DANH SÁCH BẢNG Bảng 1: Các cuộc điều tra chính hiện đang được Vụ Thống kê Xã hội và Môi trường tổ chức ...7 Bảng 2: Các cuộc điều tra chính hiện đang được Vụ Thống kê Lao động và Việc l
Trang 1ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG NĂNG LỰC CHO
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Yahya Jammal
Báo cáo của Dự án 00040722 TCTK/UNDP/DFID
"Hỗ trợ Giám sát Phát triển Kinh tế - Xã hội "
Tổng cục Thống kê, Hà Nội
Trang 2MỤC LỤC
I GIỚI THIỆU 1
II TỔ CHỨC VÀ CHỨC NĂNG 2
A Cấu trúc Tổ chức 2
B Chức năng chính 5
III CÁC HOẠT ĐỘNG THỐNG KÊ TẠI CÁC VỤ 6
A Vụ Thống kê Xã hội và Môi trường 7
B Vụ Dân số & Lao động 10
C Vụ Thống kê Tài khoản Quốc Gia 13
D Vụ Thống kê Công nghiệp và Xây dựng 16
E Vụ Thống kê Thương mại, Dịch vụ và Giá cả 17
F Vụ Thống kê Nông, Lâm và Ngư nghiệp 20
IV NEEDED ADDITIONAL ACTIVITIES & UNITS 20
A System of Establishment Surveys 20
B Đơn vị Chọn mẫu 24
C Đơn vị Phân tích 26
V CÔNG TÁC CÁN BỘ 28
VI TÓM TẮT KHUYẾN NGHỊ 31
PHỤ LỤC A: CÁC LỰA CHỌN ĐỂ CẢI TIẾN 35
HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA VHLSS 35
A Khả năng 1: Hệ thống Điều tra Hộ gia đình 35
B Khả năng 2: Đơn giản hóa Bảng câu hỏi VHLSS hiện tại 39
Trang 3DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1: Các cuộc điều tra chính hiện đang được Vụ Thống kê Xã hội và Môi trường tổ chức 7
Bảng 2: Các cuộc điều tra chính hiện đang được Vụ Thống kê Lao động và Việc làm tổ chức 10
Bảng 3: Các cuộc điều tra chính đang được Vụ Thống kê Tài khoản Quốc gia tổ chức 14
Bảng 4: Các cuộc điều tra chính đang được Vụ Thống kê Công nghiệp và Xây dựng tổ chức 17
Bảng 5: Các cuộc điều tra chính đang được Vụ Thống kê Thương mại, Giá cả và Dịch vụ tiến hành 18
Bảng 6: Các hoạt động điều tra/tổng điều tra chính đang được 20
Table 7: Proposed System for Establishment-Based Operations Compiling Production Accounts 23
Bảng 8: Cán bộ chuyên môn trong các vụ có liên quan theo Trình độ đào tạo cao nhất 29
Bảng 9: Hệ thống điều tra hộ gia đình khuyến nghị 38
Bảng 10: Minh họa về thời gian biểu cho hệ thống khuyến nghị 39
Bảng 11: Các mặt hàng lương thực thực phẩm được lựa chọn để gộp lại và ảnh hưởng của chúng tới các tỷ lệ trong các năm khác nhau 42
DANH SÁCH ĐỒ THỊ Hình 1: Cấu trúc Tổ chức của TCTK 4
Trang 4DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
MARD Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
MOLISA Bôk Lao động, Thương binh và Xã hội
NAD Vụ Thống kê Tài khoản Quốc gia (của TCTK)
PLD Vụ Dân số và Lao động (của TCTK)
PSO Cục thống kê tỉnh/thành phố
SEDP Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội
SESD Vụ Thống kê Xã hội và Môi trường (của TCTK)
TSPD Vụ Thương mại, Dịch vụ và Giá cả (của TCTK)
VHLSS Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam
Trang 5
I GIỚI THIỆU1
Cụm từ “xây dựng năng lực” có thể đã được định nghĩa rõ ràng, đặc biệt là trong giới tài trợ, tuy nhiên định nghĩa này còn xa vời trong thực tế các tổ chức thống kê ở các nước đang phát triển nơi mà cơ cấu tổ chức hay thay đổi, thay đổi nhân sự thường xuyên xảy ra, về hưu bắt buộc khi năng lực đang ở đỉnh điểm, và những kỹ năng quan trọng nhất lại có được trong công việc thực tế chứ không phải là từ trường học Rất nhiều tài liệu đã được các tổ chức xây dựng để làm hướng dẫn cho đánh giá và xây dựng năng lực, trong đó mỗi tài liệu khuyến nghị các cách tiếp cận có thể sử dụng trong đánh giá lĩnh vực này Thay vì đi theo các cách tiếp cận mang tính công thức chung chung trước đây, báo cáo này sẽ theo một cách tiếp cận thực tiễn có tĩnh hữu dụng trực tiếp đối với TCTK Cách tiếp cận này tập trung vào bản thân TCTK (ở đây chúng tôi không nói rằng cách tiếp cận này nhất thiết phù hợp với các loại hình tổ chức hoặc nước khác), đồng thời nhằm cung cấp hướng dẫn và khuyến nghị thực tế mà TCTK có thể tự áp dụng và hành động (mà không cần có sự can thiệp cấp cao hơn, ví dụ như từ Thủ tướng Chính phủ hoặc Quốc hội) Cách tiếp cận này được thực hiện bằng cách đưa ra những câu hỏi đơn giản và cố gắng khuyến nghị các phương án trả lời có thể
Năng lực trong báo cáo này được định nghĩa là khả năng kỹ thuật của TCTK trong việc đáp ứng nhu cầu của người sử dụng theo nghĩa cung cấp số liệu thống kê vừa chính xác vừa kịp thời để tạo điều kiện cho việc theo dõi và giám sát hợp lý Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội (SEDP) Có 3 câu hỏi được xác định dưới đây:
• Những hoạt động thống kê nào đang được TCTK tiến hành để đáp ứng nhu cầu
của người sử dụng cho giám sát SEDP?
• Đây có phải là những hoạt động đúng trong điều kiện nguồn lực hiện tại? Nếu
không, những hoạt động nào cần là những hoạt động ưu tiên?
• Cán bộ của TCTK có những kỹ năng cần thiết để tiến hành các hoạt động này
không?
Để thực hiện điều này, Mục II trước hết mô tả một cách tóm tắt cơ cấu tổ chức và chức
1 Tôi xin cảm ơn Ông Đỗ Anh Kiếm và Ông Lê Văn Dụy đã hỗ trợ tích cực trong việc cung cấp thông tin cho các phần khác nhau của báo cáo
Trang 6năng chính của TCTK Sau đó mục III sẽ trình bày về những hoạt động thống kê đang được tiến hành bởi các vụ khác nhau (ví dụ các cuộc tổng điều tra và điều tra mẫu) Với nhiều hoạt động chính được thực hiện tại mỗi vụ, mục này tiếp tục khuyến nghị một giải pháp ưu tiên hóa cho các hoạt động này trong điều kiện nguồn lực hiện tại cũng như nguồn lực kỳ vọng trong tương lai của các vụ, cả về nhân lực và vật lực Phân tích mục III tiếp tục khuyến nghị 2 vấn đề mà sẽ được trình bày chi tiết trong mục IV: đầu tiên, cần
cấu trúc lại một số hoạt động điều tra độc lập dựa trên doanh nghiệp hiện tại thành một hệ
thống thống nhất của các hoạt động dựa trên cơ sở để đo lường hiệu quả hơn mức độ và
thay đổi trong các biến chủ yếu chia theo ngành kinh tế và vùng lãnh thổ, thứ hai là cần
có một số loại kỹ năng cụ thể rất cần thiết nhưng hiện giờ còn hạn chế, đặc biệt là các kỹ năng về chọn mẫu và phân tích Thảo luận về vấn đề thứ hai sẽ khuyến nghị thành lập trong nội bộ của TCTK một đơn vị chọn mẫu và một đơn vị phân tích Mục V xác định vấn đề về cán bộ và cung cấp một loạt khuyến nghị vắn tắt về việc nâng cao trình độ của cán bộ Cuối cùng, do có rất nhiêu các khuyến nghị được trình bày trong các mục nên mục VI sẽ tóm tắt lại các khuyến nghị này
II TỔ CHỨC VÀ CHỨC NĂNG
A Cấu trúc Tổ chức
Các tổ chức công ở bất kỳ nước này cũng có xu hướng phát triển mang tính lịch sử để đáp ứng các điều kiện tồn tại trong nước đó Các tổ chức thống kê cũng vậy Trong khi điều kiện tại một số nước nhất định đã làm hình thành các tổ chức thống kế tập trung hóa mạnh (ví dụ Canađa, Úc, Inđônêsia) thì điều kiện tại một số nước khác lại tạo nên các hệ thống mang tính phí tập trung hóa hơn (ví dụ điển hình nhất là Mỹ với hơn 70 cơ quan thống kê) Hệ thống thống kê tại Việt Nam mang tính pha trộn hơn: một cơ quan TCTK cấp trung ương theo luật kiểm soát toàn bộ các cơ quan thống kê địa phương và có nhiều quyền lực về quản lý, đồng thời có chức năng điều phối các hoạt động của các phòng thống kê nhỏ tại các bộ/ngành Cấu trúc của bản thân TCTK về mặt nào đó cũng đặc biệt, bao gồm 24 vụ ngang nhau về cấp độ hành chính nhưng
có khối lượng công việc và trách nhiệm lại khác nhau nhiều (Hình 1) Tôi không phải là một chuyên gia về quản lý để khuyến nghị một cấu trúc tổ chức cụ thể nhưng một điều rất rõ đối với
Trang 7bất kỳ một nhà quan sát trung lập nào rằng tổ chức hiện tại có thể có lợi từ một cấu trúc đơn giản hơn để có thể đáp ứng được hiệu quả hơn những thử thách trong tương lai Trọng tâm của báo cáo này là các hoạt động thống kê, do vậy báo cáo sẽ chỉ xem xét các vụ có liên quan trực tiếp đến các hoạt động này
Trang 8Hình 1: Cấu trúc Tổ chức của TCTK
Trang 9
Chức năng chính thức của các vụ nghiệp vụ theo lĩnh vực được trình bày trong một cuốn sách của TCTK,2 và có thể được tóm tắt như sau:
• Quản lý hệ thống báo cáo hành chính về lĩnh vực của từng vụ,
• Tổng hợp số liệu bằng việc tổ chức các cuộc tổng điều tra và điều tra chọn mẫu và
đóng vai trò chủ đạo cho những hoạt động này bằng cách điều phối/giám sát tại
các cấp khác nhau (bộ và các cục thống kê cấp tỉnh/thành phố), và
• Xây dựng các cơ sở dữ liệu, phân tích và báo cáo
Đối với các vụ không theo lĩnh vực cụ thể, hiển nhiên chức năng có khác Mục này sẽ chỉ đề cập đến 3 vụ thuộc loại này vì chúng sẽ phù hợp với thảo luận trong những phần sau của báo cáo Vụ Thống kê Tổng hợp có hai chức năng chính riêng biệt:
• Viết báo cáo phân tích, sản xuất các ấn phẩm và cơ sở dữ liệu định kỳ và không
định kỳ về phát triển kinh tế - xã hội, và
• Công bố các sản phẩm này tới người sử dụng thông qua các phương tiện khác
nhau (ấn phẩm, họp báo, v.v…)
Vụ Phương pháp và Chế độ Thống kê có ba chức năng chính:
• Đầu mối trong công tác xây dựng hệ thống chỉ tiêu quốc gia, chuẩn hóa phương
pháp luận thống kê, phân tổ thống kê, pháp lý thống kê và phát triển kỹ thuật
thông tin,
• Theo dõi và phối hợp các kế hoạt điều tra với các vụ của TCTK, các bộ và các cơ
quan địa phương, và
• Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp và cơ sở kinh tế, hành chính
sự nghiệp
Viện Khoa học Thống kê có thể được coi là một “cơ quan nghiên cứu khoa học” của TCTK Nó cũng là một phần trong hệ thống các cơ quan nghiên cứu nằm dưới sự quản lý của Bộ Khoa học
và Công nghệ Viện “có chức năng như là một cơ quan nghiên cứu về khoa học thống kê,
2 Chức năng, Nhiệm vụ và Tổ chức của các Vụ và các Đơn vị trực thuộc Tổng cục Thống kê, Nhà Xuất bản Thống kê, 2004
Trang 10phương pháp toán học, công nghệ thông tin và các môn khoa học khác có thể ứng dụng được trong thống kê Viện cũng quản lý khoa học và công nghệ đối với tất cả các nghiệp vụ và tham gia đào tạo cho các cán bộ, công chức và chuyên viên thống kê”
III CÁC HOẠT ĐỘNG THỐNG KÊ TẠI CÁC VỤ
Các vụ TCTK tiến hành rất nhiều hoạt động thống kê (tức là các cuộc tổng điều tra và điều tra chọn mẫu) cùng với việc xử lý báo cáo hành chính, một số công việc đòi hỏi đầu tư rất nhiều thời gian và nguồn lực để có thể tạo ra một mức độ tin chính xác mà người sử dụng mong đợi Mục này mô tả các hoạt động này cho từng vụ
Khi nhu cầu của người sử dụng tăng lên cả về số lượng và mức độ phức tạp, đặc biệt là khi công nghệ máy tính mới làm cho việc hình thành các cơ sở dữ liệu lớn dễ và rẻ hơn thì TCTK không nên rơi vào một cái bẫy mà các tổ chức thống kê ở các nước khác thường bị rơi vào là đơn thuần cứ tăng thêm đầu công việc theo yêu cầu của người sử dụng Lý do tại sao không nên là vì nguồn lực của TCTK cả về nhân lực lẫn vật lực sẽ không bao giờ có thể tăng lên cho kịp với sự tăng lên của nhu cầu người sử dụng Trong nhiều giai đoạn khác nhau, TCTK cần đánh giá lại tất cả các hoạt dộng thống kê của mình, ưu tiên hóa những hoạt động này và phân phối các nguồn lực có hạn của mình dựa trên việc ưu tiên Một số hoạt động nằm ở cuối trong danh sách xếp loại ưu tiên sẽ dần dần không được thực hiện nữa và các hoạt động mới lại xuất hiện Điểm mấu chốt ở đây là TCTK không thể tiếp tục tăng thêm hoạt động mới cùng với các công việc hiện tại mà không đánh giá cẩn thận về chi phí và lợi ích của mỗi hoạt động Bằng việc
mô tả các công việc chính của mỗi vụ, mục này sẽ cố gắng khuyến nghị một số ưu tiên cụ thể cho các vụ trong điều kiện các nguồn lực hiện tại (và kỳ vọng) của mỗi vụ
Cần phải chú ý rằng các khuyến nghị trình bày trong mục này chỉ dựa trên cơ sở kỹ thuật Các mối quan tâm mang tính chính trị không được đề cập ở đây Đây là một điểm quan trọng cần nhớ
vì chúng ta sẽ thấy rằng những nguyên nhân chính để cho một số hoạt động vẫn tiếp tục được tiến hành không nhất thiết là nguyên nhân mang tính kỹ thuật Ví dụ, khi thảo luận với các vụ về nguyên nhân tiến hành một số cuộc điều tra mà chúng tôi cho là không cần thiết, câu trả lời là
“cấp trên yêu cầu chúng tôi phải làm” (cấp trên có thể ở cấp trung ương hoặc cấp tỉnh/thành phố), thậm chí là khi các cán bộ nhận thức được gánh nặng do những cuộc điều tra này tạo ra cho
Trang 11vụ của họ và/hoặc cho các cục thống kê tỉnh/thành phố Điều này khuyến nghị rằng TCTK sẽ cần thuyết phục các cơ quan chính quyền khác nhau rằng sự lựa chọn các cuộc điều tra của TCTK, nếu dựa trên những khuyến nghị của báo cáo này, sẽ cung cấp cho các cơ quan này những số liệu
có giá trị không kém hơn những gì đang được cung cấp, và trong hầu hết trường hợp là các số liệu còn đáng tin cậy hơn về mặt thống kê Nếu đã cố gắng thuyết phục rồi mà vẫn có quyết định cần sản xuất một số số liệu (đặc biệt là những số liệu cần cung cấp hàng tháng) thì TCTK có thể đánh giá khả năng sử dụng các kỹ thuật ước lượng thống kê đặc biệt Những kỹ thuật này sẽ rẻ
và đỡ gánh nặng hơn rất nhiều so với tổ chức cả một cuộc điều tra, đồng thời chúng có thể cung cấp các kế quả với mức độ ý nghĩa thống kê tương đương
A Vụ Thống kê Xã hội và Môi trường
Như thể hiện trong Bảng 1, Vụ Thống kê Xã hội và Môi trường (SESD) tiến hành thường
kỳ bốn cuộc điều tra lớn, trong đó Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) là cuộc điều tra quan trọng nhất Từ năm 2002, cuộc điều tra này bắt đầu được tổ chức hai năm một lần Điều này được quyết định sau một đợt kiểm điểm chi tiết lại việc thực hiện hai cuộc Điều tra Mức sống Việt Nam (VLSS) năm 1992/93 và năm 1997/98 và Điều tra Hộ gia đình Đa mục tiêu (MPHS) hàng năm Sau kiểm điểm này,3 TCTK tin rằng một cuộc điều tra duy nhất kết hợp các điểm mạnh của mỗi cuộc điều tra trên và được tổ chức với tần suất ít hơn điều tra hàng năm MPHS sẽ dễ điều hành hơn, đồng thời cũng sẽ cung cấp cho người sử dụng những số liệu cần thiết để giám sát một cách có hệ thống mức sống của đất nước để hỗ trợ cho thiết lập các mục tiêu phát triển của chính phủ Kể từ đó, đã có ba cuộc điều tra VHLSS được tiến hành, lần cuối cùng hiện đang được làm trong năm 2006
Bảng 1: Các cuộc điều tra chính hiện đang được Vụ Thống kê Xã hội và Môi trường tổ chức
Điều tra Gia đình Thỉnh thoảng Tình trạng hộ gia đình
Điều tra Cụm Đa chỉ số (MICS) 5 năm một lần Tình trạng của trẻ em
Điều tra Thanh thiếu niên 5 năm một lần Động thái của trẻ em do ảnh
hưởng của nghèo đói
3 Paul Glewwe và Ibrahim S Yansaneh, "Báo cáo Chuyến công tác về Xây dựng Các cuộc điều tra Hộ gia đình trong tương lai ở Việt Nam," 15/11/ 2000
Trang 12
Mặc dù TCTK đã tiến hành các cuộc điều tra VHLSS hai năm một lần một cách thành công nhưng tính bền vững của hoạt động này là đáng nghi ngờ Hoạt động này đã đặt một gánh nặng lớn cho TCTK cả ở địa bàn điều tra và trên trung ương SESD chỉ có 20 chuyên viên đã phải làm việc tới mức giới hạn khả năng (và thậm chí là còn vượt khả năng) Đặc biệt hơn,
• Với một bảng câu hỏi hộ dài khoảng 140 trang, thời gian trung bình cho một cuộc
phỏng vấn tốn trên 2 ngày (cho phép tối đa là 2,5 ngày), đó là chưa kể thời gian
cần cho phỏng vấn bảng câu hỏi xã/phường Thêm vào đó, để cố gắng đáp ứng
nhu cầu ngày càng tăng của người sử dụng, vụ đã phải tăng số lượng và loại câu
hỏi trong bảng câu hỏi,4 điều này đã cho thấy chi phí tốn kém cả về thời gian và
kinh phí
• Khi các nhà hoạch định chính sách ngày càng cần các chỉ tiêu phân tổ xuống cấp
tỉnh, quy mô mẫu cho cuộc điều tra này đã ngày càng phải tăng lên Trong khi
năm 1992/93 và 1997/98, điều tra VLSS lần lượt có mẫu là 4.500 và 6.000 hộ (đại
diện đến cấp vùng), thì cỡ mẫu của VHLSS năm 2002 là 75.000 hộ và đại diện
đến cấp tỉnh Vì gánh nặng điều tra là quá lớn cho một mẫu như vậy nên cỡ mẫu
cho điều tra VHLSS 2004 và 2006 đã giảm xuống còn 45.000 hộ, tuy nhiên gánh
nặng tổ chức cho vụ và các cục thống kê tỉnh/thành phố vẫn còn rất nhiều
• Cho dù SESD đã cố gắng rất nhiều trong 5 năm vừa qua nhưng các cục thống kê
tỉnh và phòng thống kê huyện vẫn tiếp tục cần có sự hỗ trợ và giúp đỡ của vụ do
tính phức tạp trong thiết kế điều tra và bảng câu hỏi
• Những vấn đề trên đã tạo ra nhiều chậm trễ trong việc cung cấp số liệu cho người
sử dụng cho dù vụ đã cố gắng rất nhiều: Số liệu thô của VHLSS 2004 được cung
cấp cho người sử dụng hơn một năm sau khi cuộc điều tra kết thúc, chậm hơn 6
tháng so với kế hoạt công bố số liệu
• Với cuộc điều tra được tiến hành hai năm một lần, thời gian của cán bộ và nguồn
lực cần lên tới đỉnh điểm trong năm điều tra, còn sau đó thì giảm đi trong năm
tiếp theo
• Vì VHLSS chỉ là một trong rất nhiều cuộc điều tra thường xuyên của TCTK và vì
công việc thu thập số liệu tại địa bàn chủ yếu do Cục Thống kê tỉnh/thành phố
tiến hành nên trong những năm có nhiều cuộc điều tra cùng được tiến hành thì các
cục phải dựa vào nhiều hơn vào các cán bộ cấp xã với trình độ thấp hơn các cán
bộ chuyên môn cao của cục Thống kê Một ví dụ là năm 2006, cùng với VHLSS
4 Một ví dụ điển hình là phần câu hỏi về y tế trong VHLSS2006, chỉ riêng phần thương tật đã có 36 câu hỏi được đưa vào
Trang 13
còn có điều tra dân số giữa kỳ và tổng điều tra nông nghiệp và nông thôn Có hai
hậu quả quan trọng xảy ra: (1) đầu tiên, mức độ chú ý đến VHLSS sẽ bị giảm đi
và (2) hai là với quá nhiều điều tra được tiến hành trong một năm, có nguy cơ
tăng rất nhiều gánh nặng cho cả người trả lời và người phỏng vấn Hiện tượng
“người trả lời thường mệt mỏi hoặc chán” sẽ tự động gây ra tình trạng từ chối hợp
tác.5
• Những khó khăn này có nguy cơ ảnh hưởng tới chất lượng số liệu Bản thân
SEDS không có đủ thời gian cần thiết để đánh giá chất lượng số liệu của cuộc
điều tra: khi kết quả của một điều tra được công bố thì cũng là lúc vụ phải bắt đầu
việc chuẩn bị cho điều tra tiếp theo Một nghiên cứu mới đây của dự án đánh giá
sai số trả lời của VHLSS 20046 đã cho thấy hai phần ba của 33 câu hỏi được
kiểm tra có sự không nhất quán cao hoặc tương đối cao trong đáp án trả lời, điều
này ngụ ý rằng những câu hỏi này cần được đánh giá kỹ càng vì chúng có thể tạo
ra những câu trả lời có khả năng không đáng tin cậy
Những vấn đề trên cho thấy tình hình hiện tại rõ ràng là không thể bền vững được và thiết kế của cuộc điều tra này cần được suy nghĩ lại Báo cáo này đề xuất hai khả năng lựa chọn cho TCTK (Phụ lục A mô tả chi tiết hơn những khả năng này):
• Khả năng thứ nhất cung cấp một giải pháp phù hợp hơn cho dài hạn bằng việc
thiết kế một hệ thống tổng hợp của các cuộc điều tra hộ gia đình có thể kết nối
được (các cuộc điều tra này sẽ nhỏ hơn VHLSS hiện tại) trong đó mỗi cuộc điều
tra phục vụ một mục đích được xác định cụ thể để hỗ trợ cho cả hệ thống chung
Hệ thống này tương tự như hệ thống điều tra cơ sở (được thảo luận trong Mục
IV.A) Tuy nhiên chúng tôi cũng nhận thấy rằng trong ngắn hạn, một hệ thống
như vậy thực tế có thể làm tăng gánh nặng của vụ SESD Mặc dù vậy, chúng tôi
tin rằng về lâu dài nó sẽ giảm gánh nặng chung của TCTK một khi cấu trúc vận
hành của hệ thống này được thiết lập
• Lựa chọn thứ hai cung cấp một giải pháp thích hợp hơn cho ngắn hạn, trong đó
giữ nguyên tổ chức vận hành của VHLSS như hiện tại những cố gắng giảm quy
mô bảng câu hỏi Một phương pháp luận đã được ứng dụng trong Phụ lục A cho
phần chi tiêu lương thực-thực phẩm của bảng câu hỏi Việc gộp 29 trong số 57
5 Thiếu sự hợp tác có thể tạo ra các kết quả chệch nếu theo đúng mô hình quan sát được ở các nước khác (ở đó sự thiếu hợp tác tập trung nhiều hơn ở nhóm hộ gia đình có thu nhập cao chứ không phải là được phân phối một cách ngẫu nhiên)
6 Yahya Jammal, Lộ Thị Đức và Nguyễn Bùi Linh, Đánh giá Sai số Trả lời trong Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam 2004, 12/07/2006, Báo cáo của Dự án 00040722 “Hỗ trợ Giám sát Phát triển Kinh
tế-Xã hội” của GSO/UNDP/DFID, Tổng cục Thống kê, Hà Nội
Trang 14mặt hàng lương thực-thực phẩm khuyến nghị trong mục này là một minh họa,
trong đó có thể giảm đi một phần lớn quy mô của bảng câu hỏi, và điều quan
trọng hơn là giảm được thời gian phỏng vấn từ 2,5 đến 5 giờ
B Vụ Dân số & Lao động
Như trình bày trong Bảng 2, Vụ Thống kê Dân số và Lao động (PLD) có trách nhiệm cho hai hoạt động thống kê chính (tổng điều tra dân số và điều tra biến động dân số hàng năm) và được giao một nhiệm vụ thứ 3 để bắt đầu thực hiện trong 2007, đó là điều tra lực lượng lao động hàng năm Trong khi tổng điều tra dân số 10 năm một lần rõ ràng là một hoạt động chủ chốt của TCTK và phải là hoạt động ưu tiên trong thời gian tiến hành (thường là các năm có đuôi 9) thì điều tra biến động dân số lại không phải cũng như vậy
Bảng 2: Các cuộc điều tra chính hiện đang được Vụ Thống kê Lao động và Việc làm tổ chức
Tổng điều tra Dân số 10 năm 1 lần Diện bao phủ toàn bộ các đặc tính dân số
Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia
Điều tra Lực lượng lao động (bắt đầu năm
Chúng tôi được vụ cung cấp thông tin về nguyên nhân tổ chức cuộc điều tra này hàng năm là để cung cấp các ước lượng tin cậy về sự thay đổi trong dân số ở các tỉnh.7 Việc này này được tiến hành bằng cách điều tra 320,000 hộ gia đình mỗi năm (5.000 hộ một tỉnh) Theo quan điểm của tôi, cuộc điều tra này có ba vấn đề lớn cho TCTK:
• Trước hết, điều tra này là một gánh nặng lớn cho vụ tiến hành và cho các cục
Thống kê tỉnh/thành phố trong quá trình thu thập số liệu Điều này có vẻ được
nhận thức rõ ràng trong TCTK Tuy nhiên, vấn đề thứ hai lại ít được nhận thức
hơn
• Cuộc điều tra thậm chí là không cần thiết theo đánh giá của tôi Tôi tin rằng nếu
tổ chức đánh giá một cách đầy đủ kết quả của cuộc điều tra này thì rất nhiều khả
năng cho ra kết quả là mức độ ý nghĩa thống kê của các kết quả này không khác
7 Cuộc điều tra cũng thu thập số liệu về việc làm nhưng chỉ là phần phụ Tuy nhiên, số liệu về các đặc điểm của lực lượng lao động được thu thập một cách tốt nhất sử dụng cách tiếp cận theo lực lượng lao động chuẩn dựa trên hướng dẫn của ILO
Trang 15
xa nhiều so với kết quả dự báo nhân khẩu học tốt Không giống như các mô hình
kinh tế, các mô hình nhân khẩu học nhìn chung có thể cung cấp dự báo dân số tin
cậy vì chúng liên quan đến các biến không biến động mấy do vậy có thể dự báo
tương đối hợp lý Đó là lý do tại sao các nước thường dựa vào ba công cụ chính
để có được số liệu về dân số: (1) tổng điều tra 10 năm 1 lần, (2) dự báo dân số từ
các mô hình nhân khẩu học và (3) các cuộc điều tra mẫu giữa kỳ (giữa hai tổng
điều tra), có thể lớn, để xác định mức độ biến thiên của số liệu dự báo theo mô
hình so với số liệu thực tế Công cụ cuối cùng được tiến hành khi nguồn lực cho
phép.8
• Bằng việc độc quyền sử dụng nguồn lực của vụ giữa các năm tổng điều tra, cuộc
điều tra này không cho phép vụ tập trung vào thiết kế cho tốt cuộc điều tra lực
lượng lao động Với nguồn lực ngân sách từ “chương trình tạo việc làm”, từ năm
1996, Bộ Lao động, Thương binh và Các Vấn đề Xã hội (MOLISA) đã được
chính phủ giao cho tổ chức điều tra lực lượng lao động theo tiêu chuẩn khuyến
nghị của ILO và đã sản xuất các chuỗi số liệu hàng năm về các thước đo việc làm
và thất nghiệp cho đến năm 2004.9 Tuy nhiên, năm 2005, chính phủ đã quyết định
trao trách nhiệm tổ chức cuộc điều tra này cho TCTK cho đến khi hoàn thành
chương trình điều tra nhiều năm của TCTK Do vậy, Vụ Thống kê Lao động và
Dân số của TCTK bắt đầu chuẩn bị thiết kế điều tra vào năm 2007 hoặc 2008 phụ
thuộc vào thời gian ngân sách cho cuộc điều tra được quyết định Trong thời kỳ
chuyển giao, MOLISA sẽ tiếp tục tổ chức cuộc điều tra như đã làm từ 1996
8 Một đánh giá về các ước lượng tỷ lệ sinh được tiến hành bởi một chuyên gia độc lập trong tháng 3/2005 đã kết luận rằng “tổ chức một cuộc điều tra lớn như vậy hàng năm chắc chắn là một công việc rất tốn kém… Phân tích xu hướng từ năm 1999 cho thấy rằng không được gì từ việc thu thập thông tin thường xuyên như vậy vì xu hướng này mang tính ổn định Quả thực vậy, ngoại trừ những xáo động
lớn thì không thể mong đợi sự thay đổi lớn từ năm này qua năm kia.” (Gigi Santow, Kiểm điểm Số liệu
và các Ước lượng về Sinh, Báo cáo công tác cho Vụ Thống kê Dân số và Lao động, Tổng cục Thống
kê, Hà Nội, 20/02 đến 09/03/2005, tr.14) Chỉ dựa vào cuộc điều tra này, khuyến nghị của tác giả là tổ chức cuộc điều tra này 2,5 năm một lần với cuộc điều tra ở giữa đóng vai trò như điều tra dân số giữa
kỳ Báo cáo này, khi tính đến cả các công việc ưu tiên khác của vụ, khuyến nghị chỉ tổ chức điều tra này 5 năm một lần như một điều tra dân số giữa kỳ, chủ yếu để đảm bảo xây dựng được một cuộc điều tra lực lượng lao động thường xuyên và tốt
9 Báo cáo về Tình trạng và Biến động Lực lượng Lao động Việt Nam giai đoạn 1996-2004, Ủy ban Chỉ
đạo Điều tra Trung ương và Tổ chức Lao động Thế giới, Hà Nội, 2005
Trang 16
Tôi hoàn toàn tin rằng một cuộc điều tra lực lượng lao động có thể tạo ra các số liệu đáng tin cậy10 đang rất cần ở Việt Nam, đồng thời cơ quan có điều kiện tốt nhất để tổ chức cuộc điều tra này là TCTK với bản chất phi chính trị và sự tập trung vào các kỹ năng kỹ thuật cần thiết của
nó Do vậy, tôi khuyến nghị một cách mạnh mẽ rằng vụ PLD của TCTK cần đảm bảo rằng nhiệm vụ thiết kế được một cuộc điều tra lực lượng lao động đáng tin cậy là ưu tiên hàng đầu của
vụ (trong thời gian không tổ chức tổng điều tra dân số) Để làm được vậy, một điều quan trọng là không nên quá tham vọng ngay từ khi mới bắt đầu Đó là, tránh ý định tổ chức các cuộc điều tra hàng quý vì các cuộc điều tra loại này sẽ tạo căng thẳng không bao giờ hết cho việc thiết kế và tổ chức Thay vì thế, vụ nên bắt đầu một cách đơn giản với một cuộc điều tra có diện bao phủ mẫu tương tự như điều tra của MOLISA và thực hiện hàng năm Một khi điều tra này đã đi vào hệ thống trong 2 hoặc 3 năm thì mới nên bắt đầu quan tâm đến khả năng tăng diện bao phủ và/hoặc tăng tần suất điều tra
Vậy thì làm gì với cuộc điều tra biến động dân số hiện tại? Khuyến nghị của tôi là tổ chức cuộc điều tra này nhiều nhất là 5 năm 1 lần giữa các cuộc tổng điều tra Nếu nguồn lực không đủ để tổ chức 5 năm 1 lần thì có thể cần bỏ đi cuộc điều tra này Xây dựng một cuộc điều tra lực lượng lao động đáng tin cậy cần tiếp tục là sử dụng chính trong nguồn lực của vụ giữa các năm tổng điều tra.11 Trong khi đó, TCTK có thể dựa vào các dự báo dân số có từ một mô hình
10 Tôi đã nghe nhận xét từ nhiều nguồn rằng số liệu do MOLISA công bố thiếu tính tin cậy vì nhiều lý do bao gồm những can thiệp về mặt chính trị vào kết quả, điều chỉnh kỹ thuật số liệu điều tra không được giải thích, công bố số liệu cho một số biến cụ thể không xác đáng do mẫu nhỏ, và thiếu sự kiểm soát phù hợp trong các hoạt động tại địa bàn ở cấp địa phương Tôi chưa kiểm tra về những nhận xét trên nhưng chỉ đơn thuần cung cấp những gì tôi đã nghe được từ các nguồn tin cậy
11 Một khuyến nghị mà tôi được nghe được sử dụng như một sự thỏa hiệp là tổ chức cả điều tra lực lượng lao động và điều tra biến động dân số nhưng trong các năm khác nhau Đó là tổ chức một cuộc điều tra trong năm này và cuộc điều tra kia trong năm tiếp theo Theo nhận xét của tôi, điều này không nên thực hiện Lý do chính là vì điều tra lực lượng lao động cần phải thực hiện hàng năm trong khi điều tra biến động dân số, như chúng tôi trình bày trong phần này, không cần thiết phải tổ chức một cách thường xuyên
Trang 17
nhân khẩu học tốt Các dự báo như vậy được tiến hành ở TCTK năm 2001.12 Việc đánh giá cặn
kẽ các kết quả này sẽ là một điểm khởi đầu tốt
C Vụ Thống kê Tài khoản Quốc Gia
Cho dù tên chính thức của vụ là như vậy nhưng vụ Thống kê Tài khoản Quốc gia (NAD) không chỉ chịu trách nhiệm sản xuất các tài khoản quốc gia của đất nước – một nhiệm vụ đòi hỏi khắt khe và chuyên môn hóa cao – mà còn sản xuất các số liệu thống kế trong các khu vực cụ thể (khối chính phủ và tổ chức tài chính) và các lĩnh vực khác (đầu tư) Trong khi tôi nghĩ rằng vụ có thể có lợi từ việc tập trung vào một mình lĩnh vực tài khoản quốc gia thì tôi cũng nhận thấy rằng quyết định này nằm ngoài vấn đề kỹ thuật và do vậy tôi sẽ cố gắng không có bất kỳ nhận xét nào
về những nhiệm vụ này Trọng tâm của tôi theo nghĩa khuyến nghị công việc ưu tiên sẽ là tài khoản quốc gia, đồng thời cách nhìn của tôi đối với các nhiệm vụ khác chỉ đơn thuần là những đầu vào cho việc xây dựng những tài khoản này
Trước khi mô tả các đầu ra thực tế của vụ này, có thể cần phải nói vài lời về loại sản phẩm được tạo ra vì theo nghĩa nào đó thì nó khác so với các loại chức năng và sản phẩm thống
kê khác Sản phẩm của tài khoản quốc gia có thể mô tả một cách tốt nhất là một quan điểm thuộc trường phái ấn tượng về sự vận hành của nền kinh tế, về bản chất nó tương tự với trò chơi xếp hình với vô số các mảnh nhỏ có nhiều kích cỡ, hình thù và mầu sắc khác nhau Điểm mạnh của
nó nằm ở thực tế là nó cung cấp một bức tranh nhất quán về toàn bộ nền kinh tế trong một năm nhất định và có liên hệ với các năm trước Để làm được điều này, các cán bộ làm tài khoản quốc gia phải đánh giá số liệu từ hàng chục nguồn khác nhau, với mức độ bao phủ và chính xác khác nhau mà đôi lúc đưa ra các chỉ báo trái ngược Điều luôn được ghi nhớ bởi các cán bộ này là ảnh hưởng của bất kỳ chỉ báo số liệu nào lên tính nhất quán chung của bức tranh toàn cảnh Điều này đôi lúc ngụ ý rằng cần sử dụng điều chỉnh để đảm bảo được sự nhất quán chung Do vậy không giống như các công cụ thống kê khác (ví dụ: điều tra mẫu hoặc tổng điều tra) mà có thể thiết kế ở các mức độ chính xác có thể đo lường được (thông qua sai số chọn mẫu hoặc phi chọn mẫu), các tài khoản quốc gia không thể có được một thước đo cụ thể về độ chính xác Chỉ có một phạm vi
12 Dự án VIE/97/P14 của Tổng cục Thống kê, Kết quả của Dự báo Dân số cho Cả nước, các Vùng địa lý
và 61 tỉnh/thành phố Việt Nam 1999-2024, Nhà Xuất bản Thống kê, Hà Nội, 2001
Trang 18ngầm về độ lớn của các sai số có thể được người sử dụng những tài khoản này quy cho Ví dụ, trong khi một con số (hay hai con số) sau dấu phẩy thập phân trong tỷ lệ tăng trưởng GDP được các nước phát triển với nền tảng thống kê lâu đời sản xuất ra (ví dụ: Mỹ, Canada, Úc) có thể được coi là nằm trong phạm vi sai số của thước đo này13 thì phạm vi sai số của nhiều nước đang phát triển lại lớn hơn rất nhiều trong đó các thước đo ở một số nước chỉ được coi là “thứ hạng của độ lớn” Do vậy, người sử dụng cần được cảnh báo để không có những cảm nhận sai về độ chính xác khi sử dụng các tài khoản quốc gia
Tóm lại, lập tài khỏan quốc gia mang nhiều kỹ năng phân tích hơn, là việc nghiên cứu sâu những số liệu từ vô số nguồn khác nhau để cố gắng hình thành một bức tranh toàn cảnh về nền kinh tế Mặc dù vụ có những chức năng khác nhưng công việc của NAD cần được nhìn từ quan điểm này hơn là theo một cách chung như đối với các vụ thống kê khác của TCTK Việc vụ
có tổ chức một số điều tra trực tiếp như trình bày trong Bảng 3 chủ yếu là do chức năng được giao của vụ
Bảng 3: Các cuộc điều tra chính đang được Vụ Thống kê Tài khoản Quốc gia tổ chức
Vốn Đầu tư cho Phát triển và Tích lũy Vốn Hàng năm Đo lường các họat động đầu tư
Dịch vụ Công 5 năm 1 lần Theo dõi tình trạng của các hoạt động
dịch vụ công Điều tra Đặc biệt cho Bảng I-O Thỉnh thoảng Xác định các tỷ lệ đầu vào/đầu ra
Vụ sản xuất một cách thường xuyên các đầu ra về tài khoản quốc gia sau đây:
• Đầu ra được gọi là các tài khoản quốc gia “tổng hợp” hàng năm theo giá hiện tại
Đây là các mô tả theo bảng ma trận về GDP và sản lượng theo khu vực thể chế
trong đó GDP được đo lường theo các phương pháp sản xuất, tiêu dùng và thu
Trang 19
• Các tài khoản sản xuất cấp tỉnh hàng năm14
• Các tài khoản sản xuất (GDP) quý theo giá hiện tại và giá so sánh
• Các bảng đầu vào-đầu ra 5 đến 7 năm một lần
Tất cả các nhiệm vụ kể trên không có một thứ tự ưu tiên nào và do vậy là có chung mức độ ưu tiên, trong đó việc xây dựng tài khoản tổng hợp chiếm nhiều thời gian và nguồn lực của vụ nhất
do bản chất cực kỳ phức tạp của nó Việc ưu tiên như vậy là không nên làm vì nó làm vụ mất đi
cơ hội tập trung thời gian phù hợp để đảm bảo chất lượng cho các biến quan trọng nhất Các nguồn lực rất hạn chế của vụ sẽ được sử dụng có hiệu quả hơn nếu thực hiện thứ tự ưu tiên như sau:
• Ưu tiên hàng đầu cần dành cho việc xây dựng các chuỗi số liệu GDP hàng năm
đáng tin cậy (theo cả tài khoản tiêu dùng và sản xuất và cả giá hiện tại và giá so
sánh) sử dụng hình thức chuẩn được TCTK sử dụng trước đây (tức là: 20 lĩnh vực
của tài khoản sản xuất và 6 nhóm của tài khoản tiêu dùng) Việc này cần được
thực hiện cùng với chính sách và lịch trình công bố số liệu được phổ biến rộng rãi
cho mọi người (ví dụ: công bố số liệu hàng năm sơ bộ sau 3 tháng của năm báo
cáo, số liệu điều chỉnh được công bố sau 6 tháng, v.v…) Một khi những tài khoản
này được sản xuất thường xuyên và với mức độ chất lượng cần có thì vụ có thể
đưa thêm vào các tài khoản thu nhập
• Ưu tiên thứ hai cần dành cho việc sản xuất dãy số liệu GDP quý, ban đầu là các
tài khoản sản xuất (theo giá hiện tại và giá so sánh, và theo cùng hình thức như
các tài khoản sản xuất hàng năm) và sau đó là các tài khoản tiêu dùng (và cũng
theo hình thức như tài khoản năm) Sản xuất những chuỗi số liệu này cũng cần
được kèm theo chính sách và lịch trình công bố số liệu được phổ biến rộng rãi cho
mọi người, cũng giống như với chuỗi GDP năm
• Ưu tiên thứ ba cần dành cho việc công bố các tài khoản sản xuất cấp tỉnh hàng
năm (theo giá hiện hành và giá so sánh, và theo cùng hình thức như chuỗi số liệu
quốc gia) Vụ cần tham gia sâu sát hơn vào quá trình sản xuất các tài khoản cấp
tỉnh bằng cách (1) cung cấp đào tạo cho các cục thống kê về nguồn số liệu và
phương pháp tổng hợp các tài khoản này và (2) đánh giá những số liệu các cục
sản xuất ra và đưa vào những điều chỉnh cần thiết để làm cho các số liệu này có
thể được tổng hợp nhất quán với tổng GDP Một khi quá trình này thành công, có
thể tiếp tục sản xuất các tài khoản tiêu dùng
14 Đây là công bố số liệu duy nhất đối với các tài khoản cấp tỉnh được xây dựng bởi các cục Thống kê Tỉnh/thành phố NAD không làm tương thích những tài khoản này với những tài khoản quốc gia của toàn quốc, chủ yếu là vì không có thời gian do còn những nhiệm vụ khó khăn khác
Trang 20
• Ưu tiên tiếp theo (trong hai năm tới) nên dành cho sản xuất bảng đầu vào-đầu ra
Bảng gần đây nhất được lập cho năm 2000 Lập một bảng mới cần có sự quan tâm
lớn Vụ có kế hoạch lập bảng này trong năm 2008 (cho số liệu 2007)
• Đứng cuối cùng trong danh sách ưu tiên là thiết lập các tài khoản “tổng hợp”
Điều này không có nghĩa là làm thấp công dụng của những tài khoản này Tuy
nhiên, với yêu cầu thời gian quá lớn cho việc này, với tính cấp thiết của việc sản
xuất các tài khoản phía trên một cách thường xuyên và với số lượng cán bộ hạn
chế, thì việc thiết lập các tài khoản “tổng hợp” đơn giản là không thể được xếp ưu
tiên ngang bằng với các hoạt động khác nếu tính theo tỷ lệ chi phí/lợi ích
Tôi tin rằng nếu vụ theo những ưu tiên này trong phân bổ cán bộ và nguồn lực trong một vài năm tới thì vụ sẽ sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn các phương án khác, và tất nhiên là hơn tình trạng hiện tại
D Vụ Thống kê Công nghiệp và Xây dựng
Quan sát nhanh Bảng 4 cho thấy rằng vụ này có ba hoạt động thống kê thường xuyên chính (điều tra doanh nghiệp hàng năm, điều tra chỉ số sản xuất công nghiệp hàng tháng và điều tra xu hướng kinh doanh hàng quý) Tuy nhiên, hai điều tra sau có thể coi gần như là hoạt động thử nghiệm (điều tra thứ ba chưa được công bố số liệu và điều tra thứ hai đang tiến hành thử nghiệm hai trong 2 năm với sự hỗ trợ của JICA15), do vậy nguồn lực của vụ tập trung chủ yếu cho điều tra doanh nghiệp hàng năm Mặc dù tôi tin rằng ưu tiên hàng đầu của vụ nên là cải tiến cuộc điều tra này để cung cấp được các ước lượng tin cậy hơn về các hoạt động kinh tế, các cải
tiến này lại nằm ở việc chuyển cuộc điều tra này thành một điều tra cơ sở hàng năm tập trung vào đo lường thay đổi trong các hoạt động hơn là đo lường mức độ.16 Điều tra này sẽ là một phần của hệ thống điều tra cơ sở được khuyến nghị trong Mục IV.A
15 Mặc dù vụ đang công bố chỉ số sản xuất công nghiệp hàng tháng nhưng những hạn chế của điều tra này đã được GSO nhận thức rõ ràng Đó là lý do tại sao GSO đang kiểm định một phương pháp luận mới với sự hỗ trợ của JICA Phương pháp luận mới sẽ được đánh giá trong năm tới để quyết định xem
có áp dụng rộng rãi không hay phải tiếp tục cải tiến
16 Một nghiên cứu trước đây của dự án (Yahya Jammal, Dương Trí Thắng và Phạm Đình Thúy, Điều tra Doanh nghiệp Hàng năm của Việt Nam, 12/07/2006, Báo cáo của Dự án 00040722 “Hỗ trợ Giám sát
Phát triển Kinh tế-Xã hội” của GSO/UNDP/DFID, Tổng cục Thống kê, Hà Nội) đã khuyến nghị các bảng câu hỏi để có thể đo lường được sự thay đổi của những biến chính
Trang 21Bảng 4: Các cuộc điều tra chính đang được Vụ Thống kê Công nghiệp và Xây dựng tổ chức
Điều tra Doanh nghiệp Hàng năm Đo lường các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Điều tra công nghiệp Hàng tháng Tính chỉ số sản xuất công nghiệp
Điều tra xu hướng kinh doanh Hàng quý Theo dõi các xu hướng kinh doanh ngắn hạn (số liệu
chưa được công bố)
Liên quan đến điều tra chỉ số sản xuất công nghiệp hàng tháng, một khi cuộc điều tra tổ chức thành công, nó có thể được đưa vào trong hệ thống được khuyến nghị để giúp cung cấp các số liệu cập nhất thường xuyên về hoạt động sản xuất của cơ sở Đối với điều tra xu hướng kinh doanh, với dạng hiện tại, điều tra này có vẻ không thể cung cấp được các số liệu thống kê có ích cho người sử dụng.17 Nói một cách khác, các lợi ích mà nó cung cấp dưới dạng hiện nay không giải thích được cho những chi phí về thời gian và nguồn lực mà vụ đang tập trung cho nó Việc
sử dụng nguồn lực có hạn sẽ có ích hơn nếu tập trung vào cải tiến điều tra hàng năm
E Vụ Thống kê Thương mại, Dịch vụ và Giá cả
Vụ Thống kê Thương mại, Dịch vụ và Giá cả (TSPD) có bốn nhiệm vụ chính và tương đối nặng nề:
• Công bố số liệu giá (Chỉ số Giá Tiêu dùng hàng tháng và Chỉ số Giá Sản xuất
hàng quý)
• Tổ chức tổng điều tra cơ sở năm năm một lần (điều tra gần đây nhất tổ chức năm
2002, điều tra khoảng 3 triệu cơ sở)
• Công bố số liệu về hành vi doanh nghiệp hộ gia đình (ấn phẩm công bố gần đây
nhất là cho năm 2004, bao gồm khoảng 3 triệu đơn vị hộ)
17 Các cuộc điều tra này chỉ cung cấp những đánh giá mang tính định lượng về kỳ vọng của các nhà quản
lý doanh nghiệp về những tháng tới và chúng thường được tiến hành như là một công cụ bổ sung cho các chỉ tiêu định lượng ngắn hạn đang có về hoạt động kinh tế như chỉ số sản xuất công nghiệp, chỉ số dẫn đầu hay các chỉ số trùng hợp, v.v… Mục đích chính của nó là để có được một cảm giác về tình hình chung (lạc quan/bi quan) của khu vực doanh nghiệp để dự báo về sự thay đổi tương lai, ví dụ như của chỉ số của các chỉ tiêu dẫn đầu Bản thân các cuộc điều tra này có thể không có ích lắm chủ yếu là
vì nó không tạo ra được các thước đo tóm tắt mang tính định lượng rõ ràng
Trang 22• Công bố số liệu về khu vực dịch vụ, bao gồm thương mại, giao thông vận tải, các
hoạt động du lịch và ngoại thương
Với trách nhiệm chủ yếu của mình trong cả 4 mảng nhiệm vụ thì việc vụ TSPD xếp các mảng này với mức độ ưu tiên bằng nhau là có thể hiểu được Bảng 5 liệt kê các hoạt động của vụ liên quan đến 4 mảng này
Bảng 5: Các cuộc điều tra chính đang được Vụ Thống kê Thương mại, Giá cả và Dịch vụ tiến hành
Tổng điều tra cơ sở 5 năm 1 lần Hoạt động của cơ sở và doanh nghiệp hộ gia đình Điều tra các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt
động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ Hàng tháng Tạo ra giá trị doanh thu
Điều tra doanh nghiệp hộ gia đình hoạt động trong
lĩnh vực dịch vụ và thương mại Hàng tháng Tạo ra giá trị doanh thu
Điều tra doanh nghiệp hộ gia đình Hàng năm Đếm số doanh nghiệp và các hoạt động sản xuất Điều tra Xu hướng kinh doanh trong thương mại, xuất
khẩu và giao thông Hàng quý Theo dõi xu hướng hàng quý (chưa công bố) Điều tra du lịch Hàng năm Theo dõi các hoạt động du lịch
Điều tra giao thông ngoài quốc doanh Hàng tháng Theo dõi các hoạt động giao thông
Chỉ số giá tiêu dùng Hàng tháng Tạo ra CPI
Chỉ số giá sản xuất Hàng quý Tạo ra PPI
Chương trình so sánh quốc tế/Châu Á Thái Bình
Số liệu về giá cho việc tính toán Sức mua tương đương giữa các quốc gia
Điều tra hộ để tính quyền số cho CPI 5 năm 1 lần Quyền số CPI
Với cơ cấu tổ chức hiện tại và với các công việc được giao, rất khó có thể yêu cầu vụ bỏ 1 hoạt động nào đó mà không có lợi cho một hoạt động khác Tuy nhiên có hai lĩnh vực bao trùm ngành dịch vụ và các hoạt động của doanh nghiệp hộ gia đình có thể được lợi từ việc đánh giá chi phí/lợi ích để việc sử dụng nguồn lực có hạn hiệu quả hơn Đặc biệt,
• Các điều tra dịch vụ hàng tháng (và hàng năm) rất khó khăn và tốn kém Lý do
duy nhất để tổ chức các điều tra này là yêu cầu gắt gao của người sử dụng về các
số liệu này và nếu các số liệu này được sản xuất thì vụ phải đảm bảo rằng không
chỉ sản xuất ra các số liệu này mà còn thường xuyên đánh giá độ chính xác của
chúng Trong việc tổ chức hiện tại của điều tra này, vụ không có nguồn lực cho
việc đánh giá thường xuyên kết quả Cũng không thấy rõ nhu cầu gắt gao của
người sử dụng về các số liệu này Do vậy, có thể phù hợp hơn khi giảm gánh nặng
trong việc tổ chức điều tra giao thông ngoài quốc doanh hàng tháng (ví dụ) thành
điều tra hàng năm và giành thời gian của cán bộ cho việc đánh giá kết quả và thực
hiện những cải tiến về phương pháp luận cần thiết để nâng cao tính chính xác Có
thể làm giống như vậy đối với điều tra xu hướng kinh doanh hàng quý Trong cả
Trang 23hai trường hợp này, vụ cần ước lượng những lợi ích có thể so với những chi phí
thực tế cho việc tiến hành các cuộc điều tra này trong tình trạng hiện có của chúng
và so sánh với những lợi ích khi chuyển những điều tra này thành điều tra hàng
năm Nếu việc báo cáo hàng quý/hàng tháng vẫn cho rằng là cần thiết vì một số lý
do không mang tính kỹ thuật thì khuyến nghị của tôi là đánh giá khả năng đáp
ứng nhu cầu về báo cáo bằng việc sử dụng các kỹ thuật ước lượng thống kê thay
thế
• Điều tra doanh nghiệp hộ gia đình hàng năm là khó thậm chí trong các điều kiện
tốt nhất do số lượng của chúng (tới hàng triệu) và bản chất linh hoạt của hoạt
động của chúng (bao gồm nhiều loại hoạt động khác nhau, hoạt động theo vụ mùa
hoặc không thường xuyên, v.v…) Trừ khi có lý do xác đáng về việc tổ chức
thường xuyên hơn các cuộc điều tra này sẽ cung cấp các kết quả chính xác và có
ích hơn là tạo ra nhiều độ nhiễu hơn trong số liệu thì tốt nhất là nên tránh việc tổ
chức tốn kém như vậy Tôi chưa nhìn thấy bất kỳ bằng chứng nào cho thấy rằng
điều tra doanh nghiệp hộ gia đình hàng tháng về Thương mại và Dịch vụ có thể
tạo ra những kết quả như vậy Tương tự như vậy đối với điều tra các doanh
nghiệp phi quốc doanh Trừ khi tìm ra được bằng chứng, khuyến nghị của tôi là
dừng tổ chức các cuộc điều tra này và phân bổ nguồn lực giới hạn của vụ để đảm
bảo rằng các cuộc điều tra hàng năm khác có thể cung cấp số liệu với chất lượng
tốt hơn Nếu báo cáo hàng tháng vẫn được quyết định là cần thiết vì một số
nguyên nhân không phải nguyên nhân kỹ thuật thì khuyến nghị của tôi là xem xét
khả năng đáp ứng yêu cầu này bằng các phương pháp ước lượng thống kê thay
thế
Cuối cùng, cần phải chú ý rằng vụ này cũng như cả nước cần số liệu đáng tin cậy về Chỉ số Giá Tiêu dùng (CPI) hàng tháng Điều này sẽ bắt đầu với một cuộc điều tra mẫu thiết kế đặc biệt với mục đích tạo ra một rổ hàng hóa đại diện cũng như các quyền số cho những hàng hóa này Cho đến nay theo tôi được biết, TCTK chưa tiến hành một điều tra như vậy Số liệu dựa vào thông tin
về hàng hóa thu từ VHLSS cùng với từ một cuộc điều tra mẫu hạn chế để tính quyền số cho những hàng hóa không có trong VHLSS Mặc dù phương pháp này có thể phù hợp như là một các đo lường lấp chỗ trống trong ngắn hạn, nó không thể thay thế được cho một cuộc điều tra thực sự được thiết kế cho mục đích cụ thể là thu được thông tin rất chi tiết về từng hạng mục hàng hóa (không chỉ bao gồm tên hàng hóa mà còn bao gồm những hạng mục cụ thể với thông tin về hình dạng, tiêu chuẩn, nguyên liệu, kích cỡ, nhãn hiệu, v.v…) cần có cho CPI, đây là những thông tin không có và không thể thu được từ VHLSS