ỦY BAN NHÂN DÂN ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc Số /BC UBND An Giang, ngày tháng 5 năm 2018 BÁO CÁO Tình hình kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm, p[.]
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: /BC-UBND An Giang, ngày tháng 5 năm 2018
BÁO CÁO Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm, phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2018
Phần thứ nhất Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2018
Năm 2018 là năm giữa nhiệm kỳ Kế hoạch phát triển kinh tế - xãhội 5 năm 2016 - 2020, có ý nghĩa quan trọng trong việc đẩy mạnh thựchiện các mục tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020.Nhìn chung, bước vào triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2018 tỉnh ta gặpnhiều thuận lợi, từ năm 2017 các Nghị quyết do Chính phủ ban hành vàcác chính sách (cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển doanh nghiệp,
du lịch, xuất khẩu, các giải pháp đẩy mạnh tăng trưởng ) đã phát huy tácdụng; giá các mặt hàng chủ lực ở mức cao, thị trường thuận lợi , từ đó đãgóp phần tăng trưởng GRDP 6 tháng đầu năm của tỉnh đạt khá so cùng kỳ
2017 Các lĩnh vực văn hoá, an sinh xã hội có nhiều chuyển biến tích cực,trật tự an toàn xã hội và quốc phòng an ninh được đảm bảo
Tổng sản phẩm trên địa bàn ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2018(theo giá so sánh 2010) tăng 6% so cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng5,5% của cùng kỳ năm 2017 Trong mức tăng 6% thì khu vực nông, lâmnghiệp và thuỷ sản tăng 1,18%, thấp hơn mức tăng 2,43% của năm 2017;khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 8,53%, cao hơn nhiều mức tăng6,79% của năm 2017; khu vực dịch vụ tăng 8,26%, cao hơn mức tăng7,02% của năm 2017; thuế sản phẩm trừ trợ giá sản phẩm tăng 6,09%,thấp hơn mức tăng 8,21% của năm 2017
2018
6 tháng 2017
6 tháng 2018
Khu vực Nông - Lâm - Thủy sản (%) 2-2,25 2,43 1,18Khu vực Công nghiệp - Xây dựng (%) 7,69-8,20 6,79 8,53
Trang 2Khu vực Dịch vụ (%) 8-8,66 7,02 8,26Thuế sản phẩm trừ trợ giá chính sách % 5,6 8,21 6,09
Về cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2018: tiếp tục chuyển biến theohướng tích cực và dần ổn định (khu vực I ngày càng giảm và khu vực II,III tăng dần qua các năm), trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷsản chiếm tỷ trọng 28,29%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm15,34%; khu vực dịch vụ chiếm 54,70%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sảnphẩm chiếm 1,67% (cùng kỳ năm 2017 lần lượt là: 30,35%; 14,65%;53,33% và 1,67%)
I Lĩnh vực kinh tế
1 Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản
Trong 6 tháng đầu năm 2018, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp vàthuỷ sản (theo giá so sánh 2010) ước đạt 18.762 tỷ đồng, bằng 101,94%(tăng gần 358 tỷ đồng) so cùng kỳ năm trước Nhìn chung, tình hình sảnxuất trên lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh trong những thángđầu năm là tương đối khả quan Năng suất các loại cây trồng vụ ĐôngXuân được đánh giá đạt mức cao (đặc biệt là năng suất lúa cả vụ ước tăng3,41 tạ/ha); giá cá tra nguyên liệu luôn ổn định ở mức cao nên quy mô nuôi
và sản lượng thu hoạch tang mạnh; công tác phòng cháy chữa cháy rừngđược quan tâm đúng mức; riêng đàn chăn nuôi gia súc - gia cầm mặc dù giábán có phần tăng, song do người dân còn lo ngại về tính bất ổn của thịtrường nên quy mô đàn chưa được mở rộng Cụ thể như sau:
1.1 Nông nghiệp
a) Trồng trọt: Trong 6 tháng đầu năm 2018 (gồm vụ Mùa và Đông
Xuân), toàn tỉnh gieo trồng được 254.703 ngàn ha, đạt 97,26% (giảm 7.174ha) so cùng kỳ, trong đó diện tích lúa 235.076 ha (giảm 6.119 ha) và hoamàu các loại gieo trồng đạt 19.627 ha (giảm 1.055 ha) so cùng kỳ Cụ thể:
+ Vụ Mùa (2017-2018) gieo trồng lúa với diện tích 102,7 ha, đạt25,68% kế hoạch, so cùng kỳ giảm 97,9% (giảm 4.861 ha); nguyên nhânchủ yếu do toàn bộ diện tích của huyện Tịnh Biên (4.818 ha lúa và 352 hahoa màu) và một phần huyện Tri Tôn (43 ha lúa) chuyển sang sản xuất 2
vụ hoặc trồng khoai mỳ
Trang 3+ Vụ Đông Xuân (2017-2018), kết thúc gieo trồng được 254,6 ngànlúa và hoa màu, đạt 98,71% kế hoạch và bằng 99,24% (giảm 1.960 ha) socùng kỳ Trong đó, cây lúa xuống giống được 234.973 ha, đạt 99,36% kếhoạch, bằng 99,47% (giảm 1.257 ha) so cùng kỳ và hoa màu thực hiệngieo trồng được 19.627 ha, đạt 91,63% kế hoạch, bằng 96,54% (giảm 703ha) so cùng kỳ Nguyên nhân giảm diện tích gieo trồng là do hầu hết cáchuyện đều có diện tích xuống giống lúa giảm do thực hiện chuyển dịchsang cây lâu năm (1.718 ha), nuôi thủy sản (85 ha), không sản xuất (772ha) và chuyển sang xây dựng cơ sở hạ tầng (103 ha) Mặt khác, do tậndụng đất bãi bồi, sản xuất từ đất lâm nghiệp, trên nền đất mùa trên, cácdiện tích năm trước lơi vụ và năm nay sản xuất lại, đo đạc lại diện tích đấtnông nghiệp nên diện tích tăng 718 ha.
Về năng suất, sản lượng, tính chung sản lượng lúa 6 tháng đầu năm(cả 2 vụ Mùa và Đông Xuân) đạt 1,73 triệu tấn, tăng 54,5 ngàn tấn so cùng
kỳ năm trước Trong đó, Vụ Mùa: toàn tỉnh đã thu hoạch trọn vẹn 100%,năng suất bình quân đạt 32,54 tạ/ha, giảm 5,9% (giảm 2,04 tạ/ha) so cùngkỳ; sản lượng cả vụ đạt 334 tấn, chỉ bằng 1,95% hay giảm 16.829 tấn so vụMùa năm trước (do giảm cả diện tích gieo trồng và năng suất) Vụ ĐôngXuân: năng suất thu hoạch bình quân chung cả vụ ước đạt khoảng 73,7tạ/ha, tăng 4,85% (tăng 3,41 tạ/ha) so cùng kỳ; sản lượng cả vụ ước đạt hơn1,73 triệu tấn, tăng 71,4 ngàn tấn (do tăng năng suất) Riêng sản lượng nếpthu hoạch 443 ngàn tấn, giảm 68 ngàn tấn so cùng kỳ
Cùng thời gian trên, toàn tỉnh cũng đã thu hoạch được 18.274 hahoa màu các loại Nhờ tình hình thời tiết thuận lợi nên năng suất các loạihoa màu nhìn chung có tăng chút ít so với cùng kỳ Sản lượng thu hoạchcủa một số loại hoa màu chủ lực của tỉnh như: Bắp đạt gần 23 ngàn tấn(tăng 722 tấn); khoai sọ 18,2 ngàn tấn (tăng 1.543 tấn); rau dưa các loạihơn 252,5 ngàn tấn (tăng 3.071 tấn); cây gia vị (ớt cay) 29,4 ngàn tấn(giảm 4.277 tấn) Riêng diện tích sen trồng lấy hoa là 11,6 ha (giảm 16ha), sản lượng đạt 267 ngàn bông (giảm 366 ngàn bông); trồng lấy ngó, củkhoảng 85 ha (tăng 25 ha), sản lượng đạt 1,5 ngàn tấn (tăng 258 tấn)
Trong 6 tháng đầu năm, diện tích cây lâu năm có khoảng 15,2 ngàn
ha, tăng 14,29% (tăng 1,9 ngàn ha) so với cùng kỳ Trong đó, diện tíchcho sản phẩm khoảng 10,9 ngàn ha (chiếm trên 71,72% tổng số), tănghơn 800 ha so với cùng kỳ Nhờ diện tích cho sản phẩm tăng qua từng
Trang 4năm đồng thời người dân tích cực chăm sóc, chuyển đổi giống, áp dụngkhoa học kỹ thuật nên năng suất hầu hết các loại cây trồng đều tăng, sảnlượng thu hoạch của các loại cây lâu năm trong 6 tháng đầu năm đạt gần94,7 ngàn tấn, tăng 10,05% (tăng hơn 8.650 tấn) Trong đó, sản lượng cácloại xoài chất lượng (cát Chu, cát Hòa Lộc, xoài 3 màu) đạt 46,1 ngàn tấn(chiếm 81,82% tổng sản lượng xoài, tăng 6,2 ngàn tấn so cùng kỳ); chuốicấy mô ước đạt hơn 3,7 ngàn tấn, tăng 500 tấn.
b) Chăn nuôi: Giá bán sản phẩm có nhiều dấu hiệu khởi sắc nhưng
do người nuôi còn lo ngại tính bất ổn của đầu ra nên quy mô đàn chăn nuôivẫn chưa có nhiều chuyển biến So thời điểm cùng kỳ, đàn trâu-bò cókhoảng 81 ngàn con, bằng 85,29% (giảm 14 ngàn con) Đàn heo có khoảng
100 ngàn con, bằng 89,46% (giảm 11,8 ngàn con) Đàn gia cầm hiện cókhoảng 3,6 triệu con, bằng 85,62% so cùng kỳ (giảm 600 ngàn con)
1.2 Lâm nghiệp: Trong 6 tháng đầu năm 2018, tổng sản lượng gỗ
khai thác ước đạt 40,5 ngàn m3, tăng 3,67% (tăng 1.435 m3) và 235 ngànster, tăng 4,01% (tăng 9.056 Ster) so cùng kỳ năm trước Thời tiết nắngnóng kéo dài, dự báo cháy rừng cấp V (cấp cực kỳ nguy hiểm) nên công tácPCCCR luôn được tỉnh quan tâm; tuy nhiên, do nông dân bất cẩn trongviệc đốt đồng nên trong tháng đã xảy ra 01 vụ cháy rừng tại đồi 1 núi PhúCường, thị trấn Tịnh Biên với diện tích cháy là 200 m2, chủ yếu cháy lá khômục, không gây thiệt hại về rừng
1.3 Thủy sản
a) Nuôi trồng: Giá cá tra nguyên liệu vẫn được thương lái thu mua ở
mức cao, từ 28,5 28,7 ngàn đồng/kg (loại 0,7 0,75 kg/con), từ 29,2 29,5 ngàn đồng/kg (loại 0,9 - 1 kg/con), chủ yếu do thị trường xuất khẩuthuận lợi nhưng nguồn cung không tăng nhiều nên giá luôn giữ ổn định ởmức cao Ước tính, sản lượng thuỷ sản thu hoạch 6 tháng đầu năm 2018gần 199 ngàn tấn, tăng 8,26% (tăng 15.172 tấn) so cùng kỳ, trong đó sảnlượng cá tra là 157,7 ngàn tấn, tăng gần 10% (tăng 14.327 tấn)
-b) Khai thác: Bước vào mùa khô, sản lượng thuỷ sản khai thác tự
nhiên có xu hướng giảm dần Ước tính, sản lượng thuỷ sản khai thác 6tháng đầu năm hơn 10 ngàn tấn, bằng 97,88% (giảm 219 tấn) so cùng kỳ.Riêng sản lượng chim yến khai thác 6 tháng đầu năm ước đạt 5 tấn, tăng4,7 tấn so cùng kỳ
Trang 52 Lĩnh vực Công nghiệp – Xây dựng
2.1 Sản xuất công nghiệp:
Hoạt động sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ước 6 thángđầu năm 2018 có nhiều khả năng tăng khá so cùng kỳ năm trước 1, mặthàng chủ lực của tỉnh như gạo, hiện nay các nhà máy, công ty hoạt độngkhá nhộn nhịp hầu như liên tục để cung cấp cho thị trường; chế biến thuỷsản chỉ ở mức cầm chừng vì giá thành nguyên liệu cao và thiếu hụt nhiều.Ước chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm đạt 7,50% so với cùng
kỳ năm trước; trong đó, tăng cao hơn mức tăng chung và cao nhất là ngànhchế biến, chế tạo tăng 8,16%; kế đến là ngành cung cấp nước và xử lý nướcthải, rác thải tăng 6,19%; ngành sản xuất, phân phối điện và nước đá tăng3,46% và ngành khai khoáng tăng 2,36%
Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ước 6 tháng đầunăm: Theo giá so sánh 2010 đạt 19.248 tỷ đồng, tăng 8,10% so cùng kỳnăm trước; trong đó, ngành khai khoáng đạt 397 tỷ đồng, tăng 9,97%;chế biến, chế tạo đạt 18.317 tỷ đồng, tăng 8,11%; sản xuất, phân phốiđiện và nước đá đạt 337 tỷ đồng, tăng 5,64%; ngành cung cấp nước và
xử lý nước thải, rác thải đạt 197 tỷ đồng, tăng 7,65% Theo giá hiện hànhđạt 25.690 tỷ đồng, tăng 8,54% so cùng kỳ năm trước; trong đó, ngànhkhai khoáng đạt 583 tỷ đồng, tăng 16,83%; chế biến, chế tạo đạt 24.319
tỷ đồng, tăng 8,33%; sản xuất, phân phối điện và nước đá đạt 520 tỷđồng, tăng 9,70%; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải đạt
268 tỷ đồng, tăng 8,94%
2.2 Đầu tư xây dựng: Ước giá trị giải ngân 6 tháng đầu năm được
1.812.783 triệu đồng, đạt 40,17% kế hoạch (4.512.846 triệu đồng) So cùng
kỳ năm trước, tỷ lệ giải ngân cao hơn cùng kỳ (6,27%) Trong đó: (1) nguồnvốn đầu tư tập trung 508.612 triệu đồng, đạt 44,86% kế hoạch; (2) nguồnvốn thu sử dụng đất 114.223 triệu đồng, đạt 45,69% kế hoạch; (3) Nguồnvốn xổ số kiến thiết 687.000 triệu đồng, đạt 46,83% kế hoạch; (4) vốn ngânsách trung ương 213.303 triệu đồng, đạt 45,51% kế hoạch; (5) vốn Trái
1 Trong các sản phẩm công nghiệp, một số sản phẩm đạt mức tăng cao trong 6 tháng đầu năm 2018 so cùng kỳ năm trước là: Gạo đã xát toàn bộ đạt 953.277 tấn, tăng 23,7; ba lô đạt 72,784 triệu cái, tăng 330 %; giày dép có
đế hoặc mũ bằng da đạt 6,694 triệu đôi, tăng 22,8%; xi măng Portland đen đạt 174.629 tấn, tăng 15,6%; bê tông trộn sẵn đạt 72.790 m 3 , tăng 36,1%; máy thu hoạch khác chưa được phân vào đâu đạt 613 cái, tăng 16,7% Một
số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Đá xây dựng đạt đạt 2.549.967 tấn, tăng 5,5%; phi lê đông lạnh đạt 75.403 tấn, tăng 2,4%; áo sơ mi cho người lớn đạt 9,507 triệu cái, tăng 7,1%; nước uống được đạt 34,699 triệu m 3 , tăng 5,1%; điện thương phẩm đạt 1.323 triệu kwh, tăng 3,6%; nước đá đạt 214.330 tấn, tăng 1,5%; cấu kiện cầu và nhịp cầu bằng sắt, thép đạt 703 tấn, tăng 3,6%.
Trang 6phiếu Chính phủ 80.436 triệu đồng, đạt 12% kế hoạch; (6) vốn nước ngoài209.210 triệu đồng, đạt 40% kế hoạch.
3 Thương mại – du lịch
3.1 Thương mại – Dịch vụ: Kinh tế xã hội những tháng đầu năm
phát triển tích cực, kết cấu hạ tầng ngày hoàn thiện đã kết nối kinh tế giữacác huyện, tỉnh lân cận tạo điều kiện tốt cho các tiểu thương phát triểnkinh doanh Đồng thời, chính quyền địa phương đã hỗ trợ cho các doanhnghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh qua việc thực hiện các chương trìnhxúc tiến thương mại, chương trình khuyến mãi; bên cạnh đó, các đơn vịdoanh nghiệp tổ chức nhiều kênh bán lẻ và các hội chợ hàng Việt về tậncác vùng nông thôn tạo điều kiện cho người dân tiếp cận mua sắm, giảmgiá kích cầu tiêu dùng trong dân cư ngay từ những tháng đầu năm, đã tạomôi trường thúc đẩy các hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ tiêudùng tiếp tục duy trì ổn định và phát triển
Tổng mức hàng hóa bán buôn, bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
6 tháng đầu năm ước đạt 106.736,4 tỷ đồng, tăng 10,69% so cùng kỳ nămtrước Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước 6tháng đầu năm 2018 đạt 54.651,7 tỷ đồng tăng 11,83% so cùng kỳ năm2017; Phân theo ngành hoạt động: Ngành thương nghiệp bán lẻ đạt40.619,0 tỷ đồng tăng 11,36%; ngành lưu trú, ăn uống đạt 10.301,1 tỷđồng tăng 13,85%, du lịch lữ hành đạt 7 tỷ đồng bằng 43,03%, dịch vụ đạt3.731,4 tỷ đồng tăng 11,79%
Nhìn chung mặc dù kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, nhưng tìnhhình kinh doanh thương mại - dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn vẫn tiếp tụcphát triển và tăng so với cùng kỳ năm trước Nhiều đơn vị, cơ sở đã mởrộng ngành nghề, cải tạo đầu tư mới cơ sở vật chất, đa dạng hóa các mặthàng, phương thức kinh doanh, các đơn vị luôn duy trì và tăng cườngnhiều chương trình khuyến mãi, thay đổi mẫu mã, giá hợp lý, nên thu hútkhách hàng đến mua sắm
Vận tải hành khách và hàng hoá: Ước tổng doanh thu hoạt động vậntải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 6 tháng đầu năm 2018 đạt 2.290,3 tỷđồng, tăng 7,01% so cùng kỳ năm trước Trong đó, hành khách đạt 909,8
tỷ đồng, tăng 6,9%; hàng hóa đạt 1.276 tỷ đồng, tăng 7,38%; kho bãi, dịch
vụ hỗ trợ vận tải đạt 104,5 tỷ đồng, tăng 3,46%
Trang 7Bưu chính - Viễn thông: Số máy điện thoại cố định ước trong tháng
4/2018: giảm 132 thuê bao so với cuối tháng 3/2018 Lũy kế số thuê baoước có trên mạng đến cuối tháng 4/2018 là: 51.027 thuê bao Số máy điệnthoại di động trả sau ước trong tháng 4/2018: giảm 37 thuê bao so vớicuối tháng 3/2018 Lũy kế số thuê bao ước có trên mạng đến cuối tháng4/2018 là: 31.780 thuê bao Số thuê bao Internet ước trong tháng 4/2018:tăng 990 thuê bao so với cuối tháng 3/2018 Lũy kế số thuê bao ước cótrên mạng đến cuối tháng 4/2018 là: 548.216 thuê bao
3.2 Du lịch: Công tác tuyên truyền, quảng bá xúc tiến du lịch trong
những tháng đầu năm gồm có một số hoạt động tiêu biểu như: Hỗ trợ đoànphóng viên thuộc Công ty lữ hành Scenic Luxury Cruise (Úc) thực hiệnquay phim phóng sự tại Châu Đốc, Tịnh Biên để giới thiệu về Du lịch ViệtNam; phối hợp với Đài Phát thanh Truyền hình An Giang thực hiện chuyên
đề du lịch; tham gia Hội nghị xúc tiến quảng bá du lịch “Sắc màu HàGiang” năm 2018 và Lễ hội Bánh dân gian Nam Bộ tại thành phố Cần Thơ
Hoạt động du lịch, lữ hành: Tính từ đầu năm đến nay, tổng lượtkhách du lịch ước khoảng 3.900.000 lượt, đạt 52% kế hoạch, tăng 5,4% sovới cùng kỳ năm 2017; trong đó có khoảng 24.000 lượt khách quốc tế.Doanh thu du lịch ước đạt 2.000 tỷ đồng, tương đương 46% kế hoạch vàtăng 33,34% so với cùng kỳ năm trước
4 Hoạt động xuất, nhập khẩu
4.1 Xuất khẩu: Nhìn chung, tình hình xuất khẩu hàng hóa trong
những tháng đầu năm 2018 tiếp tục khởi sắc, sôi động và tăng khá so cùng
kỳ năm trước Trong đó, các mặt hàng chủ lực của tỉnh như gạo có bướctăng trưởng mạnh về sản lượng và giá trị; cá tăng trưởng mạnh về sảnlượng; các mặt hàng khác như rau quả, hàng dệt may, túi xách, ví, va li, mũ
và ô dù đều tăng trưởng khác về giá trị Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 6tháng đầu năm ước đạt 385,12 triệu USD, đạt 45,84% so kế hoạch năm vàbằng 109,61% so cùng kỳ năm trước Điểm qua một số mặt hàng xuất khẩuchủ yếu của tỉnh như sau:
- Thuỷ sản: Ước 6 tháng xuất đạt 57.398 tấn, tương đương 130,12
triệu USD, so KH đạt 48,19% về kim ngạch; so cùng kỳ đạt 95,18% vềlượng và đạt 114,03% về kim ngạch Dự đoán xuất khẩu thủy sản đônglạnh trong năm 2018 sẽ đạt kim ngạch cao do giá xuất khẩu bình quân tăngkhoảng 20% so cùng kỳ
Trang 8- Gạo: Ước xuất khẩu 6 tháng đạt 216.863 tấn, tương đương 110,46
triệu USD, so KH đạt 44,18% về kim ngạch; so cùng kỳ đạt 131% về lượng
và đạt 145,05% về kim ngạch Dự báo, nhiều khả năng giá lúa gạo trên thịtrường xuất khẩu sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao khi có thêm những hợp đồngxuất khẩu lớn trong thời gian tới
- Rau quả đông lạnh: Ước 6 tháng đạt 4.070 tấn, tương đương 7,06
triệu USD, so KH đạt 41,5% về kim ngạch; so cùng kỳ đạt 97,53% vềlượng và đạt 106,3% về kim ngạch
- Hàng dệt, may (quần áo, ba lô các loại): Ước xuất khẩu 6 tháng
kim ngạch đạt 37,92 triệu USD, so KH đạt 34,47% về kim ngạch; so cùng
kỳ đạt 106,36% về kim ngạch
Ngoài ra, vẫn còn một số mặt hàng xuất khẩu khác có kim ngạch đạtkhá so cùng kỳ năm trước như: Bánh kẹo và sản phẩm từ ngũ cốc đạt 3triệu USD, tăng 44,9%; giày, dép các loại xuất khẩu đạt 8,36 triệu USD;Phân bón các loại đạt 8,28 triệu USD, tăng 70,9%; xi măng đạt 0,53 triệuUSD, tăng 23,4%
4.2 Nhập khẩu: Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 6 tháng đầu năm
2018 ước đạt 69,11 triệu USD, trong đó: Phân bón các loại đạt 5,11 triệuUSD, tăng 174,6%; thuốc trừ sâu và nguyên liệu đạt 15,87 triệu USD, tăng54,1%; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giầy đạt 4,71 triệu USD, tăng 187%;sắt thép các loại đạt 1,23 triệu USD, tăng 83,5%; hàng hóa khác đạt 10,91triệu USD, tăng 67,3%; vải các loại đạt 23,5 triệu USD, tăng 1,22%
5 Đăng ký kinh doanh và thu hút đầu tư
Tình hình đăng ký doanh nghiệp:
Tính từ đầu năm đến ngày 13/5/2018, số doanh nghiệp đăng ký thànhlập mới là 271 doanh nghiệp, với tổng vốn đăng ký là 1.965 tỷ đồng, tăng2,65% về số doanh nghiệp và tăng 2,90% về số vốn đăng ký so với cùng kỳnăm 2017 2 Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 44 doanh nghiệp,giảm 30,15% so với cùng kỳ Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạtđộng là 139 doanh nghiệp, tăng 15,83% so với cùng kỳ
Lũy kế đến nay, số doanh nghiệp đăng ký trên địa bàn tỉnh là 8.839doanh nghiệp, với tổng vốn đăng ký là 51.262 tỷ đồng Trong đó, số doanh
2 Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 7,25 tỷ đồng, tăng 25,86% so với cùng kỳ
Trang 9nghiệp còn hoạt động là 5.872 doanh nghiệp, với tổng vốn đăng ký là50.594 tỷ đồng
Tình hình thu hút đầu tư:
- Đầu tư trong nước: Tính từ đầu năm đến ngày 14/5/2018, trên địabàn tỉnh đã thu hút 32 dự án đầu tư mới với tổng vốn đăng ký là 11.437 tỷđồng, so với cùng kỳ năm 2017 số dự án giảm 19% (giảm 06 dự án) Tuynhiên tổng vốn đăng ký đầu tư tăng 173% (tăng 7.240 tỷ đồng) Trong đó,
Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định chủ trương đầu tư 29 dự án với tổng vốnđăng ký là 11.090 tỷ đồng; Ban quản lý khu kinh tế tỉnh cấp Giấy chứngnhận đăng ký đầu tư 03 dự án với tổng vốn đăng ký là 347 tỷ đồng
- Đầu tư nước ngoài: Từ đầu năm đến ngày 14/5/2018, trên đại bàntỉnh không có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp mới Cấp điềuchỉnh Quyết định chủ trương đầu tư và Giấy chứng nhận đăng ký đầu tưcho 01 dự án (số vốn điều chỉnh giảm 2.866.219 USD)
So cùng kỳ năm 2017, số dự án được cấp mới giảm 02 dự án, số vốnđầu tư đăng ký giảm 2.284.890 USD; số dự án được cấp Giấy chứng nhậnđăng ký đầu tư điều chỉnh giảm 01 dự án
Lũy kế đến nay, toàn tỉnh hiện có 37 dự án đầu tư trực tiếp nướcngoài còn hiệu lực (trong đó có 07 dự án thuộc Ban quản lý Khu Kinh tếquản lý), với tổng vốn đăng ký đầu tư 259.791.333 USD, tổng vốn thựchiện là 135.373.302 USD (chiếm 52% tổng vốn đầu tư đăng ký)
II Tài chính - Ngân hàng
1 Tài chính: Ước tổng thu ngân sách từ kinh tế địa bàn 6 tháng đầu
năm là 3.320 tỷ đồng, đạt 58,25% dự toán, tăng 6,95% so cùng kỳ, baogồm: Thu thuế xuất nhập khẩu, tiêu thụ đặc biệt, giá trị gia tăng hàng nhậpkhẩu 80 tỷ đồng, bằng 91,62% so cùng kỳ; Thu nội địa 3.239 tỷ đồng, tăng7,71% so với cùng kỳ Tổng chi ngân sách Nhà nước địa phương 6 thángđầu năm đạt 5.899 tỷ đồng, đạt 44,39% dự toán và tăng 16,36% so cùng kỳ
2 Ngân hàng
- Hoạt động huy động vốn: Tổng số dư vốn huy động ước thực hiện
đến cuối tháng 5/2018 là 44.646 tỷ đồng, so cuối năm 2017 tăng 8,28%;trong đó huy động trên 12 tháng 17.790 tỷ đồng, chiếm 39,84%/tổng số
dư vốn huy động
Trang 10- Hoạt động tín dụng: Tổng dư nợ ước thực hiện đến cuối tháng
5/2018 là 64.690 tỷ đồng, so với cuối năm 2017 tăng 6,41%, so với cùng
kỳ tăng 13,7% (cùng kỳ 56.895 tỷ đồng)
- Kết quả thực hiện một số chương trình tín dụng:
+ Cho vay phục vụ sản xuất, thu mua xuất khẩu lúa gạo: Các TCTD
đã triển khai, thực hiện kế hoạch giải ngân vốn đầu tư đối với các doanhnghiệp thu mua lương thực Doanh số cho vay đến cuối tháng 4/2018 là2.735 tỷ đồng, dư nợ là 6.077 tỷ đồng
+ Triển khai chính sách tín dụng cho nuôi trồng, thu mua và chế biến thuỷ sản xuất khẩu: (i) Hộ nuôi trồng thủy sản: Dư nợ đến cuối tháng
4/2018 là 2.475 tỷ đồng, so với 31/12/2017 tăng 7,28%, (trong đó cá tra1.139 tỷ đồng, chiếm 46,02%/tổng dư nợ cho vay nuôi trồng thủy sản)tương đương với 4.668 hộ (trong đó cá tra là 961 hộ); (ii) Doanh nghiệpthu mua chế biến thủy sản: Dư nợ đến cuối tháng 4/2018 là 2.039 tỷ đồng,
nay, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Chi nhánh An Giang
đã có dư nợ 301,6 tỷ đồng gồm: (i) Công ty TNHH SXTMDV Thuận An vaychuỗi liên kết cá tra là 221,2 tỷ đồng (ii) Công ty CP Rau quả thực phẩm AnGiang vay chuỗi rau quả xuất khẩu là 80,4 tỷ đồng
+ Cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ: Đến nay các TCTD trên địa bàn đã giải ngân
đầu tư với tổng dư nợ là 393 tỷ đồng, với tổng số hộ vay là 740 hộ
+ Cho vay về chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ: Tính đến cuối Quý I năm 2018 dư nợ là 34.686 tỷ đồng, tăng 8,41%
so với 31/12/2017; chiếm 53,61%/tổng dư nợ toàn tỉnh