T×nh h×nh sn xuÊt n«ng – l©m – thuû sn th¸ng 1 n¨m 2004 TỔNG CỤC THỐNG KÊ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM CỤC THỐNG KÊ QUẢNG BÌNH Độc lập Tự do Hạnh Phúc Số 445/BC CTK Quảng Bình, ngày 6 tháng 11 n[.]
Trang 1TỔNG CỤC THỐNG KÊ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM CỤC THỐNG KÊ QUẢNG BÌNH Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
Số: 445/BC-CTK Quảng Bình, ngày 6 tháng 11 năm 2015
BÁO CÁO
DỰ ƯỚC TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
NĂM 2015
Triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình năm
2015 diễn ra trong điều kiện khá thuận lợi Năng suất, sản lượng cây trồng đạt khá; sản xuất thủy sản được Nhà nước quan tâm đầu tư; giá xăng dầu ở mức thấp góp phần giảm chi phí đầu vào, hạ giá thành sản phẩm, thúc đẩy tiêu dùng xã hội; lạm phát được kiểm soát tốt; mặt bằng lãi suất ổn định đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn Bên cạnh đó, phát triển sản xuất, kinh doanh trong tỉnh gặp một số khó khăn, thách thức: Thị trường xuất khẩu gặp khó khăn, đầu ra cho sản phẩm còn lúng túng; ngành công nghiệp chưa tạo bước đột phá đã ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển sản xuất
Năm 2015, với những thuận lợi và khó khăn đan xen, nhưng dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp, tỉnh Quảng Bình đã thực hiện đồng
bộ, hiệu quả Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 3 tháng 1 năm 2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015 và Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia 2 năm 2015 - 2016 Nhờ đó, năm 2015 kinh tế tăng trưởng ổn định, thu ngân sách và tín dụng tăng trưởng khá; ngành du lịch có nhiều khởi sắc; các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ; quốc phòng - an ninh được tăng cường, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; công tác đảm bảo an sinh xã hội được chú trọng, lạm phát thấp nên đời sống nhân dân ổn định và được cải thiện
Dự ước kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu trong năm
2015 như sau:
1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) 6,7%; trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,6%, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 7,6%, khu vực dịch vụ tăng 7,6%;
2 Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4%, đạt KH đề ra (KH tăng 3,5%);
3 Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 10,1%, đạt KH đề ra (KH tăng 10%);
4 Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 8,1%;
5 Cơ cấu kinh tế: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 24,6%; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 24,8%; khu vực dịch vụ chiếm 50,6%;
6 Sản lượng lương thực 29,8 vạn tấn, giảm 0,3% so với năm 2014, vượt KH 6,5% (KH 28 vạn tấn);
Trang 27 Kim ngạch xuất khẩu 104,1 triệu USD, giảm 27,2% so với năm 2014 và đạt 69,4% so kế hoạch (KH 150 triệu USD);
8 Giảm tỷ lệ hộ nghèo 3,0% (KH 3-3,5%) Tỷ lệ hộ nghèo còn 7,23% theo chuẩn mới (nếu loại trừ các hộ nghèo thuộc đối tượng chính sách bảo trợ xã hội thì
tỷ lệ hộ nghèo còn 4,93%)
9 Giải quyết việc làm 3,23 vạn lao động (KH 3,2 vạn lao động);
10 Phổ cập THCS đạt 100% xã, phường, thị trấn (KH 100%);
11 Tỷ lệ trạm y tế đạt chuẩn Quốc gia về y tế đạt 80,5% (KH 80,5);
12 Tỷ lệ dân số đô thị được sử dụng nước sạch đạt 96% (KH 95%);
13 Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 84,3% (KH 83%);
14 Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm so năm trước 1,0% (KH 1,0%);
15 GRDP bình quân đầu người 27,3 triệu đồng (KH 28 triệu đồng)
I KINH TẾ
Ước tính sơ bộ, tổng sản phẩm trên địa bàn toàn tỉnh (GRDP) năm 2015 tăng 6,7% so với năm 2014 Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,6%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,6%, đóng góp 2 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 7,6%, đóng góp 3,9 điểm phần trăm
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong tỉnh năm 2014 và năm 2015 (%)
Tốc độ tăng so với năm trước
Đóng góp của các khu vực vào tăng trưởng năm 2015
Năm 2014
Năm 2015
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 3,7 3,6 0,8
Cơ cấu khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 24,6%, giảm 0,3% điểm phần trăm; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 24,8%, tăng 0,1 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ chiếm 50,6%, tăng 0,2 điểm phần trăm so với năm 2014
Kinh tế năm 2015 đạt mức độ tăng trưởng khá do cả 3 khu vực kinh tế đều
có tốc độ phát triển ổn đinh Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, cây lúa cơ bản được mùa; đàn gia súc, gia cầm cơ bản đã khống chế được dịch bệnh nên phát triển tốt; đánh bắt thủy sản xa bờ có hiệu quả nên sản lượng thủy sản tăng cao Khu vực công nghiệp - xây dựng nhờ lãi suất ngân hàng tiếp tục giảm đáng kể, các chính sách của Nhà nước về hỗ trợ kinh tế đã và đang phát huy tác dụng đã góp phần đẩy nhanh tăng trưởng của khu vực này Tăng trưởng năm 2015 có sự đóng góp lớn nhất của khu vực dịch vụ, nhờ tổng mức bán lẻ hàng hóa, tăng trưởng tín
Trang 3dụng tăng cao; việc có thêm nhiều sản phẩm du lịch mới, với lượt khách đến tăng khá đã góp phần thúc đẩy ngành bán lẻ, khách sạn, nhà hàng du lịch và dịch vụ phát triển
Cụ thể từng ngành, từng lĩnh vực như sau:
1 Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản
Dự ước giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản (giá so sánh năm 2010) năm
2015 đạt 7.368,8 tỷ đồng, tăng 4,0% so với năm 2014 Trong đó: Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 4.740,1 tỷ đồng, tăng 3,6%; giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 512,1
tỷ đồng, bằng 89,2%; giá trị sản xuất thuỷ sản đạt 2.116,6 tỷ đồng, tăng 9,2% so với năm 2014
1.1 Nông nghiệp
a Trồng trọt
Thời tiết tương đối thuận lợi, cùng với việc đẩy mạnh áp dụng kỹ thuật vào sản xuất, sự chỉ đạo kịp thời của cấp ủy Đảng, chính quyền nên năm 2015 ngành trồng trọt cơ bản được mùa Ngành trồng trọt được chú trọng phát triển theo hướng tập trung, sản xuất hàng hóa và nâng cao chất lượng nông sản
Năm 2015 diện tích gieo trồng cây hàng năm 85.544,1 ha, bằng 99,9% so năm trước Diện tích chia theo nhóm cây: Cây lúa 54.204,2 ha, bằng 99,9%; cây ngô và cây lương thực có hạt khác 4.756,7 ha, tăng 4,5%; cây lấy củ có chất bột 10.680,7 ha, tăng 3,2%; cây mía 90 ha, tăng 26,8%; cây thuốc lá, thuốc lào 4,7 ha, bằng 78,3%; cây lấy sợi 8,8 ha, bằng 88,0%; cây có hạt chứa dầu 5.320 ha, bằng 93,7%; cây rau, đậu, hoa, cây cảnh 8.064,5 ha, tăng 0,7%; cây gia vị, dược liệu hàng năm 488,9 ha, bằng 62,9%; cây hàng năm khác 1.925,6 ha, bằng 97,8%
Diện tích một số cây chủ yếu: Cây lúa 54.204,2 ha, bằng 99,9%; cây ngô 4.645,5 ha, tăng 4,1%; cây khoai lang 3.712,5 ha, bằng 99,5%; cây sắn 6.271,6 ha, tăng 7,3%; khoai khác 696,6 ha, bằng 90,3%; cây mía 90 ha, tăng 26,8%; cây rau các loại 5.671 ha, tăng 2,2%; cây đậu các loại 2.311 ha, bằng 97,6%; cây lạc 4.880,5 ha, bằng 92,9% so cùng kỳ
Năng suất cây trồng cả năm đạt khá, một số cây trồng tăng so năm trước Cụ thể năng suất một số cây trồng chủ yếu: Lúa đạt 50,7 tạ, bằng 99,1%; ngô đạt 49,8
tạ, tăng 3,8%; khoai lang đạt 70,9 tạ, bằng 96,3%; sắn đạt 182,5 tạ, bằng 98,5%; khoai khác 74,8 tạ, tăng 0,2%; rau các loại đạt 95,9 tạ, tăng 0,7%; đậu các loại đạt 8,6 tạ, bằng 97,8%; lạc đạt 20,0 tạ, tăng 8,3% so năm trước
Dự ước sản lượng lương thực cả năm thực hiện 298.338,1 tấn, so năm trước bằng 99,7% và vượt 6,5% so với kế hoạch Sản lượng lương thực chia ra: Thóc 274.880,1 tấn, bằng 99,1%; lương thực khác 23.458 tấn, tăng 8,3% so năm trước
Diện tích cây lâu năm thực hiện 24.031,1 ha, tăng 4,2% so năm trước Diện tích một số cây trồng chủ yếu như sau: Cây hồ tiêu 815,4 ha, tăng 2,6%; cây cao
su 18.801 ha, tăng 4,6% Sản lượng hồ tiêu khai thác 530 tấn, tăng 4,1%; sản lượng cao su khai thác 5.300 tấn, tăng 47,3% so năm trước
Nhìn chung, cây hàng năm tương đối ổn định và cơ bản được mùa Sản lượng lương thực có giảm so năm trước nhưng vượt kế hoạch đề ra Diện tích cây lâu năm có xu hướng vừa tăng quy mô vừa thực hiện chuyển đổi cây trồng, theo
Trang 4đó một số cây có hiệu quả kinh tế cao hơn được phát triển nhanh ở các địa phương
b Chăn nuôi
Từ đầu năm đến nay tình hình dịch bệnh ít xẩy ra nên ngành chăn nuôi phát triển ổn định Tuy nhiên do khó khăn về thị trường tiêu thụ nên có những thời điểm sản phẩm gia cầm đã đến kỳ xuất chuồng nhưng không tiêu thụ được, giá thịt hơi gia cầm xuống mức thấp nhất trong nhiều năm qua Nhiều hộ chăn nuôi, chủ trang trại thua lỗ nặng, ảnh hưởng đến đầu tư mở rộng tổng đàn
Dự ước đàn gia súc, gia cầm năm 2015: Đàn trâu 35.370 con, tăng 1,3%; đàn bò 90.856 con, tăng 1,8%; đàn lợn 362.490 con, tăng 1,1%; đàn gia cầm 2.740 ngàn con, tăng 3,9% so năm trước Dự ước sản lượng thịt hơi xuất chuồng cả năm thực hiện 65.711 tấn, so năm trước tăng 5,7%: Cụ thể: Thịt trâu 2.065 tấn, tăng 5,6%; thịt bò 5.982 tấn, tăng 2,7%; thịt lợn 48.802 tấn, tăng 5,7%; thịt gia cầm 8.862 tấn, tăng 7,5%
Nhờ thực hiện tốt công tác kiểm soát dịch bệnh, chủ động triển khai các đợt tiêm vắc xin nên mức độ ảnh hưởng của dịch bệnh đối với đàn gia súc, gia cầm không đáng kể Tổng đàn phát triển ổn định, chăn nuôi tập trung từng bước được
mở rộng quy mô, theo đó sản lượng xuất chuồng năm nay tăng khá
1.2 Lâm nghiệp
Dự ước diện tích rừng trồng tập trung thực hiện 5.500 ha, bằng 81,1% so với năm trước và đạt 100% kế hoạch Trong đó: Rừng phòng hộ trồng mới 900 ha, bằng 93,7%; rừng sản xuất trồng mới 4.600 ha, bằng 79,1% so cùng kỳ Dự ước số cây trồng phân tán 4.230 ngàn cây, tăng 0,3%; diện tích rừng trồng được chăm sóc 14.740 ha, bằng 85,1%; diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh 4.500 ha, bằng 93,8%; diện tích rừng được giao khoán bảo vệ thực hiện 114.000 ha, bằng 97,0%
so năm trước
Dự ước sản lượng gỗ khai thác cả năm 2015 thực hiện 200.000 m3, bằng 78,5% so năm trước, trong đó chủ yếu là khai thác từ rừng tự nhiên Sản lượng nhựa thông khai thác 1.500 tấn, bằng 55,6%; sản lượng củi khai thác 177.000 ste,
so năm trước bằng 79% Nguyên nhân sản lượng gỗ, củi đạt thấp là do đã khai thác hết diện tích rừng trồng bị hư hại do bão năm trước ảnh hưởng
Sản phẩm khai thác từ rừng được kiểm soát chặt chẽ, công tác trồng rừng, chăm sóc rừng được thực hiện theo đúng kế hoạch Công tác quản lý, bảo vệ rừng, công tác phòng, chống cháy rừng được triển khai đồng bộ Tuy nhiên, do nắng nóng kéo dài nên hiện tượng cháy rừng xẩy ra nhiều vụ hơn so năm trước
Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty nông, lâm nghiệp Quốc doanh, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo về Phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới công ty nông, lâm nghiệp thuộc UBND tỉnh, trong đó ngành lâm nghiệp liên quan đến 2 Công ty: Công ty TNHH MTV Lâm công nghiệp Long Đại và Công ty TNHH MTV Lâm công nghiệp Bắc Quảng Bình Trong thời gian qua, UBND tỉnh đã có văn bản chỉ đạo các công ty xây dựng Phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới các công ty nông, lâm nghiệp tỉnh Quảng Bình để trình UBND tỉnh và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
1.3 Thủy sản
Trang 5Năm 2015 diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh thực hiện 5.020,6 ha, tăng 1% so năm trước, tăng chủ yếu là diện tích nuôi cá trong ruộng lúa tái sinh Riêng diện tích nuôi tôm sú giảm, tôm thẻ chân trắng tăng nhưng không đáng kể Tổng
số lồng, bè nuôi trồng thủy sản hiện có 1.262 lồng, so cùng kỳ tăng 5,1% Tàu, thuyền khai thác hải sản có động cơ 4.010 chiếc, so năm trước bằng 98,6% Số tàu, thuyền khai thác hải sản có động cơ giảm nhưng số lượng tàu 90CV trở lên tăng nhanh, toàn tỉnh hiện có 1.167 chiếc, so năm trước tăng 14,2% Tổng công suất tàu thuyền khai thác hải sản có động cơ 501.466 CV, so năm trước tăng 45,6%
Dự ước sản lượng thủy sản năm 2015 thực hiện 69.400 tấn, so năm trước tăng 7,5% Trong đó: Cá các loại 54.041,3 tấn, so năm trước tăng 8,0%; tôm các loại 6.220,7 tấn, so năm trước tăng 3,2%; thủy sản khác 9.138,0 tấn, so năm trước tăng 7,8%
Dự ước năm 2015 sản lượng nuôi trồng thu hoạch thực hiện 11.808,3 tấn, tăng 5,2% Trong đó: Cá các loại 6.265,6 tấn, so năm trước tăng 6,5%; tôm các loại 5.130,5 tấn, so năm trước tăng 3,7% (tôm sú 660 tấn, tăng 14,7%; tôm thẻ chân trắng 4.460,3 tấn, tăng 13,1%); thủy sản khác 412,2 tấn, so năm trước tăng 4,9%
Dự ước năm 2015 sản lượng khai thác thực hiện 57.591,7 tấn, tăng 8,0% so năm trước Trong đó: Cá các loại 47.775,7 tấn, tăng 8,2%; tôm các loại 1.090,2 tấn, tăng 1,0%; thủy sản khác 8.725,8 tấn, tăng 7,9% so năm trước Riêng khai thác biển thực hiện 55.080 tấn, so năm trước tăng 9,1%
1.4 Tình hình trang trại
Trang trại ở một số địa phương có xu hướng phát triển khá Đặc biệt, loại hình trang trại chăn nuôi và sản xuất tổng hợp tăng nhanh hơn Toàn tỉnh hiện có
651 trang trại, so cùng kỳ năm trước tăng 24 trang trại Chia ra: Trồng trọt có 282 trang trại, giảm 1 trang trại; chăn nuôi có 114 trang trại, tăng 18 trang trại; lâm nghiệp có 14 trang trại, bằng năm trước; nuôi trồng thủy sản có 50 trang trại, giảm 5 trang trại; tổng hợp có 191 trang trại, tăng 12 trang trại so năm trước Các địa phương có số lượng trang trại tăng là Lệ Thủy, Quảng Ninh, Đồng Hới, Ba Đồn; các địa phương khác ổn định số lượng hoặc giảm không đáng kể
2 Công nghiệp
Nhằm thúc đẩy sản xuất công nghiệp phát triển, trong thời gian qua các cấp, các ngành đã tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các cơ sở sản xuất công nghiệp lớn, các dự án mới đầu tư sản xuất ổn định, khai thác tốt công suất thiết bị Bên cạnh đó, chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ các
dự án công nghiệp đang triển khai để sớm hoàn thành, đưa vào hoạt động đúng tiến độ, như may xuất khẩu tại huyện Lệ Thủy và thị xã Ba Đồn, các Nhà máy sản xuất gạch không nung nhằm tăng giá trị sản xuất công nghiệp Bằng nhiều chính sách thu hút đầu tư, trong những năm qua, nhiều dự án may được triển khai tại Quảng Bình Các dự án sau khi đi vào sản xuất sẽ góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất công nghiệp, tạo thêm nguồn thu cho ngân sách và quan trọng nhất là giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương
Trang 6Năm 2015, một số ngành được đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất nên có tốc độ tăng trưởng khá cao, như ngành sản xuất trang phục, ngành sản xuất sản phẩm khoáng phi kim loại Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều doanh nghiệp gặp không ít khó khăn, nhiều doanh nghiệp sản xuất sản phẩm không tìm được thị trường tiêu thụ, ngừng sản xuất và giải thể, nhiều doanh nghiệp thiếu nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, năng lực sản xuất của một số nhà máy chủ lực của ngành công nghiệp đang tiến tới mức bão hòa…
* Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)
Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2015 ước tăng 9,2% so với năm 2014 Trong đó: ngành khai khoáng giảm 1,9%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,1%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt… tăng 5,3%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,0%
Một số sản phẩm sản xuất chủ yếu ngành công nghiệp ước thực hiện năm 2015: Đá xây dựng 3,1 triệu m3, tăng 4,9%; mực đông lạnh 1.117 tấn, giảm 2,6%; tinh bột sắn 17.954 tấn, tăng 6,0%; bia đóng chai 21 triệu lít, tăng 5,4%; gạch lát nền 6,6 triệu viên, giảm 1,6%; gạch xây bằng đất sét nung 219,1 triệu viên, tăng 7,1%; clinker thành phẩm 2,8 triệu tấn, tăng 13,4%; xi măng 1,6 triệu tấn, tăng 16,3%; điện thương phẩm đạt 860 triệu Kwh, tăng 4,9%; nước máy 7,9 triệu m3, tăng 8,4% so cùng kỳ năm trước…
* Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 2010 (giá cơ bản)
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2015 ước thực hiện 8.965,5 tỷ đồng, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước Trong đó: ngành khai khoáng thực hiện đạt 322,4 tỷ đồng; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước thực hiện 8.409,8 tỷ đồng; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt ước thực hiện 162 tỷ đồng; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải ước thực hiện 71,3 tỷ đồng
Tăng trưởng của ngành công nghiệp trong năm 2015, có sự đóng góp của các sản phẩm chủ yếu như: Xi măng, klinker, sản phẩm may, sản phẩm dăm gỗ
3 Xây dựng và vốn đầu tư
Trong năm 2015, các doanh nghiệp, cơ sở xây dựng đã tích cực tìm kiếm việc làm, trong đó một số doanh nghiệp lớn tiếp tục phát triển mở rộng ra các tỉnh thành trong cả nước Qua đó tăng doanh thu cho doanh nghiệp và tạo công ăn việc làm cho người lao động Năm nay, trên địa bàn tỉnh triển khai nhiều công trình có nguồn vốn lớn thuộc các ngành giao thông; y tế và giáo dục; ngành quản lý nhà nước và ngành nông, lâm, nghiệp và thủy sản thực hiện thi công xây dựng trên địa bàn tỉnh Bên cạnh đó, xây dựng nhà ở dân cư tăng cao góp phần nâng cao giá trị sản xuất ngành xây dựng
Giá trị sản xuất ngành xây dựng năm 2015 (theo giá so sánh năm 2010) toàn tỉnh ước thực hiện 4.538,4 tỷ đồng, tăng 14,2% so cùng kỳ năm 2014 Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước giá ước thực hiện 151,4 tỷ đồng, tăng 5,7%; khu vực ngoài nhà nước ước thực hiện 4.387 tỷ đồng, tăng 14,5% so với năm 2014
Năm 2015 khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội ước thực hiện 10.133 tỷ đồng, tăng 19,4% so với năm 2014 Trong đó, vốn Trung ương quản lý ước thực hiện 1.929,2 tỷ đồng, tăng 13,7%; vốn địa phương quản lý ước thực hiện 8.203,8 tỷ đồng, tăng 20,9%; vốn khu vực Nhà nước ước thực hiện 4.090,4 tỷ đồng, tăng 15,1%; vốn
Trang 7khu vực ngoài Nhà nước ước thực hiện 6.042,6 tỷ đồng, tăng 22,6% so với năm
2014
4 Thương mại, dịch vụ
a Tổng mức bán lẻ hàng hoá
Năm 2015 tình hình kinh tế tiếp tục ổn định, đời sống nhân dân được cải thiện, lạm phát được kiểm soát tốt, giá cả thị trường không có nhiều biến động, nguồn cung hàng hóa dồi dào, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân,
do vậy tổng mức bản lẻ hàng hóa tăng đáng kể
Dự ước năm 2015 tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 15.650,7 tỷ đồng, tăng 8,5% so năm 2014, nếu loại trừ yếu tố tăng giá, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 8,1%
Theo loại hình kinh tế, dự ước năm 2015 kinh tế Nhà nước đạt 1.029,9 tỷ đồng, giảm 23,6%; kinh tế tập thể đạt 22,4 tỷ đồng, tăng 35,1%; kinh tế cá thể đạt 9.157,3 tỷ đồng, tăng 13,6%; kinh tế tư nhân đạt 5.441 tỷ đồng, tăng 8,8% so năm trước
Theo nhóm ngành hàng, tăng cao nhất là nhóm đá quý, kim loại quý tăng 22,7%, lương thực, thực phẩm tăng 20,5%, hàng may mặc tăng 17,4%, vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 11,8%, thấp nhất là nhóm hàng hóa khác giảm 16,5% so năm 2014
b Khách sạn, nhà hàng, du lịch
Năm 2015, Tỉnh đẩy mạnh hoạt động quảng bá và kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực du lịch với nhiều chính sách ưu đãi, tạo thuận lợi tối đa cho các nhà đầu tư Một trong những hoạt động lớn nhất trong năm 2015, đó là Lễ hội hang động Quảng Bình năm 2015 Đây là hoạt động rất quan trọng góp phần tuyên truyền, quảng bá về văn hóa, du lịch; đặc biệt các giá trị đặc sắc và độc đáo của hệ thống hang động ở Quảng Bình, nhằm thu hút ngày càng nhiều các nhà đầu tư, khách tham quan, du lịch trong nước và quốc tế đến Quảng Bình
Hoạt động du lịch của Quảng Bình trong năm 2015 có nhiều khởi sắc nhờ
có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, các tuyến, điểm du lịch mới đưa vào khai thác
đã thu hút được nhiều du khách Mùa hè là mùa cao điểm của du lịch, lượng khách đến Quảng Bình tăng cao, kéo theo doanh thu hoạt động lưu trú và ăn uống tăng
Doanh thu khách sạn, nhà hàng, du lịch năm 2015 ước đạt 1.930,8 tỷ đồng, tăng 19% so năm 2014 Trong tổng số, doanh thu khách sạn ước đạt 161,5 tỷ đồng, tăng 6,3%; doanh thu nhà hàng ước đạt 1.590,2 tỷ đồng, tăng 15,6%; doanh thu lữ hành ước đạt 179,1 tỷ đồng, tăng 89,4% so năm 2014
Năm 2015 số cơ sở lưu trú tăng khá, dự ước có 261 cơ sở, tăng 5,7% so năm 2014; số buồng 3.836, tăng 2,1%; số giường 7.029, tăng 2,3% Số lượt khách lưu trú dự ước năm 2015 đạt 994.065 lượt khách, tăng 5,5% so năm 2014 Năm 2015
số lượt khách lưu trú tăng cao hơn năm trước, các sản phẩm du lịch phong phú và
đa dạng hơn nên ngày khách lưu trú cũng dài hơn, trung bình số ngày khách lưu lại là 1,18 ngày
Doanh thu du lịch lữ hành dự ước năm 2015 đạt 179,1 tỷ đồng, tăng 89,4%
so cùng kỳ Nguyên nhân tăng cao do giá vé tham quan của tất các điểm du lịch đều tăng theo Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 22 tháng 12 năm 2014 của
Trang 8UBND tỉnh Quảng Bình Ngoài ra doanh thu của Công ty TNHH MTV Chua Me Đất là đơn vị khai thác hang Sơn Đoòng tăng khá cao góp phần đưa doanh thu du lịch lữ hành tăng cao
Số lượt khách du lịch lữ hành dự ước năm 2015 đạt 767.152 lượt khách, tăng 6,4% so năm 2014, tốc độ tăng thấp hơn các năm trước Nguyên nhân do số lượt khách đến Động Phong Nha, Tiên Sơn, Thiên Đường tăng chậm lại, phần lớn khách du lịch đến các điểm tham quan trên chỉ 1 lần Các điểm du lịch sinh thái còn lại, số lượng khách du lịch không lớn nhưng mang lại doanh thu cao, như hang Sơn Đoòng, Tú Làn, sông Chày hang Tối
Số lượng khách đến Quảng Bình: Dự ước năm 2015 tổng số khách đến đạt
2.862.082 lượt khách, tăng 3,9% so cùng kỳ, trong đó khách quốc tế ước đạt 46.983 lượt khách, tăng 8,7% so với năm trước
c Hoạt động dịch vụ
Hoạt động dịch vụ vẫn duy trì mức ổn định, đáp ứng nhu cầu của người dân
Dự ước năm 2015, doanh thu hoạt động dịch vụ đạt 722,8 tỷ đồng, tăng 8,4% so năm 2014 Trong đó, nhóm dịch vụ y tế có mức tăng cao nhất, với mức tăng 37,3%, tuy nhiên do chiếm tỷ trọng nhỏ nên không ảnh hưởng lớn đến cơ cấu chung của khối dịch vụ; nhóm dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình giảm 16,6% do xu hướng công nghệ 2 năm trở lại nhiều mặt hàng giá rẻ nên người tiêu dùng có xu hướng thay mới thay vì sửa chữa; nhóm dịch vụ giáo dục đào tạo cũng tăng khá cao, với mức tăng 17,4%, do doanh thu khối nhà trẻ tư tăng cao; nhóm dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 16,1; các nhóm ngành dịch vụ còn lại đều tăng thấp
d Xuất, nhập khẩu
Xuất khẩu:
Năm nay giá trị xuất khẩu đạt thấp do thị trường đầu ra khó khăn, nhất là thị trường Trung Quốc Sản lượng cũng như giá nhiều mặt hàng xuất khẩu giảm mạnh nên giá trị xuất khẩu năm 2015 giảm so với năm trước Dự ước năm 2015 giá trị xuất khẩu đạt 104,1 triệu USD, giảm 27,2% so cùng kỳ và đạt 69,4% kế hoạch năm
Trong tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2015, xuất khẩu trực tiếp chiếm 70,0%, uỷ thác chiếm 30,0%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước chiếm 98,6%, còn lại 1,4% là của khu vực kinh tế nhà nước; chia theo ngành hàng thì hàng công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng lớn nhất với 39,4%, tiếp đến là hàng nông sản chiếm 30,5%, hàng lâm sản chiếm 27,7%, còn lại là các nhóm hàng khác
Năm nay sản lượng cũng như trị giá xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng đều giảm Dự ước giá trị xuất khẩu của các mặt hàng như sau:
Cao su: Giá trị xuất đạt 28,6 triệu USD, giảm 52,6% so với năm trước;
Gỗ các loại: Giá trị xuất đạt 36,0 triệu USD, giảm 13% so với năm trước; Dăm gỗ khô: Giá trị xuất đạt 27,2 triệu USD, giảm 8,5% so với năm trước; Nhựa thông: Giá trị xuất đạt 1,4 triệu, giảm 25,6% so với năm trước;
Thủy sản các loại: Giá trị xuất đạt 1,3 triệu, giảm 42,2% so với năm trước
Trang 9Về thị trường xuất khẩu, từ đầu năm đến nay, các doanh nghiệp đã mở rộng quan hệ ngoại thương với 13 nước (năm trước là 15 nước) Trong đó, Trung Quốc
là thị trường số 1 với thị phần 75,1%, Hồng Kông 9,7%, các nước còn lại chỉ chiếm 15,2% và không có nước nào vượt quá thị phần 5%
Nhập khẩu:
Tổng kim ngạch nhập khẩu cả năm ước đạt 115,4 triệu USD, giảm 2,2% so với 2014 và tăng gấp 2,4 lần so kế hoạch năm 2015
Trong tổng kim ngạch nhập khẩu, 100% nhập trực tiếp và 100% là của khu vực kinh tế ngoài nhà nước Trong đó, tư liệu sản xuất chiếm 98,4%, hàng tiêu dùng chiếm 1,6% kim ngách nhập khẩu
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu bao gồm: Gỗ các loại, nguyên vật liệu sản xuất tân dược, gốm sứ, trâu bò sống, xăng dầu Trong các mặt hàng nhập khẩu, mặt hàng xăng dầu có giá trị lớn nhất, giá trị nhập đạt 61,9 USD, chiếm 53,7%; tiếp đến là mặt hàng gỗ các loại, giá trị nhập đạt 40 triệu USD, chiếm 39% giá trị nhập khẩu
Mặt hàng nhập khẩu đơn điệu, ngoài một số nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất trong tỉnh (ván ép tre, gốm sứ, may mặc, dược phẩm) với trị giá nhỏ, còn lại chủ yếu là hàng tạm nhập tái xuất (gỗ, cà phê) và hàng hoá bán ra ngoài tỉnh (trâu,
bò sống) chiếm tỷ trọng lớn trong tổng trị giá nhập khẩu
e Hoạt động vận tải
Năm 2015, Nhà nước có rất nhiều lần điều chỉnh giá xăng, dầu Qua nhiều lần điều chỉnh tăng, giảm, nhưng giá xăng dầu vẫn ở mức thấp Vì vậy, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp giảm giá cước vận tải, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa cũng như đi lại của người dân
Dự ước năm 2015 tổng doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ đạt 2.436,8 tỷ đồng, tăng 7,6% so với năm 2014 Trong đó, doanh thu vận tải đường
bộ ước đạt 2.366 tỷ đồng, tăng 8,4%; vận tải đường thủy ước đạt 50,5 tỷ đồng, giảm 5,5% ; vận tải kho bãi ước đạt 20,3 tỷ đồng, giảm 29,7% so với năm 2014
Khối lượng hành khách vận chuyển năm 2015 ước đạt 19.721 nghìn hành khách, tăng 6,4%; khối lượng hành khách luân chuyển ước đạt 871,1 triệu hk.km, tăng 7,6% so với năm 2014
Khối lượng hàng hóa vận chuyển năm 2015 ước đạt 18.759 nghìn tấn, tăng 6,5%; khối lượng hàng hoá luân chuyển ước đạt 996,3 triệu tấn.km, tăng 7,6% so với năm 2014
Nhìn chung, hoạt động vận tải tiếp tục phát triển khá toàn diện, hệ thống giao thông được sửa chữa, làm mới và nâng cấp, phương tiện vận chuyển ngày càng được tăng cường và đổi mới cả về đường bộ, đường sông và đường biển, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa cũng như đi lại của người dân Vận tải công cộng trong tỉnh không chỉ tăng về số lượng đơn vị kinh doanh mà chất lượng phục
vụ của các đơn vị, hộ kinh doanh cá thể cũng đã được nâng lên rất nhiều Nhiều doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể đã đầu tư để thay thế, mua sắm xe mới chất lượng cao, nhất là trong lĩnh vực vận chuyển
II VĂN HÓA - XÃ HỘI
Trang 101 Giáo dục - Đào tạo
a Năm học 2014 - 2015
Năm học 2014 - 2015, những thay đổi trong thực hiện đổi mới giáo dục và đào tạo bước đầu gặp một số khó khăn nhất định, như không chấm điểm kiểm tra thường xuyên đối với học sinh tiểu học; môn học tăng thêm nhưng lại giảm tải kiến thức; vấn đề xã hội hóa để phát triển giáo dục và đào tạo chưa rõ trong khi các chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo không còn được duy trì
Cơ sở vật chất thiết yếu phục vụ chuyển đổi phương pháp giảng dạy, đổi mới quản
lý, giáo dục phổ thông và mầm non chưa đáp ứng yêu cầu Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia và xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”
ở mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông còn gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn kinh phí đầu tư, thiếu điều kiện để tăng cường cơ sở vật chất Tuy vậy, toàn ngành Giáo dục đã khắc phục khó khăn, thực hiện tốt đổi mới
về nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục, nhờ đó chất lượng giáo dục đã
có những bước chuyển đáng kể, cụ thể:
- Giáo dục mầm non
Các cấp quản lý giáo dục mầm non đã chỉ đạo cấp học thực hiện nhiệm vụ năm học đạt hiệu quả cao, đã có nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ Đã duy trì, củng cố vững chắc trường, lớp hiện có, quan tâm huy động trẻ ở các bản thuộc địa bàn vùng sâu, vùng xa của những xã đặc biệt khó khăn, tỷ lệ huy động trẻ đến trường tăng đáng kể so với năm học trước Các trường và cơ sở giáo dục đã có nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ; 100% trẻ được đảm bảo an toàn tuyệt đối, không có tình trạng ngộ độc thực phẩm hoặc tai nạn thương tích xảy ra; 100% trẻ được theo dõi sức khoẻ bằng biểu đồ phát triển (cân nặng và chiều cao), được khám sức khoẻ định kỳ Toàn tỉnh đã có 54 trường Mầm non (chiếm 30,16%) được công nhận đạt chuẩn Quốc gia, tăng 3 trường so với năm học trước
- Giáo dục phổ thông
Cấp tiểu học: Thực hiện nghiêm túc chương trình giáo dục phổ thông cấp
tiểu học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; thực hiện Chuẩn kiến thức
-kỹ năng và hướng dẫn điều chỉnh nội dung chương trình các môn học; điều chỉnh nội dung dạy học đối với giáo dục tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo Triển khai kiểm tra, đánh giá và tổng kết các hoạt động đổi mới đánh giá học sinh tiểu học theo Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Kết quả xếp loại Hạnh kiểm có 99,19% học sinh đạt yêu cầu, 0,12% chưa đạt yêu cầu và 0,69% không xếp loại Kết quả xếp loại học lực: môn Toán: tỷ lệ học sinh hoàn thành 98,24%, tỷ lệ học sinh chưa hoàn thành 1,07% và 0,69% học sinh không xếp loại; Môn Tiếng Việt: tỷ lệ học sinh hoàn thành 98,79%, tỷ lệ học sinh chưa hoàn thành 0,52% và tỷ lệ học sinh không xếp loại 0,69% Số học sinh được công nhận hoàn thành chương trình tiểu học toàn tỉnh 13.714/13.724 học sinh tham dự xét, đạt tỷ lệ 99,93%
Cấp trung học cơ sở: Kết quả xếp loại 2 mặt cấp trung học cơ sở, về hạnh
kiểm tỷ lệ học sinh được xếp loại tốt 73,91%, khá 22,96%, loại trung bình 2,94%, không xếp loại 0,19% Về học lực xếp loại giỏi 15,9%; loại khá 39,22%, loại trung bình 41,72%, loại yếu 2,94%, loại kém 0,02%, không xếp loại 0,2% Số học sinh