1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bg mo phoi 2022 phan 2 7854

180 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hệ Da Và Các Bộ Phận Thuộc Da
Tác giả Trịnh Bình, Đỗ Kính
Trường học Bệnh viện Y học, Hà Nội
Chuyên ngành Y học
Thể loại báo cáo môn học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 11,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu tóm tắt nội dung bài học Bài học cung cấp kiến thức tổng quát về cấu tạo hình thái vi thể, siêu vi thể và hóa học của các mô và các bộ phận chủ yếu của những cơ quan trong cơ

Trang 1

CHƯƠNG 9

HỆ DA VÀ CÁC BỘ PHẬN THUỘC DA 9.1 Thông tin chung

9.1.1 Giới thiệu tóm tắt nội dung bài học

Bài học cung cấp kiến thức tổng quát về cấu tạo hình thái vi thể, siêu vi thể và hóa học của các mô và các bộ phận chủ yếu của những cơ quan trong cơ thể người bình thường, cấu tạo, chức năng của các mô, các cơ quan và các nội dung liên quan đến Mô phôi

9.1.2 Mục tiêu học tập

• Trinh bày được 6 chức năng chính của da

• Mô tả được cấu tạo mô học của biểu bì, chân bì và hạ bì

• So sánh được da dày và da mỏng

• Mô tả được tuần hoàn và phân bố thần kinh ở da

• Mô tả được cấu tạo của tuyến mồ hôi, tuyến bã

9.1.4.2 Tài liệu tham khảo

1 Bộ Y Tế (2007) Mô – phôi: Phần Mô học, NXB Y học, Hà Nội

2 Trang Thị Ánh Tuyết (2011) Bài Giảng Mô Phôi, NXB Y học, TP HCM

9.1.5 Yêu cầu cần thực hiện trước, trong và sau khi học tập

Sinh viên đọc trước bài giảng, tìm hiểu các nội dung liên quan đến bài học, tích cực tham gia thảo luận và xây dựng bài học, ôn tập, trả lời các câu hỏi, trình bày các nội dung cần giải đáp và tìm đọc các tài liệu tham khảo

Trang 2

da cần được bảo vệ khi tiếp xúc với các chất độc Sắc tố melanin ở da bảo vệ cơ thể đối với các tia cực tím

• Chức năng xúc giác: Ở biểu bì, chân bì, hạ bì đều có nhiều thần kinh giúp cơ thể nhận biết các cảm giác về nhiệt, áp suất, đau, xúc giác tinh tế Trong 1cm2 da có khoảng 300 điểm cảm giác

• Chức năng điều hòa thân nhiệt

• Chức năng bài tiết được thực hiện bằng tiết mồ hôi

• Chức năng chuyển hóa (protein, vitamin D )

• Chức năng dự trữ máu: do có hệ mạch phong phú, da còn làm nhiệm vụ dự trữ máu theo cơ năng; ở người trưởng thành, da có thể chứa giữ 1 lít máu

Da có thể xem như bộ mặt của sức khỏe, trong nhiều trường hợp da có những thay đổi đặc hiệu cùng với các bệnh khác nhau

Da phát triển từ 2 lá phôi: biểu bì từ ngoại bì da, chân bì và hạ bì từ trung bì Vào tuần lễ đầu, biểu bì da chỉ có 1 lớp tế bào dẹt Về sau các tế bào này cao dần Đến tháng thứ 2, biểu bì có 2 hàng tế bào, tháng thứ 3 biểu bì có nhiều hàng tế bào hơn và bắt đầu có hiện tượng sừng hóa (trước hết là ở bàn tay, bàn chân) Trong tháng thứ 3

đã quan sát mầm lông, các tuyến và móng Mô liên kết da ở giai đoạn này bắt đầu hình thành nhiều sợi liên kết, hệ mạch trở nên phong phú hơn Đôi chỗ có các điểm tạo huyết Đến tháng thứ 8, quá trình tạo tế bào máu chấm dứt và các điểm tạo huyết được

Trang 3

Hình 9.1 Sơ đồ cấu tạo của da

Hình 9.2 Sơ đồ cấu tạo của da và nếp vân da

Trang 4

Hình 9.3 Các lớp cấu tạo của biểu bì

9.2.1 CẤU TẠO CỦA DA

- Biểu bì:

Biểu bì là một biểu mô lát tầng sừng hóa được ngăn cách với lớp chân bì bởi màng đáy Kể từ dưới lên trên bề mặt, biểu bì gồm các lớp tế bào như sau: Lớp sinh sản (còn gọi là lớp đáy), lớp gai (hay lớp sợi), lớp hạt, lớp bóng và lớp sừng (xem

“biểu mô”) Biểu bì dày khoảng 0,03 – 1,5 mm

Về thành phần tế bào, biểu bì có các loại tế bào như: tế bào sừng (kératinocyte),

tế bào sắc tố, tế bào Langerhans và tế bào Merkel

Tế bào sừng:

Là tế bào chính ở biểu bì chúng sinh sản và biến đổi cấu trúc dần khi bị đẩy lên

bề mặt Ở da dày, các tế bào sừng di chuyển từ lớp đáy lên đến bề mặt mất khoảng

10-30 ngày

• Ở lớp đáy, tế bào sừng còn nhiều khả năng sinh sản (khoảng 10% tế bào là tế bào đầu dòng) chúng có dạng hình khối vuông, đa diện hoặc trụ thấp Trong bào tương có nhiều siêu sợi trung gian kiểu tiền sừng (prekeratin) hay còn gọi là tơ trương lực Các siêu sợi này tạo thành bó và tiến đến tạo sừng Một số tế bào có thể chứa một số hạt melanin Các tế bào sừng ở lớp đáy liên kết với nhau nhờ thể liên kết hay thể bán liên kết

• Ở lớp gai: Gồm từ 3-15 hàng tế bào sừng đa diện có nhân lớn nằm giữa Giữa các

Trang 5

nhờ các thể liên kết có dạng gai (xem biểu mô) Càng lên trên số tơ trương lực càng nhiều, càng tạo thành bó dày, bào tâm mất dần

Hình 9.3 Tế bào lớp gai dưới KHV điện tử

Ở lớp hạt: gồm 2-5 hàng tế bào đã biến đổi thành dạng hình thoi, trong bào tương chứa nhiều hạt ưa bazơ, gọi là hạt keratohyalin Các hạt keratohyalin có kích thước 2 mm nằm bên các tơ trương lực Điều đó chứng tỏ quá trình sừng hóa bắt đầu Theo nhiều tác giả thì keratohyalin có thể xem như chất tiền sừng

Cấu trúc đặc trưng khác trong tế bào lớp hạt là những hạt có màng Khác với hạt keratohyalin không có màng, các hạt này được hình thành trong vùng bộ Golgi, có màng bọc ngoài Dưới kính hiển vi điện tử, những hạt này có dạng lá, chứa glycosaminoglycan, phospholipid Màng của hạt hòa vào màng tế bào và chất chứa bên trong sẽ giải phóng vào khoảng gian bào của lớp hạt Như vậy

Trang 6

chức năng của các hạt là tham gia tạo chất gian bào, bảo vệ không cho chất lạ xâm nhập sâu vào da

Ở lớp bóng: không phải lúc nào cũng thấy Đây là lớp mỏng, sáng màu, đồng nhất Các tế bào sừng ở đây đã chết chúng trở nên dẹt, nén sát với nhau Thể liên kết không điển hình Chất eleidin xuất hiện, là kết quả của sự kết hợp giữa protein của tơ trương lực và keratohyalin

Ở lớp sừng: Nằm trên cùng gồm 15-20 vẩy sừng nén lại, tạo thành những lá sừng Mỗi vẩy sừng là 1 tế bào đã hóa sừng, trở nên rất dẹt, không nhân, trong bào tương chứa đầy sợi keratin (scleroprotein dạng sợi) Keratin chứa ít nhất 6 polypeptid khác nhau với trọng lượng phân tử từ 40.000-70.000 Giữa các lá sừng có những túi không khí Thể liên kết hoàn toàn biến mất Keratin được hình thành là loại protein giàu lưu huỳnh (khoảng 5%) rất bền vững đối với nhiều chất hóa học

Các vẩy sừng trên cùng lần lượt bong khỏi biểu bì Bệnh vẩy nến là một biểu hiện của sự luân chuyển tế bào sừng tăng nhanh Kết quả là biểu bì da dày hơn và tốc

độ đổi mới biểu bì chỉ còn 7 ngày chứ không phải 15-30 ngày

tế bào sừng do những tế bào này thực bào các đầu nhánh tế bào sắc tố hoặc các hạt melanin xuất bào

Tế bào sắc tố có nguồn gốc từ mào thần kinh Ở lớp đáy tỷ lệ tế bào sừng và tế bào sắc tố là 10:1

Khả năng tổng hợp melanin của tế bào sắc tố phụ thuộc vào khả năng tổng hợp enzym tyrosinase của chúng Việc điều hòa và chế tiết melanin phụ thuộc trước hết vào yếu tố di truyền cũng như các yếu tố môi trường, nội tiết (hormon MSH, ACTH ), thần kinh

Trang 7

Màu da ở người phụ thuộc vào một số yếu tố, trước hết và quan trọng nhất là hàm lượng melanin và caroten, số lượng mạch máu ở chân bì và màu của máu trong các mạch đó Bạch tạng là trạng thái da không có melanin, mặc dù số lượng sắc tố bình thường và trong tế bào sắc tố vẫn có hạt melanin Nguyên nhân trực tiếp của trạng thái bạch tạng là không có hoặc bất hoạt enzym tyronasinase

Tế bào Langerhans:

Có mặt trong biểu bì với số lượng ít, chúng phân bổ trong lớp sinh sản và lớp gai Khác với lớp tế bào sắc tố, tế bào Langerhans không bao giờ có thể tiền melanin hay thể melanin, các tế bào không có liên kết, không có tơ trương lực, nhưng cũng có nhánh bào tương, do đó dưới kính hiển vi quang học rất khó phân biệt tế bào sắc tố và

tế bào langerhans Trong bào tương tế bào Langerhans có nhiều hạt đặc biệt (hạt Birbeck) và lysosom

Tế bào Langerhans được xem là những đại thực bào biểu bì, chúng có nguồn gốc mono bào Trong biểu bì còn có thể gặp lyphom bào T Cùng với tế bào T, tế bào Langerhans đảm nhiệm vai trò miễn dịch tại chỗ ở da, khởi động các phản ứng quá mẫn chậm tại da

Trang 8

Tế bào Merkel: khu trú chủ yếu trong lớp sinh sản và một số trong lớp gai Đó

là những tế bào nguồn gốc biểu bì nhưng đã được biệt hóa theo hướng nhận được cảm giác Xung quanh tế bào Merkel có nhiều nhánh tận cùng thần kinh, cả 2 thành phần này tạo nên phức hợp Merkel xúc giác (hình 223) Tế bào Merkel có nhiều ở đầu ngón tay

Mỏng hơn lớp lưới, là mô liên kết thưa đội biểu bì lên, tạo thành các nhú Lưới

mao mạch rất phát triển và tiến sát đến ranh giới chân bì - biểu bì để nuôi dưỡng biểu

bì Loại tế bào chủ yếu ở đây là tế bào sợi Các sợi tạo keo khá phong phú, chúng tạo thành lưới sợi mảnh, ít tạo bó Sợi chun nghèo nàn hơn Vùng sát màng đáy có nhiều sợi lưới mảnh và ngắn

Lớp dưới (chân bì thực sự):

Là lớp mô liên kết dày, các tế bào và sợi liên kết sắp xếp không theo theo hướng nhất định Sợi tạo keo có thể tạo bó và đan với nhau thành lứơi Hầu hết chất

Trang 10

9.2.2 DA DÀY VÀ DA MỎNG

Sơ đồ cấu tạo mô học của da đã được mô tả ở trên, tuy nhiên, rất khác nhau ở những vùng cơ thể khác nhau Có thể tạm chia thành da dày và da mỏng

- Dạ dày:

Ví dụ da bàn tay, lòng bàn chân, ngón tay, ngón chân Đặc điểm cấu tạo của da dày là:

• Có nhú chân bì đội biểu bì để tạo thành mào và rãnh biểu bì, tức là tạo nên vân da Nếp vân tay và vân chân bắt đầu hình thành vào tháng thứ hai và nhận thấy được ở tháng thứ 3 trong thời kỳ phôi thai Từ những nhú chân bì sơ cấp có thể hình thành nhú chân bì thứ cấp, tuy nhiên lớp vân da chỉ được tạo nên do các nhú chân bì sơ cấp mà thôi

• Biểu bì rất dày do các lớp đều phát triển, đặc biệt là lớp sừng

• Có nhiều tuyến mồ hôi nhỏ nằm ở chân bì, chế tiết theo kiểu toàn vẹn, chất chế tiết không đổ vào lỗ chân lông

• Không có lông và tuyến bã

Lớp rối mạch sâu gọi là lớp rối mạch dưới da

Lớp rối mạch giữa nằm ở ranh giới hạ bì và chân bì

Lớp rối mạch nông gọi là lớp rối mạch dưới nhú chân bì Từ lớp rối nông sẽ phát triển

Trang 11

Động mạch và tĩnh mạch có đường đi gần như song song với nhau Trong các lớp rối mạch dễ tìm thấy các điểm nối động-tĩnh mạch

Hình 9.5 Sơ đồ tuần hoàn da.

Trang 12

Các mạch bạch huyết bắt nguồn từ các mao mạch bạch huyết kín đầu ở các nhú chân

bì và tạo thành lớp rối mạch bạch huyết ở chân bì

9.2.4 PHÂN BỐ THẦN KINH

Hệ thồng thần kinh ở da bắt nguồn từ những nhánh dây thần kinh não tuỷ hoặc thần kinh thực vật Thần kinh não tủy tạo thành nhiều đám rối thần kinh cảm giác, còn thần kinh thực vật phân bố đến các mạch, cơ trơn và tuyến mồ hôi (còn tuyến bã có lẽ được điều hòa bằng hormon)

Các tận cùng thần kinh thường cùng với các mô xung quanh tạo thành những tiểu thể thần kinh hay còn gọi là những thụ thể cảm giác (xem Thần kinh)

Ở da các thụ thể cảm giác gồm có:

✓ Các thụ thể cảm giác cơ học, cảm nhận những thay đổi về sự va chạm, sự kéo căng

✓ Các thụ thể nhiệt, cảm nhận những thay đổi nhiệt độ

✓ Các thụ thể đau, cảm nhận sự đau hoặc ngứa

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp rất khó phân định quan hệ chức năng với cấu trúc thần kinh Những thụ thể có cấu trúc khác nhau có thể đảm nhiệm cùng một chức năng

Về mặt cấu tạo các thụ thể thần kinh có thể phân thành hai loại chính (1) các tận cùng thần kinh trần (2) các tiểu thể thần kinh có bao

Tận cùng thần kinh trần, ví dụ nhánh sợi thần kinh trần trong biểu bì và phức hợp Merkel Các cấu trúc này đảm nhận những thay đổi nhiệt độ, cơ học, đau

Các tiểu thể thần kinh có bao: tiểu thể Pacini, tiểu thể Meissner, tiểu thể Ruffini, tiểu thể Krause

9.2.5 TỔN THƯƠNG DA

- Vết bỏng:

Vết bỏng ở da có thể do nhiệt độ hoặc một số hóa chất (acid ) gây nên, rất dễ xảy ra ở vùng da mỏng Với ánh sáng mặt trời gây rám da vừa phải, mao mạch và tiểu tĩnh mạch vùng nhú chân bì giãn rộng, làm cho da trở nên đỏ (erythema) Nếu bị bỏng

Trang 13

hiện tượng phù nề, có thể đưa đến hình thành các vết bỏng giộp, kết quả của sự tích lũy huyết tương giữa biểu bì và chân bì Bỏng ở da có thể chia mức độ nặng nhẹ

Hình 9.6 Sơ đồ biểu diễn các độ bỏng da

Trang 14

- Vết rách:

Vết rách da thường được lành trong tuần nếu được chăm sóc đúng và không nhiễm khuẩn Vết rách ngoại khoa hay vết rách da sâu cần được khâu để mau lành Biểu bì sẽ phát triển xuống dọc theo vết rạch hình chữ V Tế bào sợi ở chân bì sẽ phát triển mạnh sinh collagen Có lẽ tế bào sợi này được sinh sản và phát triển từ chu bào

9.2.6 TUYẾN Ở DA

Da người có 3 loại tuyến: tuyến mồ hôi, tuyến bã và tuyến vú (sẽ mô tả trong phần hệ sinh dục nữ) Bề mặt của biểu mô tuyến mồ hôi và tuyến bã lớn hơn bề mặt biểu bì da khoảng 600 lần Các tuyến của da đóng vai trò quan trọng trong điều hòa nhiệt (khoảng 20% nhiệt cơ thể thải ra bằng đường tiết và bốc hơi mồ hôi), bảo vệ da khỏi sang thương, chống thấm nước và khí ẩm, bài tiết một số chất thải

Hình 9.7 Sơ đồ các bộ phận phụ thuộc da

Trang 15

- Tuyến mồ hôi:

Là những tuyến ngoại tiết nhỏ có cấu tạo kiểu ống đơn cong queo, nằm ở cả hạ

bì, chân bì và biểu bì Tuyến mồ hôi gồm ba đoạn cấu tạo là tiểu cầu mồ hôi, ống bài xuất và đường mồ hôi

Tiểu cầu mồ hôi:

Là phần khởi đầu của tuyến ống cuộn thành khối nhỏ nằm ở lớp sâu của chân bì hoặc hạ bì Đây là phần chế tiết mồ hôi Thành của ống được tạo thành từ những tế bào chế tiết kiểu vuông đơn có màng đáy bọc ngoài Giữa màng đáy và lớp tế bào chế tiết có những tế bào cơ biểu mô Tế bào chế tiết có 2 loại: (1) tế bào tối ưa bazơ có kích thước nhỏ, (2) tế bào sáng ưa acid có kích thước lớn hơn và có nhiều glycogen trong bào tương Tế bào tối tiết các đại phân tử hữu cơ, còn tế bào sáng tiết nước và các ion kim loại

Ống bài xuất:

Có đường kính nhỏ hơn ống chế tiết của tiểu cầu mồ hôi, nối tiếp tiểu cầu mồ hôi và chạy dọc suốt chân bì đến biểu bì Thành của ống bài xuất có 2 lớp tế bào nhuộm bazơ đậm hơn so với phần chế tiết Hoạt động chế tiết ở ống bài xuất không đáng kể

Đường mồ hôi:

Là phần ống cong queo theo kiểu xoắn ốc chạy trong biểu bì Đường mồ hôi không có thành riêng, nó len vào giữa các tế bào sừng và đổ trên mặt da.Có 2 loại tuyến mồ hôi:

• Tuyến mồ hôi toàn vẹn: phân bố trên khắp cơ thể (trừ một số nơi như môi, đôi chỗ

của bộ phận sinh dục ở người nam cũng như nữ) với số lượng khoảng 3 triệu tuyến Ở vùng da dày có mặt chủ yếu loại tuyến này với mật độ khoảng 500 tuyến trên 1 cm2 Tuyến mồ hôi toàn vẹn đổ mồ hôi ra ngoài qua đường mồ hôi, không bao giờ đổ vào nang lông

• Tuyến mồ hôi bán hủy: khác với tuyến toàn vẹn ở chỗ không có kích thước lớn và

chỉ có mặt ở một số nơi (nách, núm vú, bẹn, quanh hậu môn ) Các tuyến này chỉ hoạt động chế tiết sau khi đạt tuổi dậy thì Giống như tuyến bã, tuyến mồ hôi bán hủy

đổ chất chế tiết vào lỗ nang lông Lúc mới chế tiết, chất tiết hơi đục, không có mùi, nhưng sau một thời gian tiếp xúc với vi khuẩn thì nó trở nên có mùi đặc biệt

Trang 16

Mồ hôi là dịch lỏng chứa 98% nước, 2% các chất vô cơ và hữu cơ (muối Na, urê, acid uric, ammoniac ) Mỗi ngày cơ thể tiết ra khoảng 500ml mồ hôi (khi làm việc nặng, khí hậu nóng bức, số lượng mồ hôi có thể tăng nhiều, có khi 2-3 lít trong ngày) Tuyến mí mắt, tuyến ráy tai là dạng tuyến mồ hôi đặc biệt

Chức năng chung của tuyến mồ hôi là điều hòa nhiệt (20% nhiệt cơ thể thải ra ngoài bằng bài tiết mồ hôi), đào thải các sản phẩm chuyển hóa

- Tuyến bã:

Tuyến bã phát triển có kích thước lớn nhất vào giai đoạn dậy thì Chúng có nhiều nhất ở da đầu, da mặt và phần lưng trên Ở lòng bàn tay và bàn chân không có tuyến bã

Tuyến bã có cấu tạo kiểu túi đơn, có 1 ống bài xuất ngắn chung đổ vào nang lông Ở những nơi không có lông (môi, núm vú, môi nhỏ âm hộ và da qui đầu) tuyến

bã mở thẳng trên bề mặt da

Khác với tuyến mồ hôi, tuyến bã phân bổ ở vùng nông hơn, nằm giữa lớp nhú chân bì và lớp lưới Mỗi lông có từ 1-3 tuyến bã nằm bên cạnh

Túi tuyến bã có thể phân thành một vài túi phụ Thành túi có 2 loại tế bào: (1)

tế bào ít biệt hóa tạo thành lớp sinh sản, (2) tế bào tuyến bã do lớp sinh sản biến thành

Tế bào lớp sinh sản đẩy dần lên trên trở thành tế bào tuyến bã, có kích thước lớn dần, trong bào tương xuất hiện các hạt mỡ ngày càng nhiều Khi bị đẩy đến ống bài xuất, tế bào tuyến bã thoái hóa và chết, phân hủy thành chất bã bài xuất vào nang lông Các tế bào tuyến bã ít nhuộm màu, có nhân nằm giữa ngày càng teo dần Tuyến bã chế tiết theo kiểu toàn hủy

Ống bài xuất của tuyến bã ngắn, mở vào lỗ nang lông Thành của ống bài xuất cấu tạo từ biểu mô lát tầng, ở vùng gần túi tuyến bã thì biểu mô có ít lớp tế bào hơn, rồi trở nên vuông đơn khi tiếp giáp với túi tuyến

- Lông:

Cũng như tuyến bã, bắt đầu phát triển vào tháng thứ 3 thai kỳ, đến tháng thứ

5-6 khắp cơ thể thai đã có lông tơ rất mịn Trước hoặc sau khi sanh những lông này sẽ

Trang 17

tơ xuất hiện lại Tất cả nang lông được hình thành trong thời kỳ phôi thai, sau sinh không có nang lông mới được hình thành Sự phát triển và phân bố lông phụ thuộc vào yếu tố di truyền và yếu tố hormon sinh dục

Hình 9.8 Sơ đồ cấu tạo của lông, tuyến bã

Về cấu tạo, lông có hai phần, (1) thân lông là phần thấy được trên mặt da, chân lông là phần lông cắm sâu trong chân bì đến tận hạ bì Chân lông được bọc bởi một cái bao gọi là nang lông Phần dưới cùng của chân lông hơi phình ra gọi là hành lông Dưới hành lông có nhú lông được tạo nên do mô liên kết mang nhiều mao mạch đội lõm sâu vào hành lông

Hình vẽ 9.8 cho thấy cấu tạo phức hợp của nang lông, tuyến bã Trong thành phần của phức hợp này có 3 thành phần là:

Nang lông

Tuyến bã

Cơ dựng lông

Đây ta chỉ xem xét cấu tạo của nang lông Lông chính thức có cấu tạo như một

bộ phận sừng hóa gồm 3 lớp: tủy lông, vỏ lông, áo cutin (còn gọi là áo ngoài của lông)

Trang 18

Phần nang lông bao bọc lông chính thức gồm 2 lớp biểu mô: bao biểu mô trong

và bao biểu mô ngoài Bao biểu mô trong tương đương với lớp sừng của biểu bì, còn bao biểu mô ngoài tương đương với lớp sinh sản và lớp gai của biểu bì Mô liên kết xơ bao ngoài màng đáy của bao biểu mô ngoài gọi là bao xơ

Lông phát triển dài ra nhờ sự phát triển phần nền lông (matrix) ở hành lông Chất sừng của của vỏ lông và áo cutin là loại chất sừng cứng, còn chất sừng của tủy lông và lớp sừng biểu bì là chất sừng mềm Sừng cứng nhiều cystin và cầu nối disulfit hơn so với sừng mềm

Màu sắc của lông phụ thuộc vào trạng thái chức năng của các tế bào sắc tố ở vùng nền lông

- Móng:

Móng là một tấm sừng cứng đặc biệt lợp mặt lưng của các đầu ngón tay, ngón chân Móng gồm hai phần, thân móng bộc lộ trên mặt da, rễ móng là phần cắm sâu trong biểu bì

Hình 9.9 Sơ đồ cấu tạo của móng

Phần biểu bì nằm dưới thân móng gọi là giường móng, còn phần dưới rễ móng gọi là nền móng Nền móng phát triển và sừng hóa làm cho móng phát triển dài ra Chân bì giường móng có nhiều nhú chân bì và mao mạch Chân bì nền móng không có nhú chân bì rõ rệt Trong nhiều trường hợp, ở phần sau của thân móng, nơi bờ sau

Trang 19

9.3 Nội dung thảo luận và hướng dẫn tự học

9.3.1 Nội dung thảo luận

- Ứng dụng được các hiểu biết về Mô phôi học vào các môn y học khác để phòng bệnh và điều trị

- Liên hệ được sự thống nhất giữa hình thể, cấu tạo với chức năng của các bộ

phận trong cơ thể để hiểu được quá trình tiến hoá của cơ thể

9.3.2 Nội dung ôn tập và vận dụng thực hành

Ôn tập các kiến thức nền tảng cần thiết từ bài học và chủ động vận dụng các kiến thức, chuẩn bị đầy đủ các kỹ năng trong quá trình thực hành lâm sàng

9.3.3 Nội dung hướng dẫn tự học và tự nghiên cứu

Đọc các tài liệu tham khảo có liên quan đến nội dung học tập, nghiên cứu thêm các ứng dụng bài học trong thực tế lâm sàng

Trang 20

CHƯƠNG 10

HỆ HÔ HẤP 10.1 Thông tin chung

10.1.1 Giới thiệu tóm tắt nội dung bài học

Bài học cung cấp kiến thức tổng quát về cấu tạo hình thái vi thể, siêu vi thể và hóa học của các mô và các bộ phận chủ yếu của những cơ quan trong cơ thể người bình thường, cấu tạo, chức năng của các mô, các cơ quan và các nội dung liên quan đến Mô phôi

10.1.2 Mục tiêu học tập

• Trình bày được đặc điểm chung của đường dẫn khí

• Mô tả được cấu tạo mô học của đường dẫn khí ngoài phổi và trong phổi

• Mô tả được cấu tạo mô học của phần hô hấp trong phổi

• Mô tả được cấu tạo và chức năng chính của 3 loại tế bào thành phế nang

• Mô tả được cấu tạo mô học của màng phổi

10.1.4.2 Tài liệu tham khảo

1 Bộ Y Tế (2007) Mô – phôi: Phần Mô học, NXB Y học, Hà Nội

2 Trang Thị Ánh Tuyết (2011) Bài Giảng Mô Phôi, NXB Y học, TP HCM

10.1.5 Yêu cầu cần thực hiện trước, trong và sau khi học tập

Sinh viên đọc trước bài giảng, tìm hiểu các nội dung liên quan đến bài học, tích cực tham gia thảo luận và xây dựng bài học, ôn tập, trả lời các câu hỏi, trình bày các nội dung cần giải đáp và tìm đọc các tài liệu tham khảo

Trang 21

10.2 Nội dung chính

Bộ máy hô hấp là một hệ thống các cơ quan đảm bảo chức năng hô hấp và một số chức năng không hô hấp khác Trong thành phần cấu tạo, bộ máy có hai phần chính: phổi và đường dẫn khí ngoài phổi (hốc mũi, thanh quản, khí quản và các phế quản gốc)

Về phương diện chức năng cơ bản thì hệ hô hấp chia thành 2 phần:

Hình 10.1 Sơ đồ tổng quát hệ hô hấp

Trang 22

Phần dẫn khí bao gồm xoang mũi, mũi-hầu, thanh quản, khí quản, phế quản, tiểu phế quản tận

Phần hô hấp, gồm tiểu phế quản hô hấp, ống phế nang và phế nang

Bộ máy hô hấp bắt đầu hình thành từ tuần lễ 3 - 4 như một cái túi phình từ ruột trước của ống tiêu hóa nguyên thủy Các túi ấy phát triển dài ra và chia nhánh để cho toàn bộ lớp biểu mô của đường dẫn khí ngoài phổi (trừ biểu mô hốc mũi do ngoại bì tạo ra) và phổi Từ tháng thứ 6 ống phế nang và phế nang được hình thành Lúc đầu biểu mô phế nang là biểu mô trụ, hoặc vuông đơn, lòng rất hẹp Ngay sau lần hít vào đầu tiên, các phế nang ở phổi trẻ mới sinh dãn rộng ra, lòng phế nang tăng đột ngột, thành phế nang mỏng lại và áp suất vào các thành mao mạch gian phế nang

10.2.1 ĐƯỜNG DẪN KHÍ NGOÀI PHỔI:

Đường dẫn khí ngoài phổi bao gồm: hốc mũi, mũi hầu, thanh quản, khí quản và phế quản gốc Khi đi dọc đường dẫn khí, không khí được làm sạch, làm ẩm và làm ấm lên gần với thân nhiệt Đường dẫn khí nhạy cảm với các chất kích thích cơ học, nhiệt

độ và thành phần khí

- Hốc mũi: Thành của hốc mũi được tạo nên từ những xương hoặc sụn và trên đó

phủ bởi một lớp niêm mạc gồm có biểu mô, màng đáy và lớp đệm

Hốc mũi gồm có tiền đình, phần hô hấp của hốc mũi và phần khứu giác

✓ Tiền đình mũi được lợp bởi biểu mô lát tầng không sừng hóa có lông và một ít tuyến bã, tuyến mồ hôi

✓ Phần hô hấp của hốc mũi được hợp bởi biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển và trong lớp đệm có tuyến nhày hoặc tuyến nước kiểu chùm nho nhỏ, nhiều mô lympho

và mạch máu để làm nóng không khí

Trong tiền đình mũi còn có lông làm nhiệm vụ thu giữ các hạt trong không khí hít vào Phân bố thần kinh trong lớp đệm rất phong phú Các tận cùng thần kinh trần hoặc có bao đều có xuất nguồn từ thần kinh sinh ba Những tận cùng thần kinh đó có thể là những thụ thể cơ học, thụ thể nhiệt độ hoặc thụ thể mạch

✓ Phần khứu giác được lợp bởi biểu mô đặc biệt có tác dụng như một giác quan

Trang 23

• Tế bào chống đỡ: hình trụ, có vi nhung mao ngắn

• Tế bào đáy: nhỏ, ít biệt hóa, phân chia để tái tạo

• Tế bào khứu giác: là nơron 2 cực Sợi nhánh quay ra bề mặt biểu mô và đầu tận cùng sợi nhánh phình ra tạo thành túi khứu giác Một số lông khứu giác mọc ra từ túi khứu giác đó

Dưới màng đáy là mô liên kết nhiều mạch và các tuyến Bowman (xem các giác quan sau)

- Thanh quản: Là cơ quan phát âm và dẫn khí ở người, thanh quản nằm ở giữa

hầu và khí quản Thành của thanh quản có 2 lớp: niêm mạc và sụn xơ

Trang 24

• Lớp niêm mạc: gồm biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển, lớp đệm gồm nhiều sợi

chun và tuyến pha Một số nang bạch huyết ở đây tạo thành hạnh nhân thanh quản

Các dây thanh âm được phủ bởi biểu mô lát tầng không sừng hóa

• Lớp sụn xơ: là lớp gồm sụn trong và sụn chun có mô liên kết xơ xung quanh

Hình 10.2 Sơ đồ phân nhánh vùng dẫn khí và vùng hô hấp

- Khí quản và phế quản gốc: Khí quản và hai phế quản là những ống hơi dẹt ở

mặt sau, chúng có cấu tạo mô học giống nhau Thành của chúng gồm 3 lớp: niêm

Trang 25

dưới niêm mạc và sụn xơ

Lớp niêm mạc: được lợp bởi biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển

Biểu mô này có các loại tế bào: trụ có lông chuyển, tế bào đài, tế bào đáy, tế bào mâm khía, tế bào chế tiết, tế bào nội tiết

o Tế bào trụ có lông chuyển: mỗi tế bào có ít nhất 200 lông chuyển, dài 6

micron Lông chuyển có cấu tạo siêu vi điển hình, gồm 9 siêu ống ngoại vi và 2 siêu ống trung tâm xếp song song nhau và có nhiều cấu nối, tạo thành khung hình trụ, làm cho lông chuyển vừa vững chắc vừa uyển chuyển Mỗi lông chuyển gắn với một thể đáy có cấu tạo giống thân của lông chuyển nhưng không có 2 siêu ống trung tâm

Trong bào tương có rất nhiều ti thể nằm dưới các thể đáy Trên bề mặt của tế bào còn có nhiều vi nhung mao Trong lông chuyển có một loại protein đặc biệt là dynein Dynein đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển động của long chuyển Sự thiếu hụt Dynein có thể làm giảm hoặc bất động lông chuyển (ví dụ trong hội chứng Kartagener)

Cấu tạo mô học của các phế quản gốc gần giống với khí quản Vì phổi phải có 3 thùy và phổi trái có 2 thùy nên 2 phế quản gốc sẽ tiếp tục chia nhánh để tạo thành các phế quản cấp 2 ngoài phổi đến từng thùy Sựa chia nhánh các phế quản ở bộ máy hô hấp (ngoài cũng như trong phổi) luôn luôn thực hiện theo kiểu chia đôi, tạo nên hình ảnh gọi là cây phế quản

o Tế bào dài tiết nhầy: có cấu tạo giống tế bào cùng tên ở ruột Những hạt mucin

chứa đầy trong tế bào dài, khi tiết ra sẽ tạo thành lớp nhầy phủ bề mặt của đường hô hấp có tác dụng làm trơn ẩm và bảo vệ

o Tế bào đáy: đóng vai trò như tế bào sinh sản, là những tế bào nhỏ, có dạng hình

cầu, nằm trên màng đáy và không có cực ngọn tiếp xúc lòng khí quản

o Tế bào mâm khía: trên bề mặt có nhiều vi nhung mao và không có lông

chuyển Chức năng của loại tế bào này chưa rõ ràng Có thể tế bào này sẽ biến thành tế

bào dài, cũng có thể đây là tế bào nhận cảm thụ hóa học

o Tế bào trung gian: Là tế bào đang biệt hóa Chúng có thể biệt hóa thành TB có

lông chuyển hoặc TB chế tiết

o Tế bào chế tiết thanh dịch: ở khí quản và phế quản gốc ít gặp, chúng tiết thanh

dịch chứa men lysozym, kháng thể IgA, có thể cả interferon

Trang 26

o Tế bào clara: không có lông chuyển nhưng có vi nhung mao, hình dạng gần

giống tế bào đài, có vai trò hình thành chất hoạt diện hay

surfactant ở bề mặt đường hô hấp

o Tế bào nội tiết: nằm rải rác trong biểu mô đường hô hấp nói chung, giống như

ở đường tiêu hóa Trong bộ máy hô hấp đó là những tế bào K (Kulchitsky) Một số tế bào này chế tiết serotonin, số khác chế tiết cancitonin hoặc peptit bombesin có tác dụng giải phóng gastrin

Dưới biểu mô là lớp đệm có cấu tạo của mô liên kết thưa nhiều mạch, nhiều nguyên bào sợi, nhiều sợi chun và một số bó cơ trơn

Lớp dưới niêm mạc: là mô liên kết có nhiều nang tuyến pha (vừa tiết nước vừa

tiết nhầy) Chất tiết có tính diệt khuẩn và làm ẩm đường hô hấp trên

Lớp sụn xơ : khí quản có 16 - 20 vòng sụn trong, hình chữ C không khép kín ở

phía sau Hai đầu tự do của vòng sụn dưới được nối với nhau nhờ những bó sợi cơ trơn Cấu tạo này thích ứng với sự nuốt thức ăn Bên ngoài cũng là một mô liên kết xơ

10.2.2 PHỔI

Phổi gồm 2 phần cấu tạo chính là: (1) những đường dẫn khí (các phế quản, tiểu phế quản và tiểu phế quản tận) và (2) phần hô hấp (tiểu phế quản hô hấp, ống phế nang

và các phế nang)

- Cây phế quản của phổi

Các phế quản gốc trái và phải chia đôi tạo thành các phế quản thùy Các phế quản thùy tiếp tục phân đôi và đi vào phổi ở cuống mỗi thùy phổi, nơi có phế quản và động mạch phổi cũng như có tĩnh mạch phổi và mạch bạch huyết đi ra Trong phổi các phế quản tiếp tục phân đôi nhiều lần tạo thành các phế quản chạy

Trang 27

trong các vách liên kết giữa các tiểu thùy phổi gọi là phế quản gian tiểu thùy Những nhánh phế quản gian tiểu thùy cùng với nhánh động mạch phổi sẽ xâm nhập vào tiểu thùy phổi ở đỉnh tiểu thùy

Trong tiểu thùy, các phế quản được gọi là tiểu phế quản (tiểu phế quản chính thức), chúng tiếp tục chia nhánh theo kiểu phân đôi, tạo thành các tiểu phế quản tận

Các tiểu phế quản tận lại chia nhánh cho ra các tiểu phế quản hô hấp, rồi ống phế nang và cuối cùng tạo nên các phế nang (hình)

Khí quản và các phế quản lớn, với đường kính 20mm (phế quản gốc, phế quản thùy) có lòng nhẵn, niêm mạc không tạo nếp gấp Các phế quản nhỏ với đường kính 5-

15 mm và tất cả các phế quản gian tiểu thùy, tiểu phế quản đều có lòng nhăn nheo hình khế, niêm mạc tạo thành nếp gấp Càng phân chia nhỏ nếp gấp càng ít và thấp, đến tiểu phế quản tận thì nếp gấp không còn nữa

Phế quản gian tiểu thùy: có cấu tạo khác với phế quản ngoài phổi và khí quản ở các

Lớp niêm mạc có nhiều nếp gấp, nhăn nheo

Phế quản gian tiểu thùy cũng được lợp bởi một biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển như đã mô tả Ở lớp dưới niêm mạc có những tuyến nhầy nhỏ

Tiểu phế quản: ở bên trong tiểu thùy (từ lần chia nhánh thứ 3 - 15) có những điểm cấu

tạo khác biệt với phế quản như sau:

• Không có sụn

• Không có tuyến

Trang 28

• Biểu mô là biểu mô trụ đơn nhưng cũng có đủ các loại tế bào như ở phế quản và khí quản Tế bào chế tiết (tế bào Clara) ở đây nhiều hơn Chất tiết của tế bào Clara chứa nhiều cytochrom P450 có tác dụng làm bất hoạt các chất gây hại có trong khí hít vào

Tiểu phế quản tận: có đường kính 0,2 - 0,5 mm Lớp niêm mạc được lợp bởi một biểu

mô vuông đơn (hoặc trụ thấp) có lông chuyển, cũng có đủ các loại tế bào như ở biểu

mô trụ giả tầng có lông chuyển Sợi chun ở lớp đệm nhiều nhưng cơ trơn không còn tạo thành vòng cơ Reissessen rõ rệt

- Phần hô hấp:

Phần hô hấp của phổi gồm những cấu tạo có thể thực hiện một phần việc trao đổi khí (tiểu phế quản hô hấp, ống phế nang) hoặc là quyết định toàn bộ quá trình trao đổi khí giữa máu và không khí trong phổi (phế nang)

Trang 29

Hình 10.2 Cấu tạo phần hô hấp của phổi

Tiểu phế quản hô hấp (từ lần chia nhánh thứ 6 - 20) có sơ đồ cấu tạo giống như tiểu

phế quản tận nhưng bắt đầu có những phế nang rải rác Toàn bộ các ống phế nang xuất phát từ một tiểu phế quản hô hấp gọi là chùm phế nang (acinus)

Ống phế nang (từ lần chia nhánh thứ 20 - 22) cấu tạo giống với tiểu phế quản hô hấp,

nhưng có một số điểm khác biệt:

• Nhiều phế nang hơn

• Thành miệng phế nang gồm có biểu mô vuông đơn không có lông chuyển, dưới lớp biểu mô đó có nhiều sợi chun, một số sợi cơ trơn tạo thành vòng thắt phế nang Trong phổi người lớn có khoảng 14 triệu ống phế nang

Phế nang là những túi hở có đường kính 0,2 - 2 mm Ở người lớn, số phế nang có từ

300 - 350 triệu với tổng diện tích khí hít vào là 100 m2 gấp 20 lần diện tích bề mặt cơ thể Khi thở ra, diện tích đó giảm xuống 2 - 25 lần Giữa lớp phế nang có một mô liên kết mỏng gọi là vách gian phế nang Hai phế nang kề bên có thể thông với nhau bằng một số lỗ phế nang

Trang 30

Thành phế nang được lợp biểu một lớp biểu mô đặc biệt gồm 2 loại tế bào: phế bào I

và phế bào II (còn gọi là tế bào chế tiết)

• Phế bào I là tế bào mỏng nhưng trải rộng trên màng đáy Phế bào I chiếm 97%

diện tích bề mặt phế nang, trong lúc phế bào II chỉ chiếm diện tích ít ỏi còn lại Phần bào tương mỏng không chứa nhân của phế bào I nằm song song với phần bào tương không nhân của tế bào nội mô mao mạch máu Hai lớp tế bào này cùng với màng đáy

của phế nang và của mao mạch sẽ tạo thành hàng rào không khí – máu

Chỗ dày nhất của phế bào I là nới có nhân, dày 5 - 6 micron, các vùng xa nhân chỉ dày khoảng 0,2 - 0,3 micron Trên bề mặt hướng về không khí có những nhánh bào tương ngắn để làm tăng diện tích tiếp xúc với không khí Các bào

Trang 31

quan chỉ tập trung ở vùng quanh nhân, ở vùng xa nhân có nhiều siêu ống và siêu sợi Phế bào I không còn khả năng phân chia

• Phế bào II là những tế bào hình cầu, hoặc đa diện, lồi vào lòng phế nang, chúng

thường phân bố ở gần miệng phế nang, nơi chuyển tiếp từ phế nang này sang phế nang bên cạnh Phế bào II và phế bào I liên kết với nhau bằng hình thức liên kết khe, liên

kết vòng bịt, thể liên kết, nhờ đó dịch từ vách gian phế nang không tràn vào phế nang

Trên bề mặt của tế bào này có một số vi nhung mao, bào tương có nhiều bào quan điển hình, các túi trong bào tường của tế bào nang có thể xem như những lysosom thứ phát Cấu tạo điển hình của phế bào II là những thể lá Đó là những hạt giàu phospholipid có màng bọc Phế bào II phân chia để cho ra các phế bào II mới, hoặc có thể biệt hoá thành phế bào I

Chất tiết của các thể hạt được tiết theo kiểu xuất bào và tạo nên một lớp phủ trên bề mặt phế nang gọi là surfactant Surfactant là lớp tạo sức căng bề mặt có tác dụng tăng khuếch tán không khí qua thành phế nang Ngoài ra, Surfactant còn có tác dụng chống xẹp các phế nang và ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn từ không khí vào máu Surfactant là phức hợp phospholipid mà chủ yếu là dipalmitoyl phosphatidycholin Trong lớp surfactant còn có nhiều glycosaminoglycan Surfactant được tổng hợp và phân hủy liên tục Nó có 2 pha: pha lỏng và lớp lipid

Trang 32

Hình 10.3 Sơ đồ cấu tạo thành phế nang

Ở phế nang còn có đại thực bào phế nang Đó là những tế bào lớn, nhô lên trên

bề mặt thành phế nang Bào tương của đại thực bào có nhiều không bào, nhiều hạt bụi, khói thuốc lá Do đó, những tế bào này còn được gọi là tế bào bụi Nguồn gốc của các

tế bào này là mono bào từ máu

Chức năng của đại thực bào phế nang là bảo vệ bằng cách ăn các vật lạ có trong không khí phế nang Đại thực bào có thể làm thoái biến lớp surfactant cũ

Trang 33

• Vách gian phế nang là phần mô liên kết giàu mao mạch nằm giữa 2 phế nang

ngăn cách với thành phế nang có nhiều sợi chun, những sợi lưới mảnh, sợi tạo keo Trong số tế bào ở đây có thể gặp tế bào sợi, tế bào cơ trơn, đại thực bào Mao mạch trong vách phế nang rất phong phú, thành của chúng thường áp sát vào thành phế

nang

• Hàng rào không khí - máu

Qua hình 10.3, ta thấy giữa không khí trong phế nang và máu trong mao mạch gian phế nang được ngăn cách bởi (1) bào tương của phế bào I, (2) màng đáy của biểu mô phế nang, (3) lớp mô liên kết mỏng, (4) màng đáy mao mạch,

• Bào tương của tế bào nội mô Nhiều nơi màng đáy của biểu mô phế nang và màng đáy mao mạch kết hợp thành một lớp Hàng rào không khí - máu này chỉ dày khoảng 0,2 - 0,25 micron

Hình 10.4 Tiểu thùy phổi

Trang 34

- Tiểu thuỳ phổi

Các thuỳ phổi được bao bọc bởi lá tạng màng phổi Ở cuống của mỗi thuỳ phổi

có phế quản thùy và nhánh động mạch đi kèm song song nhau, chia nhánh giống nhau

Về mặt phẫu thuật thuỳ phổi còn được chia thành đoạn, vùng khác nhau tùy thuộc vào

sự phân nhánh của phế quản và động mạch Về mặt mô học, các thùy phổi gồm nhiều khối đa diện nhỏ gọi là tiểu thùy phổi Các tiểu thùy được ngăn cách với nhau bởi vách liên kết gọi là vách liên kết gian tiểu thùy

Trong tiểu thùy có các tiểu phế quản, tiểu phế quản hô hấp, ống phế nang và phế nang, động mạch, mao mạch và một số mạch bạch huyết Tĩnh mạch, các mạch bạch huyết và phế quản gian tiểu thùy nằm trong vách liên kết gian tiểu thùy

10.2.3 MÀNG PHỔI

Màng phổi gồm hai lớp thanh mạc: lá tạng và lá thành có một khoang gọi là khoang màng phổi Lá tạng và lá thành gặp nhau ở cuống phổi

Lá tạng phủ mặt ngoài của phổi, ngăn cách các thùy phổi

Nó gắn liền với mô liên kết nhiều sợi chun và tạo keo của nhu mô phổi Do đó rất khó tách lá tạng Lá thành màng phổi bao phủ mặt trong của khoang ngực và trung thất

Cấu tạo mô học của cả lá tạng và lá thành đều gồm 3 lớp:

• Lớp biểu mô gồm một hàng tế bào trung biểu mô dẹt, gần giống tế bào nội mô

• Lớp dưới biểu mô là lớp mô liên kết thưa, rất ít tế bào và không có mạch máu Sợi chun và sợi lưới có thể gặp ở dạng rất mảnh

• Lớp xơ - chun có nhiều tế bào liên kết và mạch

Trang 35

Hình 10.5 Sơ đồ cấu tạo màng phổi

10.2.4 CÁC CHỨC NĂNG KHÔNG HÔ HẤP CỦA BỘ MÁY HÔ HẤP

Ngoài chức năng hô hấp, trao đổi khí giữa máu và không khí, bộ máy hô hấp còn thực hiện các chức năng không hô hấp như sau:

• Chức năng nội tiết: các tế bào nội tiết (tế bào K) tiết ra serotonin, braddykinin, norepinephrin Angiotensin I không hoạt hóa khi chuyển qua các mao mạch trong phổi

sẽ biến thành dạng hoạt động angiotensin II

• Chức năng bảo vệ: tiết nhầy, lông chuyển, đại thực bào, mô bạch huyết phong phú

Trang 36

10.3 Nội dung thảo luận và hướng dẫn tự học

10.3.1 Nội dung thảo luận

- Ứng dụng được các hiểu biết về Mô phôi học vào các môn y học khác để phòng bệnh và điều trị

- Liên hệ được sự thống nhất giữa hình thể, cấu tạo với chức năng của các bộ

phận trong cơ thể để hiểu được quá trình tiến hoá của cơ thể

10.3.2 Nội dung ôn tập và vận dụng thực hành

Ôn tập các kiến thức nền tảng cần thiết từ bài học và chủ động vận dụng các kiến thức, chuẩn bị đầy đủ các kỹ năng trong quá trình thực hành lâm sàng

10.3.3 Nội dung hướng dẫn tự học và tự nghiên cứu

Đọc các tài liệu tham khảo có liên quan đến nội dung học tập, nghiên cứu thêm các ứng dụng bài học trong thực tế lâm sàng

Trang 37

CHƯƠNG 11

HỆ NỘI TIẾT 11.1 Thông tin chung

11.1.1 Giới thiệu tóm tắt nội dung bài học

Bài học cung cấp kiến thức tổng quát về cấu tạo hình thái vi thể, siêu vi thể và hóa học của các mô và các bộ phận chủ yếu của những cơ quan trong cơ thể người bình thường, cấu tạo, chức năng của các mô, các cơ quan và các nội dung liên quan đến Mô phôi

11.1.2 Mục tiêu học tập

• Mô tả được cấu tạo mô học và chức năng chính của tuyến yên

• Mô tả được cấu tạo mô học và chức năng chính của tuyến giáp

• Mô tả được cấu tạo mô học và chức năng chính của tuyến cận giáp

• Mô tả được cấu tạo mô học và chức năng chính của tuyến thượng thận

11.1.4.2 Tài liệu tham khảo

1 Bộ Y Tế (2007) Mô – phôi: Phần Mô học, NXB Y học, Hà Nội

2 Trang Thị Ánh Tuyết (2011) Bài Giảng Mô Phôi, NXB Y học, TP HCM

11.1.5 Yêu cầu cần thực hiện trước, trong và sau khi học tập

Sinh viên đọc trước bài giảng, tìm hiểu các nội dung liên quan đến bài học, tích cực tham gia thảo luận và xây dựng bài học, ôn tập, trả lời các câu hỏi, trình bày các nội dung cần giải đáp và tìm đọc các tài liệu tham khảo

Trang 38

11.2 Nội dung chính

Cùng với hệ thần kinh và hệ miễn dịch, hệ nội tiết đóng vai trò quan trọng trong

hệ điều hòa và phối hợp hoạt động của các cơ quan trong cơ thể Hệ nội tiết bao gồm các tuyến nội tiết cũng như các tế bào nội tiết cũng như các tế bào nội tiết phân bố rải rác trong các mô và cơ quan khác nhau Nhiều cơ quan trong cơ thể có khả năng chế tiết các chất có tác dụng như những nội tiết tố: thận, thymus, hệ thần kinh, gan, tuyến nước bọt

Dựa vào quan hệ giữa tế bào chế tiết và tế bào đích, hệ nội tiết có thể chia thành nội tiết, cận tiết và tự tiết

Hình 11.1 Sơ đồ biểu diễn hệ nội tiết

Trang 39

Hormon của các tuyến nội tiết ngấm vào máu và tác động lên tế bào đích xa, còn các chất tiết của các tế bào hệ cận tiết thì tác động lên tế bào lân cận Trong hiện tượng tự tiết, các chất tiết của tế bào tự tiết gắn lên thụ thể của chính nó

Tuyến yên, hypothalamus, tuyến tùng là những cơ quan nội tiết trung ương, tuyến tùng là những cơ quan nội tiết trung ương Các tuyến nội tiết ngoại vi gồm có tuyến giáp, cận giáp, thượng thận

Về mặt mô học, tất cả các tuyến nội tiết bao giờ cũng có 2 thành phần chính là

tế bào chế tiết; làm nhiệm vụ tổng hợp hormon và lưới mao mạch phọng phú Tuyến nội tiết không có ống bài xuất, các chất tiết được đổ trực tiếp vào máu hoặc bạch huyết

vỏ tuyến thượng thận và hormon sinh dục là những hormon loại steroid

Một số hormon chỉ được chế tiết ở một tuyến nội tiết ví dụ thyroxin ở tuyến giáp) Một số hormon được sản xuất trong một số cơ quan khác nhau (ví dụ: insulin được chế tiết ở tụy, tuyến nước bọt mang tai, não)

● Thụ thể tế bào của hormon:

Hormon thường tác động lên các cơ quan và tế bào nhất định Những cơ quan

và tế bào đó được gọi là cơ quan đích, tế bào đích Mỗi hormon có tác dụng khi nó được các thụ thể (receptor) của tế bào đích nhận biết và liên kết với nó Hormon steroid và thyroxin hoà tan trong lypit, chúng có thể lọt qua màng tế bào và gắn kết với thụ thể nội bào của tế bào đích Ngược lại, tất cả các hormon nguồn gốc axit amin (trừ thyroxin) đều hòa tan trong nước, do đó các hormon này gắn kết với các thụ thể bề mặt, trên màng của tế bào đích Một loại tế bào có thể là tế bào đích đối với nhiều hormon, đồng thời một loại hormon có thể tác động lên một số loại tế bào đích

Hormon steroid sau khi đã lọt vào bào tương tế bào sẽ gắn với thụ thể nội bào tạo thành phức hợp hormon thụ thể Sau khi được hoạt hóa, phức hợp này sẽ gắn lên

Trang 40

nhiễm sắc thể nhất định, thúc đẩy quá trình sao chép ADN thành ARN thông tin để tổng hợp protein mà hormon đó có tác dụng thúc đẩy sản xuất

Tất cả hormon khác tạo thành phức hợp hormon thụ thể trên bề mặt tế bào Phức hợp này hoạt hóa AMP vòng Sau đó, AMP vòng hoạt hóa các enzym nội bào làm cho tế bào đích tăng cường chuyển hóa Do đó, hormon được coi là chất truyền tin thứ nhất, còn AMP vòng là chất truyền tin thứ hai

11.2.1 TUYẾN YÊN

Tuyến yên (hypohyse) nằm trong hố yên của xương bướm dính vào sàn não bằng cuống tuyến yên Tuyến yên được bao bọc bởi màng cứng, có kích thước này tăng lên chút ít

Tuyến yên gồm 2 phần: thùy trước (phần xa, phần phểu, phần trung gian), thùy sau (thùy thần kinh) Thùy thần kinh được hình thành do ngoại bì phát triển lồi về phía dưới Ba phần còn lại của tuyến yên được hình thành do ngoại bì của nóc miệng nguyên thủy lồi về phía trên có dạng một cái túi (túi Rathke), Do đó, ta cũng có thể chia tuyến yên thành 2 vùng chính: thùy trước và thùy sau

- Thùy trước tuyến yên (phần xa):

Thùy trước tuyến yên chiếm khoảng 75% trọng lượng của tuyến yên

Thùy trước gồm 3 phần cấu tạo:

Ngày đăng: 28/06/2023, 21:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN