờ bị nhiễm đồng thời carbon monoxid Nếu cần thiết sử dụng thì liều natri nitrit không được gây MetHb > 25% - 40%

Liều đề nghị: người lớn 300mg, trẻ em 0,2mL/kg, không vượt quá 10ml

- Natrithiosulfat: tiêm tĩnh mạch 50ml dung dịch 25% (12,5g)

Natrithiosulfat cũng có thể giúp làm giảm nhẹ sự ngộ độc do tiêm truyền

nitroprussid

5.2.2 Vit B12a (Hydroxycobalamin) vì chất này có cobalt trong nhân nên có thể kết hợp với cyanid để tạo thành vitamin B12 (Cyanocobalamin) không còn độc tính và đào thải qua nước tiểu

Hiện nay, chất này đã được FDA chấp thuận sử dụng ở Mỹ dưới dạng cyanokit (hydroxylamin 5g tiêm truyền tĩnh mạch)

5.2.3 4-Dimetylaminophenol (4-DMAP): hiện nay đã được sử dụng dưối dạng kít ở

Mỹ, gây methemoglobin nhanh hơn nitrit, tuy nhiên có tác dụng phụ là gầy huyết tán

6 KIỂM NGHIỆM

6.1 Định tính

6.1.1 Phản ứng với acid picric (phản ứng Grignard)

HCN phản ứng với acid picric ở môi trường kiềm sẽ tạo thành hợp chất isopurpurin có màu đỏ cam.Phản ứng này nhạy và đặc hiệu, có thể dùng để phát hiện HCN trong không khí

6.1.2 Phản ứng với sắt

Trong môi trường kiềm, cyanid phản ứng vói Fe2+ và Fe3+ tạo phức ferriferrocyanid (Fe4[Fe(CN)6]3) có màu xanh phổ Để dễ nhận biết màu có thể thêm vài giọt dung dịch BaCl2 và H2S04 loãng để cho tủa BaS04 hấp phụ màu

6.2 Định lượng

Máu toàn phần chứa CN- được xử lý bằng kỹ thuật vi khuếch tán, sau đó định lượng bằng phương pháp đo quang hay dùng điện cực chọn lọc ion

Trang 5

6.2.1 Phương pháp đo quang

Nguyên tắc: Một bộ vi khuếch tán được dùng để phân tách acid hydrocyanic từ máu bằng cách trộn mẫu máu toàn phần với acid mạnh trong một bình hàn kín, hơi acid hydrocyanic tạo thành được hấp thu vào một base mạnh chứa trong một phần khác của bình này Một giếng của bộ dụng cụ chứa mẫu máu và acid mạnh (không trộn lẫn cho đến khi bình được hàn kín), một giếng khác chứa base mạnh để hấp thu hơi acid hydrocyanic Sau khi acid hydrocyanic được thu nhận trong môi trường base, thêm vào pyridin, acid barbituric và cloramin T để tạo thành một phức chất có màu đỏ được đo ở bước sóng 580nm Cường độ màu tỷ lệ với nồng độ CN- Kết quả được xác định bằng cách so sánh với độ hấp thu của mẫu chuẩn

6.2.2 Phương pháp dùng điện cực chon lọc ion

Phương pháp có độ nhạy và độ chính xác cao nhưng cần phải có trang thiết bị chuyên biệt

6.3 Nhận định kết quả kiểm nghiệm

- Ở nồng độ 50μg %, các triệu chứng nhiễm độc cyanid thể hiện rõ rệt nên trong ngộ độc cấp cyanid, nồng độ cỵanid trong máu > 50μg %

- Người hút thuốc lá có thể có nồng độ lên đến 0,lmg/L máu

- Sự tiêm truyền nitroprussid nhanh có thể tạo ra nồng độ lmg/L máu

Trong cơ thể, cyanid thưòng bị mất đi do nhiều nguyên nhân:

- Các chất đường và aldehyd phá huỷ cyanid

- H2S chuyển cyanid thành sulfocyanid

Do đó khi tìm hợp chất cyanid trong tử thi thường cho kết quả nhỏ hơn thực tế, một lượng nhỏ được tìm thấy trong tử thi cũng có ý nghĩa quan trọng

Trang 6

ETANOL (CỒN ETYLIC) C2H5OH

1 ĐẠI CƯƠNG

1.1 Nguồn gốc

Etanol (C2H5OH) có trong các loại rượu thường dùng trong sinh hoạt xã hội; tỷ

lệ thay đổi tuỳ theo từng loại rượu: bia (2 - 6%), rượu vang (10 - 20%), rượu trắng (20

- 40%), rượu mạnh (50 - 70%)

Etanol còn là một dung môi rất phổ biến được dùng trong các phòng thínghiệm

1.2 Tính chất

- Chất lỏng không màu, mùi nồng, vị cay

- Khối lượng riêng là 0,7943g (ở 15°C); nhiệt độ sôi 80,26°C

- Tan trong nước vối bất kỳ tỷ lệ nào

- Khi đốt cháy ngoài không khí tạo C02 và H20

1.3 Dược động học

- Hấp thu nhanh chủ yếu qua đường uống, Cmax: 30 - 60 phút

- Phân bố tốt vào dịch cơ thể

- Chuyển hoá: ở niêm mạc dạ dày, etanol bị oxy hoá thành acetaldehyd dưới tác động của enzym alcol dehydrogenase (ADH), sau đó biến đổi thành acetat dưới tác động của enzym acetaldehyd dehydrogenase (ALDH) tại gan Acetat chuyển hoá thành acetyl CoA và tham gia vào chu trình Krebs tạo thành C02 và nước

- Trong phản ứng oxy hoá etanol, các enzym vận chuyển hydro (có vitamin Bl, vitamin pp adenin ) được sử dụng tích cực và tiêu hao nặng gây hội chứng viêm đa dây thần kinh (polynervite) do nghiện rượu

2 ĐỘC TÍNH

2.1 Cơ chế tác động

Ức chế hệ thần kinh trung ương là tác động chủ yếu của ngộ độc cấp etanol do

sự kết hợp trực tiếp với thụ thể acid -aminobutyric trong hệ thần kinh trung ương gây tác động an thần Ngoài ra, etanol cũng là chất đôi kháng với N-metyl-D-aspartat glutamat Etanol còn có tác động trực tiếp trên cơ tim và mô gan

- Có tác động gây hạ đường huyết do ức chế enzym tạo glucose khiến dự trữ glycogen giảm mạnh

- Gây tổn thương hệ tiêu hoá và hệ thần kinh, rối loạn dinh dưõng và chuyển hoá

- Etanol có tác động phối hợp cộng lực với các thuốc ức chế thần kinh trung ương khác như barbiturat, benzodiazepin, opioid, thuốc chống trầm cảm, thuốc chống loạn thần

Trang 7

2.2 Liều độc

Liều có thể gây chết:

Người lớn: 6 - l0ml/kg thể trọng (cồn tuyệt đối)

Trẻ em: 4ml/kg thể trọng (cồn tuyệt đối)

3 NGUYÊN NHÂN GÂY NGỘ ĐỘC

Các trường hợp ngộ độc thường là do sử dụng quá nhiều rượu

4 TRIỆU CHỦNG NGỘ ĐỘC

4.1 Ngộ độc cấp

4.1.1 Liều thấp

- Gây cảm giác sảng khoái, kích động

- Ba hoa, nói nhiều, tăng cường khả năng bắp thịt, mất điều hoà vận động, không chủ động được các động tác

- Mặt đỏ hay xanh, mắt đỏ, rung giật nhãn cầu, giảm phản xạ và khả năng giữ thăng bằng

- Mất sự ức chế, thường trở nên dữ dằn và hiến chiến

- Nôn mửa, có thể bị hạ đường huyết, đặc biệt ở trẻ em và người giảm dự trữ glycogen Giai đoạn này thường kéo dài từ 2 - 3 giờ (say rượu) Sau đó sẽ hết nếu không uống thêm nữa (giã rượu)

Trang 8

hay co giật nếu có.Thẩm phân máu (khi nồng độ etanol > 400mg/100ml máu hay khi có nhiễm acid chuyển hoá)

6.1.1 Phản ứng tạo iodoform

Trong môi trường kiềm, iod oxy hoá etanol thành acetaldehyd, sau đó tạo thành dẫn xuất triiodo acetaldehyd Chất này phân huỷ trong môi trường kiềm tạo thành iodoform có mùi đặc biệt:

2NaOH + I2 →NaI + NaIO + H2O

C2H5OH + NaIO → CH3-CHO + NaI + H20

CH3CHO + 3I2→ CI3CHO + 3HI

CI3CHO + NaOH →CHI3+ HCOONa

6.1.2 Phản ứng ester hoá etanoỉ

Ester hoá etanol thành các ester như acetat etyl, benzoat etyl có mùi đặc biệt

6.2 Định lượng

- Cất và định lượng dung dịch etanol bằng phương pháp dùng cồn kế để suy ra hàm lượng etanol

- Định lượng etanol trong máu bằng phương pháp Nicloux

Nguyên tắc: dựa vào phản ứng oxy hoá rượu bằng dung dịch kalibicromat trong acid sulfuric đặc

2C2H5OH + 2 K2Cr2O7 + 8 H2SO4 = 3 CH3COOH + 2 Cr2(SO4)3 + 2K2S04+ 11 H2O Quá trình phản ứng sẽ chuyển dung dịch có màu vàng của crom (VI) sang màu xanh của crom (III) Nếu có thừa etanol sẽ có màu xanh lơ Trái lại nếu thừa kalibicromat sẽ có màu xanh lục Việc chuyển từ xanh lơ sang xanh lục chứng tỏ ranh giới giữa rượu chưa được định lượng hết và rượu đã định lượng hết Từ đó suy ra hàm lượng etanol có trong mẫu thử

Trang 9

1.2 Tính chất

Metanol là một chất lỏng không màu, khối lượng riêng 0,796g ở 15°C, sôi ở

660C, có mùi và một số tính chất lý học khác giống etanol nhưng độc hơn rất nhiều Metanol có thể hấp thu qua da, hệ tiêu hoá, hệ hô hấp

2 ĐỘC TÍNH

2.1 Cơ chế gây độc

Metanol tích lũy rất lâu trong cơ thể và bị oxy hoá thành aldehyd formic (formaldehyd) dưới tác động của enzym alcol dehydrogenase (ADH) Aldehyd formic tiếp tục bị oxy hoá thành acid formic dưới tác động của enzym aldehyd formic dehydrogenase, sau đó mới bị oxy hoá thành H2O và CO2

Aldehyd formic liên kết với - NH2 của protein, ức chê hoạt tính enzym

Acid formic liên kết với các enzym có nhân Fe gây ức chê hô hấp tê bào (nhất là tế bào thần kinh và thị giác) Acid formic còn gây nhiễm acid chuyển hoá, tổn hại hệ thần kinh trung ương

2.2 Liều độc

Liều độc trên 50mg/dL, liều tử vong trung bình là 75ml đối với người lớn

3 NGUYÊN NHÂN GÂY NGỘ ĐỘC

3.1 Ngộ độc cấp: Do uống nhầm metanol hay rượu etanol có lẫn nhiều metanol

3.2 Ngộ độc trường diễn: Do hít phải hơi metanol trong khi làm việc lâu ở môi trường có chất này (nồng độ tối đa cho phép là 2%)

Trang 10

5 ĐIỂU TRỊ

Để nạn nhân ở nơi yên tĩnh, tránh ánh sáng

Rửa dạ dày bằng NaHC03 (< 2 giờ sau khi ngộ độc qua đường tiêu hoá)

Ngăn chặn sự chuyển hoá của metanol: dùng etanol hay 4-metylpyrazol để có sự cạnh tranh enzym chuyển hoá alcol (ADH), giúp đào thải nhanh metanol trước khi nó được biến đổi thành aldehydformic

Điều trị nhiễm acid chuyển hoá bằng NaHC03

Tăng sự thải trừ metanol bằng cách dùng acid folic (tiêm tĩnh mạch lmg/kg) để thúc đẩy quá trình biến đổi acid formic thành CO2) hay thẩm phân máu

Điều trị triệu chứng: thở oxy, uống các thuốc tăng cường hô hấp hay trợ tim

Thuốc thử Marquis (morphin/H2SO4 đậm đặc ) cho màu tím đỏ

Thuốc thử Schiff cho màu tím sẫm

Phản ứng với acid cromotropic/ H2SO4 cho màu tím đỏ

Phản ứng ester hoá: tạo dẫn xuất salicylat metyl

Cho vài giọt H2SO4 đậm đặc và vài tinh thể aeid salicylic vào dung dịch có metanol, sau đó đun nhẹ trên lửa sẽ ngửi thấy mùi salicylat metyl

6.2 Định lượng

Các phản ứng định lượng metanol đều dựa vào phản ứng oxy hoá thành formaldehyd, sau đó định lượng bằng phương pháp đo quang với thuốc thử Schiff (định lượng metanol trong không khí) hay acid cromotropic (định lượng metanol trong máu và nước tiểu)

Trang 11

ACID BARBITURIC VÀ CÁC BARBITURAT

MỤC TIÊU

1 Trình bày được cấu tạo, tính chất lý hoá của các barbiturat

2 Trình bày được độc tính của các barbiturat

3 Trình bày được độc tính, triệu chứng ngộ độc, cách xử trí khi ngộ độc của phenobarbital

4 Nêu được một số phương pháp định tính và định lượng các barbiturat

5 Giải thích được kết quả kiềm nghiệm trong việc xác định nồng độ barbiturat

trong cơ thể

Dẫn xuất của acid barbituric (các barbiturat) thuộc nhóm các chất độc hữu cơ không bay hơi được chiết bằng dung môi hữu cơ ở môi trường acid

Acid barbituric (malonylure) là sản phẩm ngưng tụ của ure với acid malonic

Hình 1.1 Công thức acid barbituric Barbiturat là các dẫn xuất của acid barbituric Các barbiturat thường được chia làm 3 loại theo các vị trí thế như sau:

- Barbiturat thế ở 3 vị trí 1, 5, 5

- Barbiturat thế ở 2 vị trí 5, 5

- Thiobarbiturat: Oở vị trí C2 thay = S

Hình 1.2 Các vị trí thế của các barbiturat

Trang 12

Bảng 1.1 Một số barbitiMrat với các nhóm thế d R1 và R2

Allobarbital CH2CHCH2 CH2CHCH2 5,5-diallylbarbiturat

Amobarbital CH2CH3 CH2CH2CH(CH3)2 5-ethyl-5-isopentyl-barbiturat Aprobarbital CH2CHCH2 CH(CH3)2 5-allyl-5-isopropyl-barbiturat Alphenal CH2CHCH2 C6H5 5-allyl-5-phenyl-barbiturat

Brallobarbital CH2CHCH2 CH2CBrCH2

barbiturat

5-allyl-5-(2-bromo-allyl)-Phénobarbital CH2CH3 C6H5 5-ethyl-5-phenylbarbiturat

1 TÍNH CHẤT VẬT LÝ CỦA CÁC BARBITURAT

Các barbiturat đều là những tinh thể trắng, vị thay đổi Các barbiturat ít tan trong nước

và ete dầu hoả, tan nhiều trong dung môi hữu cơ (cồn, ete, cloroform) Các barbiturat thăng hoa trong chân không ở 170 - 180°c Điểm nóng chảy thay đổi từ 100 - 190°C Các barbiturat bị hấp phụ bởi than hoạt, silicagel

2 TÍNH CHẤT HOÁ HỌC CỦA CÁC BARBITURAT

2.1 Tính acid

Acid barbituric có tính acid mạnh nhất Các dẫn xuất có tính acid yếu hơn Do tính acid nên chúng tạo muối không tan với một số ion kim loại nặng như Ag+ và Hg2+ Dễ tan trong dung dịch kiềm và carbonat kiềm

2.2 Khả năng tạo phức

Dễ tạo phức với các ion kim loại (Cu2+, Co2+, Hg2+) và các chất phối hợp khác Ví dụ:

2 Barbiturat + Cu2++2 pyridin → Bar2CuPy2

Các phức trên dễ tan trong dung môi, bị phân huỷ khi có nước, có màu đặc trưng hoặc tinh thể đặc hiệu (ứng dụng để kiểm nghiệm barbiturat)

Trang 13

+ Tác dụng ngắn (1 - 3 giờ) (Pentobarbital, Cyclobarbital) và rất ngắn (1/2 - 1 giờ) (Methohexital, Thiopental) dùng gây mê Loại này tan mạnh trong lipid và nhanh chóng đi vào não gây hôn mê Tiếp đó, nhanh chóng phân tán vào các mô khác do đó thời gian tác dụng của chúng ngắn hơn nhiều so với thời gian bán thải của chúng Các barbiturat hấp thu nhanh qua niêm mạc dạ dày Ở liều cao ức chê thần kinh trung ương, ức chế trung tâm vận mạch và hô hấp

Gây rối loạn ý thức, rối loạn hô hấp, hạ huyết áp, làm mất phản xạ ho

Tác dụng của các barbiturat còn tuỳ thuộc vào đặc điểm của người dùng như: sự nhạy cảm, tuổi, tình trạng gan thận, nghiện rượu, có thai

Barbiturat được chuyển hoá ở gan, sau đó đào thải ra nước tiểu ở nguyên dạng hay các chất chuyển hoá Ví dụ:

+ Barbital đào thải qua nưốc tiểu vối 65 - 80% nguyên dạng

+ Hexobarbital 15 - 20%

4 ĐỘC TÍNH CỦA PHENOBARBITAL

Tác dụng phụ không mong muốn của phenobarbital (khoảng 1% trường hợp) gồm: + Buồn ngủ

+ Có hồng cầu khổng lồ trong máu ngoại vi

+ Thần kinh: rung giật nhãn cầu, mất điều hoà động tác, kích thích, lo sợ (người cao tuổi)

+ Da: nổi mẫn do dị ứng (người trẻ tuổi)

Phần lớn ngộ độc phénobarbital là do tự tử hoặc do đầu độc Với liều gấp 5-10 lần liều ngủ, thuốc có thể gây nguy hiểm đến tính mạng

Triệu chứng ngộ độc:

+ Buồn ngủ, mất dần phản xạ Nếu nặng mất hết phản xạ gân xương, phản xạ giác mạc

+ Đồng tử giãn, nhưng vẫn còn phản xạ với ánh sáng

+ Giãn mạch da và có thể hạ thân nhiệt (do giảm chuyển hoá chung)

+ Rối loạn hô hấp, nhịp thở chậm và nông

+ Giảm lưu lượng hô hấp, giảm thông khí phế nang

+ Rối loạn tuần hoàn: huyết áp hạ, trụy tim mạch

+ Người bệnh hôn mê và chết do liệt hô hấp, phù não, suy thận cấp

5 XỬ TRÍ NGỘ ĐỘC

5.1 Ngộ độc cấp

- Loại bỏ chất độc:

Trang 14

+ Rửa dạ dày bằng NaCl 0,9% hoặc KMnO4 0,1% ngay cả khi ngộ độc từ lâu Lấy dịch rửa dạ dày để tìm độc chất

+ Cho uống than hoạt để hấp phụ độc chất hoặc cho uống sorbitol 1 - 2g/kg

Đảm bảo thông khí: đặt ông nội khí quản, hút đờm, hô hấp nhân tạo, mở khí quản nếu cần

Tăng đào thải bằng các phương pháp sau:

+ Gây lợi tiểu cưỡng bức: truyền dung dịch NaCl 0,9% hoặc glucose 5% (4 - 61/ngày) + Lợi niệu thẩm thấu: truyền tĩnh mạch chậm dung dịch mannitol (100 g/1) để tăng thải barbiturat

+ Kiềm hoá huyết tương: truyền tĩnh mạch dd natribicarbonat 1,4% (0,5 - 1 lít)

+ Lọc ngoài thận

+ Ngộ độc nặng, nồng độ barbiturat trong máu cao nên chạy thận nhân tạo

Đảm bảo tuần hoàn bằng cách:

+ Hồi phục nước, chất điện giải, thăng bằng acid - base

+ Nếu trụy mạch: chống sốc, truyền noradrenalin, huyết tương, máu

Chống bội nhiễm, chú ý chăm sóc trong trường hợp hôn mê

5.2 Ngộ độc mạn tính

Thường gặp ở người lạm dụng thuốc dẫn đến nghiện

Biểu hiện: co giật, hoảng loạn, tinh thần mê sảng

6 PHƯƠNG PHÁP KIỂM NGHIỆM

Vối phương pháp sắc ký lóp mỏng thường dùng silicagel G với dung môi là: cồn isopropyl - cloroform - amoniac đậm đặc (90:90:20) Phát hiện bằng các thuốc thử tạo màu như phương pháp sắc ký trên giấy

Trang 15

6.2 Định lượng

6.2.1 Phương pháp đo quang (phản ứng Parris áp dụng bởi Zwikker)

Mẫu thử được chiết với cloroform trong môi trường acid Cho tác dụng với0,2ml cobalt acetat khan trong metanol khan và 0,6ml isopropylamin 5% trong metanol Trộn đều, đo mật độ quang ở 565nm và so vói mẫu chuẩn

6.2.2 Phương pháp đo phổ UV

Phổ hấp thụ tử ngoại của 3 nhóm barbiturat khác nhau tuỳ theo pH dung dịch Các cực đại hấp thụ của các nhóm barbiturat phụ thuộc theo pH dung dịch được trình bày trong bảng 1.2 sau:

Bảng 1.2 Các cực đại hâp thụ của các barbiturat theo pH dung dịch

7 GIẢI THÍCH KẾT QUẢ KIỂM NGHIỆM

7.1 Việc xác định nồng độ trong máu với việc điều trị

Việc xác định nồng độ không có cơ sở kết luận ngộ độc (do nồng độ gây độc thay đổi tuỳ loại barbiturat) Do đó cần xác định rõ barbiturat loại nào

7.2 Nồng độ barbiturat trong máu với việc giám định hoá pháp

Các vấn đề đặt ra là nạn nhân tử vong do ngộ độc trường diễn hay do tự sátvà đã uống với liều bao nhiêu Để xác định điều này tác giả Wright đã đề nghị lập một tỷ số:

[barbiturat / máu]

[barbiturat / gan]

Trang 16

Nếu tỷ số >> 1: nạn nhân đã uống một liều rất cao

Tỷ số khoảng 1: ngộ độc thường diễn

Tuy nhiên tỷ số này không có giá trị đối với các trường hợp đã uống từ 12 - 15 giờ trở lên (do thuốc đã phân bố khắp các cơ quan và dịch cơ thể)

Để khắc phục điều này, tác giả Kohn-Abrest đã đề nghị cách ước lượng liều uống dựa vào lượng barbiturat tìm thấy trong phủ tạng như sau:

- Nếu thấy vài decigam: nạn nhân uống một liều lớn tới vài gam

- Nếu thấy vài centigam: nạn nhân uống một liều không quá 2g

- Nếu thấy lượng ít, hoặc không tìm thấy: liều uống không quá lg

Trang 17

MYCOTOXINS

Mục tiêu học tập

1 Trình bày những đặc tính cơ bản về các mycotoxin

2 Đánh giá độc tính của aflatoxin và các nấm sinh độc tố

Các mycotoxin là các độc tố có nguồn gốc từ nấm Theo quan niệm này, các mycotoxin bao gồm các độc tố do các loài nấm lớn sinh ra thuộc lớp nấm đảm (Basidiomycetes), các độc tố do các loài nấm ký sinh trên thực vật như nấm Cựu khỏa mạch (Claviceps purpurea), các độc tố có nguồn gốc từ loài nấm mốc trên thuốc men, lương thực, thực phẩm Ăn phải các nấm có chứa các độc tố có thể nguy hại đến sức khỏe của người và động vật Hàng năm trên thế giới số vụ ngộ độc do các mycotoxin

có thể không thể thống kê chính xác nhưng chắc chắn là vấn đề hết sức bức xúc đối với ngành y tế cũng như toàn xã hội

Có rất nhiều loài mycotoxin và có rất nhiều loài nấm sinh độc tố Một loại nấm có thể sinh nhiều loại độc tố khác nhau và một độc tố có thể gặp ở nhiều loại nấm Đã từ lâu vấn đề nghiên cứu các mycotoxin cũng như các loài nấm sinh độc tố được rất nhiều nhà khoa học trên toàn thế giới quan tâm Những kết quả đạt được giúp chúng ta hiểu phần nào rõ ràng hơn về bản chất của các loài độc tố, tính chất gây độc, các loài nấm sinh ra chúng, các loại cơ chất, điều kiện thích hợp để chúng sinh độc tố có hàm lượng cao nhất, cách ngăn chặn, dự phòng và điều trị các bệnh do mycotoxin gây ra

Hiện nay người ta phát hiện được khoảng hơn 300 loại mycotoxin khác nhau, các loài vi nấm sinh ra khoảng hơn 100 loại độc tố Theo các số liệu, có khoảng 25% số lượng ngũ cốc trên toàn thế giới nhiễm các mycotoxin, chúng có thể thâm nhập vào bất cứ loại thực phẩm nào, gây hại tới chất lượng lương thực, thực phẩm, gây hại tới sức khỏe người và động vật

Tuy đã đạt được nhiều thành tựu trong nghiên cứu các lĩnh vực về mycotoxin, các nghiên cứu tập trung đi sâu vào một số nhóm mycotoxin và một số loài nấm sinh độc tố hay gặp và gây những hậu quả khá nghiêm trọng trong thực tế Trong khuôn khổ của bài này, tập trung vào một số loại mycotoxin đó

I CÁC MYCOTOXIN CÓ NGUỒN GỐC TỪ VI NẤM

Khoảng những năm 70 của thế kỷ 19 và những năm tiếp đó vấn đề ngộ độc có liên quan tới nấm mốc đã được đề cập khi các gia súc chết do ăn phải các thức ăn bị

Trang 18

mốc Đến năm 1916, Turesson đã có những đóng góp lớn trong việc nghiên cứu phát hiện thấy sự có mặt của một số loài nấm mốc liên quan đến một số bệnh của người: co giật, nhược cơ, tê liệt và có thể tử vong Sau những năm 1960, có nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề đã được đặt ra trước đó, giải thích mối liên quan giữa sự có mặt của các loài nấm mốc trong thức ăn với các trường hợp ngộ độc ở người và động vật Đến nay, hàng năm có khoảng 100-200 công trình nghiên cứu về các mycotoxin,

về độc tính, cũng như các loài nấm sinh ra chúng Số lượng các mycotoxin do nấm mốc sinh ra được phát hiện ngày một nhiều, chúng có nhiều mặt trên nhiều loại cơ chất: lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, gia cầm Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) qui định thức ăn đồ uống cho người (thực phẩm) không được vượt quá 30 microgram aflatoxin/kg sản phẩm, đối với thức ăn bổ sung dinh dưỡng cho trẻ không được vượt quá 0,3ppm

Hiện nay số loài vi nấm sinh độc tố khá nhiều, trong đó phải kể đến các loài: đứng đầu là các loài thuộc chi Penicillium, tiếp đến là các loài thuộc chi Aspergillus Trong số các mycotoxin do vi nấm sinh ra chúng ta quan tâm tới một số loại có độc tố cao và hay gặp trong thực tế và đặc biệt sự có mặt của chúng trên một số sản phẩm quan trọng: lương thực, thực phẩm, thuốc men, dược liệu, thức ăn của gia súc gia cầm

1.1 Nhóm aflatoxin

Từ lâu người ta đã nhận thấy các loại khô dầu có thể độc hại đối với gia súc khi

ăn ,đặc biệt là khô dầu sồi và lạc Năm 1960, xảy ra vụ ngộ độc làm chết mười vạn gà tây ở miền Nam và miền Đông nước Anh nhưng nguyên nhân gây bệnh không được làm sáng tỏ Tiếp theo là các nước Áo, Hungari, Uganda, Kenia có khoảng 14000 vịt con chết do bệnh tương tư, người ta liên hệ do khô dầu và nguyên nhân là các ancaloit độc song không tìm thấy Sau đó cho rằng nguyên nhân của các vụ ngộ độc đó do vi sinh vật gây nên , quả thật đã tìm được nấm Aspergillus flavus đối với gia súc, gia cầm Năm 1962, trong quá trình nghiên cứu nguồn gây độc của nấm A.flavus người ta gọi tên là aflatoxin Sau này các nhà khoa học đã phân lập và xác định rằng đây không chỉ một aflatoxin mà là một hỗn hợp các aflatoxin có cấu trúc gần giống nhau

1.1.1 Nguồn gốc

Theo các công trình cho thấy có nhiều loài có khả năng sinh aflatoxin, đặc biệt ở Aspergillus trong đó đáng lưu ý là loài A flavus Link Ngoài ra còn một số loài Aspergillus khác như A.parasiticus Speare, tamarii Kita, A niger

Trang 19

A.flavus là một loài thấy ở khắp mọi nơi: dưới đất, trên các chất hữu cơ, các loại hạt, nhất là các hạt có dầu Gặp nó trên lúa mì, trên gạo ngô, hạt bông, trên lạc các loại đỗ

Hàm lượng nước và nhiệt độ là hai yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự phát triển và khả năng gây nhiễm của A.flavus trên các cơ chất Người ta nhận thấy khi độ ẩm không khí từ 80-85%, hàm ẩm của cơ chất từ 15-20%, nhiệt độ là 30-35 0C là điều kiện thuận lợi để nấm phát triển và sinh ra aflatoxin cho hàm lượng cao Tuy nhiên ,bào tử nấm

có sức chịu đựng cao đối với điều kiện môi trường bên ngoài

1.1.2 Một số tính chất của aflatoxin

Người ta đã phân lập được 16 chất thuốc nhóm aflatoxin , chúng là các dẫn xuất của difuroylcurmarin có các nhóm thế khác nhau Trong số đó chú ý đến 4 aflatoxin B1, G1 ,B2 ,G2 ,vì các aflatoxin này có độc tính cao nhất, được tạo thành với hàm lượng cao nhất trong cơ chất tự nhiên, trong các sản phẩm và trong môi trường lên men

*Tính chất lý, hóa học của aflatoxin : các aflatoxin là các tinh thể màu vàng , tan

trong chloform, methanol, accton Chúng rất bền với nhiệt, không bị phá hủy khi đun nấu thông thường Dễ bị tia tử ngoại phá hủy, đun trong nồi áp xuất, khi xử lý bằng các chất oxy hóa

Trong phân tử các aflatoxin có vòng lacton nên dễ bị thủy phân khi có mặt của các bazơ mạnh có thể dùng kiềm để xử lý thực phẩm nhiễm aflatoxin Tuy nhiên, khi axit hóa thì các aflatoxin lại được tái tạo

*Độc tính của aflatoxin: Các aflatoxin có thể gây độc cấp hoặc mạn tính

-Nhiễm độc cấp tính: Khi ăn phải lượng lớn có thể gây chết người và động vật tùy thuộc vào sự mẫn cảm của từng loại Thông thường thấy gan nhợt, mất màu và tăng thể tích Thường thấy hoại tử nhu mô gan, chảy máu Nếu kéo dài hơn sẽ thấy có

sự tăng sinh đặc trưng của các tế bào không phân hóa ở các khoang cửa Gây tổn thương, viêm tiểu cầu thận, tụ máu phổi

-Nhiễm độc mạn tính: khi ăn lâu với lượng nhỏ sẽ gây ung thư gan, gây quái thai

và đột biến gen đối với người và động vật

Các triệu chứng đầu tiên có thể thấy là ăn kém ngon, chậm lớn, sút cân gan bị ảnh hưởng nhiều nhất bị chảy máu và có vùng chảy máu hoại tử Khi nhiễm độc kéo dài sẽ dẫn đến ung thư gan Thận bị tụ máu viêm ruột chảy máu Các dấu hiệu biểu hiện rõ nhất vài ngày trước khi chết :buồn bã, đi lảo đảo, có thể chết các hội chứng thần kinh như co giật, rối loạn vận động

Trang 20

Các aflatoxin gây quái thai và đột biến gen do nó kết hợp với AND gây nên những biến đổi và ức chế quá trình tổng hợp ARN, chúng ức chế các men tham gia vào quá trình tổng hợp Do các tác động lên các nhân tố di truyền nên đã làm quá trình tổng hợp protein bị ức chế hoặc tổng hợp các protein không mong muốn đã dẫn đến sự quái thai ở người và động vật

1.1.3 Dự phòng nhiễm độc các aflatoxin

* Điều trị khi nhiễm độc aflatoxin

Khi bị nhiễm độc các aflatoxin thì việc đầu tiên phải nhanh chóng loại bỏ các thức

ăn bị nhiễm aflatoxin Có thể dùng một số corticoid để điều trị Tùy mức độ độc hại dùng các thuốc thích hợp để phục hồi các cơ quan bị ảnh hưởng

* Dự phòng nhiễm độc phải tiến hành các biện pháp sau:

- Diệt các nấm có khả năng sinh aflatoxin bằng cách thuốc trừ nấm hoặc bằng các phương pháp khả thi

- Phát hiện và loại bỏ kịp thời các sản phẩm có nhiễm các loại nấm sinh aflatoxin

- Cần ngăn chặn các loài nấm sinh aflatoxin trong các sản phẩm bằng cách bảo quản trong các điều kiện thích hợp: Nhiệt độ, hàm ẩm cơ chất, độ ẩm không khí, thêm các chất bảo quản hoặc xử lý các sản phẩm trước khi bảo quản

- Có thể dùng các phương pháp thích hợp để diệt nấm: chiếu xạ tia gama

- Khi chế biến thực phẩm cần lưu ý đến việc xử lý nguyên liệu bằng các phương pháp thích hợp vì các phương pháp thông thường sẽ không có hiệu quả

- Cần có chương trình quốc gia kiểm soát aflatoxin: Khó có thể loại bỏ tuyệt đối các aflatoxin trong các sản phẩm nhưng có thể giảm nhiều bằng một số biện pháp:

- Tuyên truyền giáo dục cộng đồng hiểu rõ tác hại của các aflatoxin để có biện pháp đảm bảo chất lượng sản phẩm, bảo quản tốt tránh sự lây nhiễm các nấm sinh aflatoxin

- Kiểm soát chặc chẽ thức ăn cho người và gia súc

- Nghiên cứu, áp dụng các biện pháp xử lý, chế biến thực phẩm để giảm thiếu hàm lượng aflatoxin trong sản phẩm

1.2 Một số nhóm mycotoxin khác do vi nấm sinh ra

1.2.1 Nhóm Ochratoxin

Ochratoxin là một trong những mycotoxin được nghiên cứu nhiều Các ochratoxin do một số loài nấm chủ yếu của 2 chi Aspergillus và penicillium sinh ra Loài sinh ochratoxin với hàm lượng đáng kể là A.ochraceus, loài nấm này thường gặp

Trang 21

ở các hệ thực vật đang thối rữa, trên các hạt mốc gạo, lạc, ngô, lúa mì, lúa mạch hoặc các sản phẩm chế biến từ chúng

Việc sinh ochratoxin phụ thuộc vào nhiều yếu tố: chủng nấm(chủ yếu do A.ochraceus) điều kiện môi trường: với A.ochraceeus cho hiệu suất cao ở môi trường giàu đạm và đường Để sinh ochratoxin Aflatoxin với hiệu suất cao nhất thường do loài A.ochraceus, trên gạo, ngô hoặc lúa mì,ở nhiệt độ 230C trong thời gian từ 7-14 ngày tùy thuộc vào cơ chất Ochratoxin A tương đối bền, chịu được hấp khử trùng trong 3 giờ

Trong số các ochratoxin do các loài nấm sinh ra thì ochratoxin A được nghiên cứu nhiều hơn trên các mặt Ochratoxin A là chất có độc tính cao nhất, liều LD50= 22mg/kg với chuột nhắt trắng Ochratoxin A được phát hiện ở một số loài ngũ cốc: lúa mạch, lúa mì, yến mạch, ngô, cà phê, các sản phẩm chế biến từ chúng và nhiều loại khác Người ta đã phát hiện ochratoxin A trong một số đồ uống chế biến từ quả chín như rượu vang chế từ nho, nước nho, các sản phẩm chế biến từ hạt ngũ cốc như bia Các triệu chứng nhiễm độc ochratoxin người ta nhận thấy ở nhiều động vật: gây chết gà, cừu con với nhiều chứng bại liệt và tắt thở, bò cái tơ với chứng ngưng kết hồng cầu ở gan, lợn với chứng gây lét tâm vị, và các tác nhân gây ung thư

Khi nhiễm độc với nồng độ thấp gây chậm thành thục sinh dục và để ít trứng ở

gà Nhiễm với liều cao đẻ trứng giảm hẳn, rối loạn gan thận, đôi khi làm chết Quan sát nhiễm độc ochratoxin ở chuột nhắc thấy viêm ruột, rối loạn chức năng thận, hoại tử vòng tiểu quản thận, gây rối loạn chức năng gan, hoại tử và gây viêm gan nhiễm mỡ Nhiễm độc ochratoxin A đối với người qua thức ăn đã phát hiện ở một số vùng thuộc bán đảo Balkan với bệnh thận đặc trưng và ung thư đường tiết niệu

1.2.2 Các fumonisin

Các fumonisin là một nhóm các mycotoxin do một số loài thuộc chi Fusarium sinh ra, thường gặp ở ngô và một số loại khác Các loài Fusarium làm hỏng hạt, rễ, cuống lá và thối bông ngô Chi Fusarium phân bố khá rộng nhưng có 2 loài F moniliforme và f proliferatum là hay gặp nhất và sinh ra fumonisin với hàm lượng đáng kể Các yếu tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của nấm và khả năng sinh fumonisin

Đến nay đã phân lập được 7 fumonisin khác nhau, trong đó fumonisin B1 có ý nghĩa hơn cả Nó gặp ở rất nhiều loài thực phẩm và thức ăn cho gia súc, được nghiên cứu đầy đủ hơn về các mặt cấu trúc, tính chất lý, hóa học, độc tính

Trang 22

Fumonisin B1 gây viêm gan và ung thư đối với chuột, làm giảm bạch cầu ở ngựa, phù phổi ở chuột Khi nhiễm độc fumonisin với liều cao làm giảm bạch cầu và phù phổi cấp Đã có nhiều công trình nghiên cứu khẳng định các fumonisin là tác nhân gây ung thư với người đặc biệt là ung thư thực quản

1.2.3 Nhóm trichothecen

Hiện nay người ta đã phân lập được 148 hợp chất của nhóm này Các trường hợp của nhóm này do một số loài vi nấm thuộc các chi Fusarium, trichothecium, mycothecium, Stachybotrys trong đó đặc biệt quan trọng là loài Fusarium graminearum Người ta đã phân lập được các loài sinh trichothecen trên hầu hết các loài ngũ cốc thuộc nhiều vùng trên thế giới Các hợp chất chính của các trichothecen là nivalenol (NIV), deoxynivalenol (DON), các acetyldeoxynivalenol và chất độc T2

DON là một chất độc gây nhiễm độc tế bào, gây ra các bệnh với gan, làm rối loạn hormon, gây ung thư thực quản và độc với hệ miễn dịch Khi ngộ độc DON các dấu hiệu đặc trưng xuất hiện sau 5-30 phút: viêm dạ dày, ruột, đau bụng, hoa mắt, chóng mặt, đau đầu Chưa phát hiện thấy trường hợp nào chết do ngộ độc các trichothecen

Một số nước qui định giới hạn an toàn đối với trichothecen trong một số ngũ cốc, như Canađa qui định giới hạn tính theo DON: 2000 microgram/kg là bột mì không sạch, 100 microgram/kg trong bột mì thì không được dùng cho trẻ sơ sinh, 1200 microgram/kg trong lương thực chính thì không được nhập

Độc tính của các acetyldeoxynivalenol và chất độc T2 cao hơn DON và NIV:

LD50 của chất độc T2 trên chuột nhắt trắng là 10,5 microgram/kg, của DON là 46 microgram/kg

Có thể dùng than hoạt tính để điều trị các ngộ độc do chất độc T2 trên chuột và xem như là chất chống độc đặc hiệu cho chất độc T2

1.2.4 Các ancaloit nhóm cegotamin

Các ancaloit nhóm cegotamin được xem như là các mycotoxin vì nó do nấm cựa khỏa mạch (Claviceps purpurea ) sinh ra, ký sinh trên các hạt ngũ cốc như lúa mạch, lúa mì

Tác dụng của các ancaloit cựa khỏa mạch trực tiếp kích thích trên sợi gây co cơ trơn đặc biệt là cơ trơn tử cung, có tác dụng rút ngắn sợi cơ nên được dùng để thu nhỏ thể tích và co hồi tử cung cho sản phụ sau sinh hoặc cầm máu tử cung

Nếu bị ngộ độc các ancaloit cựa khỏa mạch có thể làm co thắt ruột, phế quản và

tử cung, có thể gây chết người nếu dùng liều cao

Trang 23

II CÁC MYCOTOXIN DO CÁC LOÀI NẤM LỚN SINH RA

Hàng năm trên thế giới không thể thống kê hết các trường hợp ngộ độc do ăn nấm, nhưng con số này chắc chắn là không nhỏ Chỉ riêng Mỹ hàng năm có khoảng 100.000 người ngộ độc do nấm Một trong những nguyên nhân gây ra ngộ độc khi ăn nấm là do các mycotoxin có trong nấm

Người ta đã thống kê được một số loài nấm khi ăn hay gây ra ngộ độc và một số mycotoxin đã được phân lập và nghiên cứu khá đầy đủ Tuy vậy, số lượng các loài nấm khá lớn, các chất độc rất phong phú, do vậy việc nghiên cứu khá chắc chắn còn nhiều hạn chế Chúng ta đề cập đến một số loài hay gây ra ngộ độc

Các loài nấm lớn hay gây ra ngộ độc cho người và động vật đa phần thuộc lớp nấm Đảm (Basidiomycetes), trong đó tập trung ở phân lớp đảm đơn bào (Holobasidiomycetidea) Bao gồm các nấm:

- Nấm lim (Ganoderma): với các loài phổ biến như G.lucidum (Leyss) và G.australe (Fr.) Pat , thường mọc trên thân cây gỗ lim, cứng, màu nâu đen bóng, sống lâu năm Nấm lim rất độc

- Nấm độc (Amanita) bao gồm các loài:

+ Nấm độc đen (A phalloides (Fr.) Seer.) mọc phổ biến trên đất rừng, là loài nguy hiểm nhất có thể gây chết người Do sở thích ăn nấm nên hàng năm có khoảng 90% số ca chết do ngộ độc nấm là do nấm độc đen

+ Nấm độc trắng (A verna (Lam Ex Fr.) Pers.) thường mọc đơn lẻ trên đất trống hoặc ven rừng, nấm màu trắng rất độc

+ Nấm độc đỏ (A muscaria Fries Ex L) mũ nấm màu đỏ tươi, trên mặt có những mụn màu trắng rất độc

Các chất độc chủ yếu trong các loài trên là amanitin và phalloidin gây độc với gan và thần kinh giao cảm

Các triệu chứng điển hình khi ngộ độc nấm độc đen (A phalloides) có thể chia làm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn đầu thường xảy ra 6-24 giờ sau khi ăn, xuất hiện đau bụng, buồn nôn, nôn, ỉa chảy dữ dội, sốt, mạch nhanh

- Giai đoạn 2 xuất hiện sau 24-48 giờ: các triệu chứng có thể dịu đi như làm suy giảm chức năng gan, thận, tụt huyết áp và làm mất cân bằng điện giải

- Giai đoạn 3 sau 3-5 ngày: các tế bào gan bị phá hủy, thận bị suy nặng, vàng da, hôn mê nặng do suy gan

Trang 24

Để chẩn đoán ngộ độc cần dựa trên việc xác định nấm, các dấu hiệu ban đầu, triệu chứng ngộ độc và đặc biệt là việc phân tích tìm các mycotoxin trong phòng thí nghiệm để kết luận chính xác các trường hợp ngộ độc do nấm độc

Một số phương pháp phát hiện nấm độc:

- Nấm có thể ăn được khi luộc cùng thìa bạc không làm thìa bạc trở nên đen

- Nấm có thể ăn được khi tán nấm có thể bóc được lớp vỏ ngoài

- Thường nấm không mọc trên thân cây sẽ an toàn

- Luộc, phơi khô, ngâm muối có thể làm giảm hoặc loại bỏ được các mycotoxin trong nấm

- Thường các nấm độc khi ngâm cùng nước vo gạo sẽ làm nước vo gaọ biến thành màu đỏ

- Nấm có thể ăn được nếu động vật ăn nấm đó mà không bị ngộ độc

Trang 25

CÁC CHẤT ĐỘC HỮU CƠ PHÂN LẬP BẰNG CÁCH CHIẾT Ở MÔI

TRƯỜNG KIỀM

Các chất độc mang tính base và trung tính chiết được bằng dung môi hữu cơ ở môi trường kiềm gồm:

-Các alcloid

-Các dẫn xuất của phenothiazin

-Một số dẫn xuất của benzodiazedin

- Các chất ma túy

CÁC CHẤT MA TUÝ

I KHÁI NIỆM VỀ CHẤT MA TUÝ VÀ NGHIỆN MA TUÝ

1.1 Khái niệm về các chất ma tuý

Từ xa xưa, nhiều bộ lạc trên thế giới đã biết sử dụng một số cây cỏ để ăn, hút làm cho sảng khoái tinh thần và chống mệt mỏi Nhiều tài liệu khẳng định việc trồng

và sử dụng cây thuốc phiện để chữa trị một số bệnh như đau bụng, ho, ỉa chảy, giảm các cơn co thắt cách đây khoảng 2000 năm ở Địa Trung Hải, Nam, Trung Á Coca ở Nam Mỹ được coi như một nguồn thức ăn, một phương thuốc chữa trị nhiều loại bệnh

từ thế kỷ thứ II Những người dân da đỏ khi làm bánh dùng lá coca làm gia vị và gây cảm giác sảng khoái Các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng cần sa được dùng làm thuốc giảm đau cho phụ nữ khi sinh từ thế kỷ thứ IV

Nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, người ta đã xác định được các thành phần hoạt chất trong các cây cỏ nêu trên và tách chiết các loại chất dưới dạng tinh khiết Đầu thế kỷ 19, dược sĩ người Đức là Serturne đã tách được cocain từ lá cây coca Đến năm 1890 được Arnep chứng minh tác dụng gây tê tại chỗ của nó

Trong quá trình tìm kiếm các loại thuốc chữa bệnh, người ta đã dựa vào các chất có sẵn trong tự nhiên để bán tổng hợp thu được các chất có cấu trúc tương tự nhưng mong muốn có tác dụng dược lý tốt hơn Kết quả đã thu được hàng loạt các hợp chất khác nhau, có tác dụng dược lý dùng trong y học để chữa bệnh và bảo vệ sức khoẻ con người Tuy nhiên, ngoài tác dụng chữa bệnh như mong muốn một số chất lại

có tính gây nghiện Trong quá trình sủ dụng, con người đã lạm dụng hoặc dùng không đúng mục đích điều trị

Thuật ngữ ma tuý mới xuất hiện ở nước ta cách đây vài chục năm bằng việc phiên âm từ tiếng Hán Ban đầu, trong dân gian và các văn bản, tài liệu thường dùng từ

"thuốc phiện" Về sau, các chất gây nghiện xuất hiện ngày càng nhiều, đa dạng nên các

Trang 26

chất "ma tuý" được dùng để chỉ các chất gây nghiện nói chung Theo gốc Hán Việt ma tuý có nghĩa là "làm mê mẩn" Các chuyên gia nghiên cứu về ma tuý của Liên Hiệp

Quốc cho rằng: ma tuý là các chất hoá học có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, khi xâm nhập vào cơ thể người sẽ có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức, trí tuệ, nếu dùng lặp lại nhiều lần sẽ làm cho người dùng bị lệ thuộc vào chúng, gây nên những nguy hại cho từng cá nhân và cả cộng đồng Luật phòng chống ma tuý được Quốc hội

nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghiã Việt Nam thông qua ngày 28/12/2000 qui định:

chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được qui định trong các danh mục do Chính phủ ban hành; trong đó có nêu: chất gây nghiện là các chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, để gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn đến tình trạng nghiện đối người sử dụng

1.2 Khái niệm về nghiện ma tuý

Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm đầy đủ và thống nhất về "nghiện ma tuý"

Về mặt sinh học, nghiện ma tuý là một trạng thái nhiễm độc đối với cơ thể do người đó dùng các chất ma tuý Nhiều tác giả khác cho rằng: nghiện ma tuý là tình trạng một

bộ phận trong xã hội có thói quen dùng các chất ma tuý Hoặc: nghiện ma tuý là tình trạng lệ thuộc của một các nhân vào ma tuý Người nghiện thường xuyên phải dùng

ma tuý để thoả mãn sự thèm muốn, đam mê và thói quen Theo quan điểm giải quyết các tệ nạn xã hội: nghiện ma tuý là một tệ nạn xã hội làm tổn hại đến sức khoẻ, nhân cách, làm ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt và trật tự an toàn xã hội

Khái niệm chung: nghiện ma tuý là trạng thái phụ thuộc của cơ thể con người

vào ma tuý, do sử dụng lâu dài thành thói quen, gây nên trạng thái "đói" ma tuý thường xuyên theo từng thời kỳ và những rối loạn về tinh thần ở cá nhân người nghiện

* Một số đặc trưng của quá trình nghiện ma tuý:

- Sự đòi hỏi không thể cưỡng lại được các chất ma tuý đã dùng, tìm mọi cách để đáp ứng ngay nhu cầu cần thiết của cơ thể

- Có khuynh hướng gia tăng liều dùng và sự lệ thuộc tâm sinh lý vào các chất

ma tuý tới mức mê muội, cuồng say

- Khi thôi dùng ma tuý sẽ xuất hiện "hội chứng cai" rất khó chịu đựng, rất thèm muốn được dùng trở lại

- Gây độc hại cho cá nhân và nguy hiểm cho cộng đồng

Trong cơn nghiện ma tuý thì các triệu chứng nặng dần lên đến cao điểm trong 3 ngày đầu, sau đó đến ngày thứ 4, các triệu chứng dịu dần và đến ngày thứ 7 (muộn

Trang 27

nhất là ngày thứ 10) 'hội chứng cai" tự mất, mặc dù có hay không dùng thuốc để cắt cơn

* Các phương thức sử dụng ma tuý: có nhiều cách sử dụng ma tuý dẫn đến nghiện

- Hút: dùng bàn đèn và tẩu hút thuốc phiện, cuốn lá cần sa để hút

- Tiêm chích: dùng bơm kim tiêm để tiêm chích ma tuý: tiêm dưới da, tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch

- Nuốt, uống: dùng thuốc phiện sống, các thuốc an thần, đặc biệt nhóm kích thích thần kinh nhóm ATS

- Nhai: lá coca

- Hít: heroin, cocain

II PHÂN LOẠI CÁC CHẤT MA TUÝ

Hiện nay số lượng và chủng loại các chất ma tuý trong danh mục kiểm soát quốc tế ngày một tăng:

- Theo công ước quốc tế năm 1961 qui định 116 chất ma tuý được kiểm soát

- Công ước năm 1971 qui định 109 chất đặt dưới sự kiểm soát

- Công ướcnăm 1988 qui định 22 tiền chất dùng vào việc sản xuất các chất ma tuý bị kiểm soát

Cho đến nay, theo 3 công ước đã có 247 chất được đặt dưới sự kiểm soát quốc

tế Tuy nhiên, theo qui định của Uỷ ban kiểm soát ma tuý quốc tế có thể thêm vào hoặc bỏ một số chất khỏi danh mục các chất ma tuý trong 3 công ước đó Do vậy số chất ma tuý trong danh mục kiểm soát có thể thay đổi để phù hợp tình hình thực tế

Để phân loại các chất ma tuý có một số cách thường được dùng trong thực tế: dựa vào cấu trúc hoá học của các chất ma tuý, theo nguồn gốc của các chất ma tuý, theo tác dụng dược lý, theo độc tính

2.1 Theo nguồn gốc của các chất ma tuý

* Các chất ma tuý có nguồn gốc tự nhiên: là các chất ma tuý có sẵn trong tự nhiên hoặc thu được bằng nuôi trồng và các sản phẩm tách chiết được như thuốc phiện

và các sản phẩm của nó (morphin, codein, narcotin), coca và các sản phẩm: cao coca, cocain; cần sa và các sản phẩm

* Các chất ma tuý có nguồn gốc bán tổng hợp: là các chất ma tuý được điều chế

từ các chất có nguồn gốc tự nhiên Heroin là ma tuý bán tổng hợp tù morphin bằng cách acetyl hoá

Trang 28

* Các chất ma tuý có nguồn gốc tổng hợp: là các chất ma tuý được điều chế bằng phương pháp tổng hợp toàn phần từ các tiền chất: dolargan, seduxen

2.2 Theo tác dụng dược lý của các chất ma tuý

- Các chất giảm đau gây nghiện: heroin, morphin và các opiat, dolargan

- Các loại thuốc ngủ: các thuốc ngủ nhóm barbiturat: phenobarbital, amobarbital, butobarbital , nhóm carbamat: meprobamat

- Các chất kích thích thần kinh (stimulants): nhóm amphetamin (ATS): amphetamin, methamphetamin, lá coca và các sản phẩm của nó như cocain

- Các chất gây ảo giác (hallucinogene): cần sa và các sản phẩm của nó, LSD, mescalin, nấm psilobin, và psilocybin

2.3 Theo độc tính của các chất ma tuý

Dựa vào mức độ nguy hiểm và sự độc hại của các chất, phân loại và sắp xếp các chất ma tuý thành 4 bảng theo từng cấp độ khác nhau:

* Danh mục I: đây là các chất rất nguy hiểm và độc hại chịu sự kiểm soát rất

nghiêm ngặt, cấm sử dụng hoặc sử dụng rất hạn chế trong những trường hợp đặc biệt

do pháp luật qui định Gồm 47 chất trong bảng IV của công ước Liên Hợp quốc năm

1961 và bảng 1 của công ước năm 1971

Một số chất điển hình như:

+ Cần sa và nhựa cần sa

+ Heroin

+ Các dẫn xuất của fentanyl: thio fentanyl, methylfentanyl

+ Các dẫn xuất của tryptamin: DMT, DET, mescalin

+ Các dẫn xuất của phenythylamin: DOM, MDA, MMDA

+ Psilocin và Psilocybin

* Danh mục II: là các chất độc hại được sử dụng hạn chế trong y học và nghiên

cứu khoa học, phải chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt Gồm 113 chất, trong đó bao gồm

88 chất ở bảng I, 10 chất của bảng II trong công ước năm 1961 và 15 chất trong bảng

II của công ước năm 1971

Trang 29

+ Amphetamin và dẫn xuất

* Danh mục III: các chất độc hại sử dụng trong y học, nghiên cứu khoa học và

công nghệ, phải chịu sử kiểm soát chặt chẽ, tuy nhiên ở mức độ thấp hơn các chất trong danh mục I và II Bao gồm các chất trong bảng III và IV của công ước Liên Hiệp Quốc năm 1971 Một số chất điển hình như:

+ Dẫn xuất của acid barbituric: bacbital, phenobacbital, allobacbital, butobacbital

+ Dẫn xuất của bezodiazepin: diazepam, bromazepam, nitrazepam, lorazepam

* Danh mục IV: đây là các tiền chất được sử dụng vào mục đích tổng hợp ra các

chất ma tuý Bao gồm 22 chất được qui định trong công ước năm 1988:

+ Ephedrin, pseudoephedrin, ecgotamin

+ Anhydrid acetic, methyl ethyl aceton

+ Acid lysergic, acid N-acetylanthranilic

III MỘT SỐ NHÓM CHẤT MA TUÝ ĐIỂN HÌNH

3.1 Thuốc phiện và các sản phẩm

Thuốc phiện (opium) là nhựa lấy từ vỏ quả xanh của cây thuốc phiện, còn gọi là

cây Anh túc, tên khoa học Papaver somniferum L (Papaveraceae) Chi Papaver có

khoảng 100 loài nhưng chỉ có 2 loài có giá trị sản xuất morphin là P somniferum và P setigerum Đã từ lâu, con người biết sử dụng cây thuốc phiện Iran và Thổ Nhĩ Kỹ là những nước đầu tiên trồng cây thuốc phiện, sau đó thuốc phiện được đưa vào trồng ở

Ấn Độ, Afganistan, Miến Điện, Thái Lan, Trung Quốc, Columbia, Lào, Việt Nam Đầu thế kỷ XVII, người Châu Âu mới biết được tính chất trị liệu của cây thuốc phiện

3.1.1 Cây thuốc phiện: là cây thảo cao từ 0,5-1,5 m Thân mọc thẳng, lá mọc cách,

hình trứng dài 6-50 cm; hoa to, mọc đơn ở đầu thân hay đầu cành có cuống dài 12-14

cm, màu trắng, tím hay hồng tuỳ thuộc vào các loài khác nhau; quả là một nang hình cầu hoặc hình trứng dài 4-7 cm, đường kính 3-6 cm, đỉnh quả có núm, quả chính có màu vàng xám Cây thuốc phiện thích nghi với vùng khí hậu ôn đới, nhiệt đới, độ ẩm cao, có nhiều nắng Các nước Afganistan, Lào, Miên Điện, Pakistan là những nước trồng nhiều thuốc phiện Ở Việt Nam, cây thuốc phiện được trồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc: Sơn la, Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Lào Cai, Quảng Ninh, Hoà Bình, Thanh Hoá, Nghệ An

Trang 30

3.1.2 Nhựa thuốc phiện: dùng dụng cụ rạch đủ sâu tới các ống nhựa mủ của vỏ xanh

bắt đầu chuyển sang màu vàng nhạt Buổi sáng rạch quả, buổi chiều lấy nhựa Sau đó đem phơi khô có màu thẫm, mùi thơm đặc biệt, ít tan trong nước

Trong y học, nhựa thuốc phiện được dùng làm thuốc giảm đau, chữa ho, trị ỉa chảy Mùi thơm cùng với tác dụng dược lý khi hút thuốc phiện là do các hoạt chất có trong nhựa đó Trên thị trường có 2 loại thuốc phiện:

- Thuốc phiện sống: là nhựa thuốc phiện được phơi khô và đóng bánh thành gói

- Thuốc phiện chín: được chế từ thuốc phiện sống Dùng nước nóng để chiết xuất thuốc phiện sống nhiều lần, lọc Bốc hơi dịch lọc cho đến khô rồi đóng thành bánh hình chữ nhật, hình tròn

3.1.3 Các alcaloid của thuốc phiện

Lần đầu tiên vào năm 1805, một dược sĩ người Pháp tên là Serturner đã chiết được một alcaloid kết tinh màu trắng từ thuốc phiện và chất này được đặt tên là morphin, sỡ dĩ gọi như vậy vì thuốc phiện có tác dụng gây ngủ (trong sử thi Hy Lạp tên Morphia là nữ thần gây ngủ) Trong thuốc phiện sống có 5-7% morphin, trong thuốc phiện chín chứa 7-12% morphin, có loại có thể chứa tới 20%

Ngoài ra trong thuốc phiện còn nhiều alcaloid khác như: narcotin 5-6%,

papaverin 0,8-1%, codein 0,3-0,7%, thebain 0,2-0,7%, narcein 0,2%

Từ góc độ ma túy, các alcaloid nhân phenanthren có ý nghĩa rất quan trọng

Morphin

- Morphin đã được sử dụng trong y học trên 150 năm Nó có tác dụng làm giảm đau trong các trường hợp chấn thương, phẫu thuật, trong các bệnh ung thư, Dùng nhiều morphin dẫn đến tình trạng nghiện thuốc Dùng quá liều sẽ bị ngộ độc nặng, có thể dẫn đến tử vong do hệ thống hô hấp bị ức chế

- Để chiết morphin, người ta nấu thuốc phiện sống với nước, lấy dịch chiết, cô bớt nước, thêm cồn ethylic và amoniac vào: morphin và narcotin sẽ kết tủa Dùng acid acetic loãng sẽ tách được morphin dưới dạng acetat hoà tan khỏi narcotin Thêm amoniac, morphin kết tủa lại - lọc lấy morphin và tinh chế

Trang 31

Bảng 1 Dẫn xuất tổng hợp của Morphin và Codein

* Những số 3, 6, 17 là vị trí trên phân tử morphine

Trong y học morphin dùng dưới dạng muối hydroclorid Thể này tan trong nước: 4-5% ở 150C và 50% ở 1000C

- Về mặt cấu trúc morphin có 3 đặc điểm

+ Có chứa amin ba ở vị trí N17 mang tính base, dung dịch trong nước làm đỏ giấy quỳ Khi có mặt base mạnh dung dịch nước morphin hydroclorid cho kết tủa alcaloid base Nếu cho tiếp thừa base, kết tủa sẽ hoà tan do có mặt của chức phenol ở

C3

Mặt khác chức amin ba kết được với proton tạo ra muối amon bậc bốn Như vậy do trong cấu tạo phân tử có nhóm amin bậc ba và chức phenol nên morphin là một chất lưỡng tính, có thể cho và nhận proton

MH+ + H+ Mo + OH- M- + H2O (M chỉ phân tử morphin)

Đặc điểm này rất quan trọng, quyết định nhiều tính chất của M

+ Có một chức alcol bậc hai ở C6 dễ bị oxy hoá thành ceton (xem bảng1) + Có một liên kết đôi dễ hydro hoá, ví dụ dihydromophin

Từ morphin người ta có thể tổng hợp được nhiều hợp chất có tác dụng dược lý khác nhau (bảng 1)

* Heroin (Diacetyl morphin)

Đây là hợp chất có tác dụng và độc tính mạnh hơn morphin rất nhiều Heroin còn được gọi là bạch phiến, hay thuốc phiện trắng cũng có tác dụng giảm đau, chữa ho rất mạnh nhưng lại rât độc và dễ gây nghiện hơn nên ít được dùng trong y học Quá trình tổng hợp heroin khá đơn giản Chỉ cần đun nóng morphin với anhydric acetic sẽ

Trang 32

acetyl hoá được morphin Lấy riêng diacetyl morphin và cho tác dụng với amoniac sẽ nhận được heroin dạng base Cho heroin vào cồn tuyệt đối bão hoà khí HCl ta thu được heroin dạng hydroclorid

* Trẻ em và người có bệnh gan rất nhạy cảm với opium và morphin Ngược lại những người bệnh do kích thích thần kinh lại chịu được liều cao Những người nghiện chịu được liều rất cao do tăng sự tập trung và phân huỷ morphin (chuyển thành oxydimorphin trong cơ thể)

* Tác dụng dược lý: morphin ức chế tế bào nhạy cảm của não, và ở mức độ yếu hơn đối với tế bào vận động Với liều nhỏ có tác dụng ức chế trung tâm hô hấp ở hành tuỷ; liều cao làm giảm sự nhạy cảm của trung tâm này với các chất kích thích; có thể dẫn tới suy hô hấp và chết Đối với hệ tiêu hoá: morphin gây nôn hoặc buồn nôn

Với morphin các triệu chứng xuất hiện nhanh, với opium và các chế phẩm của

nó, xuất hiện chậm hơn

- Xử lý:

+ Cho uống than hoạt hoặc các dung dịch tạokết tủa với alcaloid như tanin Uống dung dịch KMnO4 2%o để oxy hoá morphin

+ Dùng thuốc điều trị triệu chứng

3.1.5 Nghiện opioid và cai nghiện

Hiện nay nghiện ma tuý nói chung và nghiện opioid nói riêng đang trở thành tệ nạn xã hội nghiêm trọng Nó không chỉ tồn tại ở những tụ điểm nghiện hút tiêm chích ngoài đường phố mà còn lan cả vào trường học Trước đây người ta hút thuốc phiện là chính, nhưng ngày nay phần lớn thuốc phiện chuyển thành heroin và người ta chủ yếu

Trang 33

dùng dung dịch heroin hydroclorid trong nước để tiêm chích Những nguời nghiện hút thường dễ bị nhiễm các tật bệnh hiểm nghèo và dễ dẫn đến tử vong

Để ngăn chặn tệ nạn nghiện thuốc phiện và heroin cần phối hợp nhiều biện pháp, vận động mọi người tham gia vào phong trào chống sản xuất, tàng trữ, lưu thông buôn bán và sử dụng Riêng ngành y tế còn một nhiệm vụ quan trọng là cai nghiện

Cai nghiện opioid là một quá trình phức tạp, phải kết hợp dùng thuốc, châm cứu, xoa bóp và luyện tập

Dùng thuốc để cai nghiện opioid dựa vào 2 nguyên tắc:

Dùng các chất gây nghiện cùng nhóm nhưng độc tính thấp hơn, tác dụng kéo dài hơn Người nghiện dùng liều nhỏ, giảm dần liều cho đến khi ngừng hẳn Đại diện cho nhóm này là methadon Tác dụng của methadon kéo dài 8 - 12 giờ (morphin chỉ được 4 -5 giờ) Người nghiện dùng 15 -20 mg/ ngày, sau đó giảm dần liều Thời gian dùng từ 15 - 20 ngày

Dùng các chất “đối kháng” với tác dụng dược lý của opioid như suy hô hấp, hôn mê, co đồng tử,

Nalorphin được dùng đầu tiên trong điều trị ngộ độc cấp opioid

Naloxon (C20H23NO4)là chất đối kháng opioid mạnh hơn, đặc hiệu hơn nalorphin, cạnh tranh với morphin ở các receptor trong não, chống được tác dụng suy

hô hấp, hôn mê, co đồng tử,

Naltrexon được coi là thành công nhất hiện nay trong việc nghiên cứu các chất cai nghiện Nó chống được tác dụng gây sảng khoái của opioid Vì vậy ở nhiều trung tâm cai nghiện trên thế giới đã và đang sử dụng chất này

Trang 34

cai nghiện opioid có hiệu quả, một khâu quan trọng là phải ngăn cản sản xuất và buôn bán các chế phẩm thuốc phiện Trên thực tế vấn đề này rất khó khăn, vì hai lẽ:

- Y học hiện đại đang phải sử dụng một số loại thuốc thiết yếu được sản xuất chế biến từ thuốc phiện và morphin như codein, diomin, apomorphin, hypostamin Vì vậy cây thuốc phiện vẫn còn được trồng ở nhiều nước khác nhau uỷ ban kiểm soát ma tuý quốc tế có quy định mức độ trồng trọt cây thuốc phiện cho các quốc gia thành viên với sự kiểm soát chặt chẽ Tuy vậy khó mà kiểm soát được việc trồng cây thuốc phiện

ở vùng Tam giác vàng hoặc ở các cánh rừng và thung lũng hoang vu ở Trung cận đông

- Trình độ tập hợp hoá học ngày càng cao Trên cơ sở phân tích cấu tạo các chất ban đầu, người ta có thể tổng hợp được nhiều chất có cấu tạo đơn giản hơn nhưng lại

có hoạt tính mạnh hơn nhiều lần các chất có trong tự nhiên Ví dụ: nhiều dẫn xuất của Fentanyl (C22H28N2O) có tác dụng rất mạnh như metyl 3-fentanyl, para fluorofentanyl, hydroxyl fentanyl Chúng đều thuộc bảng 1 của Uỷ ban kiểm soát ma tuý quốc tế Một trong các chất đó là metyl-3- fentanyl Chất này có tác dụng mạnh hơn heroin 1000 lần Từ năm 1982, ở Mỹ còn xuất hiện thuốc ma tuý dưới tên “heroin tổng hợp” Đó là hỗn hợp hai dẫn chất của metyl-3- fentanyl (tên viết tắc là MPPP và MPTP) Nó dùng để thay thế cho heroin nhưng có tác dụng rất nguy hiểm là người sử dụng thuốc có triệu chứng của bệnh liệt rung (Parkinson)

* Methadone (C21H27NO)

Trang 35

3.2 CẦN SA (CANNABIS)

Cây cần sa Cannabis sativa L họ Cannabinaceae, còn gọi là cây Gai dầu, cây

Lanh mèo, cây đại ma, bồ đà Có hai loại cần sa chính:

- Cần sa Ấn độ: Cannabis sativa L, var indica, được trồng nhiều ở Ấn độ, Thái Lan, Lào, Campuchia và miền Nam nước ta

- Cần sa Trung quốc: Cannabis sativa L,var chinensis, được trồng nhiều ở miền nam Trung quốc và một số tỉnh miền Bắc Việt Nam Loại cần sa Trung quốc có:

+Thân cây cao tới 3m, đường kính thân 4-6cm, lá to

+ Tỷ lệ hoạt chất ít nên chủ yếu được trồng để lấy sợi và lấy hạt làm thực phẩm Trong khi đó cần sa Ấn độ thấp hơn (2,5m), đường kính thân nhỏ hơn (3-4 cm) nhưng lại chứa hoạt chất cao hơn nhiều

Cần sa là cây thảo, mọc hàng năm, thân mọc thẳng từng đoàn phân thành nhiều cành, trên cành mọc nhiều lá Quả cần sa hình tròn, xám trơn

Trồng cần sa bằng cách gây hạt trong chậu vào tháng 8 Sau khi mọc được 10cm thì đưa vào trồng đại trà Cuối năm đó cây ra hoa, có cây cho hoa đực, có cây cho hoa cái Để nâng cao năng suất người ta thụ phấn nhân tạo Tháng 2 hay tháng 3 năm sau thì thu hái hoa cái Trong hoa cái có nhiều chất có hoạt tính sinh học và gây nghiện Loại cần sa Ấn độ ở miền nam nước ta có nhiều hoạt chất (khoảng 30-50mg/g

Trang 36

7-Cần sa) Cây này có thể trồng liên tiếp nhiều vụ Còn 7-Cần sa Trung quốc chỉ mỗi năm một vụ

Con người đã dùng cần sa từ hàng ngàn năm trước làm thuốc hút, thuốc nhai, thuốc hít và thuốc uống Vỏ Cần sa để lấy sợi: dệt may mặc, bện thừng và nhiều mục đích khác nhau hạt Cần sa là nguồn lipid và protid rất bổ ích cho người Hoa và lá Cần

sa còn dùng làm thuốc an thần cho súc vật và cả người Ơ miền Tây Nam bộ và Campuchia, người ta thường trộn lá Cần sa vào thức ăn cho lơn, gà, vịt Gia cầm ăn theo chế độ này chống lớn, tăng trong nhanh, ít bệnh tật (có thể cho tác dụng an thần của lá Cần sa)

3.2.1 Hoạt chất của Cần sa

Hoạt chất của Cần sa goi chung là Cannabioid có tỷ lệ phụ thuộc vào chủng loại cây, khí hậu, đất đai với trồng trọt Hoạt chất của Cần sa ở trong nhựa Tỷ lệ nhựa thay đổi tuỳ theo nguồn gốc địa lý và cách chế biến Cần sa Ấn độ cho nhiều nhựa nhất 15-20% Cần sa Trung quốc ít hơn Cần sa trồng ở Mỹ hiện nay chỉ cho 7-8% nhựa Phân tích nhựa, người ta thu được các hoạt chất chính sau đây:

- Tetrahydro Cannabinol (THC): (Tetrahydro 6,6,9 trimetyl 3 pentyl 6H dibenzo [b,d] pyran 1 - ol) C21H30O2 = 314,45

Các đồng phân của THC có hoạt tính sinh học

9-THC: chất chính gây nghiện Tỷ lệ này thay đổi từ 1-10% trong Marihuana 9-THC có công thức cấu tạo như sau:

Đồng phân này có một số tính chất lý hoá sau:

Ngày đăng: 28/06/2023, 21:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Công thức acid barbituric  Barbiturat là các dẫn xuất của acid barbituric. Các barbiturat thường được chia làm 3  loại theo các vị trí thế như sau: - Bg doc chat hoc phan 2 1019
Hình 1.1. Công thức acid barbituric Barbiturat là các dẫn xuất của acid barbituric. Các barbiturat thường được chia làm 3 loại theo các vị trí thế như sau: (Trang 11)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN