Tiểu luận về tài nguyên nước
Trang 1M c l c ục lục ục lục
I Tài nguyên nước 1
I.1 Khái niệm về tài nguyên nước 1
I.2 Vai trò của tài nguyên nước trong sự sống 1
II Hiện trạng tài nguyên nước Việt Nam 2
II.1 Tài nguyên nước mặt 2
II.1.1 Tài nguyên nước mưa 2
II.1.2 Tài nguyên nước sông ngòi 4
II.1.3 Hồ chưa, hồ và đầm phá 8
II.2 Tài nguyên nước ngầm 9
III Biến đổi khí hậu 11
III.1 Khái niệm 11
III.2 Nguyên nhân 11
III.3 Một số hiện tượng của BĐKH 13
IV Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu 15
IV.1 Đến Việt Nam 15
IV.2 Đến tài nguyên nước Việt Nam 18
V Giải pháp và khuyến nghị 29
Kết luận 33
Tài liệu tham khảo 34
Trang 2I Tài nguyên nước.
I.1 Khái niệm về tài nguyên nước.
Nước là yếu tố chủ yếu của hệ sinh thái, là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên Trái đất và cần thiết cho mọi hoạt động kinh tế xã hội của con người Nước là tài nguyên tái tạo được, là một trong các nhân tố quyết định chất lượng môi trường sống của con người
Tài nguyên nước là lượng nước trong các sông, ao hồ, đầm lầy, biển, đại dương, khí quyển, Theo luật Tài nguyên nước của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã quy định: “ Tài nguyên nước, bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất,nước biển thuộc lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
I.2 Vai trò của tài nguyên nước trong sự sống
Nước là thành phần cấu tạo chính yếu trong cơ thể sinh vật (60 – 90% là nước), vì thế thiếu nước sẽ gây nhiều nguy hiểm cho cơ thể sống Là nguyên liệu để thực hiện quá trình quang hợp, vận chuyển các chất dinh dưỡng, là phương tiện trao đổi năng lượng và điều hòa thân nhiệt, Nước là dung môi hòa tan tốt nhất các chất có trong môi trường, đặc biệt là có tác dụng pha loãng các yếu tố gây ô nhiễm môi trường Đồng thời, nước còn được sử dụng thường xuyên cho các hoạt động kinh tế xã hội của con người, như trong đời sống sinh hoạt, sản xuất, trồng trọt, nông nghiệp, công nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy hải sản, sản xuất điện, giao thông, du lịch,…
Nước tồn tại khắp nơi trên Trái Đất, ở các dạng rắn, lỏng, khí Tổng lượng nước trên Trái Đất khoảng 1,4.1018 tấn, nhưng trong đó 97% là nước mặn ở các đại dương, 2% dưới dạng băng đá ở hai đầu cực, 1% được con người sử dụng ( 30% tưới tiêu, 50% dùng
để sản xuất năng lượng, 12% cho sản xuất công nghiệp và 7% cho sinh hoạt)
Do đó nước đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự sống trên Trái Đất, dù là nguồn tài nguyên có thể tái tạo nhưng nước đang ngày càng bị ô nhiễm và sử dụng một cách bất hợp lý Nước cũng là một nguồn tài nguyên quan trọng của mỗi quốc gia, những
Trang 3ảnh hưởng liên quan đến tài nguyên nước cũng sẽ có ảnh hưởng ít nhiều tới sự phát triển
cả quốc gia đó
II Hiện trạng tài nguyên nước Việt Nam.
Tài nguyên nước ở Việt Nam vô cùng phong phú, với hệ thống sông ngòi dày đặc, lại nằm trong vùng nhiệt đới nên lượng mưa hằng năm tương đối dồi dào, nguồn nước ngầm phong phú, Tuy nhiên, tài nguyên nước ở nước ta phân bố không đồng đều trên khắp lãnh thổ và có sự biến động theo thời gian
II.1 Tài nguyên nước mặt.
II.1.1 Tài nguyên nước mưa.
Với lợi thế nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, gần với Thái Bình Dương và Ấn
Độ Dương, phía đông là biển nên nước ta luôn có lượng mưa hằng năm dồi dào, khoảng
650 km3 hay 1960 mm trải đều khắp bề mặt lãnh thổ Phân bố không đều và biển đổi mạnh theo thời gian
Quy luật phân bố lượng mưa trung bình nhiều năm không đều trong không gian, phụ thuộc vào hướng của sườn đón gió Trung tâm mưa lớn nhất (4.000-5.000mm) xuất hiện ở một số khu vực, như khu vực núi Nam Châu Lĩnh (Quảng Ninh), Vòm sông Chảy (khu vực Bắc Quang), vùng núi Hải Vân, Trà My, Ba Tơ Ngoài ra, còn một số trung tâm mưa tương đối lớn (3.000 – 4.000mm), xuất hiện ở vùng núi cao HoàngLiên Sơn - Pu Si Lung, vùng núi biên giới Việt Trung ở tả ngạn sông Đà thuộc tỉnh Lai Châu, sườn phía đông dãy Trường Sơn thuộc tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị (Voi Mẹp), Thừa Thiên Huế (A Lưới) , đèo Ngang, vùng núi Ngọc Linh ở tỉnh Kon Tum và vùng núi Chư -Yang- Sin ở tỉnh Đắc Lắc và Lang Biang ở tỉnh Lâm Đồng Hai trung tâm mưa lớn nhất nước ta là Bắc Quang và Bạch Mã đạt 5013 mm
Ngược lại, những trung tâm mưa nhỏ thường được hình thành ở những vùng thấp, khuất gió hoặc nằm song song với hướng gió ẩm Một số trung tâm mưa ít xuất hiện ở các khu vực dưới đây:
Trang 4- Dưới 1000 mm xuất hiện ở ven biển Ninh Thuận và Bình Thuận, trong đó có một
số nơi 500 - 600 mm, như ở khu vực Cà Ná, Ninh Thuận
- Từ 1000 - 1200 mm xuất hiện ở một số thung lũng sông hay cao nguyên khuất gió mùa ẩm, như thung lũng sông Kỳ Cùng ở tỉnh Lạng Sơn, thung lũng thượng nguồn sông Mã, cao nguyên Sơn La, Mộc Châu ở tỉnh Sơn La, các cao nguyên đá vôi Đồng Văn, Mèo Vạc ở tỉnh Hà Giang, thung lũng trung lưu sông Ba, khu vực ven biển Khánh Hòa và khu vực nằm giữa sông Tiền và sông Hậu ở tỉnh Đồng Tháp - An Giang…
Sự phân bố mưa trong năm rất không đều và được chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô
Ở Bắc Bộ mùa mưa bắt đầu từ tháng V, VI và kết thúc sớm vào tháng IX, X;
Ở Bắc Trung Bộ mùa mưa có xu thế xuất hiện muộn và ngắn dần từ bắc vào nam, với mùa mưa bắt đầu vào các tháng V, VI – X, XI ở phần phía bắc và xuất hiện muộn vào các tháng IX, X –XII ở phía nam;
Ở Nam Trung Bộ mùa mứ xuất hiện muộn và ngắn nhất so với các vùng khác, vào tháng IX – XII ở phần lớn các nơi, riêng ở phía Tây tỉnh Quảng Nam xuất hiện vào tháng VIII – XI và vào tháng V – X ở Ninh Thuận – Bình Thuận
Ở Tây Nguyên mùa mưa kéo dài từ tháng V đến tháng X, XI ở phần lớn cácnơi, thậm chí kéo dài đến tháng XII ở khu vực phía Đông do chịu ảnh hưởng cuả các hình thế thời tiết gây mưa ở ven biển Nam Trung Bộ
Ở Nam Bộ mùa mưa thường kéo dài từ tháng V đến tháng X, XI
Mùa khô thường xuất hiện vào các tháng X, XI đến tháng IV ở Bắc Bộ, phần phía Bắc của Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ, từ tháng XII, I đến tháng VII, VIII ở ven biển Trung Bộ và một số nơi ở Tây Nguyên
Trang 5Chế độ mưa có ảnh hưởng đến chế độ dòng chảy sông ngòi Cũng vì có sự phân hóa theo mùa nên trên khắp nước ta, vào mùa mưa lượng dòng chảy sông ngòi cũng tăng lên, ứng với mùa lũ và vào mùa khô, lượng mưa thấp, bốc hơi cao nên dòng chảy sông ngòi ít_ mùa cạn.
II.1.2 Tài nguyên nước sông ngòi.
Sông là dòng chảy thường xuyên có kích thước tương đối lớn và nước sông được cung cấp bởi nước từ khí quyển đến dạng lỏng ( mưa) hay rắn ( tuyết) trong phạm vi lưu vực sông Nguồn cung cấp chính cho sông là nước mưa, chế độ mưa có ảnh hưởng đến chế độ dòng chảy Nước sông là thành phần chủ yếu và quan trọng nhất của tài nguyên nước mặt
Từ điều kiện khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, đặc điểm của cấu trúc địa lý, địa hình lãnh thổ, với ¾ diện tích lãnh thổ là đồi núi thấp có hướng Tây Bắc – Đông Nam hoặc Tây – Đông, chạy dọc hay đâm ngang ra biển, địa hình bị chia cắt nhiều nên mạng lưới sông suối ở nước ta khá phát triển Việt Nam có khoảng 2.360 con sông có chiều dài từ
10 km trở lên và có nước chảy quanh năm, bao gồm 106 sông chính, 2.254 sông nhánh các cấp, 26 phân lưu và hơn 7.000 km đê sông và để biển, với mật độ lưới sông từ dưới 0,5 km/km2 đến trên 4 km/km2, trung bình khoảng 0,6 km/km2 Cả nước có 9 hệ thống sông lớn có diện tích lưu vực từ 10.000 km2 trở lên ( Sông Hồng, sông Mã, sông Cả, sôngThu Bồn, sông Kỳ Cùng – Bằng Giang, sông Đồng Nai, sông Mê Công) và 97 sông độc lập chảy trực tiếp ra biển có diện tích lưu vực dưới 5.000 km2 ( sông vừa và nhỏ) Tất cả những hệ thống sông này đều chảy trực tiếp ra biển ( trừ sông Kỳ Cùng – Bẳng Giang là chảy theo hướng Tây Nam – Đông Bắc vào lãnh thổ Trung Quốc), phần lớn các hệ thống sông này đều được phân cách bằng các dãy núi cao và thường có phần trung lưu, hạ lưu rất ngắn hoặc hoàn toàn không có
Sông ngòi nước ta được cung cấp nguồn nước dồi dào từ lượng mưa hằng năm, trung bình 1960 mm/ năm Mùa mưa là mùa nước sông dâng cao, còn mùa khô là mùa nước sông tương đối ồn định hay xuống thấp hơn mức bình thường Ở những vùng mưa
Trang 6lớn thì mật độ lưới sông tương đối dày (mật độ lưới sông từ 1,5 – 2 km/km2 như vùng núi cao Hoàng Liên Sơn, thượng nguồn sông Thu Bồn, thượng nguồn sông Đồng Nai,
…) Những vùng núi thấp có lượng mưa tương đối như cánh cung Ngân Sơn, trung lưu sông Đồng Nai, thượng nguồn các sông Tây Nguyên,…có mật độ lưới sông từ 1,0 – 1,5 km/km2) Còn đại bộ phận có mật độ lưới sông từ 0,5 – 1 km/km2, một số vùng có mật độlưới sông nhỏ, dưới 0.5 km/km2 như Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Bắc Sơn, )
Tổng diện tích lưu vực của toàn bộ sông suối nước ta khoảng 835 tỷ m3, trong đó:
- Khoảng 522 tỷ m3 (chiếm 62,5 %) là từ nước ngoài chảy vào
- Khoảng 313 tỷ m3 (chiếm 37,5%) dòng chảy nội địa được sinh ra trong lãnh thổ nước ta
Phần lớn các sông lớn của Việt Nam là sông xuyên quốc gia, từ nước ngoài chảy vào, nên việc khai thác chung nguồn nước đã ảnh hưởng đến nguồn nước sông chảy vào lãnh thổ nước ta Các nước ở thượng nguồn sử dụng nhiều nước thì lượng nước đổ vào nước ta
sẽ giảm Sự nhiễm bẩn nguồn nước ở đầu nguồn cũng sẽ dẫn đến suy giảm chất lượng nước ở hạ lưu
Với tổng lượng nước trung bình năm của sông ngòi Việt Nam 835 tỷ m3 thì:
- Lượng nước sinh ra trên 1 km2 diện tích trên toàn lãnh thổ trung bình khoảng 2,520 triệu m3/năm
- Lượng nước cung cấp cho con người ( với dân số khoảng 80 triệu người( khoảng 10.440 m3/người/ năm
Với lượng nước nội địa của sông ngòi Việt Nam là 313 tỷ m3 thì:
- Lượng nước sinh ra trên 1 km2 diện tích trên toàn lãnh thổ trung bình khoảng 0,946 triệu m3/ km2/ năm
- Lượng nước cung cấp cho con người ( với dân số hiện nay – khoảng 80 triệu người) khoảng 3910 m3/người/năm
Trang 7Ngoài phân bố theo địa hình, dòng chảy sông ngòi có liên quan đến sự thay đổi theo mùa, không đồng đều trong năm, thời gian kết thúc mùa lũ hoặc mùa cạn không đồng thời trên toàn lãnh thổ.
- Mùa lũ hàng năm, trên các sông suối thường xuất hiện vào các tháng V, VI – IX,
X ở Bắc Bộ và phần phía bắc của Bắc Trung Bộ, các tháng VI, VII – XI, XII ở Tây Nguyên, Nam Bộ và ven biển cực Nam Trung Bộ ( Ninh Thuận – Bình
Thuận) Lượng dòng chảy trong mùa lũ chiếm khoảng 60 – 90% tổng lượng dòng chảy năm
- Mùa cạn trên các sông suối : từ tháng X, XI đến tháng IV, V ở Bắc Bộ và phần phía bắc Bắc Trung Bộ, từ tháng I đến tháng VIII, IX ở phần phía nam của Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ, từ tháng XII, I đến tháng V, VI ở Tây Nguyên và Nam Bộ Lượng dòng chảy trong mùa cạn chỉ chiếm khoảng 10 – 40% tổng lượng dòng chảy năm mặc dù mùa cạn kéo dài 7 – 9 tháng
Sự phân hóa theo mùa của dòng chảy rất mạnh trên các sông ở Tây Nguyên Ven biểnNam Trung Bộ còn có lũ tiều mãn vào các tháng V, VI Lũ tiều mạn tuy không lớn nhưng
là nguồn nước quan trọng cung cấp cho sinh hoạt và tưới tiêu, hạn chế tình trạng thiếu nước Chế độ dòng chảy vùng hạ lưu các con sông ven biển còn chịu ảnh hưởng của triều, đặc biệt trong mùa cạn Bờ biển nước ta có đủ 4 kiểu thủy triều khác nhau: nhật triều đều và không đều, bán nhật triều đều và không đều
Theo đánh giá chất lượng nước sông ở Việt Nam là tốt, ít bị ô nhiễm:
- Độ đục của nước sông Việt Nam khá lớn, trung bình năm từ 100 – 500 g/m3 Độ đục của nước sông là lượng cát bùn có trong 1 đơn vị thể tích nước sông Hằng năm, các sông ngòi Việt Nam vận chuyển ra biển 400 – 500 triệu tấn cát bùn, riêng sông Hồng khoảng 120 triệu tấn/năm Hàm lượng cát bùn lơ lửng cũng khá nhau giữa các sông, và có sự thay đổi theo mùa: đục trong mùa lũ và trong trong mùa cạn Khoảng 80 -90% tổng lượng cát bùn lơ lửng được chuyển tải trong mùa lũ
Trang 8Nước sông Hồng rất giàu mùn và lân, còn đạm và kali thuộc loại trung bình Theo nghiên cứu cứ 1000 m3 nước phù sa trong mùa lũ sông Hồng tương đương 1 tấn phân chuồng Do đó khi dùng nước này để tưới ruộng sẽ làm tăng độ phì nhiêu củađồng ruộng, làm tăng năng suất cây trồng Tuy nhiên cũng gây nhiều khó khăn do cát bùn bồi lấp lòng hồ và gây tồn kém cho công tác lọc nước để cung cấp nước cho sinh hoạt và công nghiệp,…
- Độ khoáng hóa là tổng hàm lượng các ion chứa trong nước sông (mg/l) Độ
khoáng hóa trung bình năm của nước sông ở nước ta thuộc loại thấp, khoảng 25 –
250 mg/l, nhiều nhất ở sông Hồng (200mg/l), sông Cửu Long (150mg/l) Sông ngòi nước ta có độ khoáng hóa mùa lũ nhỏ hơn mùa cạn từ 2- 3% , độ khoáng lớn nhất vào tháng 1-4, nhỏ nhất vào tháng 5-7
- Vào mùa cạn, nước sông ở những vùng ven biển bị nhiễm mặn, dưới tác dụng của thủy triều, nước biển không ngừng xâm nhập vào dòng sông, chiều dài xâm nhập mặn được quyết định bởi cường độ của dòng triều và lượng nước sông ở thượng nguồn đổ về Càng đi sâu vào đất liền thì độ mặn càng giảm dần Chế độ mặn biếnđổi theo chế độ triều Việc xâm nhập mặn vùng cửa sông làm cho chất lượng nướcsinh hoạt bị giảm sút, ảnh hưởng tới phát triển nông nghiệp và thôi thúc quá trình bồi lấp các luồng lạch,cửa sông
- Độ pH là một trong những yếu tố quan trọng nhất để xác định chất lượng nước về mặt hóa học Trong công tác xử lý nước thải, người ta dựa vào giá trị pH để làm trung hòa, làm mền nước, làm kết tủa, khử trùng, và kiểm tra độ ăn mòn pH chuẩncho nước sinh hoạt là từ 6,5 – 8,5 , nếu pH dưới 4,0 hay trên 8,5 thì sễ gây hại chocây trồng Ở miền Bắc, pH của các con sông dao động từ 3,8 – 8,9 ; còn ở miền Nam là từ 6,2 – 8,4
- Hàm lượng oxy hòa tan trong các sông trên cả nước gồm: các sông ở miền Bắc có hàm lượng oxy hòa tan trung bình là 4,4 mg/l, các sông miền Trung chưa bị ô nhiễm nhiều nên hàm lượng oxy hòa tan cao, khoảng 6 – 7mg/l, các sông miền Nam thì khoảng 6,88mg/l
Trang 9- Hàm lượng các chất hữu cơ trong nước tự nhiên thường nhỏ hơn 3mg/l Đối với các sông ở miên Bắc, hàm lượng chất hữu cơ trung bình là 7,28 mg/l Đối với các sông ở miền Nam, trung bình là 2,99 mg/l.
- Độ cứng của nước là hàm lượng các ion canxi và magie ở dạng muối cacbonat và sulfat có trong nước Sông ngòi Việt Nam thuộc loại nước mền và rất mền Độ cứng của nước sẽ thay đổi từ vùng này sang vùng khác, tùy thuộc vào cấu tạo địa chất và các yếu tố khác Nước mặt thường ít cứng hơn nước ngầm, đặc biệt, nước của các sông chảy qua vùng đá vôi thì có độ cứng khá lớn
Tất cả cho thấy nước sông Việt Nam có chất lượng còn tốt, có thể sự dụng trong nhiềungành, việc rửa trôi, pha loãng nước sông vào mùa lũ giúp các sông được phục hồi chất lượng nước Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế, nhiều dòng sông
đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, chất thải sinh hoạt, chất thải từ các khu công nghiệp, đô thị, nhà máy không qua xử lý mà xả trực tiếp xuống các nguồn nước sông, ao, hồ,…khiến cho chất lượng nguồn nước sông ngòi ở nước ta suy giảm rõ rệt Đây là vấn đề cấp thiết, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống con người và sự phát triển trong tương lai, do đó cần phải có những biện pháp kịp thời để giải quyết
II.1.3 Hồ chưa, hồ và đầm phá.
Ngoài ra, nước ta còn có nhiều ao, hồ tự nhiên và đầm phá ven biển Như hồ Ba
Bể ( Bắc Cạn) là hồ kiến tạo, nằm ở độ cao 145m so với mực nước biển trong vùng núi
đá vôi; hồ Tây ( Tp Hà Nội) là một đoạn cắt dòng của sông Hồng; Biển Hồ (Gia Lai) trước đây là miệng núi lửa đã ngừng hoạt động từ lâu; hồ Lắc,
Nguồn tài nguyên nước sông ngòi của Việt Nam là khá phong phú, chế độ dòng chảy luôn biến đổi mạnh mẽ theo thời gian và không gian, và có sự phân bố không đồng đều trong năm, nhưng lại có tiềm năng rất lớn về thủy điện Để khai thác nguồn lợi thế này, nhằm phát triển thủy điện, chống lũ, cung cấp nước cho hạ du vào mùa khô, phát triển giao thông đường thủy và cải thiện môi trường,…đã có hơn 10.000 hồ chứa nước
Trang 10các loại được xây dựng với tổng dung tích khoảng 37.000 triệu km3, chiếm 4,4 % tổng lượng dòng chảy năm trung bình của các sông suối.
Đầm phá thường được hình thành ở vùng ven biển miền Trung Nằm dọc ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế, hệ thống đầm phá dài khoảng 68 km, bao gồm phá Tam Giang, đầm Thủy Tú, vụng Cầu Hai và đầm Lăng Cô Đầm phá là nơi nuôi trồng và đánh bắt thủy sản nước lợ; đầm Trà Ổ và đầm Thị Nại ở tỉnh Bình Định; đầm Nại ở tỉnh Ninh Thuận
II.2 Tài nguyên nước ngầm
Bên cạnh nguồn tài nguyên sông ngòi, Việt Nam còn có nguồn tài nguyên nước dưới đất rất dồi dào Theo điều tra khảo sát, tổng trữ lượng động tự nhiên trên toàn lãnh thổ Việt Nam khoảng 112.239.142 m3/ngày hay 41,0 km3/năm, trữ lượng khai thác tiềm năng khoảng 132.873.900 m3/ngày hay 48,5 km3/năm, bằng khoảng 15,1% tổng lượng chảy năm của sông suối được hình thành trong lãnh thổ Việt Nam
Tài nguyên nước dưới đất ( nước ngầm) phân bố rất không đều theo không gian Những vùng khai thác tiềm năng như Đông Bắc Bộ tới 27.995.103 m3/ngày hay 10,22
km3/năm (chiếm 21,1%), Đồng bằng Nam Bộ đạt 23.843,7.103 m3/ngày hay 8,70
km3/năm (17,9%); trong khi đó, rất nhỏ ở một số vùng như vùng Đông Nam Bộ chỉ đạt 1.642,3.103 m3/ngày hay 0,60 km3/năm (1,2%), vùng Nam Trung Bộ 12.840.103 m3/ngàyhay 4,69 km3/năm (9,7%)
Tùy theo mục đích sử dụng, nước ngầm được chia làm 3 loại theo tồng độ khoáng hóa (TDS)
- Nước ngầm nhạt (TDS < 1g/l), chiếm 92% diện tích lãnh thổ cả nước Phân bố ở các vùng núi và cao nguyên, các đồng bằng cao trên 10m và phần đỉnh các đồng bằng châu thổ, các sông lớn nhỏ và vùng ven biển Ở các vùng này toàn bộ mặt cắtđến chiều sâu nghiên cứu đều chứa nước nhạt Phần lớn diện tích còn lại của đồng bằng châu thổ cũng có ít nhất 1 tầng chứa nước nhạt ở các độ sâu khác nhau
Trang 11- Nước ngầm lợ phân bố chủ yếu ở các đồng bằng châu thổ, vùng ven biển, hải đảo
và thềm lục địa Diện tích lãnh thổ phần đất liền có toàn bộ mặt cắt là nước lợ và mặn chiếm diện tích không lớn, chỉ khoảng 25 nghìn km2, nhưng diện tích nước ngầm lợ và mặn nằm xen kẽ với nước nhạt lại khá phổ biến ở đồng bằng
- Nước ngầm mặn phân bố tương đối hạn chế ở các đồng bằng ở phần dưới mặt cắt nhưng ở thềm lục địa và các đảo lại rất phổ biến
Chất lượng nước ngầm của nước ta tương đối tốt, đảm bảo được yêu cầu cấp nước ăn uống, sinh hoạt theo tiêu chuẩn của nhà nước:
- Độ pH của nước ngầm giới hạn 4,5 – 8,5 ; chủ yếu khoảng 6,5 – 7,5
- Tổng hàm lượng muối hoặc tổng độ khoáng hóa (TDS) của nước dưới đất nằm trong giới hạn cho phép sử dụng bằng hay nhỏ hơn 1,0 g/l, các thành phần hóa học
đa lượng cũng nằm trong giới hạn cho phép Riêng hàm lượng Clo ở các vùng đồng bằng thường cao hơn giới hạn cho phép với TDS lớn hơn 0,8g/l
- Hàm lượng các thành phần nguyên tố vi lượng ( Cu, Pb, As, Hg,…) nhỏ, được phép sử dụng cho nước ăn uống, sinh hoạt Tuy nhiên, một số nơi thuộc đồng bằngBắc Bộ ( Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Giang, ) có hàm lượng Hg, As trong nước vượt quá giới hạn cho phép cho nước sinh hoạt
- Thành phần các vi khuẩn trong nước đều nhỏ hơn giới hạn cho phép, các chất độc hại có nguồn gốc tự nhiên có hàm lượng dưới mức quy định Do đó, nước ngầm nhạt có chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn nước dùng trong ăn uống và sinh hoạt
Ở vùng đông bằng châu thổ, nước ngầm ở độ sâu từ 1 – 200m, ở miền núi nước ngầm thường ở độ sâu 10 – 150m, còn ở vùng núi đá vôi nước ngầm ở độ sâu khoảng 100m Đặc biệt vùng Tây Nguyên, nước ngầm thường sâu vài trăm mét
Lượng mưa hằng năm lớn do đó nước giếng sẽ dễ dàng bị ô nhiễm do nước mưa mang những chất độc hại vào nguồn nước sâu trong lòng đất Có nguy cơ nhiễm mặn cao
ở các vùng ven biển khi thủy triều xâm nhập
Trang 12III Biến đổi khí hậu.
III.1 Khái niệm.
Biến đổi khí hậu là “sự thay đổi của khí hậu mà hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp do tác động của hoạt động con người dẫn đến sự thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu và ngoài ra là những biến thiên tự nhiên của khí hậu được quan sát trên một chu kỳ thời giandài (theo Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu)
Biến đổi khí hậu được biểu hiện ở chiều hướng tăng của nhiệt độ, tăng mực nước biển, thay đổi chế độ mưa, thay đổi lượng mưa, thay đổi chế độ gió,…tất cả đều theo chiều hướng mạnh lên cùng với nguy cơ làm tăng các thảm họa thiên nhiên
III.2 Nguyên nhân.
Nguyên nhân của biến đổi khí hậu là do sự thay đổi bức xạ khí quyển, sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối rừng, các hệ sinh thái biển, đại dương, ven
bờ và đất liền khác,…mà chủ yếu là do hoạt động của con người
Lượng khí cacbonnic ngày càng tăng và Trái Đất không thể hấp thu được hết,nồng độ CO2 trong khí quyển tăng cao, là nguyên nhân chủ yếu làm tăng nhiệt độ Hiệntượng này được gọi là “hiệu ứng nhà kính” (green house effect), vì lớp cacbon đioxit ở đây
có tác dụng tương tự như lớp kính giữ nhiệt của nhà kính trồng rau xanh trong mùa đông
Tính chất nguy hại của hiệu ứng nhà kính hiện nay là khi nồng độ các khí nàycàng tăng trong khí quyển sẽ làm nhiệt độ bầu khí quyển càng nóng lên, do đó gây nên sựbiến đổi khí hậu toàn cầu
Các khí nhà kính bao gồm: CO2, CH4, CFC, NOX Trong đó, CO2 đóng tới 50% vaitrò Hiệu ứng nhà kính, CH4 (13%), NOX (5%) Nguyên nhân gia tăng CO2 là do kết quảcủa đốt cháy nhiên liệu (củi, than đá, quá trình đốt trong) hay cháy rừng
Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC ( 2007), nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng khoảng 0,74o trong thời kỳ 1900 – 2005 và tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm
Trang 13gần đây gấp đôi so với 50 năm trước đó ( Kịch bản Biến đổi khí hậu cho Việt Nam, Bộ tài nguyên và môi trường 2009).
Nhiệt độ tăng cao, kéo theo những biến đổi khí hậu, các quy luật thời tiết cũng thay đổi theo, mà tác động của biến đổi khí hậu là rất lớn, nó tác động tới toàn bộ Trái Đất, gây ảnh hưởng tới đời sống và các hoạt động kinh tế - xã hội Trong những năm gần đây, hậu quả do biến đổi khí hậu đã diễn ra nhanh chóng và khó kiểm soát, bất cứ nơi nàotrên thế giới, bất cứ quốc gia, ngành nghê, lĩnh vực kinh tế đều không thoát khỏi ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Càng nhiều những cơn bão, các trận lốc xoáy nhiệt đới xuất hiện ở vùng Tây Thái Bình Dương, sự thay đổi về lượng mưa và thời gian mưa hằng năm; tần suất, cường độ, tính biến động của các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như bão, lốc, mưa đá, ngập lụt, hạn hán, rét hại,…ngày càng gia tăng; dịch bệnh tràn lan; tính
đa dạng sinh học bị suy giảm nghiêm trọng; đặc biệt là các vấn đề về an ninh lương thưc,
an ninh nguồn nước bị đe dọa nghiêm trọng
Nhiệt độ gia tăng cũng khiến cho băng tan làm cho mực nước biển dâng cao, xâm lấn ngày càng sâu vào đât liền, khiến cho những vùng đất thấp, các vùng đảo và quần đảo_ là những khu vực dễ bị tồn thương nhất có thể bị nhấn chìm trong nước biển hoặc biến mất, kéo theo những vấn đề về cân bằng sinh thái Nếu nhiệt độ nước biển tăng khoảng 1,5 – 4,5 o C thì mực nước biển sẽ dâng cao 15 – 90 cm, theo dự đoán chỉ cần mực nước biển dâng cao 1m, Bangladet sẽ mất 17,5% diện tích, Hà Lan cũng sẽ mất khoảng 6% diện tích, Ấn Độ và Trung Quốc cũng phải đối mặt với nguy cơ này Việt Nam cũng là một trong những nước sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề khi nước biển dâng cao
Theo báo cáo mới nhất của Liên Hiệp Quốc, nguyên nhân dẫn đến hiện tượng Biến đổi khí hậu có 90% là do con người gây ra và 10% còn lại là do tự nhiên
III.3 Một số hiện tượng của BĐKH
Hiệu ứng nhà kính: là quá trình bầu khí quyển nóng lên do lượng bức xạ mặt trờichiếu thẳng vào tầng khí quyển mặt đất Bức xạ Mặt trời là bức xạ sóng ngắn nên nó dễ dàngxuyên qua các lớp khí CO2 và tầng Ôzôn rồi xuống mặt đất; ngược lại, bức xạ nhiệt từ mặt
Trang 14đất phản xạ vào khí quyển là bức xạ sóng dài, nó không có khả năng xuyên qua lớp khí CO2
và lại bị khí CO2 và hơi nước trong không khí hấp thụ, do đó nhiệt độ của khí quyển baoquanh Trái đất sẽ tăng lên, tăng nhiệt độ bề mặt Trái đất Hiện tượng này được gọi là “hiệuứng nhà kính” (green house effect), vì lớp cacbon đioxit ở đây có tác dụng tương tự như lớpkính giữ nhiệt của nhà kính trồng rau xanh trong mùa đông Tính chất nguy hại của hiệuứng nhà kính hiện nay là khi nồng độ các khí này càng tăng trong khí quyển sẽ làm nhiệt
độ bầu khí quyển càng nóng lên, do đó gây nên sự biến đổi khí hậu toàn cầu
Mưa acid: Theo Ủy ban Kinh tế Châu Âu (ECE), “mưa acid là mưa (thể lỏng, thểrắn) có chứa các chất acid H2SO4 và HNO3 với pH 5,5” Khi xuất hiện mưa acid, đất vànước mặt sẽ dần bị acid hóa (làm tăng hàm lượng nhôm Al 3+, Mn 2+) gây hại cho các thựcvật và các sinh vật nước ngọt, tác động đến các kim loại và vật liệu xây dựng, đặc biệtcác di sản văn hóa bị hủy hoại Đối với con người, các sol khí acid ảnh hưởng đến cơquan hô hấp gây ra bệnh hen và viêm cuống phổi
Sự suy giảm tầng ozone: Tầng ôzôn có vai trò bảo vệ, chặn đứng các tia cực tím
có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người và các loài sinh vật trên Trái đất Bức
xạ tia cực tím (tử ngoại) có nhiều tác động, hầu hết mang tính chất có hại đối với con người và sinh vật cũng như các vật liệu khác Khi tầng ôzôn bị suy giảm, tia cực tím chiếu vào mặt đất nhiều sẽ gây ra : đục thủy tinh thể, ung thư da, suy giảm miễn dịch ở người, giảm năng suất sinh học ở sinh vật Theo ước tính, khi tầng ozon giảm 10% thì lượng tia cực tím tăng lên khoảng 13% Và cứ giảm 11% ozon thì sẽ làm tăng 2% trường hợp ung thư da
Tài nguyên bị suy giảm – ô nhiêm môi trường
+ Suy giảm nguồn nước: Với tổng lượng nước là 1386.106 km3, bao phủ gần ¾diện tích bề mặt Trái đất, nhưng lượng nước ngọt chỉ chiếm 2,5% tổng lượng nước màhầu hết tồn tại dưới dạng băng và tập trung ở hai cực (chiếm 2,24%), còn lượng nướcngọt mà con người có thể sử dụng trực tiếp chỉ có 0,26% Hiện gần 20% dân số thế giớikhông được dùng nước sạch và 50% thiếu các hệ thống vệ sinh an toàn Sự suy giảm
Trang 15nguồn nước ngọt càng lan rộng hơn và gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng như : nạn thiếunước ở một số nơi, sự xâm nhập mặn, … Ngoài ra biển cũng đang dần bị ô nhiễm đe dọatài nguyên sinh vật biển và môi trường biển (nhiễm dầu, thủy triều đỏ).
Nguyên nhân gây ra hiện tượng này là do : nước mưa bị acid hóa, nước sông bị ô nhiễm,nước ngầm bị khai thác cạn kiệt, khai thác và vận chuyển dầu, khai thác khoáng sản biển,các chất thải từ lục địa thải xuống biển
+ Sa mạc hóa: Rừng, đất rừng và đồng cỏ hiện vẫn đang bị suy thoái hoặc bị triệtphá mạnh mẽ, đất hoang bị biến thành sa mạc Theo FAO, trong vòng 20 năm tới, hơn
140 triệu ha đất sẽ bị mất đi giá trị trồng trọt và chăn nuôi Đất đai ở hơn 100 nước trênthế giới đang chuyển dần sang dạng hoang mạc, có nghĩa là 900 triệu người đang bị đedọa Trên phạm vi toàn cầu, khoảng 25 tỷ tấn đất đang bị cuốn trôi hằng năm vào cácsông ngòi và biển cả
Theo Liên Hiệp Quốc thống kê được, năm1983 diện tích canh tác bình quân đầu người là0,31ha/người, đến năm 1993 chỉ còn 0,26ha/người và còn tiếp tục giảm trong tương lai
Làm suy giảm tính đa dạng sinh học trên Trái đất : những tác động của biến đổi
khí hậu trên Trái Đất như nhiệt độ tăng cao, nước biển dâng, thời tiết thất thường, sẽ tácđộng mạnh mẽ tới các sinh vật sống,làm ô nhiễm môi trường sống, môi trường khôngkhí, mất đi nơi sinh sống của các loài động thực vật, khiến cho chúng không thể thíchnghi và có nguy cơ tuyệt chủng Hầu hết các loài bị đe dọa đều là các loài sinh sống trênmặt đất và trên một nửa sống trong rừng Các nơi cư trú nước ngọt và nước biển, đặc biệt
là các dải san hô là những môi trường sống rất dễ bị thương tổn
Khí hậu toàn cầu biến đổi và tần suất thiên tai gia tăng: Trong thế kỷ 21 bão nhiệt đới sẽ tăng lên cả về số lượng và cường độ (10-20%), hiện tượng El Nino và La Nina tăng hơn cả về tần suất lẫn cường độ Mưa nhiều hơn, bão lụt nhiều hơn, điều mà chúng
ta đã tự nhận thấy trong suốt những năm gần đây Trong khi đó mùa hè thường nóng gắt tại nhiều nơi trên Trái đất dẫn đến nạn hạn hán nghiêm trọng tại nhiều quốc gia, trong đó
có cả nước ta Tầng ozôn- nơi hấp thụ tới 90% tia tử ngoại của bức xạ Mặt trời - bị bào
Trang 16mòn và phá thủng tại một số nơi (ở Nam cực và Bắc cực) Hậu quả của sự nóng lên toàn cầu là: mực nước biển dâng cao từ 25 đến 140cm, băng tan sẽ nhấn chìm một vùng đất liền rộng lớn, theo dự báo nếu tình trạng như hiện nay thì đến giữa thế kỷ này biển sẽ tiếnvào đất liền từ 5-7m theo độ cao, thời tiết thay đổi dẫn đến gia tăng tần suất thiên tai như gió, bão, hỏa hoạn và lũ lụt.
IV Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
IV.1 Đến Việt Nam.
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam là một trong những quốc giachịu ảnh hưởng của nhiều thiên tai do thời tiết gây ra như các cơn bão nhiệt đới, hạn hán,
lũ lụt, Hằng năm, nước ta phải chịu từ 6-7 cơn bão, tuy nhiên trong những năm gần đây,
số cơn bão đổ bộ vào Việt Nam ngày càng nhiều, với tần suất ngày càng cao Bên cạnh
đó, mùa nưa ở nước ta từ tháng 5 đến tháng 10 với thời tiết nóng và khô, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, thời tiết lạnh và khô, những số tháng mùa khô và số tháng mùa mưa ở nước ta đang có xu hướng kéo dài hơn theo quá trình ảnh hưởng chung của biển đổi khí hậu toàn cầu
Theo số liệu thống kê cho thấy quá trình tăng nhiệt độ của cả 3 miền, với mức tăng
từ 0,5 đến 1oC trong vòng 1 thế kỷ qua, theo đó lượng mưa trung bình hằng năm tăng không đáng kể nhưng tần suất và lượng mưa hàng tháng thay đổi Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam đã tăng 0,7oC, mực nước biển dâng 20 cm Theo đánh giácủa Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Việt Nam nằm trong top 5 nước đứng đầu thế giới dễ bị tổn thương nhất đối với biến đổi khí hậu Mưa lũ tăng lên, bất thường gây ra tình trạng ngập úng ở những vùng đất thấp, gây xói lở đất đai, mất tầng đấtmặt màu mỡ Hạn hán kéo dài, thiếu nước cho phát triển nông nghiệp, nắng nóng kéo dài
dễ dẫn tới nguy cơ cháy rừng Sự thay đổi khí hậu nói trên có ảnh hưởng trực tiếp tới con người, môi trường và tới toàn bộ đời sống kinh tế xã hội