1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bc 35.Bc-Ubnd.doc

5 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo Đánh giá Kết quả 4 Năm Thực Hiện Nghị định Số 203/2013/NĐ-CP
Trường học Địa phương Quảng Bình
Chuyên ngành Quản lý Tài nguyên Khoáng sản
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2018
Thành phố Quảng Bình
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Uû ban nh©n d©n tØnh qu¶ng b×nh ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH Số 35 /BC UBND CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc Quảng Bình, ngày 15 tháng 3 năm 2018 BÁO CÁO Đánh giá kết quả[.]

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG BÌNH

Số: 35 /BC-UBND

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Quảng Bình, ngày 15 tháng 3 năm 2018

BÁO CÁO Đánh giá kết quả 4 năm thực hiện Nghị định số 203/2013/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định về phương

pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản

UBND tỉnh Quảng Bình nhận được Công văn số 440/BTNMT-ĐCKS ngày 26/01/2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc đánh giá kết quả 4 năm thực hiện Nghị định số 203/2013/NĐ-CP ngày 28/11/2013 của Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình báo cáo kết quả thực hiện như sau:

I ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH

Thực hiện Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12 ngày 17/11/2010 và Nghị định số 203/2013/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định

về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường tiếp nhận, kiểm tra, xác nhận tính pháp lý, mức độ đầy đủ của các hồ sơ tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản do tổ chức, cá nhân nộp; tổ chức tính và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo thẩm quyền Việc cấp phép khai thác thông qua chính sách thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đã làm tăng nguồn thu vào ngân sách nhà nước, kinh tế - xã hội của địa phương được đảm bảo, việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng ổn định và phát triễn Đáp ứng nguồn nguyên liệu phục vụ cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn

II KẾT QUẢ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN

1 Tình hình triển khai thực hiện:

Sau khi Luật Khoáng sản có hiệu lực thi hành vào ngày 01/7/2011, các văn bản dưới luật được ban hành Nhằm mục đích hướng dẫn việc thi hành Luật Khoáng sản và các Luật pháp khác có liên quan đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản và người dân địa phương UBND tỉnh Quảng Bình đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức tập huấn phổ biến Luật Khoáng sản

và các Nghị định, Thông tư trong đó có Nghị định số 203/2013/NĐ-CP ngày 28/11/2013 của Chính phủ, cho các đối tượng là Chủ tịch UBND các xã, phường, cán bộ địa chính các xã, phường; cán bộ làm công tác quản lý nhà nước

về khoáng sản tại các phòng tài nguyên môi trường các huyện, thị xã, thành phố; các tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản trên địa bàn Ngoài ra, các phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh cũng đã tham gia công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khoáng sản một cách sâu rộng, đã kịp thời góp phần nâng cao nhận thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân về vai trò, tầm quan trọng của khoáng sản và hoạt động khoáng sản

Trang 2

Thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khoáng sản, các tổ chức, cá nhân được cấp Giấy phép khai thác khoáng sản trước ngày Nghị định

số 203/2013/NĐ-CP ngày 28/11/2013 của Chính phủ có hiệu lực đã khẩn trương nộp hồ sơ tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản cho Sở Tài nguyên và Môi trường theo quy định

Việc tiếp nhận hồ sơ, tính và phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với các Giấy phép do UBND tỉnh cấp đảm bảo tính trung thực, chính xác, đảm bảo hài hòa lợi ích Nhà nước, doanh nghiệp và người dân địa phương nơi có khoáng sản

2 Kết quả đạt được sau 4 năm thực hiện:

Sau 4 năm thực hiện Nghị định số 203/2013/NĐ-CP ngày 28/11/2013 của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, UBND tỉnh Quảng Bình đã phê duyệt 149 dự án khai thác khoáng sản với tổng số tiền là 532.108.376.599 VN đồng, tổng số tiền đã thông báo 108.291.982.603 VN đồng, đã nộp 57.079.127.706 VN đồng, còn nợ 51.212.854.897 VN đồng Kết quả tính, thẩm định, phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đến 31/12/2017 được thống kê tại phụ lục kèm theo

+ Ưu điểm:

- Thực hiện chính sách thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản nhằm đảm bảo tính công bằng, công khai, minh bạch, giữa các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản;

- Tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước;

- Đảm bảo được hài hòa lợi ích Nhà nước - Doanh nghiệp và người dân địa phương nơi có khoáng sản khai thác

+ Hạn chế và nguyên nhân:

- Lấy trữ lượng địa chất để tính tiền cấp quyền khai thác là không đảm bảo được lợi ích của doanh nghiệp, vì một phần trữ lượng địa chất trong quá trình thiết kế khai thác phải để lại bờ mỏ, không khai thác được, nhưng doanh nghiệp phải nộp tiền cấp quyền khai thác

- Việc ban hành Nghị định chậm so với Luật Khoáng sản 2010 có hiệu lực, do đó việc tính, thu nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với các Giấy phép khai thác khoáng sản cấp trước ngày Luật Khoáng sản 2010 và trước ngày Nghị định 203/2013/NĐ-CP ngày 28/11/2013 có hiệu lực có nhiều bất cập, dẫn đến các Doanh nghiệp nợ đọng tiền cấp quyền khai thác khoáng sản kéo dài

3 Đánh giá việc thực hiện các quy định của Nghị định:

+ Về phương pháp tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản:

- Nghị định 203/2013/NĐ-CP ngày 28/11/2013 của Chính phủ quy định“

Trữ lượng tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản (Q) là trữ lượng địa chất nằm trong ranh giới khu vực được cấp phép khai thác”, không phù hợp với thực

tế, không tạo được sự đồng thuận của các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản

Trang 3

Đã được sữa đổi tại Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính

phủ “Trữ lượng tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản là trữ lượng khoáng

sản được phép đưa vào thiết kế khai thác, xác định trong dự án đầu tư hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật và được quy định trong Giấy phép khai thác khoáng sản”.

Đã tạo được sự đồng thuận cao trong các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản, đồng thời phù hợp vớt thực tế

- Nghị định 203/2013/NĐ-CP ngày 28/11/2013 chưa quy định phương pháp quy đổi giá tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, hiện nay đã được quy

định tại Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 “Giá tính tiền cấp

quyền khai thác khoáng sản được xác định trên cơ sở quy đổi từ giá tính thuế tài nguyên theo quy định của pháp luật về thuế tài nguyên tại thời điểm tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản” Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành

Thông tư số 38/2017/TT-BTNMT ngày 16/10/2017, hướng dẫn phương pháp quy đổi giá tính thuế tài nguyên để xác định giá tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản

- Mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản (R) được quy định theo nhóm, loại khoáng sản có giá trị từ 1% đến 5%, được thể hiện tại Phụ lục II kèm

theo Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ là phù hợp.

+ Về phương thức thu nộp:

- Đối với các giấy phép khai thác khoáng sản được cấp cho tổ chức, cá nhân, đã nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản nhưng chưa khai thác, nay vì

lý do khách quan hoặc không thuê được đất để tiến hành khai thác Tổ chức, cá nhân được cấp phép xin trả lại một phần diện tích mỏ hoặc trả lại toàn bộ Giấy phép, Nghị định 203/2013/NĐ-CP ngày 28/11/2013 của Chính phủ chưa quy định việc hoàn trả lại tiền cấp quyền khai thác khoáng sản doanh nghiệp đã nộp, gây khó khăn trong việc xử lý của cơ quan quản lý nhà nước

- Đối với mỏ đấu giá quyền khai thác khoáng sản, nếu trúng đấu giá thì số tiền dưới 50 tỷ phải nộp một lần là cao so với mỏ không phải đấu giá (nộp nhiều lần) làm cho các Doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp nhiều khó khăn trong việc nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai dự án

+ Về chế độ quản lý và sử dụng tiền cấp quyền khai thác khoáng sản Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 12 Nghị định số 203/2013/NĐ-CP ngày 28/11/2013 của Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình đã chỉ đạo Cục Thuế yêu cầu các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản tại Kho bạc Nhà nước tỉnh hoặc Kho bạc Nhà nước huyện, thị xã, thành phố, theo tài khoản thu của Cục Thuế hoặc tài khoản Chi cục Thuế huyện, thị xã, thành phố, đảm bảo đúng chương, mã nội dung theo quy định Việc thu, nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được thực hiện theo đúng quy định về thu và quản lý các khoản thu ngân sách nhà nước

+ Các quy định về xử lý vi phạm hành chính đối với các trường hợp nộp chậm tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, được thực hiện theo quy định tại

Trang 4

khoản 3 Điều 16 Nghị định số 203/2013/NĐ-CP ngày 28/11/2013 của Chính

phủ “ Trường hợp nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản vào ngân sách nhà

nước sau thời hạn quy định, thì ngoài số tiền phải nộp theo Thông báo, còn phải nộp tiền phạt theo quy định của pháp luật về quản lý thuế”.

+ Về cơ chế phối hợp từ Trung ương đến địa phương và các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp chặt chẽ với Cục Thuế, hàng năm phải tổng hợp số liệu về công tác thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản tại địa phương trình Ủy ban nhân dân tỉnh, đồng thời báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường theo quy định Cục Thuế thường xuyên cung cấp thông tin liên quan đến nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản cho Sở Tài nguyên và Môi trường hoặc Tổng cục Địa chất

và Khoáng sản Việt Nam theo thẩm quyền cấp phép biết, theo dõi; tổng hợp, hạch toán, báo cáo số thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo chế độ hiện hành

+ Tác động của việc cấp phép khai thác khoáng sản thông qua chính sách thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản

Sau 4 năm thực hiện chính sách thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, hoạt động khai thác khoáng sản của các tổ chức, cá nhân trong thời gian qua đã được chấn chỉnh Các tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản trên địa bàn đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, thuê đất trong hoạt động khai thác khoáng sản Từng bước nhận thức được quyền lợi, nghĩa vụ của mình và ngày một đi vào nề nếp, bảo đảm kỹ cương pháp luật, góp phần vào sự phát triển kinh tế- xã hội địa phương Đã làm tăng nguồn thu vào ngân sách nhà nước, kinh tế - xã hội của địa phương được đảm bảo, việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng ổn định và phát triển Đáp ứng nguồn nguyên liệu phục vụ cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn

Đối với các mỏ chưa đưa vào hoạt động khai thác hoăc không tiến hành hoạt động khai thác được phải trả lại Giấy phép do nguyên nhân khách quan thì việc thu tiền cấp quyền khai thác đã làm ảnh hưởng đến kinh tế, quyền lợi của Doanh nghiệp

III NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP VÀ NGUYÊN NHÂN

- Việc ban hành Nghị định chậm so với Luật Khoáng sản 2010 có hiệu lực,

do đó việc tính, thu nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với các Giấy phép khai thác khoáng sản cấp trước ngày Luật Khoáng sản 2010 và trước ngày Nghị định 203/2013/NĐ-CP ngày 28/11/2013 có hiệu lực có nhiều bất cập, dẫn đến các Doanh nghiệp nợ đọng tiền cấp quyền khai thác khoáng sản kéo dài

- Đối với các mỏ chưa đưa vào hoạt động khai thác hoặc trả lại một phần diện tích; trả lại toàn bộ Giấy phép không tiến hành hoạt động khai thác được do nguyên nhân khách quan thì việc thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản năm tiếp theo gặp nhiều khó khăn, dẫn đến các Doanh nghiệp nợ đọng kéo dài

Trang 5

- Nguyên nhân: Nghị định số 203/2013/NĐ-CP ngày 28/11/2013 chưa quy định cụ thể việc thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với các trường hợp nêu trên

IV ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

1 Đối với các Bộ, ngành ở trung ương cần ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, Nghị định để các cơ quan chức năng thực hiện việc quản lý nhà nước về khoáng sản kịp thời, có hiệu quả

2 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung Nghị định số 203/2013/NĐ-CP ngày 28/11/2013 của Chính phủ

- Đề nghị bổ sung quy định về việc thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với trường hợp các mỏ chưa đưa vào hoạt động khai thác hoặc trả lại một phần diện tích; trả lại toàn bộ Giấy phép không tiến hành hoạt động khai thác được do nguyên nhân khách quan

- Tại khoản 6, Điều 6 “Đối với các Giấy phép khai thác khoáng sản cấp sau ngày Nghị định này có hiệu lực, trong giấy phép phải thể hiện trữ lượng địa chất

là trữ lượng để tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản” Sửa đổi thành “Đối

với các Giấy phép khai thác khoáng sản cấp sau ngày Nghị định này có hiệu lực, trong giấy phép phải thể hiện trữ lượng địa chất; trữ lượng khoáng sản được phép đưa vào thiết kế khai thác là trữ lượng để tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản”.

Trên đây là Báo cáo đánh giá kết quả 4 năm thực hiện Nghị định số 203/2013/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường./

N¬i nhËn:

- Bộ Tài nguyên và Môi trường;

- Tổng cục ĐC&KS Việt Nam;

- CT, các PCT UBND tỉnh;

- Các Sở: TNMT, XD, CT;

- Văn phòng UBND tỉnh;

- Lưu: VT, CV TNMT.

TM ỦY BAN NHÂN DÂN

KT CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH

Đã ký

Nguyễn Xuân Quang

Ngày đăng: 28/06/2023, 11:54

w