Bài giảng gồm 17 chương giới thiệu sơ lược về cấu tạo hình thái vi thể, siêu vi thể và hóa học của các mô và các bộ phận chủ yếu của những cơ quan trong cơ thể người bình thường, cấu tạo
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN
KHOA Y
Bài giảng học phần
MÔ PHÔI Giảng viên biên soạn: BS Huỳnh Thị Yến Nhi
Tài liệu tham khảo: Bài Giảng Mô Học - Phôi Thai Học (1994), NXB Y học
Chủ biên: PGS.TS.Trịnh Bình, Đỗ Kính
Hậu Giang – 2022 LƯU HÀNH NỘI BỘ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN
KHOA Y
Bài giảng học phần
MÔ PHÔI Giảng viên biên soạn: BS Huỳnh Thị Yến Nhi
Tài liệu tham khảo: Bài Giảng Mô Học - Phôi Thai Học (1994), NXB Y học
Chủ biên: PGS.TS.Trịnh Bình, Đỗ Kính
Hậu Giang – 2022 LƯU HÀNH NỘI BỘ
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU - -
Mô phôi là môn học thiết yếu trong quá trình đào tạo Bác sĩ đa khoa, trình độ đại học Trong chương trình giảng dạy tại Trường Đại học Võ Trường Toản, học phần
có thời lượng 45 tiết tương ứng 3 tín chỉ
Mục tiêu học tập học phần Mô phôi giúp sinh viên ngành Y khoa trang bị kiến thức nền tảng và các ứng dụng trong lĩnh vực Mô học thường nhằm đáp ứng chuẩn đầu ra chương trình đào tạo
Bài giảng gồm 17 chương giới thiệu sơ lược về cấu tạo hình thái vi thể, siêu vi thể và hóa học của các mô và các bộ phận chủ yếu của những cơ quan trong cơ thể người bình thường, cấu tạo và chức năng của các mô và các cơ quan
Trang 4LỜI TỰA - -
Bài giảng Mô phôi được biên soạn và thẩm định theo các quy chế, quy định hiện hành Khoa Y hy vọng sẽ cung cấp các nội dung kiến thức súc tích về học phần,
hỗ trợ tốt nhất cho sinh viên trong quá trình học tập Bên cạnh đó, bài giảng không thể tránh khỏi các thiếu sót ngoài ý muốn, Khoa Y rất mong nhận được các ý kiến đóng góp từ sinh viên và người đọc để bài giảng được hoàn thiện hơn
Hậu Giang, ngày … tháng … năm 2022
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.7 Biểu mô lát tầng không sừng hóa và sừng hóa 13 Hình 1.8 Biểu mô vuông tầng ở nang trứng (trái) và ở tuyến mồ hôi (phải) 14 Hình 1.9 Biểu mô trụ tầng ở ống bài xuất lớn của tuyến nước bọt cắt dọc (trái) và cắt
Hình 1.13 Hình thái cấu tạo các loại tuyến ngoại tiết 18
Hình 1.17 Cấu tạo nguyên bào sợi và tế bào sợi 23
Hình 2.3 Hình ảnh vi thể chất căn bản, mô sụn 38
Trang 7Hình 2.5 Cốt bào 42
Hình 2.10 Sơ đồ hình thành xương dài trên mô sụn 51 Hình 2.11 Sơ đồ cho thấy mô xương luôn được đổi mới cấu tạo 53
Hình 2.15 Sơ đồ vân ngang của sợi cơ và vi sợi cơ 60 Hình 2.16 Sơ đồ cấu tạo vi sợi cơ và sự sắp xếp đặc hiệu của các siêu sợi actin và
Hình 2.18 Sơ đồ biểu diễn sự co cơ (trên) sự dãn cơ (dưới) 63 Hình 2.19 Sơ đồ về quan hệ phân tử trong co cơ 64 Hình 2.20 Sơ đồ sự co cơ có liên quan chặt chẽ với vị trí của phân tử ATP 65
Hình 3.1 Sơ đồ cấu tạo thành động mạch (trái) và tĩnh mạch (phải) 75
Hình 3.4 Sơ đồ cấu tạo mao mạch liên tục (trên), mao mạch có lỗ thủng (giữa) và mao
Hình 3.6 Sơ đồ quan hệ mao mạch máu và mao mạch bạch huyếtMao mạch bạch
Hình 4.2 Tuyến ức dưới KHV và độ phóng đại nhỏ 92
Trang 8Hình 4.6 Sơ đồ cấu tạo và tuần hoàn của lách 100
Hình 5.3 Nơron đa cực (A), hai cực (B), và một cực giả (C) 110
Hình 5.5 Các túi Synap có kích thước và cấu tạo khác nhau 113 Hình 5.6 Sơ đồ biểu diễn điện thế nghỉ và sự hình thành điện thế động ở sợi trục
115 Hình 5.7 Sự dẫn truyền luồng thần kinh theo kiểu nhảy ở sợi thần kinh có myelin 116
Hình 5.10 Sơ đồ cho thấy tế bào nhánh tạo nên bao myelin 118
Hình 5.12 Sơ đồ biểu diễn quá trình hình thành bao myelin 122
Hình 6.4 Sơ đồ không gian vùng mống mắt, thể mi, giác mạc 134
Hình 6.6 Sơ đồ cấu tạo siêu vi và phân tử của TB que 138
Hình 6.11 Sơ đồ mê đạo màng và các điểm cảm giác 147
Hình 7.2 Ống sinh niệu (T) và tế bào của các đoạn ống (P) 157
Trang 9Hình 7.5 Sơ đồ tuần hoàn trong thận 166
Hình 10.2 Sơ đồ phân nhánh vùng dẫn khí và vùng hô hấp 211
Hình 11.3 Tế bào thùy trước tuyến yên: TB hướng thân (ST)TB hướng tuyến vú
Trang 10Hình 11.8 Cấu tạo vi thể của tuyến giáp 241
Hình 11.11 Sơ đồ quan hệ giữa hypothalamus, tuyến yên và thượng thận vỏ 249
Hình 11.15 Hình ảnh đảo Langerhans được bao xung quanh bởi những nang tuyến
256
Hình 12.4 Sơ đồ biệt hóa tinh tử thành tinh trùng và cấu tạo của tinh trùng 267
Hình 12.6 Sơ đồ phân chia và biệt hóa tế bào dòng tinh 271
Hình 12.10 Cấu tạo vi thể của tuyến tiền liệt 279
Trang 11Hình 13.2 Sơ đồ nguyên phân 305
Hình 13.4 Sơ đồ so sánh nguyên phân và giảm phân 308 Hình 13.5 A Tế bào mầm nguyên thủy; B Tế bào noãn nguyên thủy; C Tế bào noãn
Hình 13.6 A nang trứng nguyên thủy; B nang trứng đang phát triển (sơ cấp); C
Hình 13.7 Giảm phân ở nang trứng đang trưởng thành 311
Hình 13.9 Các tế bào dòng tinh trong biểu mô tinh với tế bào Sertoli 315 Hình 13.10 Sơ đồ biệt hóa tinh trùng từ tinh tử 316
Hình 13.12 Sự xâm nhập của tinh trùng vào trứng 322 Hình 13.13 A Sự kết dính 2 tiền nhân; B Giai đoạn 2 phôi bào 323 Hình 13.14 Sơ đồ mô tả toàn bộ quá trình thụ tinh 324
Hình 14.5 Sự khép mình của phôi, hình thành túi ối 334 Hình 14.6 Sơ đồ biệt hóa tạo cơ quan từ 3 lá phôi 335 Hình 15.1 Sơ đồ quá trình phân cắt và di chuyển của phôi sau khi thụ tinh 339 Hình 15.2 Phôi ở giai đoạn hai, bốn tế bào, phôi dâu, phôi nang 340 Hình 15.3 Các phôi bào của chuột dưới kính hiển vi diện tử A không nén, B các tế
Hình 15.4 Các vị trí làm tổ bất thường có thể xảy ra 342 Hình 15.5 Sự làm tổ của phôi ở túi cùng sau (trong ổ bụng) 343 Hình 16.1 Phôi người tại thời điểm bắt đầu tháng thứ 2 của sự phát triển Tại cực phôi, lông nhau phát triển nhanh về số lượng và hình dạng, cực đối phôi thì phát triển
Hình 16.2 Cấu trúc của lông nhau qua các giai đoạn phát triển khác nhau A Trong
Trang 12rụng đáy B Trong suốt tháng thứ 4, nhiều lông nhau nhỏ, thành của mao mạch tiếp xúc trực tiếp với lớp lá nuôi hợp bào C, D chỉ sự lớn lên của các lông nhau 347 Hình 16.3 Phôi 6 tuần Túi ối và khoang đệm được mở ra để lộ phôi, minh họa sự xuất hiện của nguyên bào nuôi ở cực phôi và ngược lại những lông nhau nhỏ ở cực đối phôi Ống túi noãn hoàng có khuynh hướng dài ra, túi noãn hoàng có khuynh hướng
Hình 16.4 Thai 19 tuần trong tử cung, hình còn cho thấy dây rốn và bánh nhau Lòng
tử cung được lấp đầy Thành của tử cung có 1 nhân xơ 352 Hình 16.5 Thai 23 tuần trong tử cung Đã cắt bỏ 1 phần thành tử cung và màng ối Trong hình chỉ mạch máu bánh nhau hội tụ về dây rốn Dây rốn quấn 1 vòng chặt quanh bụng, có khả năng gây ra bất thường ở thai nhi 353 Hình 16.6 A Phôi 5 tuần minh họa cấu trúc cuống phôi nguyên thủy B Dây rốn nguyên thủy lúc thai 10 tuần C Cắt ngang qua vòng dây rốn D.Cắt ngang qua dây rốn nguyên thủy thấy quay ruột nhô ra trong dây rốn 358 Hình 16.7 Bất thường về chi gây ra bởi dây màng ối A Chi khuyết vòng B Cụt chi
359
Trang 13NHẬP MÔN MÔ HỌC
MỘT SỐ KHÁI NIỆM
Mô học là môn khoa học nghiên cứu hình thái vi thể và siêu vi thể của tế bào,
mô, cơ quan cơ thể người bình thường, trong mối quan hệ chặt chẽ với ý nghĩa chức năng của chúng
Tế bào là đơn vị cấu tạo và chức năng của cơ thể sống dựa vào chức năng có
thể xếp tế bào cơ thể thành những nhóm cơ bản sau: tế bào gốc, tế bào biểu mô, tế bào chống đỡ, tế bào co rút (tế bào cơ), tế bào thần kinh, tế bào máu, tế bào miễn dịch và
tế bào chế tiết hormon
Mô gồm quần thể tế bào đã chuyên môn hóa và những sản phẩm của tế bào
đảm nhiệm một hoặc vài chức phận nhất định Cơ thể người có 05 loại mô cơ bản: (1) biểu mô, (2) mô liên kết (mô liên kết chính thức, mô xương, mô sụn, mô mỡ, mô lưới), (3) mô cơ, (4) mô thần kinh và (5) mô máu và bạch huyết
Cơ quan là đơn vị cấu trúc gồm các nhóm mô, đảm nhiệm một hoặc nhiều
chức năng nhất định
Hệ cơ quan gồm một nhóm các cơ quan liên hệ hoặc phụ thuộc nhau, đảm
nhiệm 1 hoặc nhiều chức phận nhất định
Cơ thể người bao gồm các cơ quan và hệ cơ quan hoạt động tương tác với
nhau, đảm bảo sự thích nghi trong môi trường sống
QUAN HỆ GIỮA MÔ HỌC VÀ CÁC MÔN HỌC KHÁC TRONG Y SINH HỌC
Mô học được coi là mô học cơ sở về hình thái cho các môn học cơ sơ chức năng như: sinh lý học, sinh hóa học và các môn học tiền lâm sàng như: giải phẩu bệnh, sinh lý bệnh, dược lý học
Với giải phẫu học: giải phẫu học và mô học là hai môn học hình thái học mà sinh viên được học ngay những năm đầu khi vào trường y Gải phẫu học nghiên cứu
mô tả bằng quan sát đại thể, mô học nghiên cứu mô tả cơ thể ở mức hiển vi Những phát hiện và hiểu biết về giải phẫu học là tiền đề để ngành mô học đi sâu nghiên cứu; đổng thời những kiến thức về mô học làm phong phú và sâu thêm những hiểu biết về giải phẫu
Trang 14Với sinh lý học: Sinh lý học nghiên cứu những cơ chế và qui luật hoạt động chức năng của các cơ quan, hệ cơ quan của cơ thể người Những hiểu biết về cấu trúc đại thể (giải phẩu học) và đặc biệt là những kiến thức về vi thể, siêu vi thể (mô học) giúp trả lời câu hỏi vì sau các cơ quan, hệ cơ quan lại thực hiện được những chức năng
đó
Với những hiểu biết hiện nay về cơ thể con người, có thể nói: “Trong cơ thể không có một cấu trúc nào không đảm một chức năng không có chức năng nào không liên quan đến một cấu trúc” Khi nghiên cứu mô tả cấu trúc hình thái của tế bào, mô của cơ quan nào đó, người làm mô học luôn tìm hiểu liên hệ với ý nghĩa chức năng của tế bào và mô ấy Mô học không có nhiệm vụ nghiên cứu hoạt động sinh lý của các
cơ quan, hệ cơ quan, nhưng mô học luôn tìm hiểu ý nghĩa chức năng của các cấu trúc
đã nghiên cứu, ngày nay, mô sinh lý học là một trong những hướng nghiên cứu của mô học hiện đại
Với sinh hóa học: việc áp dụng nghững kỹ thật nghiên cứu hóa tế bào, hóa mô nhằm phát hiện và xác định vị trí, sự phân bố và những biến đổi các thành phần hóa học ở tế bào và mô đã chứng tỏ mối quan hệ mật thiết giữa hóa học, hóa sinh học với
tế bào học, mô học
Với những môn bệnh học và lâm sàng: những kiến thức mô học của cơ thể người bình thường là không thể thiếu để có thể nhận ra được những cấu trúc bệnh lý bất thường và giúp hiểu thấu đáu những quá trình sinh hóa bất thường và sinh lý bệnh
Cùng với những khám xét lâm sàng và cận lâm sàng khác các lâm sàng còn sử dụng các kết quả phân tích về tế bào học, mô học… Giúp cho việc chẩn đoán, tiên lượng, theo dõi trong quá trình điều trị cho người bệnh Nhà bệnh lý học người Đức Rudolf Virchow (1821 - 1902) đã từng có câu nói nổi tiếng: “…Tôi khẳng định rằng, không một thầy thuốc giỏi nào lại không hiểu biết tường tận về cấu trúc cơ thể con người!”
PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP
Để đạt kết quả học tập, cần có phương pháp phù hợp Ngoài việc phải nắm vững những mục tiêu học tập của mỗi bài, sinh viên cần lưu ý những điểm sau:
Trang 15Vì mô học là môn học hình thái mô tả, nhiều chi tiết và thuật ngữ, nên cần học cách gọi tên và mô tả đúng các cấu trúc, hiểu các hình và tập vẽ các hình minh họa; nên làm dàn ý chi tiết bài học của riêng mình
Nên liên hệ giữa đặc điểm hình thái với ý nghĩa chức năng của cấu trúc
Tích cực, chủ đông tham gia các buổi thực tập trên tiêu bản để củng cố kiến thức
Trang 16CHƯƠNG 1
MÔ, BIỂU MÔ VÀ MÔ LIÊN KẾT 1.1 Thông tin chung
1.1.1 Giới thiệu tóm tắt nội dung bài học
Bài học cung cấp kiến thức tổng quát về cấu tạo hình thái vi thể, siêu vi thể và hóa học của các mô và các bộ phận chủ yếu của những cơ quan trong cơ thể người bình thường, cấu tạo, chức năng của các mô, các cơ quan và các nội dung liên quan đến Mô phôi
1.1.2 Mục tiêu học tập
Mô, biểu mô:
1 Trình bày được khái niệm và các đặc điểm cấu tạo của biểu mô
2 Mô tả được các cấu trúc liên kết giữa các tế bào
3 Mô tả được cấu trúc mô học của 9 loại biểu mô phủ và trình bày vị trí của chúng trong cơ thể
4 Phân loại biểu mô tuyến
5 Mô tả được các kiểu chế tiết của biểu mô tuyến
Mô liên kết:
1 Trình bày được đặc điểm chung của mô liên kết
2 Mô tả cấu tạo và chức năng của 9 loại tế bào liên kết
3 Mô tả được đặc điểm các sợi liên kết
4 Trình bày được phân loại mô liên kết
1.1.4.2 Tài liệu tham khảo
1 Bộ Y Tế (2007) Mô – phôi: Phần Mô học, NXB Y học, Hà Nội
Trang 172 Trang Thị Ánh Tuyết (2011) Bài Giảng Mô Phôi, NXB Y học, TP HCM
1.1.5 Yêu cầu cần thực hiện trước, trong và sau khi học tập
Sinh viên đọc trước bài giảng, tìm hiểu các nội dung liên quan đến bài học, tích cực tham gia thảo luận và xây dựng bài học, ôn tập, trả lời các câu hỏi, trình bày các nội dung cần giải đáp và tìm đọc các tài liệu tham khảo
Cơ thể người và động vật là một thề thống nhất, toàn vẹn, trong đó có thể chia thành nhiều mức độ tổ chức khác nhau: phân tử, tế bào, mô, cơ quan và cơ thể
Tế bào là đơn vị sống cơ bản về cấu tạo và chức năng của mọi cơ thể sống
Mô là một hệ thống các tế bào và chất gian bào có cùng nguồn gốc, cấu tạo và chức
năng, chúng được hình thành trong quá trình tiến hóa sinh học và xuất hiện ở cơ thể đa bào do quá trình biệt hóa Cơ thể người có 5 loại mô chính:
o Biểu mô (biểu mô phủ và biểu mô tuyến)
o Mô liên kết (mô liên kết chính thức, mô sụn và mô xương, mô mỡ và mô lưới)
o Mô cơ
o Mô thần kinh
o Mô máu và bạch huyết
1.2.1.1 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA BIỂU MÔ
Biểu mô là mô gồm những tế bào xếp sát nhau với một khoảng gian bào không
đáng kể Biểu mô có tác dụng phủ mặt ngoài cơ thể, các khoang trong cơ thể hoặc tạo thành các tuyến
Biểu mô có nguồn gốc từ ngoại bì hoặc trung bì hoặc nội bì
Biểu mô có hai loại:
• Biểu mô phủ: Lợp mặt ngoài cơ thể hoặc mặt trong các khoang thiên nhiên như:
da, ống tiêu hóa, bàng quang, tử cung…
Trang 18• Biểu mô tuyến: tuyến ngoại tiết và tuyến nội tiết
Chức năng chung của biểu mô: bảo vệ, hấp thu, tái hấp thu, chế tiết
Biểu mô có 5 đặc điểm cấu tạo:
Các tế bào biểu mô thường đứng sát nhau, tạo thành lớp và tựa trên màng đáy ngăn cách với mô liên kết
Lớp biểu mô thường có tính phân cực: cực ngọn quay về phía môi trường hoặc các khoang, cực đáy tựa trên màng đáy Tính phân cực thể hiện ở cấu tạo, phân bố bào quan và hoạt động tế bào
Các tế bào biểu mô lân cận liên kết với nhau rất chặt chẽ bằng các hình thức liên kết phong phú
Trong biểu mô không có mạch máu Biểu mô được nuôi dưỡng nhờ sự thẩm thấu các chất từ mô liên kết qua màng đáy
Hầu hết biểu mô, đặc biệt là biểu mô phủ có khả năng tái tạo mạnh
1.2.1.2 BIỂU MÔ PHỦ
- Tế bào biểu mô phủ
✓ Bào quan đặc biệt:
Vi nhung mao: là những nhánh bào tương cực ngọn tế bào, do bào tương
đội màng tế bào lên để tăng diện tích bề mặt tế bào Có cấu trúc khá kiên định nhờ bên trong có những sợi actin chạy dọc theo nhung mao
Lông chuyển: có cấu trúc giống như trung thể, bên ngoài được bọc bởi một
màng tế bào, nó có nhiều ở cực ngọn của tế bào trụ có lông chuyển của biểu mô đường
hô hấp Mỗi lông chuyển gồm 9 nhóm siêu ống ngoại vi và 2 siêu ống trung tâm xếp song song nhau và chạy theo chiều dọc của lông chuyển
Nếp gấp đáy: là những chỗ màng bào tương ở cực đáy tế bào biểu mô lõm sâu
vào bào tương tế bào tạo thành những mê đạo đáy
Trang 19Hình 1.1 Biểu mô phủ
✓ Sự liên kết giữa các tế bào:
Các tế bào biểu mô gần nhau liên kết với nhau rất chặt chẽ, nhờ các cấu trúc liên kết phong phú: chất gắn, khớp mộng, liên kết vòng bịt, thể liên kết vòng, thể liên kết, liên kết khe
• Chất gắn: Là những phân tử kết dính tế bào nằm trong khoảng gian bào hẹp giữa
các tế bào
• Khớp mộng: Là cấu trúc lồi lõm của tế bào khớp vào nhau
• Liên kết vòng bịt: Là vùng liên kết khít ở cực ngọn, 2 màng tế bào như được may
lại bởi những hàng phân tử protein
• Thể liên kết vòng: Cũng tạo thành 1 dãy quanh cực ngọn của tế bào
• Thể liên kết: Là những cấu trúc liên kết điển hình, thường gặp, có dạng bầu dục Ở
mỗi phần tế bào đối diện có 1 tấm bào tương đặc với nhiều siêu sợi trương lực xuyên qua màng bào tương và đan vào nhau ở khoảng gian bào và làm cho sự liên kết càng thêm chắc
• Liên kết khe: là những vùng rộng có đường kính khoảng 1000nm, ở đó 2 màng tế
bào cách nhau 2- 3nm, trên màng tế bào có những phức hợp protein đặc biệt (connexon) tạo nên những khe thông có thể đóng mở để vận chuyển ion có trọng lượng phân tử 2.103 từ tế bào này đến tế bào kia Loại liên kết này có thể gặp ở tất cả các mô
Trang 20Hình 1.2 Sự liên kết giữa các tế bào
Trang 21- Phân loại biểu mô phủ:
Dựa vào hình dáng tế bào:
Biểu mô lát:
• Biểu mô vuông,
• Biểu mô trụ
Dựa vào số hàng tế bào:
• Biểu mô đơn,
• Biểu mô tầng
Tổng hợp 2 tiêu chuẩn phân loại trên, biểu mô được phân thành:
• Biểu mô lát đơn,
• Biểu mô lát tầng,
• Biểu mô vuông đơn,
• Biểu mô vuông tầng,
• Biểu mô trụ đơn,
• Biểu mô trụ tầng
Ngoài ra còn gặp biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển và biểu mô trung gian (= biểu
mô đa dạng tầng = BM chuyển tiếp = BM chuyển dạng = biểu mô niệu)
Trang 22Hình 1.3 Phân loại biểu mô phủ.
Trang 23✓ Biểu mô lát đơn: một lớp tế bào dẹt tựa trên màng đáy VD: biểu mô của lá
thành, lá tạng của phúc mạc, bao Bawnman của tiểu cầu thận…
Hình 1.4 Biểu mô lát đơn
✓ Biểu mô vuông đơn: một lớp tế bào hình khối vuông tựa trên màng đáy Tế bào
có nhân hình cầu nằm ở giữa VD: biểu mô mầm buồng trứng, biểu mô các ống thận…
Hình 1.5 Biểu mô vuông đơn
Trang 24✓ Biểu mô trụ đơn: một lớp tế bào hình trụ có nhân hình bầu dục
nằm lệch về phía cực đáy VD: biểu mô dạ dày, ruột non, ruột già…
Hình 1.6 Biểu mô trụ đơn
✓ Biểu mô lát tầng không sừng hóa: gặp ở thực quản, giác mạc…
Biểu mô này gồm 3 lớp:
• Lớp đáy (lớp sinh sản): là một hàng tế bào hình trụ thấp hay hình khối vuông, có nhiều tế bào nguồn có khả năng phân chia tạo tế bào mới thay thế lớp tế bào già và bị bong của lớp bề mặt
• Lớp trung gian (lớp gai): gồm nhiều hàng tế bào hình đa diện
• Lớp bề mặt: vài hàng tế bào dẹt, dần dần bị già và bong ra
Hình 1.7 Biểu mô lát tầng không sừng hóa và sừng hóa
Trang 25✓ Biểu mô lát tầng sừng hóa:
• Lớp đáy (lớp sinh sản): là một hàng tế bào hình trụ thấp hay hình khối vuông, bào tương của lớp tế bào này có khả năng tổng hợp protein đặc hiệu tạo nên siêu sợi trương lực, có nhiều tế bào nguồn có khả năng phân chia tạo tế bào mới thay thế lớp tế bào già và bị bong của lớp bề mặt
• Lớp gai (lớp sợi, lớp Malpighi): gồm nhiều hàng tế bào hình đa diện
Trong cả lớp đáy và lớp gai còn gặp tế bào hắc tố, đại thực bào biểu bì và lympho bào
Tế bào hắc tố nằm ở lớp đáy nhưng các nhánh bào tương phát triển vào lớp gai, bào tương của chúng chứa nhiều hạt melanin
• Lớp hạt: nằm trên lớp gai gồm một số tế bào dẹt, bào tương chứa nhiều hạt kératohyalin và tơ trương lực
• Lớp bóng: gồm một số hang tế bào dẹt, bào tương chứa chất eleidin ( là phức hợp giữa kératohyalin và tơ trương lực)
• Lớp sừng: không còn hình ảnh cấu tạo tế bào, chất eleidin biến thành kératin (chất sừng) các vẩy sừng trên cùng không còn liên kết và bong ra
✓ Biểu mô vuông tầng: gồm nhiều lớp tế bào hình vuông chồng lên nhau VD:
nang trứng thứ cấp, nang trứng có hốc, ống bài xuất của tuyến mồ hôi
Hình 1.8 Biểu mô vuông tầng ở nang trứng (trái) và ở tuyến mồ hôi (phải).
Trang 26✓ Biểu mô trụ tầng: hiếm gặp trong cơ thể người, có ở kết mạc mắt và các ống
bài xuất lớn của tuyến nước bọt
Hình 1.9 Biểu mô trụ tầng ở ống bài xuất lớn của tuyến nước bọt cắt dọc (trái) và
cắt ngang (phải)
✓ Biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển: phủ bề mặt đường hô hấp như xoang
mũi, khí quản, phế quản và ống dẫn của một số cơ quan khác
Biểu mô này có các loại tế bào như: tế bào trụ có lông chuyển, tế bào đài, tế bào đáy, tế bào mâm khía, tế bào chế tiết, tế bào nội tiết
Hình 1.10 Biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển
Trang 27✓ Biểu mô đa dạng tầng (biểu mô trung gian = BM niệu = BM chuyển tiếp = chuyển dạng): lợp bề mặt bàng quang Gồm 3 loại tế bào đều tựa trên màng đáy, hình
dáng tế bào thay đổi tùy thuộc bàng quang căng đầy hay rỗng:
• Tế bào đáy: ở lớp đáy, hình khối vuông hay đa diện
• Tế bào vợt: ở lớp giữa
• Tế bào lớn: ở lớp trên
Hình 1.11 Biểu mô đa dạng tầng
1.2.1.3 BIỂU MÔ TUYẾN
Gồm các tế bào tuyến có nhiệm vụ tổng hợp và bài xuất các sản phẩm đặc hiệu, chất tiết nên trong bào tương có lưới nội bào phát triển
- Phân loại các tuyến:
Dựa vào cách chế tiết, bản chất chất tiết và hiệu qủa hoạt động của chúng, ta phân thành tuyến nội tiết và tuyến ngoại tiết
Trang 28Hình 1.12 Phân loại các tuyến
• Tuyến ngoại tiết:
• Là những tuyến đổ các chất tiết lên bề mặt da hoặc vào trong các khoang thiên nhiên
• Cấu tạo gồm 2 phần: chế tiết và ống bài xuất
• Tuyến ngoại tiết được chia làm 3 loại:
✓ Tuyến ống:
Phần chế tiết và bài xuất tạo thành ống bao gồm:
• Tuyến ống đơn thẳng (tuyến Lieberkuhn ở ruột)
• Tuyến ống đơn cong queo (tuyến mồ hôi)
• Tuyến ống chia nhánh thẳng (tuyến đáy vị)
• Tuyến ống chia nhánh cong queo (tuyến môn vị)
✓ Tuyến túi:
+ Phần chế tiết phình ra tạo thành những nang tuyến
• Tuyến túi đơn (tuyến bã ở da) có nhiều nang tuyến đổ vào 1 ống bài xuất duy nhất
• Tuyến túi phức tạp hay còn gọi là tuyến túi kiểu chùm nho (tuyến vú, tuyến nước bọt) có nhiều nang tuyến và ống bài xuất phân nhánh kiểu cành cây
✓ Tuyến ống túi:
+ Là những tuyến ống nhưng thành ống có nhiều túi phình (tuyến tiền liệt)
Trang 29Ống đơn Ống đơn cong queo Ông đơn chia nhánh Tuyến túi
Tuyến ống túi hỗn hợp và Tuyến ống phức tạp Tuyến túi phức tạp
Hình 1.13 Hình thái cấu tạo các loại tuyến ngoại tiết
• Tuyến nội tiết:
• Là những tuyến tiết ra các chất có tác dụng đặc hiệu (hormon) và ngấm vào máu
• Cấu tạo: Có 2 phần chính là tế bào chế tiết và mao mạch Ngày nay, người ta còn phân biệt 02 loại chế tiết nữa là: cận tiết (Paracrine) và tự tiết (Autocrine) mà thực chất cũng là nội tiết nhưng chỉ khác là chất tiết có thể không vào máu và các tế bào chế tiết đứng rãi rác tạo thành hệ nội tiết phân tán, không tạo thành các tuyến (Xem ống tiêu hóa)
• Về mặt hình thái học, tuyến nội tiết có 03 loại chính:
✓ Tuyến túi:
Có cấu tạo từ những túi kín (tuyến giáp)
✓ Tuyến lưới:
Trang 30Các tế bào chế tiết tạo thành dãy và đan thành lưới, bên cạnh dãy tế bào là mao mạch (tuyến thượng thận và cận giáp)
✓ Tuyến tản mác:
Các tế bào chế tiết đứng rãi rác hoặc thành nhóm nhỏ (tuyến kẻ ở tinh hoàn), các tế bào nội tiết ở biểu mô ống tiêu hoá tạo thành 1 hệ nội tiết phân tán có thể xem như 1 hệ nội tiết tản mác
Hình 1.14 Phân loại các tuyến nội tiết
- Các kiểu chế tiết: Có 03 kiểu chế tiết:
• Chế tiết toàn vẹn: (Xuất bào)
• Chất tiết được hình thành và chế tiết liên tục, là khối phân tử nhỏ nên tế bào không thay đổi cấu trúc
• Chế tiết bán hủy:
• Là kiểu chất tiết hình thành từng khối lớn
• Khi tiết 1 phần cực ngọn tế bào bị mất
• Chế tiết toàn hủy:
• Là kiểu cả tế bào bị biến thành chất tiết và được tiết ra ngoài
• Các tuyến ngoại tiết có thể chế tiết theo kiểu:
Trang 31Toàn vẹn: Tuyến tụy ngoại tiết và tuyến nước bọt.
Bán hủy: Tuyến vú
Toàn hủy: Tuyến bã
• Các tuyến nội tiết chỉ tiết theo kiểu toàn vẹn
Hình 1.15 Các kiểu chế tiết.
Trang 32- Các pha chế tiết:
• Pha thứ 1: Các tế bào chế tiết thu nhận các chất từ máu
• Pha thứ 2: Tổng hợp các chất tiết ở lưới nội bào có hạt hoặc lưới nội bào không hạt
và đóng gói chúng ở bộ golgi để chuẩn bị tiết khỏi tế bào
• Pha thứ 3: Pha tiết, các chất tiết được tiết ra khỏi tế bào theo kiểu chế tiết đã nêu trên
• Pha thứ 4: hồi phục trạng thái ban đầu của các tế bào chế tiết
1.2.2 Mô liên kết
1.2.2.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG
Mô liên kết là mô tạo ra và giữ cho cơ thể có hình dạng nhất định, đồng thời mô liên kết giữ nhiều vai trò quan trọng và đa dạng đối với cơ thể: trao đổi chất, bảo vệ, tổng hợp các chất có hoạt tính sinh học Khác với các mô khác (mô cơ, thần kinh, biểu mô), mô liên kết có khoảng gian bào rộng chứa tế bào, chất căn bản và các sợi liên kết Vùi trong chất gian bào đó là nhiều loại tế bào khác nhau
Mô liên kết gồm 3 loại chính: Mô liên kết chính thức, mô sụn và mô xương Ngoài ra mô mỡ và mô lưới được coi mà mô liên kết đặc biệt Trong phần này chỉ mô
tả mô liên kết chính thức, gọi tắt là mô liên kết
Tất cả các loại mô liên kết đều có nguồn gốc từ trung bì phôi, trừ 1 số mô liên kết ở vùng đầu có thể bắt nguồn từ ngọai bì
Mô liên kết là mô chứa nhiều mạch máu để nuôi bản thân mô liên kết và các
Trang 33Hình 1.16 Cấu tạo mô liên kết thưa
- Tế bào trung mô
Là tế bào nhỏ, hình thon dài, nhân bầu dục nằm giữa, bào tương ít Tế bào nối kết với nhau bằng một lưới trung mô Có nhiều ở phôi thai
Có thể biệt hóa thành nguyên bào sợi, tế bào sụn, tế bào xương, tế bào mỡ nên được gọi là tế bào đa năng Ở người trưởng thành 01 số tế bào trung mô vẫn còn tồn tại và giữ nguyên khả năng biệt hóa trên
- Nguyên bào sợi, tế bào sợi
Là loại tế bào nhiều nhất, có mặt ở mọi nơi của mô liên kết Có 2 lọai tế bào sợi: nguyên bào sợi (fibroblast) và tế bào sợi trưởng thành (fibrocyte)
Hình 1.17 Cấu tạo nguyên bào sợi và tế bào sợi.
Trang 34• Nguyên bào sợi:
Là những tế bào non, ít biệt hóa, thường có dạng hình thoi, ít nhánh ngắn, kích thước không quá 20-25 micron, nhân bầu dục hoặc hình cầu có 1 vài hạt nhân Bào tương ưa bazơ nhạt, lưới nội bào, ti thể ít phát triển Nguyên bào sợi có khả năng phân chia mạnh, có thể di động yếu nhờ siêu sợi actin và myosin ở ngoại vi bào tương
Tế bào sợi đảm nhiệm nhiều chức năng quan trọng trong cơ thể như:
• Tổng hợp các chất như phân tử collagen và elastin để tạo sợi liên kết, tổng hợp glycosaminoglycan và proteoglycan, tổng hợp 1 phần glycoprotein
• Tham gia vào quá trình tái tạo
• Tạo tế bào sợi trưởng thành, tế bào mỡ, tế bào sụn, tế bào xương
• Khả năng thực bào của nguyên bào sợi rất thấp
• Tế bào sợi trưởng thành:
Là những tế bào đã biệt hóa, có dạng hình thoi dài, đôi khi có nhánh, bào tương chứa không bào, hạt lipid, glycogen Việc tổng hợp collagen và các chất khác ở mức không đáng kể Tế bào sợi trưởng thành có nhiều trong gân, cơ, màng bao xơ của nhiều cơ quan, là cơ sở cấu tạo của vết sẹo
- Đại thực bào: (Macrophage)
Đôi khi còn gọi là mô bào (histocyte), có trong các cơ quan miễn dịch, nơi có
nhiều mạch, vùng viêm Đại thực bào là những tế bào di động mạnh, biến động nhiều
về số lượng, kích thước và cấu tạo Nguồn gốc của đại thực bào là Mono bào
Tất cả những tế bào có khả năng thực bào có nguồn gốc từ Mono bào tạo thành
hệ thống thực bào đơn nhân Hệ thống này bao gồm:
• Mono bào trong máu
• Đại thực bào trong mô liên kết
• Tế bào Kupffer trong gan
Đại thực bào quanh các mao mạch kiểu xoang, lách, hạch, tủy xương
Đại thực bào phế nang (tế bào bụi)
Vi bào đệm trong mô thần kinh
Hủy cốt bào
Trang 35Đại thực bào trong mô liên kết có dạng hình cầu, bầu dục, dạng amip, kích thước thay đổi từ 15-30 micron Bề mặt của đại thực bào thường lồi lõm không đều, trên mặt có thụ thể (receptor) đối với tế bào ung thư, hồng cầu, Lympho bào B và T, đối với kháng nguyên, immunoglobulin, 1 số protein của bổ thể
Nhân của đại thực bào có dạng hình cầu, hình bầu dục hoặc hình hạt đậu, không có hạt nhân, thường nằm lệch tâm Trừ 1 số trường hợp (hủy cốt bào, đại thực bào trong lao) tất cả các đại thực bào đều đơn nhân Bào tương của đại thực bào hơi ưa bazơ, rất giàu lysosom, không bào thực bào, túi ẩm bào
Chức năng của đại thực bào:
• Bảo vệ bằng cách thực bào (ăn vật lạ, tế bào chết ) xử lý kháng nguyên, phân hủy hạt kháng nguyên thành những phân tử, thực hiện tương tác với Lympho bào T và
B trong phản ứng miễn dịch
• Tổng hợp các chất collagenase, elastase, interferon
- Tương bào: (plasma cell)
Là những tế bào di động, có nhiều trong cơ quan bạch huyết, phân bố rãi rác trong mô liên kết, tập trung nhiều ở các vùng có viêm
Tương bào có dạng hình cầu, hình bầu dục, hình trứng, kích thước từ 10-15 micron Bào tương ưa bazơ có lưới nội bào hạt rất phát triển, nhân hình cầu nằm lệch
về 1 phía và chất nhiễm sắc phân bố theo kiểu bánh xe tương bào biệt hóa từ lympho bào B, sau khi có kích thích kháng nguyên và tương tác tế bào
Chức năng tương bào là tổng hợp kháng thể, bảo đảm miễn dịch dịch thể
- Masto bào: (Mast cell)
Có thể di động, gặp ở quanh các mao mạch, Phúc mạc, mô liên kết thưa tầng niêm mạc ruột Masto bào có kích thước 12 micron
• 20 micron, hình cầu hoặc hình bầu dục Nhân thường không nhận thấy dưới kính hiển vi quang học vì các hạt bào tương che lấp Bào tương chứa nhiều hạt chế tiết ưa bazơ và dị sắc Về mặt hóa học, các hạt chế tiết chứa heparin, histamin, acid hyaluronic và 1 số enzym thủy phân
Chức năng của Masto bào:
Trang 36Chế tiết heparin có tác dụng chống đông máu, tăng tính thấm máu-mô trong quá trình viêm và đáp ứng miễn dịch
Chế tiết histamin là chất trung gian của 1 số kiểu phản ứng dị ứng
Điều hòa nội môi tại chổ, kiểm sóat kích thước mạch và tính thấm thành mạch Nguồn gốc: có lẽ masto bào có nguồn gốc từ bạch cầu ưa bazơ Số lượng masto bào phụ thuộc trạng thái sinh lý, chúng thường tăng nhiều ở dạ dày-ruột trong giờ cao điểm tiêu hóa hoặc ở tử cung, tuyến vú ở phụ nữ có thai
- Tế bào nội mô: (Endothelial cell)
Là những tế bào lợp mặt trong cùng của mạch, tạo thành hàng rào sinh học máu-mô Đó là những tế bào khá lớn, có thể đạt 75-150 micron, nhưng rất mỏng (nơi chứa nhân chỉ dày 3-5 micron, còn vùng rìa tế bào chỉ dày 0,5-1 micron Các tế bào nội mô có ranh giới uốn lượn dễ phát hiện bằng cách ngấm muối bạc Các tế bào lân cận có thể liên kết với nhau bằng liên kết vòng bịt, chất gắn, bào quan của tế bào nội
mô ít phát triển thường tập trung quanh nhân Trong bào tương có nhiều không bào
ẩm bào, những cấu trúc có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất qua nội mô
Ở nhiều mao mạch, tế bào nội mô tạo thành những lổ thủng kích thước 60-80 nm Dưới kính hiển vi điện tử, nhiều lổ thủng vẫn còn màng ngăn Trên bề mặt tế bào nội
mô có lớp áo cận màng bản chất glycoprotein Tế bào nội mô tựa trên màng đáy do chúng tổng hợp nên
Chức năng:
• Bảo vệ, tạo hàng rào sinh học o Trao đổi chất, khí giữa máu-mô
Hình 1.18 Tế bào nội mô
Trang 37B Cắt ngang
- Chu bào = tế bào ngoại mạc: (Pericyte)
Là những tế bào có nhánh bào tương, dạng hình sao
Chu bào nằm sát tế bào mao mạch và có màng đáy bọc ngoài Trên bề mặt của chu bào có thể gặp 1 số tận cùng thần kinh, do đó người ta coi chu bào là tế bào có chức năng điều chỉnh lòng mao mạch Chu bào được xem là những tế bào trung mô còn lại,
có khả năng biệt hóa thành tế bào sợi, tế bào cơ trơn, tái tạo mao mạch, tiểu động mạch
Hình 1.19 Cấu tạo mạch máu
- Tế bào mỡ: (adipocyte)
Thường tập trung thành nhóm khối (rất ít khi đứng riêng lẻ) dễ tạo thành mô
mỡ Tế bào mỡ có dạng hình cầu hình cầu lớn (40-150 micron) Bào tương tế bào mỡ chứa hạt mỡ lớn, không có màng riêng Lớp bào tương mỏng còn lại có 1
Trang 38ít bào quan, không bào ẩm bào Là những tế bào chuyển hóa cao, số lượng mỡ trong tế bào cũng số lượng tế bào mỡ trong mô liên kết luôn thay đổi
Tế bào mỡ có nguồn gốc từ tế bào trung mô
Chức năng: Dự trữ mỡ, tạo năng lượng, chuyển đổi hormon sinh dục, chuyển hóa nước
Hình 1.20 Cấu tạo tế bào sắc tố
- Tế bào sắc tố: (Pigmentocyte)
Có thể gặp trong mô liên kết hay trong biểu mô (biểu bì) Đó là những tế bào có
nguồn gốc từ mào thần kinh, bào tương có ít nhánh, khá dài Chức năng: tổng hợp sắc
tố melanin
1.2.2.3 CHẤT CĂN BẢN
Chất căn bản do tế bào mô liên kết (quan trọng nhất là tế bào sợi) và huyết tương tạo nên Đây là chất nền trong đó vùi những tế bào và sợi liên kết, là môi
Trang 39trường ưa nước, dạng chất đông, vô định hình Chất căn bản thuần nhất, trong suốt, không màu, do đó rất khó nghiên cứu bằng các phương pháp mô học Hóa học của chất căn bản gồm có 3 thành phần chính
• Nước và muối khoáng
• Glycosaminoglycan-GAG (còn gọi là mucopolyssacharides), như chondroitinsulfat, dermatansulfat, karatansulfat, herparansulfat, acid hyaluronic Proteoglycan là phức hợp GAG với protein
• Glycoprotein: fibrinectin, laminin
Hình 1.21 Cấu tạo phức hợp proteoglycan
Chức năng chung của chất căn bản là vận chuyển, trao đổi chất giữa máu - mô,
là môi trường chuyển hóa các chất Chất căn bản làm nhiệm vụ đệm, chống đỡ và bảo
vệ
Trang 401.2.2.4 SỢI LIÊN KẾT
Sợi liên kết là những cấu trúc gian bào, vùi trong chất căn bản, do tế bào liên kết tạo nên Chức năng chính của các sợi liên kết là tạo sức căng, sức đàn hồi và khung chống đỡ cho mô liên kết nói riêng và cho cơ quan nói chung Có 3 loại sợi liên kết: sợi tạo keo, sợi chun và sợi lưới
- Sợi tạo keo: (collagen)
Dưới kính hiển vi quang học, sợi tạo keo là những bó sợi dày, không bao giờ phân nhánh, dễ nhuộm với các màu thông thường Mỗi sợi tạo keo dày 1-3 micron, gồm nhiều vi sợi tạo keo có chiều dày khoảng 0,1 micron Dọc theo chiều dài của vi sợi hiện rõ vân ngang có chu kì, mỗi vân dày 64-67 nm
Khi bị đun sôi, sợi collagen giải phóng ra chất keo
Hình 1.22 Sợi collagen