1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT HÀNH CHÍNH PHÁP LUẬT về tài NGUYÊN nước và THỰC TIỄN áp DỤNG tại ĐỒNG BẰNG SÔNG cửu LONG

77 240 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều quy định của Luật không còn phù hợp với thực tế, gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện; một số quan hệ mới trong khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng chống

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT - -

SÔNG CỬU LONG

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Bộ môn Luật Thương Mại MSSV: 5086079

LỚP: Luật Hành Chính Khóa 34

Cần Thơ, 5/2012

Trang 2

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 3

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

Trang

Lời mở đầu 1

Chương 1 Những vấn đề cơ bản về tài nguyên nước 3

1.1 Khái niệm và phân loại tài nguyên nước 3

1.2 Khái quát tình hình tài nguyên nước ở Việt Nam 4

1.3 Vai trò và sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên nước 7

1.3.1 Vai trò 7

1.3.2 Sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên nước 8

1.4 Sơ lược các quy định của pháp luật về tài nguyên nước 9

Chương 2 Thực trạng pháp luật về tài nguyên nước 14

2.1 Những quy định chung của pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước… 14

2.1.1 Quy định quản lý nhà nước về tài nguyên nước 14

2.1.1.1 Nội dung quản lý nhà nước về tài nguyên nước 14

2.1.1.2 Thẩm quyền quản lý nhà nước về tài nguyên nước 18

2.1.1.3 Quy định về cấp, thu hồi giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước 21

2.1.1.4 Giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước 25

2.1.2 Quy định về trách nhiệm bảo vệ tài nguyên nước 27

2.1.2.1 Trách nhiệm bảo vệ tài nguyên nước 28

2.1.2.2 Trách nhiệm phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước 28

2.1.2.3 Trách nhiệm bảo vệ nước dưới đất 28

2.1.2.4 Bảo vệ chất lượng nước 30

2.1.2.5 Quy định về xả nước thải vào nguồn nước 30

2.1.3 Quy định về khai thác, sử dụng tài nguyên nước 30

2.1.3.1 Quyền của tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước…… 30

2.1.3.2 Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước…… 31

Trang 5

2.1.4 Quy định về phòng, chống, khắc phục hậu quả lũ, lụt và tác

hại do nước gây ra 34

2.1.4.1 Trách nhiệm phòng, chống, khắc phục hậu quả lũ, lụt và tác hại do nước gây ra 34

2.1.4.2 Trách nhiệm lập tiêu chuẩn và phương án phòng, chống lũ, lụt……… 36

2.1.4.3 Trách nhiệm huy động lực lượng, phương tiện cho việc phòng, chống và khắc phục hậu quả lũ, lụt 36

2.1.4.4 Phòng, chống xâm nhập mặn, nước biển dâng, tràng 37

2.2 Quy định về bảo vệ môi trường biển, nước sông và các nguồn nước khác 37

2.2.1 Quy định về bảo vệ môi trường biển 37

2.2.1.1 Nguyên tắc bảo vệ môi trường biển 37

2.2.1.2 Bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên biển 37

2.2.1.3 Kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường bển 38

2.2.1.4 Tổ chức phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trên biển 39

2.2.2 Bảo vệ môi trường nước sông 39

2.2.2.1 Nguyên tắc bảo vệ môi trường nước sông 39

2.2.2.2 Kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường nước trong lưu vực sông…… 42

2.2.2.3 Trách nhiệm quản lý lưu vực sông 42

2.2.2.4 Tổ chức bảo vệ môi trường nước ở lưu vực sông 43

2.2.3 Bảo vệ môi trường các nguồn nước khác 43

2.2.3.1 Bảo vệ nguồn nước ao, hồ, kênh, mương, rạch 43

2.2.3.2 Bảo vệ môi trường hồ chứa nước phục vụ mục đích thủy lợi, thủy điện 44

2.3 Xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ nguồn nước 44

2.3.1 Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài tài nguyên nước 44

Trang 6

nguyên nước 45 2.3.1.2 Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài

nguyên nước 45 2.3.1.3 Thẩm quyền sử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài

nguyên nước 47 2.3.1.4 Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp

khắc phục hậu quả 48 2.3.1.5 Mức xử phạt vi phạm hành chính trong linh vực tài nguyên

nước…… 48

2.3.2 Xử lý vi pháp luật hình sự trong lĩnh vực tài nguyên nước 49

Chương 3 Thực tiễn và những vấn đề tồm tại trong việc thực

hiện pháp luật tài nguyên nước ở đồng bằng sông Cửu Long 52 3.1 Điều kiện tự nhiên và thực trạng sử dụng tài nguyên

nước ở đồng bằng sông Cửu Long 52

3.1.1 Vị trí địa lý 52 3.1.2 Ưu điển và nhược điểm của vị trí địa lý ở đông bằng sông

cửu long đối với việc bảo vệ nguồn nước 53 3.1.3 Thực trạng về việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước ở

đồng bằng sông Cửu Long 54 3.1.4 Thực trạng ô nhiễm tài nguyên nước ở đồng bằng sông Cửu

Long… 56 3.1.5 Thực trạng về việc áp dụng pháp luật bảo vệ tài nguyên nước

ở đồng bằng sông Cửu Long 60

3.2 Những vấn đề tồi tại trong việc thực hiện pháp luật về

bảo vệ tài nguyên nước ở đồng bằng sông Cửu Long 62 3.3 Một số kiến nghị trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ

tài nguyên nước ở đồng bằng sông Cửu Long 65

Kết luận 67

Trang 8

Lời mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Nhu cầu về nước ngày càng tăng, đồng bằng sông Cửu Long nổi tiếng là vùng đồng bằng sông nước, nước non trù phú, thế nhưng hiện nay nguồn nước ở vùng này cũng bắt đầu khang hiếm nước Khang hiếm nước ở đây không phải là không có nước hay thiếu nước mà là có nước nhưng không thể sử dụng Không thể sử dụng nước là

do nhiều nguyên nhân như: ô nhiễm chất thải từ các cở sở sản xuất, ô nhiễm do khai thác, sử dụng bừa bãi, ô nhiễm do thuốc trừ sâu, ô nhiễm từ việc chăn nuôi, ô nhiễm

do thói ven người dân, do sự xâm nhập mặn…tình trạng ô nhiễm này diễn biến ngày càng một nhanh hơn Bảo vệ tài nguyên nước ở đồng bằng sông Cửu Long là vấn đề cấp bách Hiện tại, pháp luật cũng có nhiều quy định bảo vệ tài nguyên nước, văn bản

có giá trị pháp lý cao nhất trong lĩnh vực tài nguyên nước là Luật tài nguyên nước

1998, thế nhưng các văn bản chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn Chính vì lẽ đó, sinh viên quyết định chọn đề tài “Pháp luật tài nguyên nước và thực tiễn áp dụng tại đồng bằng sông Cửu Long” nhằm tìm hiểu quy định pháp luật tài nguyên nước, thực trạng ô nhiễm, thực trạng áp dụng pháp luật tài nguyên nước và từ đó đưa ra một số kiến nghị để tài nguyên nước ở đồng bằng sông Cửu Long được đảm bảo chất lượng

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài luận văn này là nhằm đem đến cho người đọc một cái nhìn chung nhất về sự

ô nhiễm nguồn nước do tác động của con người, thấy được những hạn chế của pháp luật tài nguyên nước Từ đó đưa ra một số kiến nghị để tài nguyên nước được bảo vệ

và phát triển một cách bền vững

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài sinh viên chủ yếu tìm hiểu quy định trong Luật Tài nguyên nước 1998, chương VII Luật Bảo vệ môi trường, phân tích thực trạng khai thác, sử dụng; thực trạng ô nhiễm, thực trạng áp dụng pháp luật tài nguyên nước ở đồng bằng sông Cửu Long

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn sinh viên chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp phân tích luật và nhiều phương pháp khác

5 Bố cục đề tài gồm 3 phần:

Trang 9

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về tài nguyên nước

Chương 2: Thực trạng pháp luật về tài nguyên nước

Chương 3: Thực tiễn và những tồn tại trong việc thực hiện pháp luật tài nguyên nước ở đồng bằng sông Cửu Long

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC

Nước rất cần thiết cho sự sống của con người và sinh vật trên trái đất, không gì có thể tồn tại được nếu không có nước Vậy để biết được tầm quan trọng của nước đầu tiên ở chương 1 tác giả sẽ làm rõ một số khái niệm về nước, từ đó xác định vai trò và

sự cần thiết phải bảo vệ nguồn nước Bên cạnh đó là tìm hiểu sơ lược các quy định các quy định của pháp luật về tài nguyên nước và tình hình tài nguyên nước ở Việt Nam

Từ đó chúng ta có thể thấy được bảo vệ tài nguyên nước là vấn đề cấp bách hiện nay

1.1 Khái niệm và phân loại nguồn nước

Tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng vào những mục đích khác nhau Nước dùng trong sinh hoạt nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường

Nước là tài nguyên quan trọng của loài người và sinh vật trên trái đất, nước là khoáng sản quý hơn các loài khoáng sản khác

Nước là một thành phần môi trường gắn liền với sự tồn tại, phát triển của con người cũng như sự sống trên trái đất Vai trò to lớn của nước đối với đời sống của con người cũng như tính phức tạp của các quan hệ xã hội phát sinh trong qua trình khai thác, sử dụng, tác động tới nước, tất yếu dẫn tới việc phải bảo vệ tài nguyên nước bằng pháp luật với những quy định cụ thể về các nguồn nước và nghĩa vụ bảo vệ tài nguyên nước của cộng đồng Dưới góc độ pháp luật, nguồn nước là khái niệm chỉ các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác sử dụng được, bao gồm: sông, suối, kênh, rạch, biển, hồ, đầm, ao, các tầng nước dưới đất, mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác.1 Tài nguyên nước theo khoản 1 Điều 2 Luật Tài nguyên nước thì tài nguyên nước bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển thuộc lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tóm lại, tài nguyên nước được định nghĩa ở nhiều gốc độ khác nhau, từ góc độ pháp luật đến góc độ khoa học khác nhau nhưng nội dung và bản chất của nước vẫn không thay đổi Mỗi khái niệm về nước giúp chúng ta biết thêm công dụng của nó, cách nhìn mới về nó và từ đó cho ta thấy được tầm quan trọng củaviệc bảo vệ tài nguyên nước là rất cần thiết

1 Giáo trình Luật môi trường, Nxb, Công an nhân dân,Hà Nội,2006, trang 187

Trang 11

Tùy theo tính chất, đặc điểm của các nguồn nước cũng như yêu cầu quản lý, sử dụng chúng vào những mục đích khác nhau, pháp luật phân chia nguồn nước thành những loại cụ thể như:

Nước mặt: là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo

Nước dưới đất: là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới mặt đất

Nước sinh hoạt: là nước dung cho ăn uống, vệ sinh của co người

Nguồn nước sinh hoạt: là nguồn nước có thể cung cấp nước sinh hoạt hoặc nước có thể xử lý thành nước sạch một cách kinh tế

Nguồn nước quốc tế: là nguồn nước từ lãnh thổ Việt Nam chảy sang lãnh thổ các nước khác, từ lãnh thổ các nước khác chảy vào lãnh thổ Việt Nam hoặc năm trên biên giới giữa Việt Nam và nước láng giềng

1.2 Khái quát tình hình tài nguyên nước ở Việt Nam

Trên hành tinh chúng ta lượng nước biển và đại dương chiếm 94,2% và bao phủ gần 3/4 bề mặt trái đất Ở Việt Nam tài nguyên nước rất phong phú với lượng mưa trung bình gần 2000mm/năm, cấp 660Km3 nước mưa/ năm, gấp 2,6 lần lượng mưa lục địa Việt Nam có khoảng 2360 con sông dài trên 10km, tạo ra mật độ sông suối lớn, hằng năm Việt Nam còn nhận một lượng dòng chảy trên 500km3 qua biên giới, nên tổng lượng nước sông ngòi Việt Nam lên tới 850km3 /năm.2

Theo ước tính của cục quản lý tài nguyên nước, tổng lượng nước sông ngòi trên lãnh thổ nước ta khoản 830-840 tỷ m3/ năm Hơn 60% nguồn nước tập trung ở lưu vực sông Cửu Long Toàn bộ phần lãnh thổ còn lại chiếm tối 80% dân số cả nước và trên 90% hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, song chỉ lại có 40% lượng nước Lưu vực sông Cửu Long có tới 95% lượng nước phát sinh từ nước ngoài, lưu vực sông hồng có khoảng 40% lượng nước chảy vào từ Trung Quốc Theo tính toán, lượng nước mặt bình quân đầu người hiện nay trong tổng nguồn nước các con sông của Việt Nam khoảng 3840m3/người/năm, nếu tính cả nguồn nước từ các quốc gia láng giềng chảy vào trung bình đạt 10240m3/người/năm Với tốc độ phát triển dân số như hiện nay, đến năm 2025 lượng nước mặt tính bình quân đầu người của các con sông Việt Nam chỉ còn khoảng 2830m3/người/năm, tính cả lượng nước từ bên ngoài chảy vào đạt 7660m3/người/năm

2

Nguyễn Xuân Cự, Nguyễn Thị Phương Loan: Giáo trình con người và môi trường, Nxb Giáo dục Việt Nam

2010, trang 137

Trang 12

Trước nguy cơ thiếu nước và suy giảm nguồn nước thì tình trạng lãng phí trong sử dụng nước còn phổ biến trong phạm vi cả nước Chẳn hạn như nước dùng cho sản xuất nông nghiệp nhiều nhất là ở Đồng bằng sông Cửu Long và lưu vực sông hồng, chiếm tới 70% lượng nước sử dụng Tuy vậy, diện tích thực tưới thấp hơn nhiều so với diện tích thiết kế (chỉ đạt 80% tổng diện tích được tưới), chứng tỏ hiệu quả sử dụng nước cho nông nghiệp chưa cao Việc khai thác các hồ chứa thủy lợi cũng đang xảy ra nhiều vấn đề về điều tiết nước trên lưu vực, cấp nước và duy trì dòng chảy môi trường hạ du,

vì các công trình này hầu hết không có nhiệm vụ thiết kế để xả nước xuống hạ du trong mùa cạn

Về sử dụng nước cho công nghiệp: nhóm sông có tỷ lệ dùng nước cho công nghiệp cao nhất là lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình, chiếm gần ½ tổng lượng nước sử dụng cho nghành công nghiệp cả nước, 25% sử dụng nước công nghiệp diễn ra ở lưu vực sông Đồng Nai; 7% ở nhóm sông Đông Nam Bộ và 10% ở lưu vực sông Cửu Long Đặc biệt, tỷ lệ sử dụng nước dưới đất Dự báo đến năm 2015, khối lượng nước sử dụng cho công nghiệp sẽ tăng gấp đôi so với năm 2006, mức độ tăng chủ yếu diễn ra ở lưu vực sông vốn đã là một cơ sở công nghiệp lớn là các lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình, sông Đồng Nai, nhóm sông Đông Nam Bộ, sông Cửu Long và Vu Gia-Thu Bồn Bên cạnh đó, mức độ ô nhiễm nguồn nước trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn, các khu tập trung dân cư khá nghiêm trọng Ở một số đoạn sông, nước sông bị

ô nhiễm với mức độ cao và có xu hướng ngày càng gia tăng đã ảnh hưởng đến khả năng sử dụng nguồn nước sông để cấp nước sinh hoạt cho nhiều địa phương Nhiều khu công nghiệp ở một số tỉnh và thành phố như thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương đang hàng ngày xả hàng triệu m3 nước thải không qua xử lý, hoặc xử lý không đạt tiêu chuẩn ra sông, gây ô nhiễm nguồn nước Một số ngành công nghiệp như hóa chất, phân bón, thủy điện, chế biến khai thác khoáng sản có lượng nước thải lớn có chức nhiều chất độc hại được thải trực tiếp ra các sông, ao, hồ gây ô nhiễm nguồn nước

Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng cạn kiệt và ô nhiễm môi trường nước như: sự gia tăng dân số, do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ sở hạ tầng yếu kém, lạc hậu, nhận thức của con người về môi trường chưa cao… Đáng chú ý là sự bất cập trong hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường, nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức, cá nhân chưa sâu sắc về vấn

đề bảo vệ môi trường, chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp và khó khắc phục đối với đời sống con người cũng như bền vững của

Trang 13

đất nước Một nguyên nhân khác gây cạn kiệt sông, suối là chất lượng rừng đang bị suy giảm Diện tích rừng nguyên sinh, rừng nhiều tầng, rừng phòng hộ đầu nguồn và các loại rừng có khả năng giữ nước, sinh thủy giảm sút, làm mất khả năng giữ nước tại vùng đầu nguồn Rất nhiều dòng sông hiện nay không có nước trong mùa khô3

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, hệ thống sông, hồ, kênh rạch phong phú và lượng mưa trung bình hàng năm tương đối lớn, từ 1.200 đến 3.000 mm Chính sự ưu đãi to lớn về tài nguyên thiên nhiên như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của kinh tế - xã hội Tuy nhiên, cùng với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, những vấn đề mới nảy sinh như ô nhiễm môi trường, ô nhiễm dòng chảy sông hồ, sự cạn kiệt nguồn nước… đã và đang gây ra những hậu quả nặng nề, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển và an sinh xã hội Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đang phải từng ngày, từng giờ hứng chịu những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu như hiện tượng trái đất nóng lên, hiện tượng El Nino, La Nina…mà Việt Nam là một trong những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất Nhiều vùng đất đai màu mỡ của Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị biến mất trên bản đồ trong vòng vài chục năm tới4

Mặc dù tài nguyên nước ở Việt Nam có trữ lượng dồi dào nhưng trên thực tế nguồn nước có thể sử dụng ngay là hạn hữu vì sự phân bố không đồng đều Nhiều vùng bị thiếu nước sạch để sinh hoạt do ô nhiễm, lũ lụt, sạt lở đất, hạn hán và các tác nhân khác Chất lượng nước bị suy giảm nghiêm trọng đã hủy hoại môi trường sống và đẩy con người đến gần các rủi ro nguy hiểm Theo ước tính, khoảng 37% nước bị mất đi

do lãng phí, thậm chí có nơi lên đến 50% Nguyên nhân một phần do hệ thống tưới tiêu được xây dựng từ những năm 1960 và 1970 đến nay đã bị xuống cấp và hư hỏng nặng, trong khi đó hệ thống tưới tiêu hiện tại chỉ có khả năng cung cấp nước cho khoảng 50-60% theo yêu cầu thiết kế được tưới Mặt khác, do hiện tượng khai thác nước dưới đất vô tổ chức nên đã xảy ra tình trạng ô nhiễm, nguyên nhân gây ô nhiễm

là do công cụ khai thác không đảm bảo, vị trí khoan giếng không đúng Thường thì các giếng khoan qua lớp đất phèn nên hầu hết các giếng không đúng kỹ thuật điều bị ô nhiễm phèn, một số bị ô nhiễm hữu cơ hoặc vô sinh Mặt khác, khai thác bừa bãi đã gây ra hiện tượng sụt, lở5 Nhà nước cần có biện pháp quản lý chặt chẽ hơn để bảo vệ tài nguyên nước không bị khai thác, sử dụng bừa bài gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước

3

Minh Nguyệt: tạp chí tài nguyên và môi trường số 19(129) kỳ 1 tháng 10/2011

4

TS Nguyễn Duy Ngọc: phát biểu khai mặt hội thảo “tài nguyên nước và sự phát triển bển vững”

Trang 14

1.3 Vai trò và sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên nước

1.3.1 Vai trò

Nước có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự hình thành, phát triển của xã hội loài người Bên cạnh đó nước cũng là một trong những tác nhân gây ra các hiểm họa như lũ lụt, hạn hán và sa mạc hóa, tác động trực tiếp đến đời sống của con người Thậm chí ở một số nơi trên thế giới, việc giành quyền sở hữu nguồn nước là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những cuộc xung đột đẫm máu giữa một số quốc gia Trong suốt quát trình hình thành địa chất của Trái Đất, nước là nhân tố tạo thành bề mặt Trái Đất Ở nơi nào lạnh và nóng không thể phá được những vùng núi đá khổng lồ thì ở nước sẽ hoàn thành việc đó Khi biến thành băng, nước có khả năng phá vỡ và làm nát vụn các gềnh đá lâu đời6 Nước rất cần cho sự sống trong môi trường sinh thái, cho sản xuất nông nghiệp, nước để chữa bệnh, nước cho sản xuất nông nghiệp, nước cần cho giao thông vận tải, nước cho phát triển du lịch7 Nước còn là thành phần cơ bản, là yếu

tố quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia cũng như của toàn nhân loại Chính vì lẽ đó vai trò, tầm quan trọng của nước đối với mọi hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội được thể hiện

trong các lĩnh vực cụ thể sau đây:

- Nước là yếu tố không thiếu và không thể thay thế được trong sinh hoạt hàng ngày của con người, là nguồn thực phẩm thiết yếu nuôi sống con người Sự sống của con người và của các loài động, thực vật trên trái đất phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nước

- Trong sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản nước đống vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của cây trồng, vật nuôi Điều này càng đặc biệt có ý nghĩa đối với một đất nước có nền kinh tế nông nghiệp phát triển và nguồn lợi phong phú như Việt Nam

- Trong sản xuất công nghiệp, nước đống vai trò đặc biệt quan trọng đối với các ngành giao thông vận tải thủy, thủy điện; sản xuất, chế biến thực phẩm, nước giải khát Ngoài ra nước không thể thiếu trong sản xuất giấy, vải, sợ và một số ngành công nghiệp khác…

- Nước có vai trò quan trọng trong việc phục vụ các nhu cầu nghỉ ngơi, chữa bệnh và du lịch Tài nguyên nước cùng với các yếu tố môi trường khác như cảnh quan

6

PTS Hoàng Hưng: Con người và môi trường NXB trẻ, 2000, trang 65

Trang 15

thiên nhiên, danh lam thắng cảnh… Là điều kiện cho việc phát triển ngành kinh tế du lịch, dịch vụ

- Một số vùng sinh thái ngập nước là nơi cư trú của các loài động, thực vật đặc hữu, trong đó có nhiều loài quí hiếm được pháp luật bảo vệ…

Vai trò, tầm quan trọng của nước còn được thể hiện trong các ảnh hưởng, các tác động của nước đối với “chu trình tuần hoàn tự nhiên” của các thành phần môi trường khác Khoa học môi trường đã chỉ ra rằng, các yếu tố tạo thành môi trường tồn tại trong một thể thống nhất và luôn có mối quan hệ tương tác với nhau Sự thay đổi thành phần môi trường này sẽ kéo theo sự thay đổi thành phần môi trường khác và cuối cùng

là phá vỡ trạng thái cân bằng tự nhiên của môi trường Điều này càng đặc biệt nghiêm trọng đối với các thành phần môi trường quan trọng như không khí, đất, nước, hệ sinh vật… Mọi hiện tượng thiếu nước hay thừa nước (hạn hán hay lũ lụt) điều dẫn đến khả năng làm biến đổi cân bằng hệ sinh thái, làm cho đất đai bị thoái hóa hoặc bị rửa trôi,

hệ sinh vật bị tiêu diệt… Mặt khác, nước có đặc tính di động theo trạng thái dòng chảy nên trong quát trình di động đễ mang theo các nguồn gây ô nhiễm với phạm vi gây ô nhiễm thường rất rộng Đặc biệt hơn là các dòng chảy này là luôn có thay đổi bất thường, nên dễ gây nên các sự cố môi trường trên một bình diện rộng, hậu quả thường rất nghiêm trọng8

1.3.2 Sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên nước

Nước rất cần cho sự sống của con người và động, thực vật trên trái đất này, nếu không có nước có thể con người sẽ không tồn tại được Tại Điều 1 Luật tài nguyên nước 1998 quy định “tài nguyên nước thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý Tổ chức, cá nhân được quyền khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho đời sống và sản xuất, đồng thời có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra theo quy định của pháp luật Nhà nước bảo

hộ quyền lợi hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong khai thác sử dụng tài nguyên nước” Chính vì vậy, mà chúng ta cần bảo vệ nguồn tài nguyên quí giá này

Hiện nay, thực trạng tài nguyên nước đang là sự báo động đối với mọi quốc gia Việt Nam là một trong những quốc gia mà tình trạng ô nhiễm và suy thoái nguồn nước đang là một vấn đề đang được báo động Chính trong bối cảnh đó, việc bảo vệ tài nguyên nước cần được quan tân đặc biệt

8 Giáo trình luật môi trường trường ĐH Luật Hà Nội, NXB công an nhân dân,2004, trang 183,184

Trang 16

Trên phạm vi quốc tế, các quốc gia đã bắt đầu các nổ lực chung nhằm bảo vệ tài nguyên nước Hội nghị toàn cầu về nước đã được tổ chức tại Ireland từ ngày 26 đến ngày 31 tháng 1 năm 1992 Hội nghị này đã được Tổ chức Khí tượng thế giới tổ chức với sự tham gia của 500 đại biểu đại diện cho 114 quốc gia, 35 tổ chức phi chính phủ

và 14 tổ chức liên Chính phủ Hội nghị đã tập trung vào việc giải quyết các vấn đề cơ bản về nước như sau:

- Phát triển và quản lý tổng hợp tài nguyên nước

- Đánh giá tài nguyên nước và biến đổi của khí hậu toàn cầu tới tài nguyên nước

- Bảo vệ tài nguyên nước, chất lượng nước và các hệ sinh thái tồn tại và phát triển trong nước

- Vai trò của nước đối với sự phát triển lâu bền của các đô thị, vấn đề cấp nước

và vệ sinh nước trong các đô thị

- Vai trò của nước đối với việc đảm bảo sản xuất lương thực, thực phẩm và sự phát triển lâu bền của nông thôn, vấn đề cấp nước và vệ sinh nông thôn, miền núi

- Cơ chế để thực hiện và phối hợp ở các cấp độ toàn cầu, khu vực, quốc gia và địa phương

Tháng 11 năm 1992, khóa 47 Đại hội đồng liên hợp quốc đã thống nhất lấy ngày

22 tháng 3 hàng năm là ngày thế giới về nước

Hiện nay, các quốc gia đang tiến hành đẩy mạnh những biện pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ tài nguyên nước Ở Việt Nam, Chính phủ cũng đang tiến hành triển khai các hoạt động nhằm khắc phục các nguyên nhân của việc ô nhiễm và suy thoái tài nguyên nước, tăng cường công tác quản lý và bảo vệ tài sản vô giá này của cộng đồng Những biện pháp đã và đang thực hiện rất đa dạng, song chủ yếu và hiệu quả nhất vẫn là biện pháp dùng pháp luật điều chỉnh hành vi của tất cả cá nhân, tổ chức nhằm nâng cao ý thức của họ trong việc bảo vệ tài nguyên nước, đồng thời tạo được một hệ thống quản

lý và bảo vệ có hiệu quả để đối phó với những tình thế xấu

1.4 Sơ lược các quy định của pháp luật về tài nguyên nước

Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, thuộc sở hữu toàn dân, được con người khai thác, sử dụng với nhiều mục đích khác nhau và đễ bị ô nhiễm nếu không sử dụng một cách hợp lý Vì vậy, nhà nước cần đề ra những biện pháp để bảo vệ nguồn tài nguyên quí giá này Tại Điều 17 Hiến pháp quy định: đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời,

Trang 17

phần vốn và tài sản do nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành

và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của nhà nước, điều thuộc sở hữu toàn dân

Để bảo vệ tài nguyên nước thì nhà nước ta còn ban hành Luật Tài nguyên nước ngày 20/05/1998 có hiệu lực thi hành 1/1/1999, Luật Bảo vệ môi trường 2005 chương VII, Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004, Bộ luật Hàng hải ban hành ngày 14/6/2005

và một số văn bản dưới luật như:

Nghị định số 179/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/12/1999 quy định thi hành luật tài nguyên nước

Nghị định số 67/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13/6/2003 quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

Thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT hướng dẫn thực hiện Nghị định số 67/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13/6/2003 quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

Nghị định số 137/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/6/2004 quy định về xử lý vi phạm hành chính trên các vùng biển và thềm lục địa của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam

Nghị định số 149/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/07/2004 quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước Nghị định số 34/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước Trước đây là Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường (thay thế Nghị định 121/2004/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường)

Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT của Bộ tài nguyên môi trường ban hành ngày 24/06/2005

Thông tư số 05/2005/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thi hành Nghị định số 34/2005/NĐ-CP; vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước

Trong Bộ luật hình sự 1999 Điều 183 cũng quy định về tội gây ô nhiễm nguồn nước

Trang 18

Ngoài ra theo quyết định phê duyệt chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu thì để đảm bảo an ninh tài nguyên nước cần phải:

- Xây dựng cơ sở dữ liệu về biến động và sử dụng tài nguyên nước liên quan tới biến đổi khí hậu, tăng cường công tác điều tra, nghiên cứu, đánh giá, dự báo, quan trắc chất lượng, số lượng trong khai thác và sử dụng tài nguyên nước

- Tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, đánh giá, kiểm soát chất lượng, số lượng và chia sẻ lợi ích nước xuyên biên giới

- Quy hoạch tổng hợp tài nguyên nước các vùng lãnh thổ, các lưu vực sông lớn, bao gồm: Bằng Giang – Kỳ Cùng, Hồng, Mã – Cả, Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Sesan – Srepok, Đồng Nai – Sài Gòn, Cửu Long

- Xây dựng và hoàn thiện các tiêu chuẩn quy định khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, tổng hợp và đa mục tiêu tài nguyên nước thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu

và nước biển dâng

- Cải tạo, nâng cấp, tu bổ và xây mới các công trình thủy lợi, thủy điện, hệ thống đê sông, đê biển, bảo đảm ứng phó hiệu quả với lũ lụt, hạn hán, nước biển dâng, xâm nhập mặn trong điều kiện biến đổi khí hậu

- Hoàn chỉnh các quy trình quản lý tổng hợp và các công trình khai thác, bảo vệ và

sử dụng tài nguyên nước một cách khoa học trong điều kiện biến đổi khí hậu vào năm

2050

- Nâng cao năng lực quản lý tài nguyên nước; tăng cường thực hiện quy hoạch, triển khai đồng bộ các biện pháp phát triển bền vững tài nguyên nước quốc gia trong bối cảnh biến đổi khí hậu, cơ bản hoàn thành vào năm 2020 và hoàn thiện trong giai đoạn tiếp theo

Trong hợp tác quốc tế về tài nguyên nước thì nhà nước ta tham gia điều ước quốc

tế như: Công ước quốc tế Ramsar 1971 về vùng đất ngập nước có tầm quan trọng đặc biệt; Công ước Marpol 1973 về chống ô nhiễm do tàu biển và Nghị định thư 1978; Công ước về luật biển quốc tế 1982; Hiệp định 1995 về hợp tác phát triển bền vững sông Mêkong

Trong tương lai, theo xu thế của sự phát triển thì luật tài nguyên nước sẽ bị sửa đổi

để phù hợp với tình hình thực tế Cụ thể là dự thảo luật tài nguyên nước 1998 đang được xây dựng nhằm bảo vệ tài nguyên nước có hiệu quả; sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm; phòng, chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra được tốt hơn; tăng

Trang 19

cường hiệu lực quản lý nhà nước về tài nguyên nước trong tình hình mới Theo đó, cơ quan chủ trì biên soạn Dự thảo Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết: Luật tài nguyên nước được Quốc hội khóa X thông qua tại kỳ họp thứ 3, có hiệu lực từ ngày 1/1/1999 Đây là văn bản pháp luật cao nhất về quản lý tài nguyên nước, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công tác quản lý tài nguyên nước ở nước ta Luật đã thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng, chiến lược phát triển đất nước có liên quan đến tài nguyên nước Luật ra đời đã góp phần tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước ; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra.Tuy nhiên, sau 12 năm thi hành, Luật tài nguyên nước đã bộc lộ nhiều bất cập Cụ thể: Những quy định về khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước liên quan trực tiếp đến quy định của nhiều văn bản pháp luật khác như: Đầu tư, Bảo vệ môi trường, Đất đai, Khoáng sản, Thuế tài nguyên Các văn bản pháp luật này đã được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới trong khi các quy định có liên quan của pháp luật về tài nguyên nước vẫn chưa điều chỉnh, bổ sung để bảo đảm tính đồng bộ Nhiều quy định của Luật không còn phù hợp với thực tế, gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện; một số quan hệ mới trong khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, phòng chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra phát sinh trong thực tiễn cần thiết phải được

bổ sung vào nội dung của Luật; nhiều quy định đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn thi hành nhưng mới chỉ được thể hiện trong các văn bản dưới Luật nên tính pháp lý còn thấp Việc cấp phép về tài nguyên nước vẫn mang nặng cơ chế “xin-cho”; chưa có quy định chặt chẽ về điều kiện cấp giấy phép; điều kiện chuyển nhượng quyền khai thác tài nguyên nước, xả nước thải Luật cũng chưa quy định đầy đủ, toàn diện một số nội dung rất quan trọng của quản lý tài nguyên nước như: quy hoạch tài nguyên nước; quản lý lưu vực sông; điều hoà, phân bổ nguồn nước một cách hợp lý, cân bằng lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường Việt Nam từ 2007 đã là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), kinh tế nước ta đang hội nhập vào nền kinh tế quốc

tế Theo đó, hệ thống văn bản pháp luật, bao gồm cả pháp luật về tài nguyên nước cần phải điều chỉnh cho phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế… Tài nguyên nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là tư liệu thiết yếu cho cuộc sống của con người, phải được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài Xác định ý nghĩa quan trọng của tài nguyên nước , Dự thảo Luật tài nguyên nước sửa đổi tập trung vào 4 chủ trương lớn:

Trang 20

Một là, khuyến khích, ưu đãi các tổ chức, cá nhân nghiên cứu và áp dụng khoa học, công nghệ, đầu tư công trình khai thác, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; công trình bổ sung nhân tạo nước dưới đất thông qua việc miễn, giảm thuế tài nguyên, hỗ trợ vốn để nghiên cứu và xây dựng công trình

Hai là, xã hội hóa các hoạt động bảo vệ, phát triển nguồn nước và cung ứng dịch vụ nước; khuyến khích và huy động sự đóng góp tài chính của mọi thành phần kinh tế, cộng đồng dân cư trong bảo vệ tài nguyên nước và phòng, chống tác hại do nước gây

ra

Ba là, ưu tiên nguồn vốn đầu tư cho điều tra cơ bản về tài nguyên nước, xây dựng

hệ thống quan trắc, cảnh báo, dự báo về tài nguyên nước , hệ thống thông tin dữ liệu; xây dựng và thực hiện quy hoạch tài nguyên nước; kế hoạch phòng, chống ô nhiễm, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; kế hoạch điều hòa, phân bổ nguồn nước Bốn là, kinh tế hóa lĩnh vực tài nguyên nước Mặc dù tài nguyên nước là tài nguyên quý giá và vô cùng thiết yếu cho đời sống của con người và các hoạt động kinh tế - xã hội, tuy nhiên các nguồn thu ngân sách Nhà nước về tài nguyên này còn rất hạn chế

Dự thảo Luật sửa đổi có các quy định mới nhằm tăng cường áp dụng các công cụ kinh tế, sử dụng các loại thuế, phí, lệ phí và các nguồn thu khác phục vụ quản lý, bảo

vệ có hiệu quả tài nguyên nước

Trang 21

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT TÀI NGUYÊN NƯỚC

Ngày nay, bảo vệ tài nguyên nước đang là vấn đề quan trọng mang tính toàn cầu Bảo vệ tài nguyên nước là bảo vệ sự sống của loài người cũng như sự sống của trái đất Nhưng tài nguyên nước hiện nay đang bị khai thác, sử dụng bừa bãi mà không có biện pháp bảo vệ, mặt khác do chất thải từ khu đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp chưa qua xử lý vẫn tiếp tục thải vào nguồn nước không theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó, thì thiên tai do nước gây ra như các trận lũ gây ngập úng và nhiễm mặn làm thiệt hàng trăm ha lúa chưa thu hoạch Do đâu mà vấn đề này vẫn phát sinh và tồn tại? pháp luật có những hạn chế nào trong bảo vệ và ngăn chặn thiên tai từ tài nguyên nước Ở phần chương 2 tác giả sẽ đề cập đến những quy định chung của phát luật tài nguyên nước, các quy định về bảo vệ môi trường biển, nước sông, các nguồn nước khác và các quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tài nguyên nước, để từ

đó thấy được những điều cần bổ sung để hoàn thiện pháp luật

2.1 Những quy định chung của pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước

2.1.1 Quy định quản lý nhà nước về tài nguyên nước

Quản lý nhà nước đối với tài nguyên nước là toàn bộ hoạt động của cơ quan quản

lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện chức năng quản lý, bảo vệ đối với tài nguyên nước sao cho vừa đem lại hiệu quả kinh tế vừa bảo vệ môi trường sinh thái Quản lý nhà nước đối với tài nguyên nước bao gồm: quản lý việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước; quản lý công trình tiêu thoát nước; quản lý các lưu vực sông, quản lý nguồn nước ở các vùng đặc biệt… Nhằm mục đích phòng ngừa tổn thất phòng, chống

ô nhiễm; giảm thiểu các tác hại do nước gây nên

2.1.1.1 Nội dung quản lý nhà nước về tài nguyên nước

Nội dung quản quản lý nhà nước về tài nguyên nước bao gồm:

- Thứ nhất, xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về bảo vệ, khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả, tác hại do nước gây ra Cụ thể, Bộ Tài nguyên và Môi trường có nhiệm

vụ trình Thủ tướng Chính phủ chiến lược quy hoạch phát triển, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm; các chương trình dự án quốc gia thuộc các lĩnh vực quản lý của Bộ; các dự thảo Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ9 Chính phủ phê duyệt quy hoạch sông lớn và các dự án công trình quan trọng về tài nguyên nước Các Bộ, cơ

9

Khoản 2 Điều 2 Nghị định 25/2008 ngày 4/3/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Trang 22

quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, Thành phố thuộc trung ương, căn cứ vào quy hoạch tài nguyên nước phê duyệt các dự án công trình về tài nguyên nước theo sự ủy quyền và phân cấp của Chính phủ10 Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt các quy hoạch lưu vực sông, quy hoạch hệ thống công trình thủy lợi theo sự ủy quyền của Chính phủ

Kế hoạch, quy hoạch khai thác, sử dụng, bảo vệ làm nền tảng cho các hoạt động bảo vệ, phát triển tài nguyên nước phải luôn được chủ động thực hiện một cách đồng

bộ theo những mục tiêu nhất định

Chiến lược bảo vệ phát triển tài nguyên nước là những nhiệm vụ lớn, mục tiêu lớn mang tính tổng thể, được nhà nước xây dựng và chỉ đạo thực hiện trong thời gian dài nhằm khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên nước, phòng chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra

Quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ phát triển tài nguyên nước là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác định, phân loại, đánh giá trữ lượng, chất lượng, sự vận động của các nguồn nước trong phạm vi từng khu vực, từng địa phương

và trong cả nước để khai thác, sử dụng vào những mục đích cụ thể, bảo vệ, phát triển một cách hợp lý, hiệu quả

Việc xây dựng và thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển bảo vệ tài nguyên nước phải tính tới tìm năng, yêu cầu, mục đích sử dụng từng nguồn nước cụ thể trong mối quan hệ với sự phát triển kinh tế xã hội ở từng địa bàn nhất định để đảm bảo phát triển bền vững môi trường nước Quy hoạch lưu vực sông, quy hoạch khu vực khai thác nước, khu vực xả nước thải không nhất thiết phải chia cắt theo địa giới hành chính Điều quan trọng là phải dựa vào sự vận động, khả năng ổn định của nguồn nước, sự tác động của các hoạt động kinh tế xã hội tới trữ lượng, chất lượng nguồn nước để xác định các hình thức, mục đích sử dụng bảo vệ phát triển tài nguyên nước phù hợp Đặc biệt, việc quy hoạch các khu vực lấy nước sinh hoạt phải dựa trên các kết quả khảo sát, thăm dò nguồn nước, căn cứ vào quy chuẩn quốc gia về tài nguyên nước.11

Những năm gần đây nhà nước ta đã xây dựng và tổ chức thực hiện nhiều chương trình, chiến lược về bảo vệ, phát triển tài nguyên nước như: “chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và bảo vệ môi trường nông thôn” (QĐ/237/1998/QĐ-TTg ngày

10

Điều 59 Luật Tài nguyên nước 1998

11 Giáo trình Luật môi trường, ĐH Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2006, trang 197

Trang 23

3/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình này), “Định hướng phát triển thoát nước đô thị Việt Nam đến năm 2020” (QĐ số 35/1998/QĐ-TTg ngày 5/3/1999) … theo các chương trình này, nhà nước đặt ra mục tiêu đến năm 2000 nâng

tỉ lệ người sử dụng nước sạch ở Việt nam lên 45%, năm 2005 khoảng 80% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch Mục tiêu lâu dài tới năm 2020 là xóa bỏ tình trạng ngập úng thường xuyên trong mùa mưa ở đô thị, từng đô thị có hệ thống thoát nước thải với công nghệ xử lý phù hợp, bảo đảm vệ sinh môi trường, mở rộng phạm vi phục

vụ của các hệ thống thoát nước đô thị, khu công nghiệp, áp dụng tiêu chuẩn, quy phạm tiên tiến, đưa lĩnh vực thoát nước đô thị Việt Nam lên tầm các nước trong khu vực Đặc biệt,” chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” (QĐ số 256/2003/QĐ-TTg ngày 2/12/2003), đã đặt ra mục tiêu đến năm 2010: 40% các khu đô thị, 70% khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung, 95% dân số đô thị và 85% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; đến năm 2020 đạt 100% dân số đô thị và 95% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch, 100% đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử

lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường Đây thật sự là bước phát triển mạnh

mẽ trong việc bảo vệ, phát triển tài nguyên nước của nhà nước, thực hiện các chiến lược này trong thực tế đã cải thiện đáng kể chất lượng môi trường nước và trong tương lai sẽ bảo đảm bảo vệ, phát triển tài nguyên nước ở mức độ cao hơn nữa, đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng nước của cộng đồng Từ năm 2006 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 81/2006 ngày 14/4/2006 quyết định phê duyệt chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020

- Thứ hai, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn về tài nguyên nước Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn quy định tại Nghị định 178/2007/NĐ-CP ngày 3/12/2007 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ; theo đó Bộ Tài nguyên và Môi trường có nhiệm vụ trình Chính phủ dự án luật, dự thảo Nghị quyết của Quốc hội, dự án Pháp lệnh, dự thảo Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, dự thảo Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ thao chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Bộ đã được phê duyệt và các dự án, đề án theo phân công của Chính phủ Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi còn ban hành Thông tư số 25/2009 ngày 16/11/2009 quy định QCVN 25: 2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải của bãi chôn lấp chất thải rắn; Thông tư số 29/2010 ngày 16/12/2010 quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường quy định QCVN

Trang 24

28:2010/BTNMT-quy chuẩn quốc gia về nước thải y tế, QCVN 29:2010/BTNMT-quy chuẩn quốc gia về nước thải của kho và của hang chứa xăng dầu; Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2008 quy chuẩn quốc gia về môi trường, trong đó có các quy chuẩn nước như: QCVN 08:2008/BTNMT-quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước mặt, QCVN 09:2008/BTNMT-quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước ngầm, QCVN 10:2008/BTNMT-quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước biển ven bờ, QCVN 11:2008/BTNMT-quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước thải công nghiệp chế bến thủy sản, QCVN 12:2008/BTNMT-quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước thải công nghiệp giấy và bột giấy, QCVN 13:2008/BTNMT-quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước thải dệt may, QCVN 14:2008/BTNMT-quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước thải sinh hoạt

- Thứ ba, quản lý công tác điều tra cơ bản về tài nguyên nước; dự báo khí tượng thủy văn, cảnh báo lũ, lụt, hạn hán và tác hại khác do nước gây ra; tổ chức nghiên cứu,

áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, lưu trữ tài liệu về tài nguyên nước Hiện nay, với khoa học kỹ thuật tiến bộ Việt Nam dang triển khai dự án ứng dụng công nghệ dữ liệu ảnh vệ tinh Formosat- 2 nhằm nghiên cứu: đánh giá ô nhiễm ven biển do tràn dầu và nguồn thải bẩn từ đất liền; qui hoạch, quản lý rừng ngập mặn và du lịch sinh thái; lập

mô hình sóng - dòng chảy và lan truyền ô nhiễm ven bờ biển; quan trắc khí tượng thủy văn biển, giám sát thiên tai ven biển, đặc biệt là vấn đề xói mòn, sạt lở bờ biển; đào tạo nhân lực cho các ngành liên quan12

- Thứ tư, cấp, thu hồi giấy phép về tài nguyên nước Đối với việc cấp thu hồi giấy phép thì có nghị định 149/2004 ngày 27/7/2004 quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước và thông tư số 02/2005 ngày 24/6/2005 hướng dẫn thực hiện nghị định trên

- Thứ năm, quyết định biện pháp, huy động lực lượng, vật tư, phương tiện để phòng, chống, khắc phục hậu quả lũ, lụt, hạn hán, xử lý sự cố công trình thủy lợi và các tác hại khác do nước gây ra Đây là một nội dung rất quan trọng và đang được các tỉnh thực hiện

- Thứ sáu, kiểm tra, thanh tra việc chấp hành và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về tài nguyên nước Hiện tại chính phủ cũng đã ban hành nghị định số 34/2005 ngày 17/3/2005 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và thông tư số 05/2005 ngày 22/7/2005 hướng dẫn thi hành nghị định trên

12 http://www.cantho.gov.vn

Trang 25

- Thứ 7, trong quan hệ quốc tế tài nguyên nước; Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế như: Công ước Luật biển quốc tế 1982, Hiệp định 1995 về hợp tác phát triển bền vững sông Mêkong

- Thứ tám, tổ chức bộ máy quản lý, đào tạo cán bộ; tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tài nguyên nước Hiện nay thì vấn đề này cũng chỉ được quy định trong luật trên thực tế thì chưa được áp dụng Mới đây nhất là tại Hậu Giang cũng chỉ mới tổ chức được hội thảo kỉ niệm ngày nước thế giới với chủ đề là “Nước và an nin lương thực”

Đây là những nội dung rất quan trọng đối với việc quản lý tài nguyên nước, đảm bảo được những nội dung sẽ góp một phần hoàn thành công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên nước

2.1.1.2 Thẩm quyền quản lý nhà nước về tài nguyên nước

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về tài nguyên nước.13

- Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với tài nguyên nước14 Cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường gồm:

+ 18 đơn vị giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước:

Trang 26

Tổng cục Môi trường

Tổng cục Quản lý đất đai

Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam

Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam

Cục Quản lý tài nguyên nước

Cục Công nghệ thông tin

Cục Khí tượng Thuỷ văn và Biến đổi khí hậu

Cơ quan đại diện của Bộ tại thành phố Hồ Chí Minh

+ 6 đơn vị sự nghiệp phục vụ chức năng nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường:

Trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia

Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước

Trung tâm Viễn thám quốc gia

Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường

Báo Tài nguyên và Môi trường

Tạp chí Tài nguyên và Môi trường

- Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước có nhiệm vụ tư vấn giúp chính phủ trong những quyết định quan trọng về tài nguyên nước thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ:

+ Tư vấn về chiến lược, chính sách tài nguyên nước quốc gia;

+ Tư vấn việc xét duyệt quy hoạch các lưu vực sông lớn;

+ Tư vấn việc chuyển nước giữa các lưu vực sông lớn;

+ Tư vấn đối với các dự án bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước do Chính phủ quy định; phòng, chống khắc phục hậu quả lũ lụt và tác hại do nước gây ra;

+ Tư vấn về quản lý bảo vệ, khai thác, sử dụng các nguồn nước quốc tế và giải quyết các tranh chấp phát sinh;

Trang 27

+ Tư vấn việc giải quyết các tranh chấp về tài nguyên nước giữa các Bộ, ngành với nhau; giữa Bộ, ngành với Ủy ban nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương; và giữa các tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương;

- Cục quản lý tài nguyên nước

Căn cứ Quyết định 1035/2008/QĐ-BTNMT ngày 19/5/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức củ Cục quản lý tài nguyên nước Theo đó, Cục quản lý tài nguyên nước là tổ chức trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước và thực thi nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về tài nguyên nước trong phạm vi cả nước Nhiệm vụ quyền hạn của Cục quản lý tài nguyên nước được quy định cụ thể tại Điều 2 Quyết định 1035/2008/QĐ-BTNMT, Cục quản lý tài nguyên nước bao gồm:

+ Lãnh đạo cục gồm có Cục trưởng và không quá 3 Phó Cục trưởng chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng về nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của Cục; quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị trực thuộc cục; điều hành mọi hoạt động, xây dựng quy chế làm việc của Cục; ký văn bản về chuyên môn, nghiệp vụ thuộc chức năng, nhiệm vụ được giao

và các văn bản khác theo phân công của Bộ trưởng

Phó Cục trưởng giúp việc Cục trưởng, chịu trách nhiệm trước Cục trưởng về lĩnh vực công tác được phân công

+ Bộ máy giúp việc Cục trưởng gồm:

Phòng Kế hoạch - Tổng hợp

Phòng Khoa học Công nghệ và hợp tác quốc tế

Phòng Pháp chế - Chính sách tài nguyên nước

Phòng Quản lý điều tra và giám sát tài nguyên nước

Phòng Quản lý quy hoạch và khai thác tài nguyên nước

Văn phòng

+ Các đơn vị sự nghiệp

Trung tâm công nghệ tài nguyên nước

Trung tâm Thẩm định – Tư vấn tài nguyên nước

Trang 28

Trung tâm Thông tin – Kinh tế

2.1.1.3 Quy định về cấp, thu hồi giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước

Hoạt động cấp, thu hồi giấy phép tài nguyên nước là những biện pháp mang tính pháp lý để nhà nước có thể theo dõi, quản lý, kiểm soát chặt chẽ toàn bộ quá trình khai thác, sử dụng nước Hoạt động này góp phần làm hạn chế việc khai thác, sử dụng một cách bừa bãi tài nguyên nước Giấy phép về tài nguyên nước bao gồm: giấy phép thăm

dò nước dưới đất; giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước; giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; giấy phép về các hoạt động phải xin phép trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi

* Căn cứ cấp giấy phép được quy định tại Điều 5 Nghị định 149/2004 ngày 27/7/2004 quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước:

Việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước phải căn cứ vào:

- Luật Tài nguyên nước và văn bản pháp luật có liên quan

- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, ngành, vùng và địa phương

- Quy hoạch lưu vực sông được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật ; trường hợp chưa có quy hoạch lưu vực sông thì căn cứ vào khả năng nguồn nước và phải bảo đảm không gây cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước

- Báo cáo thẩm định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hồ sơ xin phép thăm

dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước

Đối với việc xả nước thải vào nguồn nước thì còn phải căn cứ vào:

- Tiêu chuẩn nước thải; trường hợp chưa có tiêu chuẩn thì thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường

- Khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước

- Vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định

* Nguyên tắc cấp phép được quy định tại Điều 4 Nghị định 149/2004 ngày 27/7/2004 quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước:

Trang 29

- Cấp phép phải đúng thẩm quyền, đúng đối tượng và trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật

- Phải bảo đảm lợi ích của Nhà nước ; quyền, lợi tích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có liên quan và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật

- Ưu tiên cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước để cung cấp nước sinh hoạt

- Không gây cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước khi thực hiện việc thăm dò, khai thác,

sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước

- Khai thác nước dưới đất trong một vùng không được vượt quá trữ lượng nước khai thác của vùng đó ; khi nước dưới đất tại vùng khai thác đã đạt tới trữ lượng có thể khai thác thì không được mở rộng quy mô khai thác, nếu chưa có biện pháp xử lý, bổ sung nhân tạo

* Thẩm quyền cấp, gia hạn, thay đổi thời hạn, điều chỉnh nội dung, đình chỉ hiệu lựu và thu hồi giấy phép được quy định tại Điều 13 Nghị định 149/2004 ngày 27/7/2004 quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước và được quy định tại mục 5 phần I Thông tư số 02/2005 ngày 24/6/2005 hướng dẫn Nghị định trên:

- Bộ Tài nguyên và Môi trường

- Ủy ban nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc trung ương cấp, gia hạn, thay đổi thời hạn, điều chỉnh nội dung, đình chỉ hiệu lựu và thu hồi giấy phép trong các trường hợp không thuộc thẩm quyền của Bộ Tài nguyên và Môi trường

* Thời hạn sử dụng giấy phép được quy định tài Điều 7 Nghị định 149/2004 ngày 27/7/2004 quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước và được quy định cụ thể tại mục 7 phần I Thông tư số 02/2005 ngày 24/6/2005 hướng dẫn Nghị định trên:

Thời hạn của giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt không quá 20 năm và được xem xét gia hạn nhưng thời gian gia hạn không quá 10 năm Đối với nước dưới đất thời hạn của giấy phép khai thác, sử dụng là không quá15 năm và được xem xét gia hạn nhưng thời gian gia hạn không quá 10 năm

Thời hạn của giấy phép thăm dò nước dưới đất không quá 3 năm và được xem xét gia hạn nhưng thời gian gia hạn không quá hai 2 năm

Trang 30

Thời hạn của giấy phép xả nước thải vào nguồn nước không quá 10 năm và được xem xét gia hạn nhưng thời gian gia hạn không quá 5 năm

Việc gia hạn giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước phải đựa vào căn cứ cấp giấy phép và thời hạn, gia hạn giấy phép và cần xem xét đến các yếu tố:

- Đối với khai thác, sử dụng nước dưới đất thì dựa vào các yếu tố như:

Mức độ chi tiết của việc đánh giá nguồn cấp nước

Hiện trạng khai thác, sử dụng nguồn nước

- Đối với xả nước thải vào nguồn nước:

Lưu lượng, phương thức xả nước thải

Thông số, nồng độ chất ô nhiễm trong nước thải

Quy trình công nghệ xử lý nước thải

Mục tiêu chất lượng nguồn nước tiếp nhận nước thải

Kế hoạch giám sát, quan trắc chất lượng nguồn nước tiếp nhận nước thải

Kế hoạch giảm thiểu ô nhiễm của tổ chức, cá nhân xin phép xả nước thải

Kế hoạch quản lý, xây dựng hệ thống xử lý nước thải của khu vực, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

* Đình chỉ, thu hồi giấy phép tài nguyên nước được quy định tại Điều 9, Điều 10 Nghị định 149/2004 ngày 27/7/2004 quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử

Trang 31

dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước được quy định tại mục 9, 10 phần

I Thông tư số 02/2005 ngày 24/6/2005 hướng dẫn Nghị định trên:

- Giấy phép bị đình chỉ hiệu lực trong các trường hợp sau đây:

Tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép (gọi chung là Chủ giấy phép) vi phạm nội dung quy định của giấy phép

Chủ giấy phép tự ý chuyển nhượng giấy phép

Chủ giấy phép lợi dụng giấy phép để tổ chức hoạt động không quy định trong nội dung giấy phép

Thời hạn đình chỉ là không 3 tháng đối với giấy phép thăm dò nước dưới đất và 6 tháng đối với giấy phép khai thác, sử dụng nước dưới đất; giấy phép khai thác, sử dụng nước mặt; giấy phép xả nước thải vào nguồn nước.15

- Giấy phép bị thu hồi trong các trường hợp sau đây:

Tổ chức là chủ giấy phép bị giải thể hoặc bị Toà án tuyên bố phá sản ; cá nhân là chủ giấy phép bị chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị tuyên bố mất tích

Giấy phép được cấp nhưng không sử dụng trong thời gian mười hai (12) tháng liên tục mà không được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về tài nguyên nước cho phép

Chủ giấy phép vi phạm quyết định đình chỉ hiệu lực của giấy phép

Chủ giấy phép vi phạm nội dung quy định của giấy phép, gây cạn kiệt, ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước

Giấy phép được cấp không đúng thẩm quyền

Khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi giấy phép vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng

* Một số trường hợp khai thác, sử dụng tài nguyên nước mà không cần giấy phép được quy định tại Điều 6 Nghị định 149/2004 ngày 27/7/2004 quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước và được quy định cụ thể tại điểm 3.1 mục 3, mục 4 phần I Thông tư số 02/2005 ngày 24/6/2005 hướng dẫn Nghị định trên :

15

27/7/2004 quy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước

Trang 32

- Khai thác, sử dụng tài nguyên nước không phải xin phép trong các trường hợp sau đây:

Khai thác, sử dụng nước mặt, nước dưới đất với quy mô nhỏ phục vụ sinh hoạt trong phạm vi gia đình

Khai thác, sử dụng nước mặt, nước dưới đất với quy mô nhỏ để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thuỷ điện và cho các mục đích khác trong phạm vi gia đình

Khai thác, sử dụng nguồn nước biển với quy mô nhỏ để sản xuất muối và nuôi trồng hải sản trong phạm vi gia đình

Khai thác, sử dụng nước mưa, nước mặt, nước biển trong phạm vi diện tích đất đã được giao, được thuê theo quy định của Luật Đất đai, Luật Tài nguyên nước và các quy định khác của pháp luật

Khai thác, sử dụng tài nguyên nước không nhằm mục đích kinh doanh phục vụ các hoạt động lâm nghiệp, giao thông thuỷ, nuôi trồng thuỷ sản, hải sản, sản xuất muối, thể thao, giải trí, du lịch, y tế, an dưỡng, nghiên cứu khoa học

Khai thác nước dưới đất từ các công trình thay thế có quy mô không lớn hơn và mực nước hạ thấp nhỏ hơn giới hạn cho phép đã được xác định trong giấy phép, nằm trong khu vực đã được cấp phép

- Xả nước thải vào nguồn nước với quy mô nhỏ trong phạm vi gia đình

- Khai thác, sử dụng nước dưới đất với quy mô nhỏ trong phạm vi gia đình không phải xin phép nhưng phải đăng ký trong các trường hợp sau đây :

Khai thác, sử dụng nước dưới đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tiểu thủ công nghiệp trong vùng mà tổng lượng nước khai thác vượt quá tổng lượng dòng ngầm trung bình mùa kiệt

Chiều sâu giếng khai thác vượt quá mức quy định

2.1.1.4 Giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước

Tranh chấp tài nguyên nước là những mâu thuẫn, bất đồng ý kiến của các chủ thể tham gia quan hệ phát luật tài nguyên nước (quan hệ về khai thác sử dụng, xả nước thải, bảo vệ, quản lý tài nguyên nước) khi họ cho rằng các quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc đe dọa bị xâm hại

Trang 33

Giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước là quá trình hoạt động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành nhằm khôi phục, bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ tranh chấp, góp phần khôi phục, bảo vệ trữ lượng, chất lượng nước vì lợi ích chung của cộng đồng

Theo quy đinh tại Điều 62 Luật Tài nguyên nước thì việc giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước được thực hiện như sau: nhà nước khuyến khích việc hòa giải tranh chấp Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan,

tổ chức và cá nhân trong việc hòa giải các tranh chấp về tài nguyên nước Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp loại giấy phép về tài nguyên nước nào thì có trách nhiệm giải quyết khiếu nại phát sinh từ việc thực hiện giấy phép đó theo quy định tại Nghị định 149/2004/NĐ-CP, Nghị định số 13/2008/NĐ-CP và Quyết định số 216/2009/QĐ-BTNMT; cơ quan có thẩm quyền cấp, gia hạn, thay đổi thời hạn, điều chỉnh nội dung, đình chỉ hiệu lực và thu hồi giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước bao gồm: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Quản lý tài nguyên nước, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan hữu quan đảm nhận công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước Chủ tịch Ủy ban nhân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền: thứ nhất, là giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình; thứ hai, là giả quyết khiếu nại mà chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại; thứ ba, là giải quyết khiếu nại mà Giám đốc sở hoặc cấp tương đương thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại mà nội dung thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh16 Theo quy định tại Điều 25 Luật khiếu nại tố cáo số 09/1998/QH10, Luật sửa đổi bổ sung số 26/2004/QH11 và Luật số 58/2005/QH11 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật khiếu nại tố cáo; Bộ Tài nguyên Môi trường, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền: giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán

bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp; giải quyết khiếu nại mà những người quy định tại Điều 24 của Luật khiếu nại tố cáo đã giải quyết lần đầu nhưng còn có khiếu nại; giải quyết khiếu nại có nội dung thuộc thẩm quyền quản lý của bộ, ngành mình mà chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Giám đốc sở hoặc cấp tương đương thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết lầm đầu nhưng còn có khiếu nại

16

Điều 23 Luật khiếu nại tố cáo số 09/1998/QH10, Luật sửa đổi bổ sung số 26/2004/QH11 và Luật số

58/2005/QH11 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật khiếu nại tố cáo

Trang 34

Trong trường hợp đương sự không đồng ý với quyết định khiếu nại thì có quyền khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại tòa án theo quy định của pháp luật Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết quy định tại Điều 36 của Luật khiếu nại tố cáo mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn nói trên có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tich Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh, trừ trường hợp luật có quy định khác17

Đối với việc giải quyết tranh chấp về nguồn nước quốc tế thì giải quyết theo nguyên tắc:

Tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích của các nước có chung nguồn nước

Bảo đảm công bằng, hợp lý, các bên cùng có lợi và phát triển bền vững trong khai thác, sử dụng nguồn nước quốc tế

Không làm phương hại đến quyền và lợi ích củ các nước có chung nguồn nước Tuân theo pháp luật Việt Nam và thực hiện điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia và tôn trọng pháp luật quốc tế

2.1.2 Quy định về trách nhiệm bảo vệ tài nguyên nước

Bảo vệ tài nguyên nước là bảo vệ sự sống của con người cũng như sự sống của trái đất

Bảo vệ tài nguyên nước là biện pháp phòng chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, bảo đảm an toàn nguồn nước và bảo vệ khả năng phát triển tài nguyên nước Như vậy, bảo vệ tài nguyên nước luôn gắn với phát triển tài nguyên nước, tức là nâng cao khả năng khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên nước và nâng cao giá trị của tài nguyên nước

Bảo vệ tài nguyên nước là một lĩnh vực của hoạt động bảo vệ môi trường, bao gồm các biện pháp về giữ gìn trữ lượng, chất lượng tài nguyên nước, phòng chống khắc

17 Điều 39 Luật khiếu nại tố cáo 1998, được sửa đổi bổ sung 2004,2005

Trang 35

phục hậu tác hại do nước gây ra Bảo vệ tài nguyên nước phải căn cứ vào sự vận động của nước, các ảnh hưởng của từng lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, giao thông đối với tài nguyên nước cũng như yêu cầu về khai thác sử dụng nước sinh hoạt

2.1.2.1 Trách nhiệm bảo vệ tài nguyên nước

Có thể nói nước tài sản của nhân loại bảo vệ tài nguyên nước là trách nhiệm của cả thế giới Đối với Việt Nam thì trách nhiệm bảo vệ tài nguyên nước là trách nhiệm của

cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức

xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân; của chính quyền địa phương các cấp; của tổ chức, cá nhân Những người phát hiện ra hành vi, hiện tượng gây tổn hại hoặc đe dọa đến an toàn nguồn nước thì có trách nhiệm ngăn chặn, khắc phục hoặc báo ngay cho chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức gần nhất để kịp thời xử lý.18

2.1.2.2 Trách nhiệm phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước

Phòng, chống suy thoái, cạm kiệt nguồn nước là vấn đề cấp bách hiện nay và được nhà nước thực hiện theo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn và các loại rừng khác, xây dựng công trình thủy lợi, khôi phục nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt; khuyến khích tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm để bảo vệ tài nguyên nước và tuân theo cá quy định phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước (Xem Điều 11 Luật tài nguyên nước 1998) Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với các bộ nghành liên quan, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức điều tra, đánh giá nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt; lập quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng phù hợp với phù hợp với quy hoạch lưu vực sông; lập kế hoạch khôi phục, nâng cấp và xây dựng bổ sung, làm mới các công trình thủy lợi; kiểm tra ,giám sát việc khai thác, sử dụng nước dưới đất; kiểm tra ,giám sát các điểm xả nước thải vào nguồn nước (Xem Điều 3 Nghị định 179/1999 ngày 30/12/1999 quy định việc thi hành luật tài nguyên nước)

2.1.2.3 Trách nhiệm bảo vệ nước dưới đất

Nước dưới đất là loại nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới mặt đất, nước dưới đất là nước ngọt có thể sử dụng cho sinh hoạt hàng ngày, tưới tiêu, phục vụ nông nghiệp ở những nơi bị xâm nhập mặn người ta khai thác nước dưới đất để phục vụ nhu cầu của mình Hiện nay tình trạng khai khai thác bừa bãi làm cho nước dưới đất bị ô nhiễm, sụt lún trên bề mặt Vì vậy, bảo vệ nước dưới đất là vấn đề quan trọng theo Điều 12 Luật tài nguyên nước thì trách nhiệm bảo vệ nước dưới đất như sau:

18 Điều 10 Luật tài nguyên nước 1998

Trang 36

- Thứ nhất, tổ chức, cá nhân khoan thăm dò địa chất, khoan thăm dò nước dưới đất, xử lý nền móng công trình phải thực hiện các biện pháp để bảo vệ tài nguyên nước dưới đất theo quy định của pháp luật

- Thứ hai, tổ chức, cá nhân khai thác nước dưới đất phải tuân theo các quy trình, quy phạm về an toàn kỹ thuật và chống sụt lún; bảo vệ các tầng chứa nước và môi trường liên quan; về san, lấp sau khi khai thác

- Thứ ba, tổ chức cá nhân khai khoáng, xây dựng công trình ngầm dưới đất, thi công công trình khai thác nước dưới đất phải tuân theo quy trình, quy phạm về an toàn

kỹ thuật, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước dưới đất và sụt lún nghiêm trọng mặt đất

Quát trình khai thác nước dưới đất một cách bừa bãi không theo quy định đã làm ô nhiễm nước dưới đất, có nơi bị sụt, lún nghiêm trọng Trong khi đó nước dưới đất là nguồn nước thay thế cho nước sông, hồ… ở vùng bị nước mặn xâm nhập thì có thể sử dụng nước dưới đất Bảo vệ nước dưới đất là vấn đề cấp bách trong mọi thời đại Theo Điều 65 Luật Tài nguyên nước quy định việc bảo vệ tài nguyên nước dưới đất như sau:

Dự án khai thác nước dưới đất có công suất từ 10.000 mét khối trong một ngày đêm trở lên phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường Chỉ sử dụng các loại hoá chất trong danh mục cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thăm dò, khai thác nước dưới đất Nghiêm cấm việc đưa vào nguồn nước dưới đất các loại hoá chất, chất độc hại, chất thải, vi sinh vật chưa được kiểm định và các tác nhân độc hại khác đối với con người và sinh vật Có biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm nguồn nước dưới đất qua giếng khoan thăm dò, khai thác nước dưới đất; cơ sở khai thác nước dưới đất có trách nhiệm phục hồi môi trường khu vực thăm dò, khai thác; các lỗ khoan thăm dò, lỗ khoan khai thác không còn sử dụng phải được lấp lại theo đúng quy trình kỹ thuật để tránh làm ô nhiễm nguồn nước dưới đất

Dự án khai thác khoáng sản, dự án khác có sử dụng hoá chất độc hại, chất phóng xạ phải có biện pháp bảo đảm không để rò rỉ, phát tán hoá chất, chất thải độc hại, chất thải phóng xạ, sinh vật nhiễm bệnh vào nguồn nước dưới đất

Kho chứa hoá chất, cơ sở xử lý, khu chôn lấp chất thải nguy hại phải được xây dựng bảo đảm an toàn kỹ thuật, có biện pháp ngăn cách hoá chất độc hại ngấm vào nguồn nước dưới đất

Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm chỉ đạo việc tổ chức điều tra, đánh giá, quan trắc định kỳ trữ lượng, chất lượng nước dưới đất

Trang 37

2.1.2.4 Bảo vệ chất lượng nước

Hiện do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhiều xí nghiệp, công ty mộc lên

và việc quản lý chất thải mà họ thải ra nguồn nước là làm chất lượng nước không còn được đảm bảo theo tiêu chuẩn, nếu chúng ta cứ để tình hình này tiếp diễn thì dần dần nước sẽ ô nhiễm nghiêm trọng và không sử dụng được Vì vậy, để bảo vệ chất lượng nước nhà nước ta đã sớm đưa ra biện pháp: trong kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội của cả nước và từng địa phương phải có kế hoạch phòng, chống ô nhiễm nguồn nước

và khôi phục nguồn nước bị ô nhiễm Việc quy hoạch và quản lý các khu công nghiệp, khu du lịch, khu dân cư tập trung, bệnh viện, khu chăn nuôi và giết mổ gia súc có quy

mô lớn, bãi chứa chất thải, khu chôn cất chất phóng xạ, rác thải, khu nghĩa trang phải tuân theo các quy định của luật này và pháp luật về bảo vệ môi trường, bảo đảm không gây ô nhiễm nguồn nước Nghiêm cấm việc đưa vào nguồn nước các chất thải độc hại, nước thải chưa xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn cho phep theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.19

2.1.2.5 Quy định về xả nước thải vào nguồn nước

Việc xả nước thải vào nguồn nước do hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động khác của tổ chức, cá nhân phải thực hiện theo đúng qui định của pháp luật tài nguyên nước và pháp luật khác có liên quan Tổ chức, cá nhân được phép xả nước thải vào nguồn nước phải có nghĩa vụ là: thực hiện việc xử lý nước thải để đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi xả vào nguồn nước, bồi thường thiệt hại, nộp lệ phí cấp phép, phí

xả nước thải và thực hiện đúng quy định trong giấy phép và quy định của pháp luật Bên cạnh đó thì tổ chức, cá nhân được phép xả nước thải vào nguồn nước cũng được hưởng một số quyền như: được đền bù thiệt hại trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xả nước thải thay đổi vị trí hoặc rút ngắn thời gian cho phép

xả nước thải; khiếu nại khởi kiện về hành vi vi phạm quyền xả nước thải và lợi ích hợp pháp khác theo quy định của pháp luật

2.1.3 Quy định về khai thác, sử dụng tài nguyên nước

2.1.3.1 Quyền của tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước

Khai thác nguồn nước là hoạt động nhằm mang lại lợi ích từ nguồn nước Theo Điều 22 Luật Tài nguyên nước tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng tài nguyên nước quyền sau đây:

19 Điều 13 Luật tài nguyên nước

Trang 38

- Một là, được quyền khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho các mục đích sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, khai khoáng, phát điện, giao thông thủy, nuôi trồng thủy sản, hải sản, sản xuất muối, thể thao, giải trí, du lịch, y tế,

an dưỡng, nghiên cứu khoa học, phát triển tài nguyên nước;

- Hai là, được hướng lợi từ việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước; được chuyển nhượng, cho thuê, để thừa kế, thế chấp tài sản đầu tư vào việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phát triển tài nguyên nước;

- Ba là, được bồi thường thiệt hại trong trường hợp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước bị thu hồi trước thời hạn vì lý do quốc phòng, an nin hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng;

- Bốn là, khiếu nại, khởi kiện tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các hành vi

vi phạm quyền khai thác, sử dụng tài nguyên nước và các lợi ích hợp pháp khác;

- Năm là, được nhà nước bảo hộ quyền lợi hợp pháp trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước

Như vậy, Luật quy định tổ chức, cá nhân được khai thác sử dụng tài nguyên nước Tuy nhiên, việc khai thác sử dụng phải được thực hiện theo quy định của pháp luật, đặc biệt là phải chú trọng đến việc bảo vệ môi trường trong các vấn đề có liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên nước, chứ không được phép khai thác sử dụng tự do, tùy tiện, nhằm bảo vệ và phát triển tài nguyên nước

2.1.3.2 Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước

Bảo vệ tài nguyên nước là hoạt động nhằm giữ cho nguồn nước được trong sạch, hạn chế đến mức tối đa gây ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước Bảo vệ tài nguyên nước trong hoạt động khai thác là nghĩa vụ cơ quan quản lý tài nguyên nước và là nghĩa vụ của tổ chức và cá nhân được phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước Theo Điều 23 Luật Tài nguyên nước quy định nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước như sau:

- Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước phải thực hiện đúng với quy định của luật tài nguyên nước;

- Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước phải có nghĩa vụ sử dụng nước đúng mục đích, tiết kiệm, an toàn và có hiệu quả Vấn đề này được hiểu là:

Ngày đăng: 05/04/2018, 22:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w