Từ những thực tế trên, thêm vào đó số trường hợp ung thư được chẩn đoán ở giai đoạn sớm ngày càng tăng, sự xuất hiện của nhiều mô thức điều trị nên mức độ rộng của các phẫu thuật ung thư
Trang 1147
Phaàn 3
Ñieàu trò Beänh Ung Thö
Trang 2148
Chương 5 PHẪU TRỊ UNG THƯ
Phẫu trị là phương pháp điều trị ung
thư cổ xưa nhất Trong một thời gian dài
phẫu trị đã là liệu pháp hữu hiệu duy
nhất và đến nay vẫn còn là vũ khí chọn
lựa đối với nhiều loại ung thư Theo các
tác giả Timothy J Eberlein, Richard E
Wilson hoặc Steven A Rosenberg hoặc
nhóm tác giả Jonh M.Daly thì ngày nay
60% đến 75% các bệnh nhân ung thư
được điều trị bằng phẫu thuật và các kỹ
thuật ngoại khoa còn được sử dụng để
chẩn đoán, xếp hạng cho hơn 90% các
bệnh ung thư
ƯU VÀ KHUYẾT ĐIỂM CỦA PHẪU
THUẬT
Các ưu điểm của phẫu trị ung thư
(1) Các loại bướu ác không có sự đề
kháng sinh học đối với kỹ thuật
ngoại khoa
(2) Phẫu thuật không có những tác
dụng có tiềm năng sinh ung
(3) Phẫu thuật có khả năng điều trị
một số lớn ung thư ở giai đoạn tại
chỗ và tại vùng
(4) Phẫu thuật cho phép đánh giá rõ
ràng mức độ lan rộng của ung thư
cũng như tạo điều kiện xác định
những đặc tính mô học của bướu
làm cơ sở cho sự xếp hạng bệnh lý chính xác
Các khuyết điểm của phẫu trị ung thư (1) Mổ cắt bỏ không mang tính đặc thù đối với bướu ác tính, nghĩa là mô lành và mô bướu đều được hủy diệt như nhau
(2) Phẫu thuật có thể đe dọa cấp thời đến sự sống và / hoặc sự bất túc nặng nề về sức khoẻ (morbidity) cũng như có thể gây ra thương tật hoặc mất một vài chức năng sinh lý Phẫu thuật viên có khi phải cân nhắc và giới hạn mức độ rộng của phẫu thuật để tránh tổn thương những cấu trúc sinh tử và đó là một trong những nguyên nhân thất bại của phẫu trị
(3) Sau cùng, những tổn thương ác tính đã tiến triển vượt qua giai đoạn tại chỗ tại vùng thì không được trị khỏi chỉ bằng phẫu thuật đơn thuần
Thời đại của Ngoại Khoa như là một mô thức điều trị đơn độc đã qua Nghiên cứu hồi cứu những thất bại điều trị đã giúp cho người ta biết rằng trước khi được phẫu trị, ở thời điểm được chẩn đoán xác định, một số ung thư đã có những di căn vi thể Vì thế, đối với tình
Trang 3149
trạng diễn tiến âm thầm của nhiều loại
ung thư thì một chiến lược điều trị toàn
diện đa mô thức là cần thiết Hiện nay
việc nhận diện nhóm bệnh nhân mà
bệnh có khả năng đã tiến triển được căn
cứ vào kết quả khảo sát các yếu tố nguy
cơ cũng như các xét nghiệm cận lâm
sàng và sinh học mà độ chính xác
không tuyệt đối Vì vậy, cách điều trị tốt
nhất, kể cả điều trị tận gốc lẫn tạm bợ,
đòi hỏi một sự tính toán riêng biệt cho
từng bệnh nhân với sự tiếp cận bằng tất
cả các mô thức điều trị có trong tay Với
khái niệm này, người phẫu thuật viên
ung thư phải có một căn bản vững chắc
về ngoại khoa tổng quát cũng như phải
nắm bắt được những tiến bộ mới nhất
về xạ trị ung thư, hóa trị ung thư và gần
đây là liệu pháp miễn dịch trong ung
thư
CUỘC MỔ
Kỹ thuật vô cảm
Để thực hiện thành công những thao
tác ngoại khoa nhằm mục đích chẩn
đoán cũng như điều trị cần phải có sự
hỗ trợ của các thầy thuốc gây mê hồi
sức với nhiều kỹ thuật vô cảm khác
nhau
(1) Gây tê bề mặt (gây tê niêm mạc)
(2) Gây tê tại chỗ
(3) Gây tê tại vùng: tê tùng, tê tủy, tê
ngoài màng cứng Một số tác giả
cho rằng phương pháp gây tê tại
vùng cho một số đại phẫu ung thư
an toàn hơn là gây mê toàn thân đối
với các bệnh nhân có bệnh lý thêm
về phổi hoặc có tình trạng suy hô
hấp
(4) Gây mê toàn thân bằng đường tĩnh
mạch với các dược chất thuộc
nhóm Barbiturates (Sodium thiopental) hoặc nhóm an thần (Benzodiazepines hay Droperidol) (5) Gây mê toàn thân bằng đường hô hấp với:
Oxyt Nitơ N2O + chất gây ngủ + chất dãn cơ
Nhóm Fluorinated hydrocarbones như: Halothane (Fluothane), Enflurane (Ethrane)
Gây mê đường hô hấp thường cho một số tác dụng phụ như (i) độc gan, (ii) giảm hoạt động cơ tim, giảm lưu lượng máu, (iii) gây cho cơ tim dễ nhạy cảm với cathecolamines đưa đến loạn nhịp tim
Về mặt lý thuyết gây mê bằng đường hô hấp có ảnh hưởng đến các cơ chế sinh hóa như ức chế tủy xương, rối loạn chức năng của các đại thực bào, vì thế mà Cyclopropane và Ête ngày nay hầu như không còn được sử dụng để gây mê nữa
(6) Chất dãn cơ như Succinylcholine, Curare, Pancuonium thường được sử dụng trong lúc gây mê toàn thân tạo thuận lợi cho các thao tác phẫu thuật nhưng lại làm liệt tạm thời các cơ hô hấp và gây ức chế hô hấp Xác định những nguy cơ phẫu thuật Tỷ lệ tử vong do mổ phải được lưu ý khi chỉ định mổ bằng cách xem xét cân nhắc những nguy cơ phẫu thuật
(1) Thể trạng bệnh nhân (có thể đánh giá theo chỉ số KPS, hoặc theo phân loại 5 nhóm của Hội Gây Mê Hoa Kỳ) (Bảng 1)
Trang 4150
Bảng 1 Phân loại thể trạng bệnh nhân theo hội gây mê Hoa Kỳ
Bệnh nhân có sức khỏe bình thường, không có
các rối loạn cơ quan, sinh lý, sinh hóa hay tâm
thần kinh Những bất thường cho cuộc mổ gây
ra được khu trú và không gây rối loạn toàn thân
(vd bệnh nhân khỏe được mổ thoát vị bẹn hoặc
bướu cơ trơn thân tử cung)
Bệnh nhân có bệnh hệ thống gây mất khả năng vận động, thường xuyên bị đe dọa mạng sống và phẫu thuật có khả năng không hiệu quả (vd bệnh tim gây suy tim, hội chứng đau thắt ngực thường xuyên, hay viêm cơ tim, và suy hô hấp tiến triển, suy gan, thận hay nội tiết)
Bệnh nhân có rối loạn hệ thống từ nhẹ đến
trung bình gây ra do bệnh lý phải phẫu thuật
hay do bệnh lý kèm theo (vd bệnh tim mạch
nhẹ, đái tháo đường nhẹ, tăng huyết áp hay
thiếu máu) Trẻ sơ sinh hoặc người trên 80 tuổi
không có bệnh lý đi kèm Thừa cân quá mức
hoặc viêm phế quản mạn cũng thuộc nhóm
này
Bệnh nhân hấp hối, không sống quá 24 giờ nếu không phẫu thuật, hay bệnh nhân có rất ít cơ hội sống còn nhưng phải chấp nhận phẫu thuật nguy cơ rất cao (vd phình vỡ động mạch chủ bụng sốc nặng, chấn thương não nặng với hội chứng tăng áp lực nội sọ diễn tiến nhanh, thuyên tắc phổi) Hầu hết các bệnh nhân này có khả năng hồi sức rất kém sau phẫu thuật
Bệnh nhân có bệnh hệ thống nặng làm hạn
chế hoạt động nhưng không làm mất khả
năng hoàn toàn (vd bệnh tim nặng Đái tháo
đường nặng với biến chứng mạch máu, suy hô
hấp mức độ trung bình, và đau thắt ngực hay
nhồi máu cơ tim cũ)
Nếu phẫu thuật cấp cứu, đặt chữ E sau số nhóm Bất kỳ bệnh nhân thuộc nhóm nào nếu phải mổ cấp cứu phải xem như đang trong tình trạng xấu Bệnh nhân mổ thoát vị bẹn không biến chứng, nếu có kèm buồn nôn và nôn thì được xếp là nhóm IE, nhóm V luôn luôn được xem là bệnh cấp cứu
(2) Mức độ nặng, độ xâm lấn của
bệnh
(3) Mức độ gây xáo trộn về chức năng
sinh lý trên bệnh nhân
(4) Những khó khăn trong thao tác
phẫu thuật
(5) Loại vô cảm
(6) Kinh nghiệm của phẫu thuật viên
Tỷ lệ tử vong do mổ được tính trong
thời gian 30 ngày từ ngày mổ đối với các
loại đại phẫu trở lên và tỷ lệ này tùy
thuộc vào:
(1) Kỹ thuật mổ
(2) Kỹ thuật vô cảm
(3) Biến chứng mổ
(4) Quan trọng nhất là thể trạng bệnh
nhân và khả năng phục hồi của
bệnh nhân sau chấn thương phẫu
thuật
Chỉ định phẫu thuật Phải xác định rõ mục đích của cuộc mổ và phải giải thích cho người bệnh hiểu rõ mục đích này
Mục đích của cuộc mổ có thể là để chẩn đoán, đánh giá và xếp hạng, hoặc để điều trị tạm bợ, hoặc là điều trị tận gốc Những xét nghiệm hoặc kỹ thuật khảo sát trước mổ không phải lúc nào cũng có giá trị tuyệt đối nên mục đích của cuộc mổ có thể thay đổi trong lúc mổ tùy theo thực trạng nhận định bởi phẫu thuật viên
Chỉ định phẫu thuật tận gốc Khối bướu còn khu trú tại chỗ, tại vùng và phần mô lành bao quanh bướu có thể cắt lấy đi được và không tìm thấy
di căn xa
Khi chỉ định mổ, phẫu thuật viên phải định trước mức độ rộng của thao tác phẫu thuật Cắt bướu thành một
Trang 5151
khối (“en bloc” resection) bao gồm bướu
nguyên phát và hạch vùng là nguyên tắc
chủ đạo
Từ những thực tế trên, thêm vào đó
số trường hợp ung thư được chẩn đoán ở
giai đoạn sớm ngày càng tăng, sự xuất
hiện của nhiều mô thức điều trị nên
mức độ rộng của các phẫu thuật ung
thư đang được điều chỉnh Nạo hạch
vùng một cách đúng mức có giá trị rõ
ràng về tiên lượng và cho phép xếp
hạng chính xác làm cơ sở cho những
phương pháp điều trị hỗ trợ khác
Chỉ định phẫu thuật nhằm mục đích
đánh giá xếp hạng
Bệnh Hodgkin mổ bụng thám sát,
sinh thiết hạch ở nhiều vị trí, sinh thiết
gan, cắt lách và sinh thiết tủy xương
Chỉ định phẫu thuật nhằm mục đích
điều trị tạm bợ
Nối tắt trong trường hợp ung thư các
tạng rỗng gây nghẹt (nối vị tràng, nối
mật ruột .), mổ đặt ống stent trong
ung thư thực quản
Chỉ định phẫu thuật giảm tổng khối tế
bào bướu
Chỉ định còn gây một vài tranh cãi
Phương pháp này hữu dụng nhất đối với
ung thư buồng trứng vì có khả năng làm
gia tăng đáp ứng của bệnh nhân đối với
hóa trị hoặc xạ trị, ngoài ra phương
pháp này cũng có hiệu quả đối với bướu
nguyên bào thần kinh ở trẻ em Ứng
dụng cho các ung thư khác thì hiếm
hơn
Mức độ cắt lấy rộng có thể được
hướng dẫn bởi việc đánh giá xếp hạng
lâm sàng chuẩn xác Cuộc mổ có thể
được giảm nhỏ đi nếu xếp hạng chính
xác kèm theo điều trị hỗ trợ Nhằm mục
đích gia tăng sự chuẩn xác của đánh giá
xếp hạng, nhiều phương thức đang được
nghiên cứu khảo sát ví dụ như nhấp nháy đồ hệ lymphô, rà tìm kháng thể đơn dòng gắn đồng vị phóng xạ Điều quan trọng là chỉ định phẫu thuật có thể thay đổi tùy theo kinh nghiệm của phẫu thuật viên, các phương pháp điều trị hỗ trợ và nhất là sự hiểu biết về diễn tiến tự nhiên của từng loại ung thư
Chuẩn bị tiền phẫu Chuẩn bị tiền phẫu cho bệnh nhân phải hỗ trợ được cả hai mặt sinh lý và tâm lý Chuẩn bị một cách đúng mức bao gồm:
(1) Hiểu biết cặn kẽ diễn tiến tự nhiên của bệnh
(2) Đánh giá kỹ lưỡng những nguy cơ phẫu thuật
(3) Cân nhắc những quyết định liên quan đến kỹ thuật mổ
(4) Dự đoán những rối loạn sinh lý gây nên bởi vô cảm và phẫu thuật (5) Đánh giá xếp hạng tình trạng sức khỏe của bệnh nhân
(6) Giải thích và trấn an, nâng đỡ tinh thần bệnh nhân
Chăm sóc điều trị trước mổ sẽ giúp cho bệnh nhân vượt qua được kích xúc phẫu thuật và giảm thiểu tối đa nguy cơ tai biến do thao tác kỹ thuật
Phẫu thuật viên phải lưu ý đến những rối loạn sinh lý như nước ‟ điện giải, tình trạng suy dinh dưỡng, suy hô hấp, rối loạn chức năng gan, thận, thiếu máu, rối loạn đông máu Hồng cầu tăng lên đến 30% trước khi tiến hành các phẫu thuật mà phẫu thuật viên nghĩ là sẽ chảy máu nhiều trong lúc mổ Các bất thường về đông máu được xác định bằng việc hỏi kỹ bệnh sử, khám lâm sàng tìm những triệu chứng rối loạn huyết động học, và bằng các xét nghiệm
Trang 6152
thường quy (thời gian prothrombin,
đếm tiểu cầu .) Cần xác định những
thuốc bệnh nhân đã sử dụng (aspirin,
phenylbutazon, indomethacin) vì có
những dược chất tác động làm hư tiểu
cầu Aspirin phải được ngưng sử dụng
một tuần trước mổ Ngoài ra một vài
tình trạng bệnh lý nội khoa như urê
huyết cao, suy gan, bệnh bạch cầu cũng
gây rối loạn chức năng tiểu cầu Để thực
hiện những ca đại phẫu, đa số chấp
nhận mức giới hạn với số lượng 50.000
tiểu cầu hoạt tính / mm3
Phẫu thuật viên cần nắm bắt diễn
tiến tự nhiên của bệnh nếu không can
thiệp ngay và hiểu rõ những nguy cơ
phẫu thuật để xác định mức độ cấp bách
của cuộc mổ để ấn định quỹ thời gian
cho việc chăm sóc điều trị trước mổ
Quỹ thời gian này cần thiết cho việc
điều chỉnh các xáo trộn sinh lý đã có từ
trước, có thể ngắn (tính bằng giờ) ví dụ
như trong trường hợp xuất huyết tiêu
hóa ồ ạt hoặc thủng ruột do bướu làm
nghẹt, có thể trung bình nếu chỉ là
nghẹt mà không có nguy cơ thủng, hoặc
kéo dài (tính bằng ngày) như trường
hợp vàng da tắc mật do ung thư đầu tụy
Đánh giá thể trạng bệnh nhân còn
bao gồm một số các yếu tố khác như
tuổi (tuổi dương lịch và tuổi sinh học),
mức độ của những rối loạn sinh lý, suy
dinh dưỡng, có hay không những bệnh
lý kèm theo hoặc suy giảm chức năng
các cơ quan khác và giai đoạn của bệnh
lý ác tính Dù cho mức độ cấp bách của
phẫu thuật sẽ làm hạn chế sự chuẩn bị
tiền phẫu và các phương pháp điều
chỉnh những rối loạn có sẵn, phẫu thuật
viên vẫn phải nhanh chóng tiến hành
điều chỉnh thích hợp các rối loạn kèm theo một kế hoạch bộ tiếp tục trong lúc mổ và sau mổ
Săn sóc hậu phẫu Tỷ lệ nhiễm trùng sau mổ ở những
ca đại phẫu thay đổi từ 0,5% đến 20% tùy theo đó là cuộc mổ “sạch” hay cuộc mổ “dơ” Nhiễm trùng sau mổ sẽ làm tăng thời gian nằm viện khoảng 10 ngày Những yếu tố nguyên nhân của nhiễm trùng sau mổ bao gồm sự suy yếu đề kháng của người bệnh, số lượng và hoạt tính của các phổ vi trùng, sự hiện diện của các vật lạ, mô chết hoặc điều kiện yếm khí Đối với những bệnh nhân sẽ phải qua một cuộc mổ “dơ” nên sử dụng kháng sinh phòng ngừa để giảm tỷ lệ nhiễm trùng sau mổ Trong phẫu trị ung thư nên áp dụng kháng sinh phòng ngừa cho những bệnh nhân mổ vùng đầu cổ, lồng ngực, ống tiêu hóa và vùng chậu Sử dụng kháng sinh phòng ngừa nên tính toán để đạt được liều kháng khuẩn trước khi xảy ra nguy
cơ nhiễm trùng, sử dụng trong thời gian ngắn, đặc thù cho những nhóm vi khuẩn thường gặp và an toàn, nghĩa là giảm thiểu việc gây thêm nguy hại cho bệnh nhân
CÁC LOẠI PHẪU THUẬT TRONG UNG THƯ
Phẫu thuật phòng ngừa Càng ngày người ta càng xác định được thêm những bệnh lý mà với thời gian sẽ phát triển thành một loại ung thư Điều trị khỏi những bệnh lý này bằng nhiều phương pháp trong đó phẫu thuật là một phương pháp chính, sẽ loại bỏ được nguy cơ mắc ung thư (Bảng 1)
Trang 7153
Bảng 1 Phẫu thuật phòng ngừa trong ung thư
Tinh hoàn lạc chỗ Ung thư tinh hoàn Mổ đưa tinh hoàn xuống bìu Viêm loét đại tràng mãn Ung thư đại tràng Cắt đại tràng
Bệnh đa polyp đại tràng Ung thư đại tràng Cắt đại tràng
Đa bướu tuyến nội tiết MEN II Ung thư tuyến giáp Cắt bướu
Phẫu thuật chẩn đoán
Chẩn đoán vi thể chính xác là cơ sở
lập kế hoạch điều trị ung thư một cách
hợp lý và hiệu quả Nhiều kỹ thuật ngoại
khoa giúp lấy mẫu mô nghi ngờ để xác
định chẩn đoán
(1) Chọc hút bằng kim nhỏ làm tế bào
học chẩn đoán
(2) Chọc hút bằng kim lớn (True cut,
Vim ‟ Silverman, Franklin) lấy được
cọng mô để khảo sát mô học
(3) Mổ sinh thiết một phần với gây tê
khi bướu có kích thước trên 3 cm
(4) Mổ sinh thiết trọn khi bướu nhỏ
hơn 3cm
(5) Mổ thám sát, mổ nội soi là những
phương pháp đôi khi được áp dụng
cho các bệnh nhân mà sang thương
nghi ngờ nằm trong xoang bụng,
sau phúc mạc hoặc trong lồng
ngực
Những điều quan trọng trong phẫu
thuật sinh thiết:
(1) Lấy một mẫu mô điển hình với đủ
cả bờ mô bình thường
(2) Không sinh thiết vào mô hoạt tử
(3) Tránh gieo cấy vào mô bình thương
lân cận
(4) Đường rạch da sinh thiết phải nằm
trong phần mô mà sẽ được cắt bỏ
bởi một phẫu thuật điều trị tận gốc
tiếp theo sau
(5) Cung cấp những thông tin lâm
sàng cần thiết cho nhà giải phẫu
bệnh
Phẫu thuật đánh giá xếp hạng Xếp hạng lâm sàng bao gồm khám lâm sàng, sinh thiết, khảo sát hình ảnh học can thiệp
Xếp hạng phẫu thuật từ đơn giản như sinh thiết hạch, đến phức tạp như mổ ngực thám sát, mổ bụng thám sát, soi trung thất Ngày nay với X quang điện toán cắt lớp, cộng hưởng từ đã giảm bớt sự can thiệp ngoại khoa
Xếp hạng sau phẫu thuật chủ yếu là khảo sát các mẫu mô lấy được qua cuộc mổ
Xếp hạng khi điều trị lại sau điều trị ổn định một thời gian, xếp hạng đánh giá lại cho đợt điều trị bổ túc hoặc điều trị lần hai
Xếp hạng bằng tử thiết áp dụng khi bệnh ung thư chỉ được xác định bằng tử thiết
Một số hệ thống đánh giá lâm sàng quan trọng được công nhận rộng rãi như hệ thống TNM của UICC (Union Internationalis Contra Cancrum-Liên hợp Quốc tế Chống Ung thư ), hệ thống giai đoạn lâm sàng của AJCC (American Joint Committee on Cancer)
Một vài hệ thống đánh giá khác có tính khu trú hơn như: Phân loại Dukes và các phân loại Dukes biến đổi đối với ung thư đại trực tràng, phân loại lâm sàng Columbia cho ung thư vú, phân loại FIGO cho các ung thư phụ khoa
Trang 8154
Phẫu thuật điều trị
Phẫu thuật luôn luôn có vai trò chủ
chốt trong điều trị các bướu đặc Là một
trong những vũ khí điều trị ung thư,
phẫu thuật có một vài ưu thế so với các
phương pháp khác như khi cắt trọn tại
chỗ tại vùng cho phép đánh giá đầy đủ
về mức độ xâm lấn của ung thư và xếp
hạng chính xác nhất Phẫu thuật được
xem là không có tính sinh ung và
thường không có tính ức chế miễn dịch
như xạ trị hoặc hóa trị
Tuy vậy, phẫu thuật vẫn có nhược
điểm Bất cứ loại phẫu thuật nào cũng
có khả năng đưa đến thương tật hoặc tử
vong Mổ thám sát đơn thuần có thể
không sao, nhưng khi có tiến hành cắt
mô bệnh thì nguy cơ tai biến có thể xảy
ra Phẫu thuật cắt bỏ có tính trị khỏi chỉ
có ở 30% bệnh nhân khi điều trị phẫu
thuật đơn thuần vì một phần lớn bệnh
nhân với ung thư hệ bướu đặc đã có di
căn vi thể ở thời điểm chẩn đoán Phẫu
thuật nội soi hiện nay đang được áp
dụng rộng rãi, hiệu quả tương đương với
phẫu thuật mở cổ điển Phẫu thuật được
hỗ trợ bằng robot cũng đang được các
trung tâm y khoa lớn ứng dụng
Ngay sau cuộc mổ, những ghi nhận
tình trạng lúc mổ, những thao tác kỹ
thuật phải được phẫu thuật viên ghi
nhận đầy đủ, mô tả chi tiết với sơ đồ
minh họa rõ ràng Điều quan trọng là
đánh giá mức độ xâm lấn của bướu, diện
cắt và nhận định của phẫu thuật viên có
lấy được hết mô bướu hay không Sinh
thiết phần mô bướu nghi ngờ còn để lại
là một động tác quan trọng Tất cả các
chi tiết của cuộc mổ giúp xếp hạng
phẫu thuật chính xác
Phẫu thuật tận gốc Trên quan điểm mô ung thư có khả năng phát triển không giới hạn và có thể sinh sôi nẩy nở từ một vài tế bào còn sót lại thậm chí từ một tế bào thì nguyên tắc chủ đạo của phẫu trị tận gốc ung thư là lấy đi toàn bộ mô bướu với một rìa cắt an toàn của mô lành
Trước khi tiến hành phẫu thuật tận gốc, phẫu thuật viên phải đánh giá kỹ lưỡng tình trạng của bệnh nhân, các tiền căn bệnh lý Với việc chuẩn bị trước mổ chu đáo, phẫu thuật viên có đủ điều kiện để tin vào khả năng có thể lấy hết được các mô bị xâm nhiễm với rìa cắt an toàn kèm theo những thương tổn chấp nhận được Sau cùng, phải đảm bảo là phẫu thuật tận gốc sẽ cho kết quả ngang bằng hoặc tốt hơn những phương pháp khác trên bình diện chất lượng sống và thời gian sống thêm
Phẫu thuật viên phải hiểu rõ sinh học của bướu để định đoạt mức độ rộng của rìa cắt và quyết định loại phẫu thuật tùy theo từng loại bướu, từng giai đoạn bệnh và từng người bệnh
Có khi phương thức phẫu thuật sau cùng lại là bảo tồn và phối hợp với phương pháp điều trị khác.Vd cắt rộng lại ung thư vú đã được sinh thiết đầu tiên kèm theo nạo hạch nách kèm xạ trị hậu phẫu hay phẫu thuật cắt khoang đối với sarcôm phần mềm kết hợp với xạ trị là những ví dụ điển hình Qua ví dụ nêu trên, việc kết hợp các mô thức điều trị giúp cải thiện kết quả về chức năng cũng như về thẩm mỹ của phẫu thuật Nhìn chung, phẫu thuật tận gốc ung thư bao gồm tất cả những kỹ năng ngoại khoa cũng như những kỹ năng đặc biệt và riêng biệt của phẫu trị ung
Trang 9155
thư Có thể liệt kê một số kỹ thuật riêng
biệt sau đây:
(1) Cột đầu tiên mạch máu và lymphô
nhằm ngăn ngừa di căn xa
(2) Cột hai đầu lòng ống tiêu hóa mang
bướu ngăn ngừa sự lan tràn theo
lòng ruột
(3) Thao tác nhẹ nhàng, rửa bằng dung
dịch sinh lý hoặc dung dịch có hóa
chất diệt bào để ngăn chặn sự gieo
rắc tại vùng (xoang bụng), tại sẹo
mổ
(4) Cắt rộng thành một khối với rìa cắt
an toàn để làm giảm tái phát tại
chỗ Aùp dụng cắt lạnh (sinh thiết
tức thì) rìa cắt để xác định không có
tế bào ung thư
(5) Mổ lấy đi sẹo mổ và những ngõ
ngách chung quanh để lại bởi lần
mổ sinh thiết trước
(6) Dụng cụ mổ dùng để lấy bướu cắt
lạnh phải được bỏ, thay bằng dụng
cụ mới cho cuộc mổ kế tiếp
Phẫu thuật tạm bợ
Bao gồm những phẫu thuật lấy đi
khối ung thư gây nguy hại trực tiếp đến
sự sống còn của bệnh nhân, làm giảm
nhẹ các triệu chứng, tạo nên sự lui bệnh
tạm thời hoặc điều trị, ngăn ngừa một
vài biến chứng xảy ra trong diễn tiến tự
nhiên Ví dụ cụ thể như mổ cắt nối hoặc
nối tắt một ung thư ống tiêu hóa gây
nghẹt hoặc dọa nghẹt, cắt bướu để kiểm
soát chảy máu Một vài kỹ thuật khác
như mở hổng tràng nuôi ăn trong ung
thư dạ dày, khai khí đạo trong ung thư
thanh quản, mở niệu quản ra da để tạo
điều kiện cho bệnh nhân điều trị bằng
mô thức khác
Phẫu thuật giảm tổng khối bướu
Phẫu thuật giảm tổng khối bướu trên
một vài loại ung thư chọn lọc có thể làm
gia tăng khả năng kiểm soát phần bướu để lại với những phương pháp điều trị khác như hóa trị, xạ trị Điển hình là ung thư buồng trứng và lymphôm Burkitt
Phẫu thuật đối với di căn Nhìn chung, bệnh nhân với một ổ di căn đơn độc có thể mổ lấy đi được mà không gây nguy hiểm thì nên được mổ Thực tế cho thấy trên 30% bệnh nhân bị sarcôm phần mềm, sarcôm xương đã điều trị và có một ổ di căn ở phổi, mổ lấy đi sẽ sống được 5 năm Tương tự như trên, trong số bệnh nhân có di căn gan từ ung thư đại trực tràng đã điều trị, phẫu thuật cắt nhân di căn gan cho tỷ lệ sống còn 5 năm là 25% Nhiều yếu tố cần được khảo sát trước khi thực hiện phẫu thuật đối với nhân di căn, bao gồm loại vi thể, thời gian nhân đôi của bướu, thời gian sống không bệnh, vị trí và kích thước của nhân di căn
Phẫu thuật cấp cứu Trong diễn tiến tự nhiên của từng bệnh ung thư có thể xảy ra một số tình huống phải mổ cấp cứu như chảy máu không cầm được, thủng cơ quan, nhiễm trùng Bệnh nhân trong giai đoạn trễ thường có nguy cơ cao khi gây mê và mổ, do đó đòi hỏi phải có chăm sóc điều trị, theo dõi đặc biệt Mỗi tình huống cấp cứu đòi hỏi một sự can thiệp tương thích
Phẫu thuật tái tạo và phục hồi Đối với bệnh nhân ung thư thì chất lượng sống là vấn đề hàng đầu và phẫu thuật viên có vai trò quan trọng trong việc tái tạo, phục hồi
Tái tạo tuyến vú, sau mổ đoạn nhũ tận gốc, tái tạo và làm các bộ phận giả sau mổ ung thư vùng đầu mặt cổ, tái tạo
Trang 10156
tiếng nói sau mổ ung thư thanh quản,
tái tạo dương vật sau mổ ung thư dương
vật là những ví dụ điển hình về gia tăng
chất lượng sống của bệnh nhân sau điều
trị ung thư tận gốc
PHẪU THUẬT TRONG ĐIỀU TRỊ ĐA MÔ
THỨC
Nguyên lý cơ bản trong điều trị đa
mô thức là dùng ưu điểm của phương
pháp điều trị này bổ khuyết cho nhược
điểm của phương pháp điều trị kia, và
ngược lại
Một cách cụ thể hơn, để tấn công
tiêu diệt một khối ung thư với những
xâm lấn tại chỗ, xâm nhiễm vào hạch
vùng và di căn xa phải dựa vào cơ sở
quan điểm điều trị toàn diện để xây
dựng một chiến lược tổng lực phối hợp
các vũ khí điều trị một cách nhịp nhàng
để đạt được kết quả tốt nhất
Cơ bản của sự phối hợp là giữa ba vũ
khí xạ trị, hóa trị và phẫu trị
Trên môït bình diện khác, người ta
thống kê có khoảng 70% trường hợp
phẫu trị đơn lẻ thất bại do còn sót tế bào
ung thư tại chỗ, tại vùng hoặc vì những
di căn vi thể đã có lúc mổ
Như vậy, việc phối hợp phẫu trị với xạ
trị và hóa trị là điều kiện tất yếu để đạt
được kết quả điều trị tốt nhất
Phối hợp trước mổ
Xạ trị đơn lẻ, hóa trị đơn lẻ hoặc kết
hợp cả xạ trị và hóa trị trước mổ có tác
dụng đối với một số dạng của ung thư
vú (bùng phát, lan rộng tại chỗ), ung
thư vùng đầu cổ (lan rộng) hoặc ung thư
trực tràng (xâm lấn chảy máu), chúng
có thể làm giảm bùng phát, giảm chảy
máu, gom nhỏ khối bướu tạo điều kiện
thuận lợi hơn cho phẫu thuật tận gốc
Hóa trị trước mổ được ứng dụng cho ung thư tinh hoàn và ung thư hậu môn, còn sarcôm cũng được một vài trung tâm áp dụng hóa trị bằng đường động mạch trước mổ
Phối hợp sau mổ Trong cuộc mổ, phẫu thuật viên có thể dùng những “kẹp” kim loại (clips) để đánh dấu phẫu trường, nơi nghi ngờ để lại mô bướu để giúp bác sĩ xạ trị xác định mô đích và định tâm trường chiếu chính xác cho xạ trị bổ túc sau mổ Xạ trị sau mổ làm giảm nguy cơ tái phát tại chỗ của ung thư Kết quả được ghi nhận đối với ung thư vú, sarcôm phần mềm, ung thư đầu cổ và ung thư trực tràng Phối hợp phẫu trị và xạ trị còn cho phép phát triển việc điều trị bảo tồn tuyến vú trong trường hợp ung thư vú với bướu nhỏ (cắt rộng bướu + nạo hạch nách + xạ trị) hoặc bảo tồn chi trong trường hợp sarcôm phần mềm (cắt rộng + xạ trị)
Hóa trị bổ túc sau mổ được sử dụng khá rộng rãi nhằm vào mục đích điều trị các vi di căn có thể đã có từ lúc chẩn đoán
Ngày nay, với những hóa chất đặc trị chọn lọc mới, với những chất kích nhạy xạ, với những phát triển mới về xạ sinh học, việc phối hợp xạ trị và hóa trị có thể có hiệu quả với nhóm carcicôm tế bào gai, ví dụ như ung thư cổ tử cung, ung thư thực quản, ung thư vùng đầu cổ giai đoạn tiến xa Mặc dù vậy, phẫu thuật viên vẫn phải chuẩn bị tư thế để cắt bỏ ung thư nguyên phát mà hóa trị
‟ xạ trị không kiểm soát được
Phối hợp trong mổ Xạ trị trong mổ là kỹ thuật điều trị phối hợp đang được nghiên cứu phát
Trang 11Phẫu thuật đặt buồng tiêm truyền
Một kỹ thuật ngoại khoa thường được
áp dụng cho bệnh nhân ung thư là mổ
đặt buồng tiêm truyền dưới da nối với
tĩnh mạch trung tâm hoặc động mạch
chọn lọc để hóa trị toàn thân (giảm
thiểu những tai biến có thể xảy ra khi
tiêm truyền hóa chất bằng đường tĩnh
mạch ngoại vi) hoặc để hóa trị chọn lọc
tại chỗ tại vùng
Phẫu thuật đặt đường dây dẫn nguồn
đồng vị phóng xạ
Trong phương pháp xạ trị trong xuất
liều cao nạp nguồn sau áp dụng cho ung
thư vú, ung thư phổi
PHẪU TRỊ UNG THƯ TRONG TƯƠNG
LAI
Có nhiều tiến bộ vượt bậc của khoa
học thực nghiệm, sinh học phân tử của
ung thư Chúng ta nghĩ đến một liệu
pháp gen làm con người sinh ra vô bệnh
tật, hay một loại thuốc chủng ngừa ung
thư như chủng ngừa đậu mùa, thậm chí
một liều thuốc truyền vào cơ thể mang
bệnh sẽ “cải tạo” các tế bào ung thư trở
lại thành tế bào bình thường và hiền
lành
Sát với thực tế hơn ta có thể nghĩ
đến với những tiến bộ trong miễn dịch
ung thư, việc sử dụng các kháng thể
đơn dòng gắn đồng vị phóng xạ sẽ giúp
rà tìm những vi ung thư ở giai đoạn cực
sớm để có thể dùng tia laser cắt lấy đi
không gây chảy máu, hoặc dùng các
chùm tia phóng xạ cực mạnh và siêu
chính xác đốt tiêu hoặc dùng các hóa
chất đặc trị cực tốt có độ đặc hiệu cao
đến tìm diệt các ổ ung thư đã được đánh dấu bằng đồng vị phóng xạ.Và biết đâu những kết quả nghiên cứu cơ chế sinh mạch và cơ chế ức chế sinh mạch sẽ mở
ra phương pháp kiểm soát khối bướu hữu hiệu hơn
Để có cái nhìn thực tế và cụ thể, thử điểm lại những lĩnh vực đang được tập trung nghiên cứu:
(1) Gia tăng sự nhận diện những hội chứng tiền ung, tìm cách ngăn chặn hoặc đảo ngược cơ chế sinh ung thư ở nhóm nguy cơ này bằng những khảo sát tiến trình gen sinh ung
(2) Phát hiện sớm: phẫu thuật với hướng dẫn của phóng xạ miễn dịch (RIGS - radio immunoguided surgery) sử dụng kháng thể đơn dòng MAb kết hợp với 125 I giúp cho phẫu thuật viên định vị trong lúc mổ những sang thương chưa phát hiện được trên lâm sàng Kỹ thuật này đặc biệt hữu hiệu để định vị bướu nguyên phát và các sang thương thứ phát của ung thư đại trực tràng, dạ dày và buồng trứng Với thời gian, các loại chẩn đoán miễn dịch như trên sẽ nhân lên, cho phép có nhiều loại kỹ thuật mổ chọn lọc cho từng bệnh nhân, từng giai đoạn bệnh
(3) Kỹ thuật Laser: khả năng ứng dụng laser như lưỡi dao cắt với tính chất
ưu việt hơn lưỡi dao cổ điển (ít chảy máu, tăng khả năng phẫu tích các mô, làm giảm biến dạng, làm sự lành vết thương nhanh hơn) càng ngày càng được tận dụng và hứa hẹn nhiều cải tiến trong kỹ thuật mổ Kỹ thuật hỗ trợ bằng robot đang được sử dụng ngày càng phát
Trang 12158
triển, và có khả năng là chuẩn mực
của phẫu thuật tương lai
(4) Liệu pháp kháng thể đơn dòng: sự
chuyên biệt của kháng thể đã được
ứng dụng trong chẩn đoán miễn
dịch nay đang được nghiên cứu, sử
dụng như một tác nhân trị liệu đầy
hứa hẹn
(5) Liệu pháp miễn dịch sử dụng
những chất thay đổi đáp ứng sinh
học và tế bào lymphô: đầu tiên là
những tế bào LAK (Lymphokine
Activated Killer) được đưa vào sử
dụng, sau đó đã được hoàn chỉnh để
làm giảm độc tính và tăng hoạt
tính Tiếp theo là những công trình
đưa vào tế bào lymphô xâm nhập
bướu (tumor infiltrating
lympho-cyte) và những chất thay đổi đáp
ứng sinh học khác như
interleukine-4, interleukine-6, yếu
tố hoại tử bướu, interferon ,
interferon Càng nghiên cứu,
càng hiểu rõ tác dụng miễn dịch
của từng chất sẽ làm tăng khả năng
điều trị của những chất đó
Với những nghiên cứu nêu trên, điều
trị ung thư trong tương lai sẽ thay đổi
theo hướng đặc thù hơn, và đương
nhiên phẫu trị ung thư cũng sẽ đặc thù
hơn và chắc chắn sẽ nhẹ nhàng, ít tàn
phá hơn
PHẪU THUẬT VIÊN UNG THƯ
Phẫu thuật viên ung thư có những
khác biệt so với các đồng nghiệp ngoại
tổng quát Với những tiến bộ cực nhanh
trong các lĩnh vực phẫu trị, xạ trị, hóa trị
và những liệu pháp mới như liệu pháp
miễn dịch, liệu pháp dùng nhiệt độ cao, người phẫu thuật viên phải đứng ở một
vị trí đặc biệt để hỗ trợ việc kết hợp những phương thức trên trong điều trị cho từng bệnh nhân Điều quan trọng khác là phẫu thuật viên ung thư phải được huấn luyện một cách đặc biệt để giúp họ hiểu được những khuynh hướng khác biệt và ứng dụng được khả năng của những khuynh hướng này vào điều trị
Phẫu thuật viên ung thư phải thực hiện được những thao tác kỹ thuật riêng biệt, phức tạp ví dụ như cắt khoang cơ có sarcôm phần mềm hay cắt chậu toàn phần, những kỹ thuật mà phẫu thuật viên tổng quát thường không làm Về mặt kỹ năng phẫu thuật viên ung thư phải am tường các thao tác chuyên biệt như nối ruột, nối mạch máu, nối thần kinh, các kỹ thuật tạo hình cơ bản đủ để ứng phó trong một vài tình huống mà ung thư xâm lấn đến các cấu trúc lân cận phải cắt bỏ
Phẫu thuật viên ung thư còn phải tham gia vào những công trình nghiên cứu thực nghiệm lâm sàng và khoa học
cơ bản trong ung thư
Phẫu thuật viên ung thư phải phối hợp với các bác sĩ nội khoa ung thư, bác
sĩ xạ trị và các chuyên ngành khác trong công tác chăm sóc và điều trị bệnh nhân và xây dựng những chuẩn mực tối
ưu cho điều trị
Sau cùng phẫu thuật viên ung thư phải tham gia đào tạo huấn luyện về phẫu trị ung thư cho đối tượng bác sĩ nội trú, bác sĩ trẻ và bác sĩ sau đại học
Trang 13159
CẤP CỨU NGOẠI KHOA TRONG UNG THƯ
Đối với bệnh lý ung thư khi bệnh
nhân nhập viện trong bệnh cảnh cấp
cứu bệnh thường đã diễn tiến nặng do
đó việc xử trí phải cân nhắc giữa giai
đoạn bệnh, tổng trạng của bệnh nhân,
khả năng chữa khỏi cũng như mong
muốn của bệnh nhân và người thân từ
đó người thầy thuốc cân nhắc làm cơ sở
để đưa ra các quyết định phù hợp nhất
Ngoài ra, trong hoàn cảnh cấp cứu bác
sĩ cũng cần chú ý đến các nguyên nhân
khác không phải do khối bướu gây ra
nhằm tránh bỏ sót những trường hợp có
thể trị được
Trong cấp cứu bệnh nhân ung thư
các bước xử trí cũng tuân theo nguyên
tắc chung khi tiếp nhận bệnh nhân đến
trong tình trạng nguy kịch khác bao
gồm giữ vững thông khí, duy trì tình
trạng huyết động ổn định, tuy nhiên đa
phần bệnh nhân ung thư đã có quá
trình diễn tiến bệnh lâu dài nên tổng
trạng thường suy kiệt, cơ quan mang
bướu bị phá hủy nghiêm trọng và bệnh
có thể lan tràn đến nhiều cơ quan khác
do đó việc điều trị vừa phải giải quyết
triệu chứng cấp vừa phải hướng đến
bệnh lý gốc
Trong phần này, chúng ta chỉ đề cập
đến một số tình huống cấp cứu thường
gặp đối với bệnh ung thư, đặc biệt về xử
Biểu hiện của tắc nghẽn đường hô hấp trên: khó thở thì hít vào, co kéo cơ hô hấp phụ và tiếng rít thanh quản Xử trí bằng ba phương pháp chính (1) mở khí quản cấp cứu, (2) cắt thanh quản cấp cứu, (3) đặt ống nội khí quản kèm cắt giảm tổng khối bướu nhằm tái lập sự thông thoáng cho đường thở (hiện nay thực hiện chủ yếu bằng laser) Mở khí quản cấp cứu
Đây là phương pháp thông dụng nhất, không cần đào tạo và trang bị chuyên biệt, phần lớn bệnh viện và bác
sĩ đa khoa có thể thực hiện được giúp tái lập thông khí nhanh chóng Tuy nhiên việc thực hiện thủ thuật này trong hoàn cảnh cấp cứu khá khó khăn và người ta
lo ngại tế bào bướu có thể gieo rắc tại vị trí mở khí quản cũng như tăng tỷ lệ nhiễm trùng khi thực hiện cắt thanh quản toàn phần sau đó
Trang 14160
Tái phát tại lổ mở khí quản sau cắt
thanh quản được định nghĩa là tình
trạng mô bướu thâm nhiễm lan tỏa tại
nơi tiếp giáp giữa sụn khí quản và da cổ,
một trong những nguyên nhân chính
khiến bệnh nhân tử vong Việc điều trị
tình trạng này hết sức khó khăn, tỷ lệ
thành công thấp, phần lớn bệnh nhân
(khoảng 80%) tử vong trong vòng 2
năm Mở khí quản cấp cứu có làm tăng
tỷ lệ tái phát tại lỗ mở khí quản hay
không vẫn còn tranh cãi tuy nhiên
những nghiên cứu gần đây cho thấy
dường như mở khí quản cấp cứu không
làm tăng tỷ lệ tái phát, các yếu tố gây
nguy cơ tái phát gồm có giai đoạn bệnh,
bướu lan hạ thanh môn và di căn đến nhóm hạch cạnh khí quản
Vị trí mở khí quản cũng có nhiều tranh cãi, một số tác giả chủ trương mở thấp nhằm tránh bóc tách vào mô bướu trong trường hợp bướu lan hạ thanh môn, hạn chế tái phát, các tác giả khác cho rằng nên mở khí quản cao, thậm chí xuyên qua mô bướu do lỗ mở khí quản sẽ được cắt trọn cùng với thanh quản sau đó, tuy nhiên một số bệnh nhân sau khi được mở khí quản và tư vấn có thể từ chối phẫu thuật, xạ trị trong những trường hợp này sẽ khó khăn hơn
Hình 1 Mở khí quản cấp cứu
Trang 15161
Cắt thanh quản cấp cứu
Được xem làm cắt thanh quản cấp
cứu khi phẫu thuật được tiến hành trong
vòng 24 giờ sau khi nhập viện, bệnh
nhân chưa được điều trị và không có
chẩn đoán mô học trước đó Phương
pháp này nhằm hạn chế mở khí quản
cấp cứu, giảm thiểu các nguy cơ liên
quan đến mở khí quản Thủ thuật mở
khí quản ngay trước khi tiến hành cắt
thanh quản cấp cứu không gây tăng
nguy cơ tái phát tại lỗ mở khí quản sau
đó
Tuy nhiên, nhiều tác giả không ủng
hộ cách xử trí này do cần phải có kết
quả cắt lạnh xác định ung thư trước khi
phẫu thuật nên một số tình huống cắt
lạnh âm tính bệnh nhân vẫn phải chờ
vài ngày để khảo sát lại, ngoài ra những
hạn chế của cắt lạnh không thể tránh
khỏi, bệnh nhân chưa được đánh giá đầy
đủ về giai đoạn, sang thương nguyên
phát kèm theo, chuẩn bị về dinh dưỡng
cũng như tư vấn tâm lý trước mổ Do đó
hiện nay một số tác giả vẫn ủng hộ việc
mở khí quản cấp cứu và tiến hành cắt
thanh quản trì hoãn trong vòng vài ngày
sau đó với kết quả về sống còn và tái
phát không khác biệt so với cắt thanh
quản cấp cứu
Đặt ống nội khí quản kèm cắt giảm tổng
khối bướu
Những năm gần đây việc áp dụng
laser CO2 vào điều trị những trường hợp
tắc nghẽn đường hô hấp trên do bướu
được nghiên cứu rộng rãi Laser CO2 có
tác dụng làm bốc hơi bướu, cầm máu
tốt, ít gây phù nề hơn so với dùng đốt
điện hoặc dụng cụ thông thường Một số
tác giả lo ngại việc cắt ngang bướu có
thể gây gieo rắc tế bào bướu vào đường
hô hấp, làm tăng nguy cơ tái phát tại
chỗ và di căn, tuy nhiên những nghiên cứu gần đây cho thấy việc sử dụng laser
CO2 không liên quan đến tái phát và di căn mà chủ yếu vẫn là giai đoạn bệnh và di căn hạch dọc khí quản Sau khi tái lập thông khí bệnh nhân sẽ được đánh giá và điều trị cụ thể theo từng giai đoạn, phương pháp này cho phép điều trị không phẫu thuật bằng xạ trị có thể kèm theo hóa trị cũng điều trị giải quyết triệu chứng trong trường hợp bướu lan rộng, tránh phải mở khí quản cho bệnh nhân
Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi sự phối hợp tốt giữa phẫu thuật viên và bác sĩ gây mê do việc đặt nội khí quản khó khăn, một số trường hợp phải dùng ống soi mềm để hướng dẫn Khi đặt nội khí quản thất bại phải tiến hành mở khí quản cấp cứu nhất là khi bướu lan rộng hạ hầu, 3 tầng thanh môn Chảy máu sau mổ là biến chứng đáng lo ngại của phương pháp này với tỷ lệ 1,4- 10,7%, viêm phổi hít, tràn khí màng phổi hiếm khi xảy ra
CẤP CỨU NGOẠI KHOA ĐƯỜNG TIÊU HÓA
Thủng đường tiêu hóa Thủng có thể do bướu xâm lấn làm thủng lòng ruột cũng có thể do các phương pháp điều trị như xạ trị hoặc hóa trị, ngoài ra việc sử dụng các thuốc kháng viêm không steroid, corsticoid trên cơ địa bệnh nhân đã có tổn thương
do bướu cũng làm tăng nguy cơ thủng ruột
Biểu hiện lâm sàng: đau bụng đột ngột kèm theo triệu chứng nhiễm trùng (sốt, bụng đề kháng, bạch cầu tăng) Tùy vào vị trí thủng, kích thước lổ thủng và tính chất dịch tiêu hóa (dịch dạ dày
Trang 16162
hoặc phân của đại tràng) cũng như sức
đề kháng của bệnh nhân mà biểu hiện
lâm sàng có thể thay đổi Cận lâm sàng
bao gồm các xét nghiệm đánh giá tình
trạng nhiễm trùng (công thức máu,
CRP…), các xét nghiệm xác định tình
trạng thủng và ổ bụng (Xquang bụng
đứng không sửa soạn, CT Scan bụng,
siêu âm .) cũng như các xét nghiệm
khác đánh giá tình trạng của bệnh
nhân
Nhìn chung, bệnh nhân phải được
phẫu thuật nhằm xử trí lổ thủng cũng
như tình trạng viêm nhiễm ổ bụng, tuy
nhiên mức độ phẫu thuật sẽ tùy vào
từng bệnh nhân Nếu sang thương có
thể phẫu thuật triệt để được, phẫu thuật
sẽ được thực hiện ngay lúc mổ cấp cứu
hoặc sau khi giải quyết tình trạng viêm
nhiễm trước Nếu sang thương không
mổ triệt để được hoặc do tác dụng phụ
của xạ trị hoặc hóa trị, xử trí có thể chỉ
khâu lổ thủng đơn thuần kèm rửa ổ
bụng Trong một số trường hợp nếu
bệnh nhân tổng trạng quá suy kiệt,
bệnh lan tràn khắp ổ bụng, việc xử trí
chỉ nhằm giảm đau và giảm nhẹ triệu
chứng cho bệnh nhân, bác sĩ cần giải
thích rõ điều này với bệnh nhân cũng
như thân nhân trước khi đưa ra quyết
định
Tắc nghẽn đường tiêu hóa
Tắc nghẽn đường tiêu hóa là biến
chứng thường gặp do khối bướu gây ra
Tắc nghẽn có thể do bướu xâm lấn làm
hẹp lòng ruột hoặc cũng có thể do từ
ngoài chèn ép vào Lý do phải cấp cứu là
do nguy cơ thủng ruột, mất nước, suy
thận cấp, sốc nhiễm trùng, hoại tử ruột
và viêm phúc mạc
Nhìn chung, tắc nghẽn do bướu
thường có triệu chứng bán tắc trước đó
và tùy vào vị trí tắc nghẽn sẽ có biểu hiện tương ứng Hẹp môn vị thường gây nôn ra thức ăn chưa được tiêu hóa, lượng thức ăn ứ đọng ngày càng nhiều
do dạ dày dãn rộng nên lượng dịch nôn ngày càng lớn, chướng bụng khu trú vùng thượng vị và hạ sườn trái Tắc đại tràng thường có biểu hiện rối loạn đi cầu trước đó, nôn thường xảy ra trễ hơn, thức ăn đã được tiêu hóa và có thể nôn
ra phân Đau bụng là triệu chứng thường gặp, tính chất là đau quặn từng cơn, cường độ tăng dần Bí trung đại tiện khi bướu gây tắc hoàn toàn lòng ruột, bụng chướng toàn bộ Thường được chẩn đoán chắc chắn khi không có nhu động ruột trên 24 giờ, hoặc hậu môn nhân tạo không hoạt động trên 8 giờ Bệnh nhân có thể bị sốt, nhịp tim nhanh hay dấu hiệu phúc mạc kèm theo
Chụp Xquang bụng đứng không sửa soạn cho hình ảnh mực nước-hơi, tùy vào vị trí tắc nghẽn, mức độ tắc nghẽn và thời gian tắc nghẽn mà toàn bộ ruột hay chỉ một phần biểu hiện trên Xquang
CT scan bụng cho hình ảnh chính xác hơn và có thể thấy được vị trí tắc nghẽn nếu bướu lớn cũng như tình trạng ổ bụng kèm theo
Xquang đại tràng cản quang xác định tình trạng tắc ruột cơ học và vị trí chính xác, nếu nghi ngờ có thủng kèm theo nên dùng chất cản quang tan trong nước
Nội soi ống tiêu hóa cũng nhằm xác định tình trạng và vị trí tắc, hiện nay qua nội soi có thể phối hợp với việc đặt stent nhằm tạo thông nối ruột
Mức độ xử trí tùy thuộc vào mức độ lan rộng của bướu, tình trạng bệnh
Trang 17163
nhân Nếu bướu còn khu trú và tổng
trạng bệnh nhân cho phép có thể tiến
hành phẫu thuật triệt để Đối với những
trường hợp bướu lan tràn không phẫu
thuật triệt để được, phẫu thuật chỉ
nhằm giải quyết triệu chứng, nối tắt
(nối vị tràng), mở thông đại tràng trên
bướu hoặc đặt stent qua bướu
Nếu tình trạng tắc nghẽn không quá
nghiêm trọng, không đe dọa gây vỡ đại
tràng, việc hồi sức nội khoa, bù nước
điện giải có thể tạm thời giải quyết tắc
nghẽn, tạo điều kiện chuẩn bị ruột cũng
như khảo sát tình trạng bệnh tốt hơn
Hiện nay, phương pháp dùng stent để
tạo thông nối qua bướu đang được áp
dụng rộng rãi, tỷ lệ thành công đến
90%, mục đích nhằm tạo thông nối vĩnh
viễn trong những trường hợp không mổ
được hoặc thông nối tạm thời nhằm
chuẩn bị tốt hơn cho cuộc mổ triệt để
sau đó Kết quả cho thấy sau khi giảm
áp tạm thời bằng stent và phẫu thuật
triệt để sau đó, bệnh nhân có thời gian
nằm viện ngắn hơn và tránh được biến
chứng mở hậu môn nhân tạo nhiều hơn
so với phẫu thuật cắt đại tràng cấp cứu
MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CẤP CỨU KHÁC Tắc nghẽn đường tiết niệu
Bệnh nhân ung thư cổ tử cung hay các loại ung thư khác ở vùng chậu có thể gây nên tình trạng tắc nghẽn niệu quản, dẫn đến tình trạng suy thận sau thận Tình trạng tắc nghẽn này thường gây ra do bướu tái phát hay do biến chứng của xạ trị Điều trị thường là đặt stent niệu quản (sonde JJ) Trong trường hợp đặt stent thấy bại, chúng ta thường phải tiến hành mở niệu quản hay mở thận ra da Riêng đối với trường hợp chít hẹp do hậu quả của xạ trị, chúng ta có thể tiến hành tạo hình niệu quản ở vị trí hẹp, hoặc cắt một phần và cắm lại niệu quản vào bàng quang Một số trung tâm thực hiện nối đoạn trên của niệu quản bị hẹp vào niệu quản còn lại (chưa bị hẹp) để đưa nước tiểu xuống bàng quang
Hình 2 Mở hậu môn nhân tạo trên bướu
Trang 18164
Một số trường hợp tắc nghẽn đường
tiểu dưới gây bí tiểu như ung thư tiền
liệt tuyến, ung thư dương vật, ung thư
âm hộ, chúng ta phải thực hiện dẫn lưu
nước tiểu bằng cách mở bàng quang ra
da nếu không thể phẫu thuật lấy đi khối
bướu
Xuất huyết
Trên thực tế, có một số trường hợp
bướu xâm lấn vào các mạch máu lớn gây
xuất huyết không tự cầm được mà bắt
buộc chúng ta phải can thiệp phẫu
thuật Chẳng hạn, đối với một khối bướu
vùng bẹn xâm lấn động mạch chậu
ngoài, chúng ta phải tiến hành thắt
động mạch chậu ngoài, một khối bướu
gan bị vỡ, phải tiến hành cột động mạch
gan để cầm máu Một khối bướu vùng
đầu cổ gây xuất huyết, đôi khi, chúng ta
phải xét chỉ định cột động mạch cảnh
ngoài hay động mạch cảnh chung cùng bên
Nhiễm trùng Điều trị một ổ nhiễm trùng đối với bệnh nhân ung thư cũng tương tự các trường hợp khác Bệnh nhân bị nhiễm trùng tạo thành ổ abces kín hay tụ mủ ở một hốc tự nhiên nào đó cần phải được thoát lưu kết hợp với điều trị nội khoa Viêm phúc mạc đối với bệnh nhân tổng trạng quá kém không chịu được một phẫu thuật lớn, thì tối thiểu cũng phải được dẫn lưu ổ bụng
Tóm lại, bệnh nhân ung thư khi đến trong bệnh cảnh cấp cứu phần lớn đều có tiên lượng kém nên việc xử trí phải cân nhắc, lựa chọn phương pháp và cần có sự trao đổi với bệnh nhân và người thân nhằm đưa ra quyết định phù hợp nhất
Trang 19165
Chương 6 XẠ TRỊ UNG THƯ
ĐỊNH NGHĨA
Xạ trị là phương pháp dùng các bức
xạ ion-hóa vào điều trị các bướu ung
thư
Các bức xạ ion-hóa là những chùm
tia mang năng lượng rất cao, khi chiếu
vào vật chất sẽ bứt rời các hạt điện tử
(electron) ra khỏi nguyên tử của vật
chất đó, tạo nên những ion
Tầm hoạt động của xạ trị nhằm kiểm
soát ung thư tại chỗ, tại vùng
VÀI NÉT LỊCH SỬ
Tháng 11/1895 Roentgen phát minh
ra tia X
Tháng 3/1896 Becquerel tìm ra sự
phóng xạ từ quặng Uranium
Tháng 7/1898 ông bà Curie phân lập
được chất phóng xạ thiên nhiên Radium
ra khỏi quặng Uranium
Đầu thế kỷ XX, tia X và tia phóng xạ
được ứng dụng vào chẩn đoán và điều
Các bức xạ dùng trong điều trị ung
thư có hai dạng dạng sóng điện từ và
dạng hạt Các bức xạ này có các bản chất khác nhau, di chuyển với những vận tốc khác nhau, và có khả năng tạo
ra các ion trong các vật chất mà chúng xuyên thấu Các tia phóng xạ được dùng trong xạ trị thường có mức năng lượng từ vài chục keV đến vài chục MeV Dạng sóng điện từ (tia photon) gồm tia X và tia gamma Tia gamma là dạng sóng điện từ mang năng lượng cao phát
ra từ quá trình phân rã các nguyên tố đồng vị phóng xạ thiên nhiên hoặc nhân tạo Các máy tia X, tùy vào cấu trúc có thể phát ra các chùm tia với những mức năng lượng thấp hoặc cao khác nhau
Sự gia tốc nhân tạo các hạt trung hòa tử (neutron), dương điện tử (proton), ion nặng, và nhất là các chùm tia electron và hạt bêta Chùm tia electron cũng được phát ra từ máy phát tia X Hạt bêta được phát ra trong quá trình phân rã các nguyên tố đồng vị phóng xạ
Tác động vật lý Tương tác âm điện tử và vật chất: (1) Tương tác điện tử - điện tử (đụng) (2) Tương tác điện tử - nhân (thắng) quang tử X
Trang 20166
Tương tác hạt nặng - vật chất
(1) Proton, ions tác động như âm điện
tử
(2) Neutron đụng vào nhân sẽ phóng
thích các proton và điện tử
Tương tác quang tử - vật chất
Hai tương tác quan trọng là:
(1) Hiệu ứng Compton
(2) Hiệu ứng quang điệân
Ba hiệu ứng ít quan trọng hơn trong
Các gốc tự do kết hợp lại R1* + R3*
R1:R3 các biến đổi như sự gãy vỡ
và sự tạo mới các cầu nối giữa các phân
tử
Gián tiếp
Sự thủy phân tạo các gốc tự do, oxy
hóa HO-, khử H+ phản ứng hóa học,
thường thấy là tạo ra H2O2 chất độc cho tế bào
Tác động trên tế bào
Cơ bản nhất là tác động trên AND hơn là trên ARN của tế bào chất, hay trên màng tế bào Phân tử DNA bị tổn thương khả năng nhân đôi hoặc tổng hợp khiến cho tế bào chết từ từ Nếu tổn thương trên chuỗi DNA không nhiều, tế bào có thể huy động hệ thống men sửa chữa đến hàn gắn lại các đoạn DNA này Tuy nhiên do tính khẩn cấp, việc sửa chữa này có thể để lại sai sót trên chuỗi DNA Đó là những đột biến gen mà nếu sau này không được loại bỏ đi sẽ tích lũy và có thể là nguồn gốc của hiện tượng ung thư hóa cho các tế bào hậu duệ Điều này quan trọng đối với các tế bào mô lành và các tế bào sinh dục Các sang thương trên tế bào có ba mức độ (1) sang thương gây chết tế bào, (2) sang thương dưới chết và (3) sang thương có khuynh hướng chết
Tia X , γ Tác động vào vật chất Hiệu ứng quang điện Hiệu ứng Compton Hiệu ứng tạo cặp
Âm điện tử vận tốc cao Sự ion hóa Tạo thành các gốc tự do Tác hại lên DNA
Các sự kiện sinh học (Tế bào chết ở lần phân chia sau, sự đột biến tế bào)
Hình 1 Tổn thương trên tế bào do tia xạ.
Trang 21167
Sang thương gây chết tế bào không
hồi phục, ảnh hưởng trên chức năng
sống của tế bào Tế bào chỉ chết ngay
tức khắc với liều vài trăm Gy, còn liều
điều trị các tế bào thường không chết
ngay mà sẽ chết từ từ do sự phân bào bị
ức chế
Sang thương dưới chết (sublethal)
một sang thương không gây được cái
chết và có thể hồi phục, nhiều sang
thương sẽ đưa đến cái chết tế bào
Sang thương có khuynh hướng chết
chỉ gây chết khi có sự phân bào nhanh,
nhưng có thể tự sửa chữa nếu có các
điều kiện thích hợp
Tác động trên mô
Mô sẽ đặc biệt nhạy xạ nếu chứa
nhiều thành phần tế bào đang trong giai
đoạn phân bào (pha M-mitosis) hoặc
chuẩn bị phân bào (pha G2) của chu kỳ
tế bào
Mô lành ít bị tổn thương hơn mô ác tính do mô ung thư chứa nhiều thành phần tế bào đang sinh sản
Tế bào càng phân chia nhanh, tác dụng của xạ trị càng rõ, biến chứng thấy sau 2, 3 ngày đối với niêm mạc ruột, và
3 tuần đối với da
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TÁC ĐỘNG CỦA TIA PHÓNG XẠ
Yếu tố Oxy Bệnh nhân thiếu máu hoặc vùng mô
bị chiếu xạ thiếu máu nuôi, hoại tử, sẽ ít nhạy với xạ trị
Trong môi trường có đủ oxy, oxy kết hợp các gốc hóa học tự do tạo ra các chất peroxydes độc cho tế bào
Yếu tố liều xạ Liều xạ tăng, hiệu quả tăng nhưng biến chứng muộn trên mô lành cũng tăng theo Liều xạ được tính bằng Gray (Gy)
Hình 2 Tác độ tia xạ trên tế bào
Trang 22168
Hình 3 Tương quan liều và hiệu quả của xạ trị.
Yếu tố thời gian và sự phân liều
Có một số thuật ngữ và khái niệm
thường được dùng trong xạ trị Tổng
thời gian xạ trị là thời gian từ ngày xạ
thứ nhất đến ngày xạ cuối (số ngày)
Tổng liều xạ là tổng liều mà bệnh nhân
nhận trong suốt cuộc xạ trị Phân liều là
liều xạ bệnh nhân nhận vào mỗi lần xạ
Sự phân nhỏ tổng liều thành phân
liều rải đều trong một thời gian dài giúp:
(1) Sửa chữa các tổn thương tế bào,
trong thời gian nghỉ ngơi giữa
hai lần chiếu xạ
(2) Tái tạo dân số tế bào, do các tế
bào sống sót sinh sản (có lợi cho
mô lành)
(3) Tái cung cấp oxy cho các vùng tế
bào thiếu oxy
(4) Tái phân bố các pha, chu kỳ các
tế bào
Yếu tố nhạy xạ nội tại
Mô có khả năng tự sửa chữa kém nên
nhạy xạ Vd mô sinh dục, mô thận, mô
tạo huyết; một số carcinôm, lymphôm,
sêminôm
Mô có khả năng tự sửa chữa mạnh
nên kém nhạy xạ Vd mô thần kinh, mô
cơ; bướu nguyên bào thần kinh đệm,
mêlanôm
TÁC ĐỘNG LÊN MÔ BƯỚU Vận tốc tăng trưởng của mô bướu tùy thuộc:
(1) Thời gian của chu kỳ tế bào, trung bình từ 2 đến 4 ngày, nhưng có sự khác biệt rất lớn giữa các tế bào trong mô bướu (2) Hệ số tăng trưởng của bướu, là phần trăm số tế bào đang phân chia, thay đổi từ 0,3% đến 100% (3) Hệ số mất tế bào (coefficient de perte cellulaires), có thể lên tới 90%, do sự biệt hóa tế bào, do số tế bào chết trong lúc phân bào và
do sự di dân của tế bào ra khỏi bướu
Xác suất quét sạch các tế bào sinh clôn tùy thuộc nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là:
(1) Liều tia: mức độ tiêu diệt bướu tăng dần theo liều tia trong một giới hạn nào đó, và các nghiên cứu cũng cho thấy thường chỉ cần tăng thêm vài Gy thì mức độ tiêu diệt bướu cũng có thể tăng từ 50% lên đến 90%
(2) Khối lượng bướu: các bướu lớn thường khó tiêu diệt (một phần
vì thiếu oxy) hơn các bướu nhỏ;
Trang 23169
và liều tia để quét sạch các tế bào
bướu xâm lấn vi thể thấp hơn
liều tia cần cho bướu đã ở mức
độ phát hiện được trên lâm sàng
(3) Loại giải phẫu bệnh: một số
bướu rất nhạy tia (seminôm,
lymphôm ác .), một số bướu
nhạy tia trung bình (hầu hết các
carcinôm), và các bướu ít nhạy
tia (melanôm, sarcôm )
Không có mối tương quan hằng định
giữa khả năng trị khỏi của bướu với vận
tốc thu nhỏ của bướu sau xạ trị
TÁC ĐỘNG LÊN MÔ LÀNH
Có hai loại tác động lên mô lành:
(1) Các phản ứng sớm xuất hiện vài
ngày hay vài tuần sau xạ trị, do
sự chết một số lớn tế bào trong
mô có sự tăng trưởng nhanh, sẽ
phục hồi sau vài tuần do sự tái
lập dân số từ các tế bào mầm
còn lại
(2) Các phản ứng muộn xuất hiện
vài tháng tới nhiều năm sau, và
do tác động lên các mô phát
triển chậm Thường ít hồi phục
do mô bị xơ chai, mất chức năng
Tất cả biến chứng phải được dự kiến
và giảm thiểu tối đa khi lập kế hoạch xạ
trị
Các yếu tố thường tạo nên tác động
do tia phóng xạ là khối lượng mô lành bị
chiếu tia, tổng liều tia xạ, thời gian tia
và số phân liều
Tác động của xạ trị sẽ gia tăng rõ rệt
do các liệu pháp kết hợp xạ trị với hóa
trị hay phẫu trị
AN TOÀN PHÓNG XẠ Các nghiên cứu về xạ sinh học cho thấy sự nhiễm bức xạ ion hóa và sự nhiễm chất phóng xạ dẫn đến nguy cơ trên phôi và thai (gây quái thai, sẩy thai, sinh non), nguy cơ sinh ung, và nguy cơ gây rối loạn gen
Việc sử dụng các chất phóng xạ và bức xạ ion hóa trong môi trường bệnh viện cũng đòi hỏi những biện pháp phòng hộ nghiêm ngặt nhằm bảo vệ sức khỏe cho bệnh nhân, nhân viên và tránh gây ô nhiễm môi trường xung quanh
CÁC PHƯƠNG PHÁP XẠ TRỊ Xạ trị ngoài
Định nghĩa các khối lượng mô được xạ trị
Thể tích bướu toàn thể (Gross Tumor Volume-GTV) là khối lượng bướu trên lâm sàng kể cả các hạch vùng
Thể tích xạ lâm sàng (Clinical Target Volume-CTV) gồm GTV và một rìa bên ngoài bao trùm các phần bướu vi thể Thể tích xạ kế hoạch (Planning Target Volume-PTV) gồm CTV và một vành bên ngoài dành cho sự sai số khi đặt trường chiếu và sự di động khi điều trị như sự di động theo nhịp thở
Các trường chiếu Trường chiếu đơn: sang thương ngoài
da, nông dưới da (hạch cổ, nách, bẹn) Trường chiếu đối song song: sang thương ở trục cơ thể, nằm sâu gần mặt phẳng giữa cơ thể (tử cung, phổi ) Trường chiếu kết hợp: 3 trường chiếu (vòm hầu), 4 trường chiếu (vùng chậu)
Trang 24170
Bảng 1 Các phương pháp xạ trị
Loại tia Nguồn phát tia Năng lượng Ứng dụng
4-25 MeV
Các ung thư da nông Điều trị tạm bợ các ung thư lan rộng, các bướu dưới da và di căn xương Đôi khi sử dụng điều trị tận gốc ung thư da, bổ sung trong ung thư vú Điều trị tận gốc và tạm bợ các bướu nằm trong sâu
Điều trị bướu vùng đầu cổ
Aâm điện tử năng
lượng cao
Máy gia tốc thẳng 4-20 MeV Điều trị tận gốc và tạm bợ các bướu ở
da và bướu ngoài bề mặt
Hình 4 Thể tích xạ trị
Các mô đích
Bướu nguyên phát (vú, vòm hầu)
Hạch vùng (hạch cổ- ung thư đầu cổ;
hạch nách- ung thư vú, ung thư phổi)
Bướu nguyên phát và hạch vùng (ung
thư cổ tử cung- hạch chậu)
Di căn xa (xương)
Sự phân liều Phân liều chuẩn:
(1) Từ năm 1930 phân liều 2Gy/ 5 lần/ tuần Hiện nay có khuynh
Trang 25Đa phân liều: xạ 2 hoặc 3 lần /ngày
với liều nhỏ hơn phân liều chuẩn
(1,15-1,3 Gy/ lần)
Gia tốc: tia 2 lần/ ngày với liều gần
bằng hay bằng phân liều chuẩn (1,5-2
Gy), rút ngắn thời gian điều trị, biến
chứng cao
Giảm phân liều: tăng liều mỗi lần tia
(5 Gy/ 1 lần/ ngày), rút ngắn thời gian
điều trị Hiện ít được sử dụng vì các biến
chứng nặng nề
Mô phỏng
Bước chuẩn bị tối cần thiết cho việc
điều trị, xác định trường chiếu trên
người bệnh nhân, giúp cho việc điều trị
được chính xác
Với các hình ảnh chụp trường chiếu
từ máy mô phỏng, việc tính liều tia sẽ
được thực hiện một cách chính xác cho
từng bệnh nhân
Trước đây mô phỏng 2D bằng
Xquang, dựa trên các mốc xương được
sử dụng rộng rãi, nhất là ở các nước
đang phát triển
Hiện này, kỹ thuật xạ trị sát hợp mô
đích 3D được ứng dụng rộng rãi ở nước
ta Hình ảnh mô phỏng 3D được dựng
hình sau khi chụp CT scan Một số
nghiên cứu đang áp dụng MRI và PET
scan để mô phỏng Kỹ thuật mô phỏng
4D kết hợp thêm sự thay đổi trường
chiếu do sự chuyển động của các cơ
quan theo thời gan
Kỹ thuật xạ trị điều biến cường độ
(IMRT - Intensity-Modulated Radiation
Therapy) được sử dụng ngày càng
nhiều Đây là kỹ thuật xạ trị mà cường
độ của từng chùm tia nhỏ trên từng
vùng của bướu hay mô lành đều được tính toán và thay đổi trong quá trình điều trị bằng hệ thống vi tính
Xạ trị tiếp cận Chỉ định Phối hợp với xạ trị ngoài: đây là chỉ định thường được sử dụng để giảm các biến chứng lên mô lành, tăng liều tại bướu
Phối hợp với phẫu trị: giảm khối lượng bướu giúp phẫu thuật dễ dàng hơn
Điều trị đơn thuần: ít có chỉ định, chỉ sử dụng cho các trường hợp phát hiện sớm (giai đoạn 0 hay IA) hay các sang thương vi thể còn lại sau phẫu thuật Nguyên tắc chung
“Cường độ phóng xạ tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách”
Với nguyên tắc này, nguồn phóng xạ được đưa vào sát sang thương, sát các tế bào ung thư, như thế liều xạ sẽ rất cao tại chỗ, còn các mô lành chung quanh sẽ nhận được liều xạ rất thấp
Các vị trí Tất cả các vị trí trong cơ thể mà các kỹ thuật hiện nay có thể với tới được như ung thư phụ khoa, ung thư đầu cổ, ung thư phế quản, ung thư thực quản Các loại xạ trị tiếp cận
Theo thời gian điều trị (1) Xạ trị tiếp cận vĩnh viễn: dùng các đồng vị phóng xạ có thời gian bán hủy ngắn, và sẽ được để lại vĩnh viễn trong mô được điều trị (Au 198)
(2) Xạ trị tiếp cận có thời hạn: được sử dụng phổ biến nhất hiện nay, đồng vị phóng xạ được đưa vào sát mô bướu và để lại đó trong một thời gian xác định, sau đó được rút ra
Trang 26172
Bảng 2 Các đồng vị phóng xạ thường dùng trong xạ trị tiếp cận
Đồng vị phóng xạ Thời gian bán huỹ Năng lượng Ứng dụng
Hiện được thay thế bởi Césium
137 và Iridium 192
Iridium 192 74 ngày 0,33-0,61 MeV Sợi chỉ và hạt nhỏ như hạt gạo
Suất liều thầp và Suất liều cao Vàng 198 2,7 ngày 0,41 MeV Hạt dùng cho xạ trị trong mô và
khuôn áp bề mặt Cobalt 60 5,3 năm 1,17-1,33 MeV Ống dùng cho xạ trị trong hốc
Suất liều thấp và Suất liều cao
thương ở mắt
Theo vị trí sang thương
(1) Xạ trị tiếp cận trong hốc: ung
thư cổ tử cung, ung thư vòm
hầu
(2) Xạ trị tiếp cận trong mô: ung
thư vú, ung thư hốc miệng, ung
thư tiền liệt tuyến
(3) Xạ trị tiếp cận trong lòng ống:
ung thư phế quản, ung thư
thực quản
Theo suất liều phóng xạ
(1) Xạ trị tiếp cận suất liều thấp 0,4
Theo phương pháp nạp nguồn
(1) Xạ trị tiếp cận nạp nguồn tức
thì: nguồn phóng xạ được đặt
sẵn trong dụng cụ mang nguồn
được đưa vào bệnh nhân cùng
một thì
(2) Xạ trị tiếp cận nạp nguồn sau:
nguồn phóng xạ được đưa vào
bệnh nhân sau khi dụng cụ
mang nguồn được đặt vào bệnh
nhân trước đó
(3) Xạ trị tiếp cận nạp nguồn trực tiếp: nguồn phóng xạ được đưa trực tiếp bằng tay vào bệnh nhân
(4) Xạ trị tiếp cận nạp nguồn từ xa: dùng bộ phận điều khiển từ xa để đẩy nguồn vào bệnh nhân Dược chất phóng xạ (xạ trị chuyển hóa) Một số các ví dụ:
(1) Dùng I 131 điều trị bệnh Basedow hay ung thư tuến giáp
(2) Dùng Phosphore 32 điều trị bệnh Polycythemia Rubra Vera (3) Gắn kháng thể đơn dòng vào chất đồng vị phóng xạ điều trị bướu nguyên bào thần kinh (4) Dùng kỹ thuật nội soi đưa chất đồng vị phóng xạ vào đến mạch máu nuôi bướu điều trị ung thư gan
(5) Dùng Strontium 89 điều trị giảm đau di căn xương
Trang 27173
Bảng 3 Khác biệt giữa xạ trị tận gốc và xạ trị tạm bợ
Điều trị nhằm loại trừ tất cả tế bào ung thư
Cố gắng xạ vào bướu và mô bị xâm lấn chung quanh
với liều tối đa chịu đựng được Độ dung nạp của mô
lành quan trọng kề cận giới hạn liều xạ
Bệnh nhân chấp nhận một số độc hại cấp tính và lâu
Bệnh nhân mong muốn ít lần đến khám tại bệnh viện Thời gian xạ trị ngắn và phân liều đơn độc của phác đồ điều trị
CÁC MỤC TIÊU CỦA XẠ TRỊ
Điều trị tận gốc
Sử dụng như một mô thức điều trị
đơn thuần hay kết hợp với các phương
pháp khác
Phòng ngừa
Nhằm phòng ngừa tái phát hoặc di
căn Liều xạ thông thường 18-60 Gy
Các chỉ định thường gặp:
(1) Não bộ: bệnh bạch cầu cấp
dạng Lymphô bào
(2) Hạch dưới cơ hoành: ung thư
tinh hoàn
(3) Sau mổ: ung thư vú, hốc
miệng, trực tràng, sarcôm
Giảm tổng khối bướu
Ung thư phế quản, sarcôm phần
mềm
Tiền phẫu
Ung thư cổ tử cung, trực tràng Tổng
liều thường không quá 45Gy
Hỗ trợ
Sau phẫu thuật (nền bướu) hoặc sau
hóa trị (ung thư dạng phôi, ung thư phổi
không biệt hóa)
Đơn thuần
Ung thư đầu cổ, cổ tử cung
Các ung thư ở giai đoạn không mổ
được hay rất nhạy tia
Điều trị tạm bợ
Mục đích
Giảm đau: di căn xương, gan
Giải áp: di căn não, tủy sống, chèn ép tĩnh mạch chủ
Cầm máu Giảm tổng khối bướu
VỊ TRÍ CỦA XẠ TRỊ TRONG CHIẾN LƯỢC ĐIỀU TRỊ UNG THƯ
Xạ trị đơn thuần Xạ trị đơn thuần chỉ định cho các trường hợp sang thương nhỏ, giai đoạn sớm, các loại ung thư nhạy xạ hoặc các trường hợp bệnh lý không có khả năng phẫu thuật
Bướu nhỏ Liều 45-60 Gy
Carcinôm gai hay tuyến
Kết hợp xạ trị ngoài và xạ trị trong Thu nhỏ trường chiếu sau 40-45 Gy Ung thư nhạy xạ
Ung thư khó phẫu thuật
Vị trí:
(1) Vòm hầu (2) 1/3 giữa thực quản, chỗ chia phế quản gốc
Trang 28174
Tiến triển tại chỗ, tại vùng:
(1) Giai đoạn T3-T4 của ung thư cổ
tử cung, ung thư hầu thanh quản
(2) Giai đoạn T3-T4 ung thư vú (hóa
trị)
Quá chỉ định phẫu thuật do bệnh nội
khoa:
(1) Ung thư trực tràng
(2) Ung thư kênh hậu môn
Có di căn xa hay thể trạng kém
Kết hợp với phẫu thuật
Xạ trị tiền phẫu
Mục đích nhằm giảm tổng khối bướu,
chuẩn bị cho phẫu thuật lấy trọn khối
bướu
Tổng liều thường không quá 45 Gy,
phẫu thuật sau 4-6 tuần
(4) Một vài ung thư vùng đầu cổ, ung
thư phế quản hay ung thư mô
mềm
Xạ trị hậu phẫu
Khi lấy không hết được bướu, từ đó
nhiều nguy cơ tái phát: ung thư trực
tràng B2 hay C, ung thư nội mạc tử
cung, ung thư mô mềm biệt hóa kém
hay không biệt hóa
Khi nạo hạch dương tính: ung thư
đầu cổ, vú, cổ tử cung, phế quản
Xạ trị vào hạch vùng sau mổ: ung thư
tinh hoàn
Điều trị bảo tồn: các ung thư vú
Phòng ngừa tái phát sau phẫu thuật
cắt đốt sống di căn
Xạ trị trong lúc mổ
Xạ trị lúc đang mở bụng, nhằm tiêu
diệt các tế bào ung thư rơi vãi trong
phẫu trường Hiện nay, chỉ định này
thường được áp dụng trong các trường hợp sarcôm phần mềm
Liều 15- 25 Gy một lần
Kết hợp với hóa trị Sự kết hợp hai phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả trên bướu nguyên phát cũng như trong việc phòng ngừa sự xuất hiện các di căn
Bên cạnh sự kết hợp tác dụng điều trị, cần chú ý các độc tính
Xạ trị và hóa trị nhằm các mục tiêu khác nhau
Trong bệnh bạch cầu cấp dạng lymphô bào đã được hóa trị ổn định, xạ trị vào não (18Gy) nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư mà hóa chất không đến được do màng não ngăn chặn
Trong bệnh Hodgkin giai đoạn IV, xạ trị đề phòng tái phát hạch
Xạ hóa trị đồng thời Nhằm tăng độ nhạy của xạ trị và tiêu diệt di căn vi thể trong quá trình điều trị Được áp dụng rộng rãi trong nhiều loại ung thư như ung thư niệu dục, ung thư đầu cổ, ung thư phế quản, ung thư đường tiêu hóa
Xạ hóa trị xen kẽ Hóa trị và xạ trị được sử dụng tuần tự nhưng cách nhau một khoảng thời gian ngắn
Chỉ định với các ung thư ít nhạy với tia phóng xạ, nguy cơ di căn cao ngay trong lúc điều trị bướu nguyên phát Ít độc hại hơn xạ hóa trị đồng thời
Hóa trị hỗ trợ Trước xạ trị: giảm tổng khối bướu để xạ trị có hiệu quả
Sau xạ trị hoặc xạ phẫu trị: ngừa di căn
Đã có di căn: kết hợp xạ trị và hóa trị
Trang 29175
CHỈ ĐỊNH ĐẶC BIỆT
Xạ trị toàn thân
Kết hợp với hóa trị, trong ghép tủy
Liều duy nhất 10Gy hay 12Gy/6 lần/
3 ngày
Xạ trị bán thân
Mục đích chống đau
Xạ trị nửa thân trên, rồi nửa thân
dưới (ngang L4-L5), hoặc ngược lại,
cách nhau 4-6 tuần Liều 6 Gy hoặc 8
Gy một lần duy nhất
Xạ trị da toàn thân
Tia âm điện tử từ máy gia tốc 7-8
Mev, liều sâu 4-6 mm, liều 30 Gy trong
6 tuần, trường hợp bướu sùi bề mặt
dạng nấm (mycosis fongoides
superficiels)
Xạ trị với chùm tia nhỏ
Ống chỉnh trực đặc biệt với chùm tia
cực nhỏ, đường kính ≤ 20mm
Chỉ định cho các trường hợp dị dạng
mạch máu não, bướu nhỏ, bướu não
Khung Stereotaxic giữ đầu cố định Máy xạ trị quay chung quanh sang thương
Liều 30 Gy , một hoặc nhiều lần tia Xạ trị với tia neutron
Dùng cho các ung thư được cung cấp
ít oxy, bổ sung cho Xạ trị với tia X hay Gamma
Chỉ định cho các trường hợp hạch cổ, ung thư tuyến mang tai, ung thư mô mềm
Có nhược điểm là rất đắt (máy Cyclotron)
Xạ trị với tia proton Đổ năng lượng lớn vào một mô đích rất nhỏ, hoàn toàn an toàn cho mô lành chung quanh (pic de Bragg)
Chỉ định cho các trường hợp mêlanôm ác màng Choroide
Cũng có nhược điểm là rất đắt
Trang 30176
BIẾN CHỨNG XẠ TRỊ
Xạ trị là một trong những phương
pháp điều trị quy ước của bệnh ung thư
Tuy nhiên, đây là một phương pháp
không đặc hiệu, tia xạ tiêu diệt tế bào
ung thư nhưng cũng hủy hoại mô lành
Mục tiêu của xạ trị không chỉ là tiêu
diệt khối bướu mà còn phải hạn chế tổn
hại mô lành ở mức tối thiểu Do đó, việc
đánh giá biến chứng của xạ trị trên mô
lành là vấn đề lâm sàng mà hằng ngày
nhà xạ trị phải giải quyết
Những biểu hiện sớm của tác động
xạ trị trên mô lành thường xuất hiện
trong quá trình điều trị hoặc khoảng
thời gian ngay sau xạ trị Những biểu
hiện này thường mất đi trong nhiều
tháng sau đó và không để lại di chứng
Trong quá trình điều trị, các phản ứng
này thường được chấp nhận, có thể giải
quyết bằng điều trị nội khoa triệu
chứng
Những biểu hiện muộn, theo định
nghĩa, xuất hiệu sau 6 tháng kể từ lúc
bắt đầu xạ trị Phản ứng có thể xảy ra ở
bệnh nhân hoàn toàn không có phản
ứng sớm do xạ trị Các phản ứng muộn
có thể ổn định hoặc tiến triển, ít có khả
năng hồi phục, thường ảnh hưởng lâu
dài đến chất lượng sống của bệnh nhân
SINH LÝ
Theo lý thuyết của tế bào gốc, mô
được tái lập dân số nhanh như niêm
mạc, da, tế bào máu sẽ chịu tác động sớm của xạ trị Những mô tái lập dân số chậm như mô thần kinh, cơ sẽ chịu tác động muộn của xạ trị
Mô được tổ chức theo thứ bậc, có sự phân biệt rõ ràng giữa tế bào gốc và tế bào biệt hóa Tế bào biệt hóa thường có khả năng tự sửa chữa kháng lại tia xạ trong khi tế bào gốc thì ngược lại Sự xuất hiện của phản ứng mô lành do xạ trị phụ thuộc vào thời gian sống của tế bào biệt hóa
Mô được tổ chức linh động, tế bào biệt hóa có khả năng tự phân chia, tái lập dân số tế bào Trong loại mô này, tế bào sinh sản và tế bào chức năng bị hủy hoại cùng lúc, thời gian biểu hiện phản ứng tăng theo liều xạ nhận được
Mô được tổ chức theo “dạng chuỗi”, chức năng của mô được dẫn truyền liên tục Chẳng hạn như tủy sống, có thể gây liệt tứ chi nếu phần tủy cổ bị phá hủy, ảnh hưởng của tia xạ không phụ thuộc thể tích xạ trị
Ngược lại, mội số mô được tổ chức theo dạng “song song”, chức năng của mô được cấu thành theo dạng mạng lưới, ví dụ như gan, phổi Trường hợp này có thể tập trung liều xạ khu trú tại một vị trí, nếu phần mô còn lại có thể đảm bảo cho chức năng của cơ quan Trường hợp này ảnh hưởng của tia xạ phụ thuộc vào thể tích xạ trị
Trang 31177
Những ảnh hưởng sớm của xạ trị
trên mô lành chủ yếu do hủy hoại tế bào
gốc, trong khi đó những ảnh hưởng
muộn có cơ chế phức tạp hơn nhiều
Các thương tổn muộn ngoài việc tổn hại
trực tiếp trên tế bào, còn là hậu quả của
việc hệ thống mạch bị phá hủy và sự xơ
hóa mô kẽ do xạ trị
Ảnh hưởng của tia xạ có thể nặng nề
hơn trên nhóm bệnh nhân có những
yếu tố bất lợi như lớn tuổi, hút thuốc lá,
tiểu đường, tăng huyết áp, có hóa trị kết
hợp, tiền căn phẫu thuật, bệnh xơ cứng
bị lan tỏa, hoặc một số bệnh lý di truyền
làm tăng nhạy xạ với mô lành
Khi mô lành nhận tổng liều xạ vượt
ngưỡng cho phép, nguy cơ bị tổn
thương tăng theo liều xạ Tổng liều xạ
có tương quan với phản ứng muộn
nhiều hơn với phản ứng sớm
Phân liều xạ càng nhỏ càng giảm
nguy cơ biến chứng muộn trên mô lành
Phân liều ít ảnh hưởng đến phản ứng
sớm trên mô lành Phân liều 1,8-2 Gy
thường được sử dụng trên lâm sàng
Phân liều lớn 2 Gy thường được chỉ định
cho trường hợp xạ trị tạm bợ
Khoảng thời gian giữa hai phân liều
là khoảng thời gian để các tế bào lành
tiến hành sửa chữa DNA Thời gian
khuyến cáo thường được sử dụng là 24
giờ Tổng thời gian xạ trị ít liên quan
đến các biến chứng muộn
Thể tích xạ không làm tăng nguy cơ
gây biến chứng đối với mô được tổ chức
theo “dạng chuỗi” Tuy nhiên đối với
mô được tổ chức theo “dạng song song”,
chức năng của cơ quan bị ảnh hưởng
tùy thuộc vào thể tích xạ trị
Ngoài ra các yếu tố khác như số
lượng trường chiếu, bản chất tia bức xạ,
năng lượng của chùm tia đều có ảnh
hưởng ít nhiều đến phản ứng của mô lành
DA VÀ MÔ DƯỚI DA Tổn thương của da và mô dưới da là những tổn thương hầu như không thể tránh khỏi trong quá trình xạ trị Với những chùm tia năng lượng cao, da ít bị ảnh hưởng vì liều tối đa nằm dưới da Với những chùm tia năng lượng thấp, hay khi xạ trị các ung thư da, liều tối đa sẽ nằm ngay trên da
Lớp da thường dầy từ 1-3 mm, mô dưới da bao gồm lớp hạ bì chứa các phần phụ của da, lớp cơ bì, và lớp cân Viêm da cấp xảy ra vào khoảng tuần lễ thứ 3 (25 Gy) gây rụng lông, tuần lễ thứ 4 gây hồng ban, phù nề và giảm bài tiết mồ hôi, tuần lễ thứ 5 (45Gy) tróc da khô, sau đó thành tróc da ướt, để lộ lớp
bì Các phản ứng viêm da cấp sẽ nặng nề hơn nếu sử dụng hóa trị đồng thời với một số hóa chất như Actinomycine
D, Adriamycine
Biểu hiện muộn của da thường xảy ra khi nhận tổng liều xạ hơn 60 Gy, được chia thành ba pha Pha đầu là pha hình thành, xảy ra khoảng 6-24 tháng sau xạ trị, biểu hiện bằng sự phù nề da và mô dưới da, đỏ da, ngứa hay đau Pha thứ hai là pha di chứng với các triệu chứng như khô da, xơ cứng da và mô dưới da, rụng lông, có thể có các mảng giãn mao mạch, đôi khi gây ngứa Pha cuối cùng là pha rất muộn, biểu hiện sự sưng nề lớp mô dưới da, hiện tượng co rút mô gây đau, hiện tượng xơ cứng bì, da có thể giảm sắc tố hoặc tăng sắc tố Những thay đổi trên mô học chủ yếu là tổn thương mạch máu, mô liên kết và sự xơ hóa mô
Trang 32178
Trong giai đoạn viêm có thể sử dụng
kháng viêm non-steroid, hay SOD
(superoxyde dismutase là enzyme chống
lại các gốc tự do) Corticoide, một số
chất chống tăng trưởng, các chất điều
biến tế bào nội mô và tế bào liên kết,
héparin trọng lượng phân tử thấp
thường kém hiệu quả hơn
Trong giai đoạn xơ hóa, SOD có hiệu
quả trong việc giảm các tổn thương xơ
cứng Kết hợp pentoxifylline-tocophérol
(chống tắc mạch ‟ vit E) cho kết quả có
thể so sánh với SOD, nhưng hiệu quả
thường muộn sau 6 tháng
Hạn chế biến chứng ở da và mô dưới
da bằng cách sử dụng chùm tia có năng
lượng cao, giảm phân liều, sử dụng đa
trường chiếu
XƯƠNG
Xương đang tăng trưởng
Sụn tăng trưởng rất nhạy với tia xạ,
ngoài ra tia xạ còn ảnh hưởng đến mạch
máu nuôi sụn Với liều 14 Gy, sẽ có sự
giảm tăng trưởng thoáng qua, tốc độ
tăng trưởng chỉ bằng 15% so với bình
thường, phục hồi đến 60-80% tốc độ
tăng trưởng sau 7 ngày, nhưng chỉ về
bình thường 80 ngày sau xạ trị Với liều
duy nhất 20 Gy vào sẽ làm ngưng tăng
trưởng vĩnh viễn
Xạ trị trẻ em, các xương trục sẽ bị
ảnh hưởng nặng nề trong trường hợp
nhỏ hơn 6 tuổi, hoặc từ 11-13 tuổi
Ngoài ra còn có các yếu tố quan trọng
khác là tổng liều xạ và thể tích trường
chiếu, trẻ nhận liều xạ hơn 33 Gy, với
trường chiếu toàn bộ hạch trong bệnh
Hodgkin sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sự phát triển xương Hoại tử
đầu xương đùi ở trẻ em khi nhận liều
trên 30 Gy Đối với các xương dài, vùng
tăng trưởng chủ yếu nằm ở đầu gần xương cánh tay, đầu xa xương đùi và đầu gần xương chày, nếu các vùng này nằm trong trường chiếu thì sự tăng trưởng sẽ
bị đe dọa nghiêm trọng
Hóa chất, nhất là Actinomycine D làm tăng độ nhạy của sụn tăng trưởng đối với tia xạ
Trong thực hành cần hạn chế tối đa không để vùng sụn tăng trưởng nằm trong trường chiếu Nếu có một phần sụn tăng trưởng nằm trong trường chiếu thì nên tia xạ toàn bộ vùng sụn tăng trưởng, nhằm tránh sự tăng trưởng biến dạng về sau, nhất là vùng cột sống Sự phát triển bất xứng của chi nếu nhẹ có thể sự dụng giày cao gót, nặng hơn có thể sử dụng bộ phận giả Với liều hơn 25 Gy, có thể gặp biến chứng gãy trượt đầu xương đùi, có thể điều trị bằng đóng đinh, nếu trượt hơn 600 phải cắt xương và chỉnh trục
Xương trưởng thành Với liều duy nhất 20 Gy sẽ gây chết các tạo cốt bào, và hoại tử mạch máu kèm theo Xạ trị làm giảm máu đến nuôi xương gây nên loãng xương và hoại tử Biến chứng muộn chủ yếu đối với xạ trị đối với xương là loãng xương và xơ tủy Trên lâm sàng có thể biểu hiện bằng các triệu chứng gãy xương và hoại tử xương, thường xảy ra sau 1-2 năm xạ trị Gãy cổ xương đùi tự nhiên sau liều 65
Gy, thường xảy ra sau điều trị 28 tháng, nặng thêm với việc sử dụng corticoide và loãng xương ở người mãn kinh Gãy xương sườn và xương đòn gặp ở các trường hợp sau xạ trị ung thư vú
Chùm photon năng lượng cao giúp làm giảm độ hấp thu xạ của xương Thông thường với liều dưới 65 Gy sẽ không có hiện tượng hoại tử xương, liều
Trang 33179
trên 75 Gy tỉ lệ hoại tử xương là 40%
Hoại tử xương được điều trị bằng kháng
sinh, oxy cao áp Nếu nội khoa thất bại,
phẫu thuật được chỉ định
CƠ VÂN
Trên lâm sàng, độc tính của xạ trị
trên cơ vân thường rất ít, ngoại trừ
trường hợp ở trẻ em Ở trẻ em, sau liều
xạ từ 30-40 Gy sẽ có hiện tượng teo cơ,
liều trên 70 Gy sẽ có 50% trường hợp
teo cơ trong 5 năm sau xạ trị
TỦY XƯƠNG
Tủy xương chia thành hai nhóm,
nhóm tủy đỏ, giàu tế bào tủy và mạch
máu có chức năng tạo máu, tủy vàng
chủ yếu là mô mỡ không hoạt động Ở
trẻ em dưới 4 tuổi, tủy đỏ chiếm tất cả
các khoang xương Trên 4 tuổi, có sự
thoái hóa mỡ ở các khoang tủy Ở người
lớn tủy đỏ chỉ còn ở các xương trục như
xương sống, xương cùng, xương mu,
xương sườn, xương ức, xương sọ, đầu
gần xương cánh tay và xương đùi (người
40 tuổi, 25% ở xương chậu, 12% ở xương
thiêng, 12% ở cột sống bụng, 12% ở cột
sống lưng)
Xạ trị vào tủy xương, chứa tế bào
mầm, ảnh hưởng đến sự tạo máu Ảnh
hưởng của tia xạ phụ thuộc vào liều xạ
và thể tích tủy xương bị ảnh hưởng Ở
thỏ, xạ trị toàn thân với liều 3,5 Gy, sau
30 phút sẽ làm ngưng hoạt động phân
bào của tủy xương, ảnh hưởng lên sự
sinh hồng cầu và các tế bào trưởng
thành Sau hai ngày, tế bào nhân khổng
lồ sẽ biến mất Sau 4 tuần có sự phục
hồi, tăng trưởng và biệt hóa tủy xương
trở lại
Nghiên cứu xạ trị toàn thân ở bệnh
nhân ghép tủy để xác định LD 50/30
Theo y văn, LD 50/30 ở người khoảng 4,5 Gy
Tế bào lymphô bị ảnh hưởng sớm nhất, sau đó là bạch cầu trung tính, tiếp theo là tiểu cầu, cuối cùng là hồng cầu Thời gian sống của 6-7 giờ cho các bạch cầu, 8-9 ngày cho các tiểu cầu, 4 tháng cho các hồng cầu Sau xạ trị toàn thân, sự giảm bạch cầu xảy ra tối đa vào ngày thứ 5, giảm tiểu cầu vào ngày thứ 10, và vào tháng thứ 2 cho hồng cầu
Khi ảnh hưởng của xạ trị trên một vùng xương khu trú, sự hồi phục xảy ra nhanh hơn Với liều 4 Gy trong 3 ngày, có sự giảm đáng kể các tế bào tủy bao gồm tế các tế bào tiền thân của hồng cầu và của tế bào đa nhân Liều 10 Gy trong 8 ngày, các tế bào ít trưởng thành hơn biến mất gần như hoàn toàn, tế bào tiền thân của hồng cầu biến mất hoàn toàn Sau liều 20 Gy trong 16 ngày, không còn sự hiện diện của tế bào hạt biệt hóa, tế bào nhân khổng lồ biến mất, tế bào tủy giảm 80% Sau tổng liều 25
Gy, tủy sẽ hồi phục sau 1 tháng, sau 30
Gy có thể tủy không phục hồi và sau 40
Gy tủy có thể mất hoàn toàn khả năng tạo máu
Hóa trị tân hỗ trợ gây tăng độc tính huyết học với xạ trị sau đó Hóa trị hỗ trợ gây tăng độc tính nhiều hơn hóa trị tân hỗ trợ nhất là với các thuốc như cyclophosphamide, méthotrexate Hóa xạ đồng thời làm tăng độc tính huyết học nhiều nhất do cả hai đều gây ảnh hưởng lên sự phân bào Hóa xạ xen kẽ làm giảm độc tính huyết học so với hóa xạ đồng thời
Đối với biến chứng lâu dài, bệnh nhân có nguy cơ mắc bạch cầu cấp hay loạn sản tủy sau khi xạ trị với trường chiếu rộng
Trang 34180
Điều trị kháng sinh với trường hợp
giảm bạch cầu grad 3, grad 4 kèm với
sốt trên 380C Truyền máu chỉ định tùy
theo mức độ ảnh hưởng của thiếu máu
đối với từng bệnh nhân Thường có chỉ
định truyền tiểu cầu khi chỉ số này dưới
20.000/ml Ghép tủy, cấy tế bào máu
gốc được chỉ định trong điều trị tăng
cường sau khi hóa trị liều cao và xạ trị
toàn thân Sử dụng các yếu tố tăng
trưởng tạo máu như GM-CSF, G-CSF
nhất là trong các trường hợp giảm bạch
cầu Erythropoíetine chỉ định trong
trường hợp thiếu máu
HỆ THẦN KINH
Não
Tia phóng xạ không tác động trực
tiếp lên tế bào thần kinh vì chúng
không phân chia, mà gián tiếp qua tác
động lên các tế bào ít nhánh, tế bào
Schwann, các tế bào nội mạc các mạch
máu và các sao bào
Biến chứng sớm xuất hiện do phù nề,
do tia xạ làm tổn hại hàng rào máu não
và gây mất cân bằng ion của tế bào Sự
phù nề làm thay đổi màng tế bào, các
enzym, sinh ra các cytokin và các gốc tự
do gây độc tế bào Triệu chứng thường
gặp trên lâm sàng, gây ra bởi sự tăng áp
lực nội sọ, là nhức đầu, nôn ói, song thị,
mất tri giác và dẫn đến hôn mê Đối với
các bướu lớn, phòng ngừa bằng cách
dùng phân liều thấp hơn 2 Gy, và trường
chiếu khu trú Điều trị phù não bằng
corticoide, và dịch truyền cao phân tử
gây tác dụng lợi niệu Corticoide có thể
sử dụng mỗi ngày một lần, dung dịch
cao phân tử có thể sử dụng lặp lại mỗi
4-6 giờ
Sáu đến tám tuần sau khi tia vào não
với liều cao và trường chiếu rộng có thể
có triệu chứng buồn ngủ và tình trạng lơ
mơ, do sự mất myeline cấp, các triệu chứng này thường không đáp ứng với điều trị chống phù não, và sẽ biến mất sau 4-6 tuần
Biến chứng muộn được giải thích bởi sự tổn thương mạch máu, tế bào thần kinh đệm và sự tổn thương do miễn dịch Quan trọng nhất, là sự tổn thương các mạch máu nhỏ và trung bình, với sự tăng sinh của tế bào nội mô và sự dày lớp của lớp áo trong mạch máu, gây nên sự hoại tử do thiếu máu Thường xuất hiện sau 6 tháng xạ trị Triệu chứng thường là rối loạn nhận thức, giảm khả năng tư duy, học tập khó khăn, sa sút trí tuệ Ngoài ra, còn có thể gặp các triệu chứng như rối loạn thăng bằng, rối loạn
cơ thắt, hội chứng ngoại tháp, động kinh Một số triệu chứng có thể thuyên giảm với corticoide Trên hình ảnh CT scan có thể thấy hiện tượng teo vỏ não lan tỏa, dãn não thất và giảm đậm độ chất trắng Vấn đề khó khăn thường gặp là việc chẩn đoán phân biệt một tổn thương muộn do xạ trị và bướu tái phát hoặc tiến triển PET scan hiện nay cho phép phân biệt hai nhóm này trong phần lớn các trường hợp Điều trị các biến chứng muộn ngoài corticoide và các điều trị triệu chứng khác còn có thể dẫn lưu dịch não tủy nếu có tràn dịch não thất, hoặc cắt bỏ khối bướu hoại tử nếu được
Nguy cơ biến chứng muộn phụ thuộc vào tổng liều xạ, phân liều xạ, và thể tích trường chiếu Biến chứng thường xuất hiện khi toàn bộ não được xạ với liều hơn 50 Gy Hoại tử não do tia xạ thường xuất hiện với liều hơn 60 Gy Biến chứng được hạn chế với phân liều không lớn hơn 2 Gy mỗi ngày Sử dụng
Trang 35181
hóa trị, nhất là hóa xạ đồng thời, với tác
nhân cisplatin làm tăng nguy cơ hoại tử
do tia xạ
Tủy sống
Tổn thương bệnh học tập trung ở
chất trắng bao gồm hiện tượng mất
myelin, hoại tử đông, thay đổi thành
mạch làm hẹp lòng hay huyết khối
Bệnh tủy cấp xuất hiện 2-4 tháng sau
xạ trị 40-45 Gy/4-5 tuần, với các triệu
chứng tê các đầu chi, cảm giác điện giật
khi gập cổ (dấu Lhermitte) và tự hồi
phục sau 2-6 tháng Nguyên nhân là do
tình trạng mất myeline cấp và phù nề
Bệnh tủy mạn rất hiếm nhưng rất
nặng và không hồi phục, thường xuất
hiện sau tia xạ 10 tháng đến 2 năm, với
các rối loạn thần kinh vận động, cảm
giác hay rối loạn cơ vòng (hội chứng
Brown-Séquard) Tần suất của chúng
liên quan đến tổng liều, phân liều và độ
dài đoạn tủy bị chiếu tia Liều ngưỡng là
45 Gy/4,5 tuần, nguy cơ tăng chậm đến
liều 50 Gy/25 lần/5 tuần, và tăng nhanh
khi vượt quá liều này
Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm tủy do
tia xạ bao gồm (1) vùng tủy nằm trong
trường chiếu, (2) thời gian sau tia xạ đủ
dài, (3) sự phù hợp của vùng chiếu xạ và
dấu hiệu thần kinh, (4) hình ảnh học
thần kinh bình thường, (5) liều xạ trên
45 Gy với phân liều cổ điển
Thần kinh ngoại biên
Biến chứng muộn trên các thần kinh
ngoại biên thường rất hiếm, thường là
tình trạng viêm mạng cánh tay với các
triệu chứng đau hoặc suy giảm vận động
cảm giác, sau xạ trị với liều 55 Gy/5,5
tuần Điều trị bằng liệu pháp vận động,
corticoide, và sinh tố
MẮT Ảnh hưởng của tia xạ lên mắt và các phần phụ thường xuất hiện trong các truờng hợp xạ trị bướu thần kinh trung ương, bướu các xoang cạnh mũi và xạ trị chính nhãn cầu Biến chứng quan trọng nhất là mất hoàn toàn thị lực, hậu quả của tổn thương nhiều cấu trúc trong mắt
Các phần phụ và phần trước của mắt Kết mạc có triệu chứng giãn mao mạch khi nhận liều 30 Gy, và viêm kết mạc với liều 55-75 Gy
Mí mắt có tổn thương dạng hồng ban
ở liều 30-40 Gy, khi nhận liều lớn hơn
50 Gy có triệu chứng giãn mao mạch và rụng lông mi
Hệ thống tuyến lệ bị tác động bởi tia xạ liều 30-40 Gy, giảm tiết gây khô mắt Suy chức năng bài tiết khi nhận liều 50-
60 Gy, teo hẹp hệ thống ống dẫn ở liều 65-70 Gy Điều trị tắc nghẽn ống dẫn bằng đặt vào lòng một ống silicone hoặc phẫu thuật mở rộng túi lệ mũi
Tia xạ làm mỏng đi củng mạc và nặng hơn dẫn đến hoại tử củng mạc Ghép củng mạc khi củng mạc không đảm bảo được chức năng bảo vệ nhãn cầu
Viêm sừng hóa, phù, loét ở giác mạc khi nhận liều 20-50 Gy Khi liều vượt qua ngưỡng 60 Gy gây nên loét sâu và có thể thủng giác mạc Viêm sừng hóa gây cảm giác cộm hoặc chảy nước mắt có thể điều trị bằng thuốc nhỏ mắt bôi trơn và lành sẹo Điều trị loét giác mạc tùy theo nguyên nhân Đối với nguyên nhân không nhiễm trùng có thể điều chỉnh biến dạng mi mắt, tăng tiết nước mắt, hay cắt phần chuyển sản kết mạc Đối với nguyên nhân nhiễm trùng, điều
Trang 36182
trị bằng kháng sinh Ghép giác mạc có
thể được chỉ định
Thủy tinh thể
Đục thủy tinh thể đưa đến mù hoàn
toàn xuất hiện sau một lần tia duy nhất
với liều trên 2 Gy, và chắc chắn với liều
7,5 Gy Điều trị phẫu thuật, nếu không
có các biến chứng khác trên mắt như
viêm giác mạc, teo võng mạc Che chắn
cho thủy tinh thể rất khó khi xạ trị vùng
hàm mặt, cần phải sử dụng các kỹ thuật
tinh vi như tấm che cá nhân bằng
cerobene, giảm bóng mờ, xạ trị tiếp cận,
dùng tia proton hay ion nặng
Võng mạc
Liều xạ hơn 45 Gy ảnh hưởng lên
võng mạc thông qua cơ chế làm dày
thành mao mạch, làm hẹp lòng và có
thể dẫn tới tắc nghẽn Các dấu hiệu trên
lâm sàng có thể thấy là hình ảnh tắc
nghẽn các mao mạch tạo các vi phình
mạch, xuất huyết, xuất tiết, tân sinh
mạch trên võng mạc, phù điểm vàng
Giảm thị lực thường gặp khi liều xạ vượt
quá 65 Gy Điều trị bằng quang đông với
argon để giảm sự tân sinh mạch, điều
trị laser để giảm phù điểm vàng
Thần kinh thị
Tổn thương khi nhận liều xạ hơn 50
Gy Tổn thương mô học, tương tự như
tổn thương ở võng mạc, do ảnh hưởng
lên hệ thống mao mạch Thường gây rối
loạn thị giác, và đôi khi, mất hoàn toàn
thị giác Hiện nay chưa có phương pháp
điều trị, chủ yếu là phòng ngừa
Hốc mắt
Tổn thương hốc mắt là tổn thương
thiểu sản phần xương và mô mềm của
hốc mắt Tổn thương thường xuất hiện
khi nhận liều xạ trên 50-60 Gy Điều trị
bằng phẫu thuật tạo hình nếu hốc mắt
Viêm niêm mạc cấp, do tổn thương tế bào gốc, xuất hiện sớm khoảng tuần lễ thứ 2 và phục hồi nhanh hơn ở da Sang thương lần lượt là mảng nội ban với liều 20-30 Gy, mảng loét tiết dịch với màng giả với liều 30-50 Gy, thường dễ bị bội nhiễm nhất là với tác nhân nấm Diễn biến sẽ nhanh hơn nếu thực hiện hóa xạ đồng thời với các hóa chất như 5 FU, methotrexate, adriamycine, bleomycine Trên lâm sàng thường có các triệu chứng nuốt khó, nuốt đau, mất
vị giác, khô miệng Hạn chế bằng cách ngưng thuốc lá và rượu, dinh dưỡng thích hợp và giàu năng lượng, điều trị chống nhiễm khuẫn, nhiễm nấm, chống đau và chăm sóc tại chỗ
Biến chứng muộn xuất hiện sau nhiều tháng xạ trị Viêm niêm mạc mạn xuất hiện sau liều tia trên 65 Gy dưới dạng mất màu niêm mạc, xơ cứng niêm mạc và lớp dưới niêm Nguy cơ chíùnh là loét, hoại tử niêm mạc Điều trị bằng giảm đau, kháng sinh, corticoide, thức ăn giàu năng lượng và chăm sóc tại chỗ Ngoài ra có thể sử dụng thuốc pentoxiphyline để tăng tưới máu mô, sử dụng oxy cao áp, phẫu thuật cắt bỏ khối mô hoại tử nếu điều trị nội khoa thất bại
Tuyến nước bọt Tia xạ làm tổn thương tế bào tuyến nước bọt, gây xoắn, giãn và xơ hóa ống góp của tuyến
Trang 37183
Sự giảm tiết nước bọt có thể xuất
hiện trong vòng tuần đầu tiên của xạ trị
Với phân liều lớn hơn 2 Gy, triệu chứng
này có thể xuất hiện sau 24 giờ Lượng
nước bọt giảm dần trong quá trình xạ
trị, gây triệu chứng khô miệng Khô
miệng vĩnh viễn nếu tia vào tuyến nước
bọt trên 45 Gy, phục hồi sau 6 tháng
nếu thấp 35 Gy, phục hồi một phần sau
vài năm nếu liều tia khoảng 40-45 Gy
Kết hợp hóa xạ đồng thời sẽ gây tăng
ảnh hưởng của tia xạ trên tuyến nước
bọt
Amifostine có thể làm giảm khô
miệng nhưng có thể gây một số tác
dụng phụ nếu dùng thường quy Có thể
sử dụng một số thuốc kích thích tiết
nước bọt hoặc nước bọt nhân tạo Sử
dụng pilocarpine cho thấy có sự đáp ứng
tăng tiết nước bọt
Xương hàm dưới và răng
Răng ngừng tăng trưởng dưới tác
động của tia xạ ở bệnh nhân nhỏ hơn 10
tuổi Ở người lớn, răng bị ảnh hưởng,
chủ yếu do tình trạng khô miệng Đối
với xương hàm, cốt bào và mạch máu
nuôi bị tổn hại bởi tia xạ có thể dẫn đến
tình trạng hoại tử xương hàm Triệu
chứng trên lâm sàng là tình trạng đau
nhức xương hàm đôi khi có gãy xương
Chẩn đoán bằng phim chụp xương hàm
dưới Ở người lớn hoại tử xương hàm
dưới gặp ở 20% trường hợp với liều
60-70 Gy, nặng hơn nếu kèm nhiễm trùng
Xuất độ và độ nặng liên quan với kích
thước trường chiếu và tình trạng răng
miệng
Xử trí bằng cách hạn chế rượu và
thuốc lá, tránh ăn các gia vị kích thích,
súc miệng, sử dụng kháng nấm, nhổ
răng sâu, giảm khô miệng, dinh dưỡng
giàu năng lượng Điều trị hoại tử xương
hàm tương tự như hoại tử niêm mạc, chỉ định phẫu thuật nếu nội khoa thất bại
ỐNG TIÊU HÓA Thực quản Phản ứng sớm của thực quản đối với tia xạ xảy ra tại niêm mạc Viêm thực quản biểu hiện chủ yếu bằng triệu chứng nuốt khó và nuốt đau Với liều cao hơn có thể gây loét cấp tính và sau đó có thể chuyển sang loét mạn tính hoặc có sự lành sẹo
Biến chứng muộn là do tác động của tia xạ lên lớp cơ thực quản Hai hiện tượng thường gặp trên lâm sàng là sự teo hẹp và rối loạn nhu động của thực quản, thường xuất hiện sau 3-6 tháng sau điều trị Một biểu hiện ít gặp hơn là thủng thực quản hoặc túi thừa giả của thực quản Những tổn thương của lớp dưới niêm thường là giãn mạch, xơ hóa và viêm Biến chứng muộn xuất hiện khi nhận tổng liều xạ trên 45 Gy, thường gặp khi tổng liều trên 60 Gy Nếu liều xạ dưới 50 Gy, phân liều dưới 2
Gy, thì dưới 5% các trường hợp xuất hiện biến chứng muộn Kết hợp với hóa trị làm biến chứng xuất hiện sớm hơn và nặng nề hơn Điều trị hẹp thực quản bằng cách nong nếu nuốt nghẹn nhiều, nếu ít có thể điều chỉnh chế độ ăn Rối loạn nhu động thực quản có thể gây trào ngược dạ dày thực quản, điều trị chủ yếu bằng thuốc ức chế bơm proton Chỉ định mở dạ dày ra da nuôi ăn nếu bệnh nhân không thể ăn uống được bằng đường miệng
Dạ dày Phản ứng cấp là phản ứng viêm niêm mạc, thường ít xảy ra Phản ứng muộn,
Trang 38184
dạ dày có thể bị xơ chai môn vị hay
loét
Ruột non
Tế bào ruột non tăng trưởng và biệt
hóa nhanh, thời gian khoảng từ 5-7
ngày, phản ứng cấp của ruột non là do
ảnh hưởng của tế bào tăng trưởng Cơ
chế của các phản ứng cấp là sự loại bỏ
các tế bào của lớp nhung mao ruột,
giảm diện tích toàn phần lớp niêm mạc,
sự xuất hiện các vết loét, các ổ vi abces,
mô hoại tử, cho phép các vi khuẩn trong
lòng ruột xâm nhập vào máu
Các phản ứng cấp biểu hiện bằng các
cơn đau quặn ruột, tiêu chảy, nôn ói,
suy dinh dưỡng do giảm hấp thu, rối
loạn nước điện giải và sốt Hạn chế triệu
chứng này bằng cách đẩy ruột ra khỏi
trường chiếu, nằm sấp hay giảm phân
liều (1,5 Gy) Điều trị chủ yếu để giải
quyết triệu chứng Hóa xạ đồng thời làm
tăng tỉ lệ và mức độ phản ứng cấp
Muộn hơn tổn thương ở mô liên kết
gây nên sự xơ hóa, tổn thương mạch
máu tạo nên các ổ hoại tử, mạc treo
ruột xơ dày, ruột non xơ hẹp, dính, mất
nhu động, giảm máu nuôi Ổ loét sâu có
thể tạo thành các đường dò tạo vách hay
dò ruột ‟ ruột
Tỉ lệ tắc ruột ở bệnh nhân được xạ trị
sau mổ ung thư trực tràng là 3-37%, so
với trường hợp không xạ trị là 5% Điều
trị nội khoa bằng cách đặt sonde, nuôi
ăn ngoài đường tiêu hóa, điều chỉnh rối
loạn nước điện giải Phẫu thuật khi điều
trị nội khoa không có hiệu quả, thường
là cắt đoạn và nối ruột Tiêu chảy mạn
xuất hiện 20% các trường hợp sau khi xạ
vùng chậu hơn 60 Gy Hội chứng kém
hấp thu thường đi kèm với tiêu chảy
mạn, bao gồm sụt cân, giảm lượng đạm,
vitamin trong cơ thể Thường do các
thay đổi ở niêm mạc, có thể kèm tình trạng nhiễm trùng, giảm hấp thu muối mật Điều trị bằng chế độ ăn vệ sinh, ức chế nhu động ruột (lopéramide, spasmin ), kháng sinh và cholestyramin Để phòng ngừa biến chứng ruột do xạ trị khi phẫu thuật cần đẩy ruột non khỏi trường chiếu vùng chậu như tái tạo lại phúc mạc chậu, cố định mạc nối lớn Về kỹ thuật xạ, có thể giảm phân liều, sử dụng kỹ thuật bốn trường chiếu Trực tràng
Biến chứng ở trực tràng xuất hiện trong khoảng 2-25% các bệnh nhân được xạ trị vùng chậu
Phản ứng cấp của trực tràng đối với tia xạ tương tự với phản ứng của ruột non Chủ yếu là tổn thương lớp niêm mạc, dưới niêm, phù mô kẽ, các ổ vi abces, tổn thương mạch máu
Phản ứng muộn đặc trưng bởi hiện tượng viêm lớp trong động mạch với hiện tượng hyalin hóa và xơ hóa mô kẽ Ngoài ra còn có hiện tượng tân sinh mạch trên bề mặt Các hiện tượng này gây xuất huyết và hoại tử thành trực tràng gây loét Sự xơ hóa mô kẽ làm giảm sự co bóp của trực tràng Các ổ loét sâu có thể dẫn đến dò trực tràng với âm đạo, bàng quang, đáy chậu
Viêm trực tràng trên lâm sàng có thể có các triệu chứng như tăng tiết dịch, xuất huyết, kích thích hậu môn trực tràng, mót rặn Biến chứng viêm trực tràng xảy ra trên 20% đối với các bệnh nhân xạ trị ung thư tiền liệt tuyến với liều trên 70 Gy Tỉ lệ biến chứng nặng với trường hợp xạ trị ung thư cổ tử cung thay đổi từ 5-27% với liều trên 75 Gy Bảo đảm chế độ ăn vệ sinh trong trường hợp viêm trực tràng nhẹ Mức độ nặng hơn có thể thụt tháo trực tràng với
Trang 39185
corticoide hay sucrafte, sử dụng
sulfasalazine hay cholestyramine đường
uống Hai phương pháp được xem là
hiệu quả nhất hiện nay là sử dụng laser
argon và formaldéhyde
PHỔI
Bệnh phổi cấp xảy ra trong 5-15%
các trường hợp, 1-3 tháng sau xạ trị với
liều hơn 40 Gy và biến mất sau vài tuần
Tổn thương mô học là sự thoái hóa của
các tế bào I và II, sự tăng tính thấm của
mao mạch, sự biến đổi của tế bào nội
mô, trương phồng màng đáy và sự tăng
số lượng đại thực bào phế nang Các
triệu chứng khi đang điều trị là ho khan,
khó thở khi gắng sức, sốt và đôi khi trên
phim phổi có những đốm mờ nhẹ Điều
trị với corticoid, không cần tạm ngưng
tia
Trong vài trường hợp nặng, kèm bội
nhiễm, các triệu chứng xuất hiện dưới
dạng bệnh phổi kẽ lan tỏa
Xơ phổi thường xuất hiện sau 6 tháng
xạ trị Đặc trưng bởi sự giảm số lượng
phế bào I và II, giảm số lượng mao
mạch trong vách, dày màng đáy và tăng
collagen trong vách phế nang Phế nang
sẽ giảm kích thước, thay thế bằng các
mô collagen
Độ nặng của xơ phổi tùy thuộc vào độ
rộng của trường chiếu, tổng liều, phân
liều và chức năng hô hấp trước đó Đa
phần các trường hợp xơ phổi không biểu
hiện triệu chứng Trong những trường
hợp nặng, suy giảm chức năng hô hấp
xuất hiện vào cuối năm đầu sau xạ trị
Phim X quang cho thấy bóng mờ dạng
nốt và mạng, đôi khi bóng mờ xuất hiện
từ rốn phổi kéo dài ra đến ngoại vi trong
trường hợp xạ trị trung thất, một số ít có
thể có tràn dịch màng phổi lượng ít kéo
dài không gây triệu chứng Các triệu chứng diễn tiến dần trong 1-2 năm rồi ổn định Tần suất và cường độ của các triệu chứng thường tỷ lệ với khối lượng mô chiếu tia, tổng liều, phân liều Các bệnh phổi sẵn có (viêm phế quản mạn, khí phế thủng) cũng như một số hóa chất, đặc biệt bleomycine, làm tăng các sang thương ở phổi
Mối tương quan giữa các phản ứng cấp và mạn không cố định, do đó người
ta phải hạn chế liều xạ 20 Gy/10 lần /2 tuần khi tia vào 2 phổi hay 8 Gy/1 lần và khi tính liều cần để ý đến yếu tố mật độ mô phổi Trong trường hợp cần thiết, có thể tia vào một thùy phổi 65-70 Gy với trường chiếu nhỏ và bảo đảm phần nhu mô phổi còn lại đủ đảm trách hoạt động của phổi
Bệnh nhân ung thư phổi được xạ trị vào phổi khu trú với liều 40 Gy có 3-5% trường hợp bị xơ phổi nặng Với liều 60
Gy tỉ lệ xơ phổi khoảng 13% Xạ trị toàn bộ phổi cho tỉ lệ biến chứng là 5% với liều 30 Gy
Khả năng gây ung thư màng phổi sau
15 năm điều trị là 6%
TIM Màng ngoài tim là mô thường bị ảnh hưởng của tia xạ nhất, nội tâm mạc và
cơ tim ít bị ảnh hưởng hơn Tổn thương của màng ngoài tim chủ yếu là sự xơ dày, làm viêm màng ngoài tim co thắt, tràn dịch màng ngoài tim Tổn thương tại cơ tim và nội tâm mạc là các mảng
xơ, rất hiếm khi có ổ hoại tử Van tim có thể bị ảnh hưởng, do tổn thương lớp nội mô bao phủ, cơ chuyển động của van, hay xơ hóa cơ tim vùng lân cận, nhưng rất hiếm khi xảy ra Đối với mạch máu, tiểu động mạch và mao mạch thường bị
Trang 40186
ảnh hưởng, trong đó bệnh mạch vành
có thể biểu hiện nếu có các yếu tố nguy
cơ khác kèm theo Rối loạn dẫn truyền
có thể gặp nhưng thường không biểu
hiện trên lâm sàng
Liều xạ 20-30 Gy ảnh hưởng đến tim
nhưng thường không có triệu chứng
50% có ảnh hưởng đến chức năng tâm
thu và tâm trương sau liều 40 Gy
Viêm màng tim cấp biểu hiện bằng
triệu chứng đau ngực, sốt, hoặc tràn
dịch, điều trị với Aspirine
Viêm màng tim mạn xảy ra khoảng 1
năm sau xạ trị, thường là viêm màng
tim tiết dịch thường nhẹ, biểu hiện lâm
sàng của tràn dịch màng tim Với liều
35-40 Gy vào trung thất, tỉ lệ viêm
màng ngoài tim là 2-7% Chọc dò màng
ngoài tim trong trường hợp tràn dịch tái
phát hay viêm màng ngoài tim co thắt,
phẫu thuật cắt màng ngoài tim nếu
chọc dò không hiệu quả
Xạ trị đối với bệnh nhân trẻ vào vùng
tim, ở liều xạ 40 Gy, tỉ lệ bệnh mạch
vành là 37%, trong đó có 12% biểu hiện
lâm sàng Đôi với nhóm bệnh nhân lớn
tuổi hoặc có các yếu tố nguy cơ như
thuốc lá, mỡ trong máu tăng, tiểu
đường, tăng huyết áp, có tiền sử bệnh
mạch vành thỉ thì lệ này cao hơn Điều
trị các yếu tố nguy cơ, và cố gắng che
chắn vùng tim khi xạ để giảm bớt ảnh
hưởng mạch vành
Hạn chế liều xạ không nên vượt quá
40 Gy/4 tuần cho vùng mô tim rộng
Xạ trị kết hợp với hóa trị bằng
adriamycine làm tăng độ nặng các biến
chứng
GAN
Tổn thương do tia xạ trên gan đặc
trưng chủ yếu bở sự tắc nghẽn và xơ hóa
các tĩnh mạch gan nhỏ, đường kính dưới 300 µm Tổn thương muộn trên gan chủ yếu là thay đổi cấu trúc gan như thay đổi khoảng cách giữa khoảng cửa và tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy,
xơ hóa tĩnh mạch tận, xơ hóa khoảng cửa và mô gan, sự xuất hiện của các nốt tái sinh
Thời gian sống trung bình của các tế bào gan là 1 năm và sự phát triển tế bào của gan rất kém, nên rất hiếm khi gặp các phản ứng cấp
Tác dụng trên gan thường xuất hiện
4 tháng sau xạ trị toàn thể gan, với triệu chứng mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, sốt, gan to, có thể xuất hiện báng bụng không vàng da và lách to Chức năng gan thường chỉ tăng phosphatase kiềm Xạ trị vào một nửa thể tích gan với liều dưới 40 Gy thường không gây biến chứng Viêm gan đưa đến tử vong xảy ra với liều tia vào toàn bộ gan hơn 35 Gy/4 tuần Với liều thấp hơn, các triệu chứng biến mất sau vài tháng, hoặc có thể thành mạn tính
Hạn chế liều tia vào gan thường dưới
30 Gy/4 tuần và nên che thùy phải gan sau 20 Gy khi xạ trị toàn thể bụng Liều tia cần giảm khi có kết hợp cắt phần gan hay khi sử dụng các hóa chất như Actinomycine D Phần mô gan không bị xạ trị có sự phì đại bù trừ Phòng ngừa như không uống rượu, tránh các dược phẩm biến dưỡng ở gan
Trong trường hợp viêm gan bán cấp có thể điều trị với thuốc kháng đông và corticoide
THẬN Về mặt mô học, tia xạ gây ra tình trạng xơ chai và teo ở các cầu thận và ống thận, sang thương động mạch