1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu phương pháp, quy trình tổ chức xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ việt nam giai đoạn 2011-2020

251 730 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu phương pháp, quy trình tổ chức xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Tác giả Nguyễn Mạnh Quân, Nguyễn Văn Thu, Đặng Ngọc Dinh, Nguyễn Sĩ Lộc, Trần Chí Đức, Trần Ngọc Ca
Trường học Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ
Chuyên ngành Khoa học và Công nghệ
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 251
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của Đề tài Với mục đích chủ yếu là cung cấp tài liệu tham khảo cho các cơ quan hoạch định Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-202

Trang 1

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Đề tài nghiên cứu cấp Bộ năm 2008

NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP, QUY TRÌNH TỔ CHỨC XÂY DỰNG

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KH&CN VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 2011-2020 ( Báo cáo tóm tắt )

Cơ quan chủ trì thực hiện:

VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Nhóm thực hiện:

NGUYỄN MẠNH QUÂN-CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

NGUYỄN VĂN THU ĐẶNG NGỌC DINH NGUYỄN SĨ LỘC TRẦN CHÍ ĐỨC TRẦN NGỌC CA

7858

08/4/2010

HÀ NỘI 2008

Trang 2

MỤC LỤC (Báo cáo tổng hợp)

Lời nói đầu ……… ……….05

Phần Một: MỘT SỐ VẤN ĐỀ XUNG QUANH KHÁI NIỆM “CHIẾN LƯỢC”……….…… 08

I Nguồn gốc khái niệm “chiến lược” 08

II “ Chiến lược” hiểu theo nghĩa hẹp 08

III Khái niệm “chiến lược” hiểu theo nghĩa rộng …… 12

IV Yêu cầu đặt ra đối với một chiến lược……… 16

Phần Hai: MỘT SỐ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN KHÁI NIỆM, PHƯƠNG PHÁP VÀ QUY TRÌNH TỔ CHỨC XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KH&CN….……… 18

I Lý thuyết phức tạp và hồn độn……… ……… 18

II Lý thuyết đổi mới……… ……….….35

Phần Ba: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KH&CN……… ………67

I Cách tiếp cận tham dự và vai trò của trí tuệ đám đông………67

II Cách tiếp cận nhìn trước-“Foresight”……….………69

III Cách tiếp cận chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu trong xây dựng chiến lược KH&CN 72

IV Cách tiếp cận chiến lược theo các chùm đổi mới (Cluster)……… 74

V Phương pháp phân tích SWOT ………77

VI Phương pháp xây dựng kịch bản….……… 78

VII Phương pháp xây dựng lộ trình công nghệ……….………… …… 89

VIII Phương pháp điều tra Delphi……….96

IX Phương pháp xác định công nghệ then chốt (key technology)……… 99

Phần Bốn: KINH NGHIỆM SỬ DỤNG CÁC CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KH&CN Ở MỘT SỐ NƯỚC……….….………102

I Định hướng chiến lược KH&CN ở một số nước thuộc tổ chức OECD……….… 102

II Kinh nghiệm vận dụng cách tiếp cận “nhìn trước-foresight” trong xây dựng chiến lược KH&CN của UNIDO……… 106

III Kinh nghiệm xây dựng kế hoạch trung và dài hạn phát triển KH&CN 2006-2020 của Trung Quốc……….107

IV Xây dựng Lộ trình công nghệ quốc gia theo cách tiếp cận hệ thống đổi mới: Kinh nghiệm Hàn Quốc……… 110

V Kinh nghiệm Úc trong mở rộng khái niệm ưu tiên KH&CN và điều phối các ưu tiên KH&CN ở tầm quốc gia……… ……… ……… 110

VI Kinh nghiệm New Zealand trong sử dụng cách tiếp cận “nhìn trước” làm công cụ xác định ưu tiên, thu hẹp sự phân tán và dàn trải trong đầu tư cho KH&CN……… ………….……… 111

VII Kinh nghiệm Hungary trong xây dựng các kịch bản ở tầm vĩ mô……….………112

VIII- Kinh nghiệm của Cộng hoà Séc trong sử dụng forresight để xác định các hướng nghiên cứu và các công nghệ ưu tiên ……….………112

IX Kinh nghiệm Nhật Bản ……….………… … ….………… 115

Trang 3

XI Kinh nghiệm Hàn Quốc trong sử dụng điều tra Delphi để xác định những hướng công nghệ

cao ưu tiên định hướng sản phẩm và công nghệ nền trong các chương trình R&D quốc gia 120

XII Kinh nghiệm Thái Lan trong sử dụng kết hợp kỹ thuật kịch bản và đièu tra Delphi để tiến hành “nhìn trước” cho ngành nông nghiệp……… 122

XIII Kinh nghiệm Hoa Kỳ……… ……….122

XIV Kinh nghiệm của một số nước trong Xác định các công nghệ then chốt như là một hình thức lựa chọn ưu tiên công nghệ……… ………….………124

XV Kinh nghiệm tổ chức xây dựng Chiến lược KH&CN theo quy trình 3 bước của Cộng Hòa Nam Phi.……… ……….127

XVI Nhận xét kết luận và những gợi suy cho Việt Nam……… 132

Phần Năm: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KH&CN Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KH&CN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020………140

I Vấn đề về định hướng chiến lược phát triển KH&CN ở việt nam trong thời gian qua……….140

II “ Đề cương kiến nghị chiến lược KH-KT đến năm 2000”… ……….144

III Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam đến năm 2010……… 152

IV Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho xây dựng chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020……….………164

Phần Sáu: ĐỀ XUẤT CÁCH TIẾP CẬN VÀ QUY TRÌNH TỔ CHỨC XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KH&CN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020… 167

I Lựa chọn các phương pháp xây dựng chiến lược……….……….167

II Vận dụng các phương pháp trong xây dựng các nội dung chủ yếu của chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020……….… ……… 175

III.Lựa chọn quy trình tổ chức xây dựng chiến lược … …….……….………….201

Kết luận và khuyến nghị……….212

Tài liệu Tham khảo ……….……… 226

Phần Phụ Lục………… ……….231

Trang 4

Danh mục các từ viết tắt trong Báo cáo

1) Tiếng Việt:

CLPTKH&CN: Chiến lược phát triển KH&CN

CNH: Công nghiệp hóa

CNTT: Công nghệ thông tin

CNVL: Công nghệ vật liệu

CNSH: Công nghệ sinh học

CSKH&KT: Chính sách khoa học và kỹ thuật

HĐH: Hiện đại hóa

HĐBT: Hội đồng Bộ trưởng

HTĐM: Hệ thống đổi mới

HTĐMQG: Hệ thống đổi mới quốc gia

KH: Khoa học

KH-CN-ĐM: Khoa học – công nghệ - đổi mới

KH&CN: Khoa học và công nghệ

KH&KT: Khoa học và kỹ thuật

KH&ĐT: Kế hoạch và Đầu tư

VCCI: Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam

VUSTA: Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam

2) Tiếng Anh

APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương

GDP: Tổng sản phẩm trong nước

EU: Liên minh Châu Âu

IDRC: Cơ quan nghiên cứu phát triển quốc tế Canada

NRC: Hội đồng nghiên cứu Quốc gia (Canada)

NSF: Quỹ khoa học Quốc gia (Hoa Kỳ

OECD: Tổ chức phát triển kinh tế

TRM: Lộ trình công nghệ

TF: Nhìn trước công nghệ

R&D: nghiên cứu và phát triển

SWOT: điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức

UNIDO: Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp quốc

WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 5

Lời nói đầu

thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nghiên cứu này được tiến hành để

chuẩn bị cơ sở lý thuyết, cách tiếp cận, phương pháp và quy trình tổ chức xây dựng Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020

Những vấn đề về lý luận và thực tiễn đặt ra cần nghiên cứu

Tổng kết những bài học chưa thành công trong lĩnh vực kế hoạch hoá, xây dựng và thực thi chiến lược phát triển nói chung và chiến lược phát triển KH&CN nói riêng ở nước ta trong thời gian qua có thể thấy trong số nhiều nguyên nhân, nguyên nhân cơ bản là do không làm rõ những vấn đề cốt yếu sau:

Thứ nhất: Chiến lược là gì, nội hàm của khái niệm chiến lược bao gồm những nội dung

gi? và tầm quan trọng của nó ở chỗ nào?

Thứ hai: Chiến lược có vị trí như thế nào trong toàn bộ quá trình kế hoạch hoá? Mối quan

hệ giữa chiến lược với dự báo, tầm nhìn, quy hoạch, kế hoạch, lộ trình, các chương trình,

dự án cần được xác lập như thế nào trong quá trình xây dựng chiến lược? Có phải quá trình xây dựng chiến lược chỉ bao gồm việc xác định các mục tiêu và giải pháp dài hạn còn các quy hoạch, kế hoạch trung hạn và ngắn hạn, các chương trình, dự án cụ thể nằm ngoài quá trình xây dựng chiến lược và thuộc trách nhiệm của các cơ quan xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án hay không? Làm thế nào để các mục tiêu, giải pháp dài hạn được cụ thể hoá một cách tường minh thành các quy hoạch, kế hoạch trung và ngắn hạn, các chương trình, dự án và được bảo đảm bởi các nguồn lực thực hiện?

Thứ ba: một quy trình xây dựng chiến lược sẽ bắt đầu từ đâu, bao gồm những bước cụ thể

gì và kết thúc khi nào? Chiến lược nên được hiểu là những mục tiêu cố định và hệ thống các giải pháp chiến lược để đạt các mục tiêu đã đề ra hay là những mục tiêu có thể điều chỉnh linh hoạt tuỳ theo những biến đổi của tình hình thực tiễn?

Trang 6

Thứ tư: Đối tượng của Chiến lược phát triển KH&CN là gì và phạm vi tác động của nó

đến đâu? Có phải phạm vi này chỉ khuôn hẹp vào trong các hoạt động KH&CN như lâu nay vẫn hiểu theo nghĩa là các hoạt động tạo ra các bài báo khoa học và sáng chế công nghệ mà không bao gồm các hoạt động phát triển, thương mại hóa và ứng dụng tri thức khoa học và các sáng chế công nghệ trong các lĩnh vực của sản xuất và đời sống xã hội hay không? Nói cách khác, chiến lược phát triển KH&CN chỉ là chiến lược bộ phận, chiến lược ngành tương tự như chiến lược của nhiều ngành khác trong cơ cấu ngành kinh

tế quốc dân hay là chiến lược tổng thể, chiến lược đổi mới (innovation-based strategy) bao hàm trong đó sự gắn kết hữu cơ giữa nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và khả năng cung cấp các giải pháp KH&CN, thể hiện sự đồng thuận, tham gia và phối hợp của tất cả các thành phần trong hệ thống đổi mới quốc gia? Và tại sao lại cần phải như vây?

Thứ năm: Việc xây dựng chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020

nếu theo cách tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia nêu trên thì cần, có thể và nên được tiến hành bằng những phương pháp và theo một quy trình như thế nào? Tại sao lại như vậy?

Và triển vọng của việc áp dụng những phương pháp và quy trình đó trong xây dựng Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020 là ở chỗ nào?

Trên đây là 5 nhóm vấn đề, đồng thời cũng là 5 nhóm câu hỏi nghiên cứu về cả lý luận và thực tiễn mà đề tài đặt ra với mong muốn làm rõ để có thể cung cấp những thông tin tham khảo ban đầu cho các cơ quan quản lý chuẩn bị cho quá trình xây dựng Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020

Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của Đề tài

Với mục đích chủ yếu là cung cấp tài liệu tham khảo cho các cơ quan hoạch định Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và do hạn hẹp về thời gian và kinh phí, Đề tài đã không được khuyến khích thử nghiệm cách tiếp cận, phương pháp và quy trình tổ chức xây dựng chiến lược mà Đề tài đề xuất cho một số tỉnh, thành phố theo

như mong muôn của nhóm nghiên cứu (Biên bản góp ý của Hội đồng xét duyệt Thuyết minh Đề tài) Đề tài do vậy đã tập trung giới thiệu, phân tích, lựa chọn một số lý thuyết sử

dụng để tiếp cận chiến lược KH&CN trong đó chủ yếu là Lý thuyết phức tạp và hỗn độn,

Lý thuyết đổi mới, Cách tiếp cận tham dự, Cách tiếp cận “nhìn trước-foresight”, Cách tiếp cận chùm đổi mới Các lý thuyết và cách tiếp cận này là cơ sở để lựa chọn các phương pháp cụ thể áp dụng cho xây dựng chiến lược Ngoài ra, đề tài cũng tập trung nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài và một số tổ chức quốc tế trong định hướng chiến lược phát triển KH&CN dưới các hình thức khác nhau (tầm nhìn, lộ trình, kế hoạch trung dài hạn, )

Trang 7

Ngoài ra Đề tài cũng chú trọng tổng kết, rút kinh nghiệm quá trình định hướng chiến lược phát triển KH&CN ở Việt Nam trước đây, đặc biệt là tổng kết, rút kinh nghiệm quá trình xây dựng và thực thi Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam đến năm 2010 Hy vọng với những phân tích và luận cứ bước đầu cả về lý thuyết và thực tiễn, các đề xuất của Đề tài sẽ phần nào có giá trị tham khảo nhất định cho các cơ quan hoạch định Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020 mà trực tiếp là Bộ KH&CN Mặc dù vậy, trên thực tế, nhiều kết quả của Đề tài đã được đăng các tạp chí, hoặc sử dụng vào trong soạn thảo Đề cương Chiến lược, đề xuất kịch bản xây dựng chiến lược theo chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ KH&N

Thay mặt Nhóm nghiên cứu, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo và các cơ quan chức năng thuộc Bộ KH&CN, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN đã tài trợ và tạo điều kiện để chúng tôi có thể tiến hành đề tài nghiên cứu này Chân thành cám ơn các cộng tác viên là những nhà nghiên cứu lâu năm về phương pháp luận xây dựng chiến lược KH&CN ở nước ta như các GS.Đặng Ngọc Dinh, TS.Nguyễn Văn Thu, TS.Nguyễn Sĩ Lộc, TS Mai Hà, TS.Tạ Doãn Trịnh, TS Trần Ngọc Ca, TS Đặng Duy Thịnh, Th.S Trần Chí Đức, TS.Hoàng Xuân Long, TS.Nguyễn Thị Anh Thu, TS.Nguyễn Văn Học và một số cộng tác viên khác trong Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN Đặc biệt, nhóm Đề tài xin chân thành cám ơn Thứ trưởng Bộ KH&CN, TS.Lê Đình Tiến đã thường xuyên quan tâm chỉ đạo và góp ý kiến quý báu định hướng cho các vấn đề và nội dung nghiên cứu của

Đề tài Những hạn chế và thiếu sót của Đề tài trong Báo cáo là khó tránh khỏi Với mong muốn có những đóng góp thiết thực vào quá trình chuẩn bị xây dựng Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020, chúng tôi xin nhận những thiếu sót về phía mình và nghiêm túc tiếp thu những ý kiến góp ý của các cơ quan, cá nhân có liên quan để

có thể kịp thời sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện Báo cáo nghiên cứu trong thời gian sớm nhất Xin chân thành cám ơn

Hà Nội , tháng 11 năm 2008,

Chủ nhiệm Đề tài

NGUYỄN MẠNH QUÂN

Trang 8

Trong 5 nhóm câu hỏi nghiên cứu mà Đề tài đặt ra, cho đến nay, câu hỏi tưởng chừng đơn giản, “Chiến lược” là gì vẫn chưa có được một quan niệm thống nhất Việc làm rõ khái niệm cơ bản này do vậy sẽ là xuất phát điểm, là tiền đề xác định nội dung, lựa chọn phương pháp và quy trình tổ chức xây dựng chiến lược phát triển KH&CN Phần Một của Báo cáo nghiên cứu này được dành để phân tích và lựa chọn một cách hiểu và xác định nội hàm của khái niệm chiến lược sẽ được sử dụng trong đề tài

I- NGUỒN GỐC KHÁI NIỆM “CHIẾN LƯỢC”

Như đã biết, thuật ngữ chiến lược có xuất xứ từ lĩnh vực quân sự Trong tiếng Hy lạp gốc,

“strategos” có nghĩa là một vị tướng1 Mặc dù chiến tranh gắn với lịch sử phát triển loài người từ xa xưa nhưng chiến lược quân sự như một bộ phận hợp thành của nghệ thuật chỉ đạo quân sự chỉ xuất hiện sau này Chiến lược (strategy) được phân biệt với sách lược (tactics) theo đó, sách lược chỉ liên quan đến một chiến thuật, chiến dịch, trong khi chiến lược liên quan đến sự phối hợp nhiều chiến dịch với nhau sao cho mục tiêu cuối cùng của cuộc chiến có thể đạt được nhanh chóng nhất và hiệu suất lớn nhất

Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử khoa học quân sự đã chỉ ra rằng: vai trò của “chiến lược” trở nên cần thiết và quan trọng khi mục tiêu cuối cùng không thể đạt được bằng một chiến dịch, khi quy mô chiến trường đã mở rộng ra nhiều chiến dịch, phải phối hợp các chiến dịch sao cho các mục tiêu cục bộ đạt được trong từng chiến dịch hợp thành các giai đoạn trên con đường ngắn nhất đạt tới mục tiêu quân sự cuối cùng Như vậy, khi nào và ở đâu xuất hiện nhu cầu cần phải lựa chọn mục tiêu và phối hợp nhiều hành động và phương án hành động khác nhau theo một kế hoạch nhất định nhằm đạt mục tiêu đã đặt ra thì ở đó và khi đó cần có chiến lược

Xuất phát ban đầu từ lĩnh vực quân sự gắn với lịch sử chỉ đạo tiến hành chiến tranh, ngày nay khái niệm “chiến lược” ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực hoạt động

xã hội khác nhau như kinh tế, chính trị, ngoại giao, khoa học và công nghệ và quản lý ( nổi bật là trong lý thuyết trò trơi) Chiến lược cũng đã trở thành công cụ để hàng loạt các chủ thể khác nhau từ các công ty, các tổ chức, các quốc gia định hướng và quản lý quá trình phát triển của mình.Theo chúng tôi, sở dĩ các lĩnh vực hoạt động xã hội khác nhau có thể và cần phải vay mượn thuật ngữ chiến lược từ lĩnh vực quân sự là bởi vì giữa chúng

Phần Một

MỘT SỐ VẤN ĐỀ XUNG QUANH KHÁI NIỆM “CHIẾN LƯỢC”

Trang 9

đều cùng có nhu cầu về lựa chọn mục tiêu và xác định cách thức phối hợp hành động để đạt được mục tiêu, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế thế giới với vô số mục tiêu, cách thức và con đường phát triển khác nhau để mỗi quóc gia, mỗi tổ chức có thể xe xét, lựa chọn Những lựa chọn chiến lược này thường quyết định tương lai, tiền đồ của cả một dân tộc và quốc gia như trong thực tế đã cho thấy

Theo GS.Nguyễn Quang Thái: “Bất cứ làm việc lớn nhỏ gì, chúng ta đều cần có chiến lược phát triển tương ứng, làm rõ mục tiêu, giải pháp và cơ chế điều hành thực hiện chiến lược Việc xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển đất nước là công việc hệ trọng, có liên quan đến nhiều mặt của đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, ngoại giao, của đất nước.”2

Tuy nhiên thực tế cũng có quan điểm cho rằng chiến lược chỉ là cái “mốt” , viển vông, xa

xỉ và không nhất thiết phải dành quá nhiều công sức để xây dựng trong khi chỉ cần điều chỉnh kịp thời các trục trặc tức thời của hệ thống là có thể đảm bảo cho hệ thống tự vận hành theo xu thế vốn có của nó, nhất là khi hệ thống nói tới chỉ là một hệ thống con trong một hệ thống lớn hơn vốn đã và đang vận hành ổn định

Theo chúng tôi, khi bàn vê quan điểm này cần xét đến nguyên nhân sâu xa hơn đó là khả năng của chủ thể có thể tác động đến đâu, làm chủ đến đâu, phạm vi nào trong một đối tượng quản lý nhất định Nói rộng ra có nghĩa là khả năng làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ một đất nước, một địa phương, một vùng lãnh thổ, một tổ chức, một loại hoạt động xã hội nào đó của con người trong một giai đoạn lịch sử nhất định Rõ ràng, khả năng này không phải là vô hạn, và không chỉ tùy thuộc vào mong muốn chủ quan của con người Đôi khi chiến lược trở nên viển vông chính là bởi vì chủ thể xây dựng chiến lược

đã thoát ly hoặc không tính tới năng lực tác động và làm chủ các đối tượng quản lý của minh để rồi duy ý chí đưa ra những chiến lược viển vông chứ không phải vì bản thân chiến lược là một công cụ viển vông, vô ích Cho nên chiến lược có vai trò như thế nào, điều đó tùy thuộc vào cách mà nó được quan niệm và được xây dựng gắn với những điều kiện lịch sử cụ thể

II KHÁI NIỆM “ CHIẾN LƯỢC” HIỂU THEO THEO NGHĨA HẸP

Trong bài viết “Một số ý kiến về đề cương chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011-2020” nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh 3 đã định nghĩa chiến lược như sau:

2 Nguyễn Quang Thái, :Góp thêm tiếng nói "Đi tìm triết lý phát triển cho VN" 22:25 02/05/2007(VietNamNet)

3 Nguyễn Khánh (2007): Một số ý kiến về đề cương chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011-2020; trong

tập hợp bài viết “Bàn về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong thời kỳ mới” Bộ Kế hoạch và đầu tư xuất bản tại Hà Nội , tháng 9-2007; trang 4-10

Trang 10

“Chiến lược là sự bố trí tổng thể các nguồn lực, các giải pháp để đạt được mục đích – mục tiêu tổng quát do người lãnh đạo định ra” Ông viết: “Đối với người lãnh đạo ở cấp

vĩ mô, cấp quốc gia thì định ra được một cách chính xác mục tiêu tổng quát của sự phát triển đất nước là điều quan trọng nhất Khi đã có mục tiêu đúng rồi thì bất kỳ ở hoàn cảnh nào, thời điểm nào cũng phải có chiến lược đúng để đạt cho được mục tiêu; việc xây dựng chiến lược bao gồm cả bổ sung, điều chỉnh chiến lược, lúc nào cũng rất cần thiết, chứ không phải chỉ do những điều kiện mới và yêu cầu mới của đất nước ta hiện nay mà phải xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011-2020”

Có thể mọi người đều đồng ý với định nghĩa nêu trên của nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh, và không có ý kiến gì khác, nên trong quyển sách quan trọng tập hợp những ý kiến của những chuyên gia lớn của nước ta “Bàn về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong thời kỳ mới” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư xuất bản tại Hà Nội , tháng 9-2007, không có tác giả nào nêu ra một định nghĩa nào khác về chiến lược Theo định nghĩa trên, quá trình xây dựng văn bản chiến lược kinh tế - xã hội sẽ gồm các bước chính sau đây:

• Xác định một cách chính xác mục đích – mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011-2020;

• Bố trí tổng thể các nguồn lực, các giải pháp để đạt được mục đích – mục tiêu tổng quát đó;

• Tiến hành thường xuyên những bổ sung, điều chỉnh chiến lược trong quá trình thực hiện chiến lược

Một số tác giả khác lại cho rằng, nhiệm vụ của “Chiến lược” phải giải quyết cả ba vấn đề:

• Định rõ mục tiêu cần đạt tới

• Chí rõ con đường cần đi, và

• Hướng phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu đã lựa chọn

Điểm lại các tài liệu bàn về vấn đề này, tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau như: “chiến lược là chương trình hành động ” , là “ Tổ hợp các mục tiêu dài hạn và con đường để đạt tới các mục tiêu đặt ra”, v.v nhưng sự khác biệt chủ yếu thể hiện ở việc sắp xếp mối

quan hệ giữa ba yếu tố: mục tiêu, con đường và nguồn lực ( phương tiện)

Một số tác giả không đưa phần xác định mục tiêu vào nội dung của “Chiến lược” và coi

“Chiến lược” là “công cụ “, “phươg tiện”, “con đường”, “cách đi” để đạt tới mục tiêu đã

đặt ra Thí dụ, theo tác giả Nguyễn Khánh: “Chiến lược là sự bố trí tổng thể các nguồn lực,

Trang 11

các giải pháp để đạt được mục đích-mục tiêu tổng quát do người lãnh đạo đặt ra Và nội dung của chiến lược không đồng nhất với mục tiêu”4

Về mối quan hệ giữa “Mục tiêu” và“Chiến lược” (hiểu theo nghĩa hẹp), nhiều tác giả cho rằng “Mục tiêu” nhấn mạnh trạng thái cần đạt tới trong tương lai; còn “Chiến lược” là

quá trình đạt tới mục tiêu Trong trường hợp này, người ta phân ra ba trường hợp:

• Trường hợp thứ nhất: chiến lược lựa chọn hoàn toàn phù hợp với mục tiêu đặt ra

• Trường hợp thứ hai: không có đủ chiến lược để đạt mục tiêu đã lựa chọn

• Trường hợp thứ ba: có thừa nguồn lực để đạt mục tiêu, hoặc mục tiêu đề ra quá thấp so với khả năng vè nguồn lực

Điều quan trọng mà nhiều tác giả nhắc tới là trong nghiên cứu chiến lược, cho dù ở mức

“cân đối thô”, khi xác định “Mục tiêu” và “Chiến lược” (hiểu theo nghĩa hẹp) đều phải

ước tính thời gian và nguồn lực cần thiết để đạt được mục tiêu dự kiến Vì chỉ có như vậy

mới biết được khả năng hiện thực, “tính khả thi” của các lựa chọn “Chiến lược” Hay nói cách khác, chỉ sau khi xem xét kỹ mối quan hệ “Mục tiêu- Phương tiện” chúng ta mới biết được mục tiêu đặt ra có sát thực không, chiến lược lựa chọn có phù hợp không Và mỗi

khi các phương án cân đối nguồn lực không đáp ứng yêu cầu thì phải xem xét lại cả mục tiêu và chiến lược

Về tầm quan trọng của việc xác định “Mục tiêu” ngay cả các tác giả tách hai phần “Mục tiêu” và “Chiến lược” thành hai phần riêng biệt, cũng cho rằng việc làm rõ mục tiêu cần đạt có ý nghĩa vô cùng quan trọng Nếu thiếu mục tiêu hành động chung cho cả hệ thống, thì các phân hệ sẽ chạy theo các mục tiêu cục bộ của mình, và thậm chí, nhiều khi còn chống đối lẫn nhau, và không thể có được hành động thống nhất Mục tiêu thống nhất

cũng sẽ quy định tiêu chuẩn đánh giá tính hợp lý của hướng hành động lựa chọn, và thước

đo hiệu quả đạt được, và định hướng chung cho toàn bộ hoạt động của cả hệ thống

Nhiều tác giả cho rằng: Nếu xác định mục tiêu không đúng, hoặc sai lạc có nghĩa là chúng

ta đã chạy theo giải quyết một vấn đề đặt ra không “trúng” ngay từ đầu và điều đó sẽ dẫn tới sự phung phí nguồn lực Điều này còn nguy hiểm hơn so với trường hợp giải quyết không có hiệu quả một vấn đề được đặt ra đúng đắn

4Nguyễn Khánh (2007), Một số ý kiến về Đề cương chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2011-2020, in trong

sách “Bàn về chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam trong thời kỳ mới”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hà Nội,

2007.tháng 9-2007; trang 4-10

Trang 12

Như vậy có thể nhận xét rằng, cho đến nay, một cách truyền thống, trong giới nghiên cứu chiến lược ở nước ta, nội hàm khái niệm chiến lược chủ yếu mới chỉ được đưa vào và nhấn mạnh 3 yếu tố chủ yếu: 1) Mục tiêu; 2) Giải pháp và 3) Nguồn lực thực hiện Cần nói thêm rằng, thậm chí một số chiến lược được xậy dựng với quan niệm nội hàm của chiến lược chỉ bao gồm 2 yếu tố là mục tiêu và giải pháp, không đưa ra các nguồn lực thực hiện Ngoài ra có thể nói, hầu hết các chiến lược đều dựa trên một “định đề” rằng: nói đến chiến lược là nói đến và chỉ nói đến các mục tiêu dài hạn, giải pháp dài hạn Các mục tiêu

và giải pháp ở tầm trung hạn và ngắn hạn là đối tượng của các hoạt động quản lý khác không thuộc nội hàm của khái niệm chiến lược như xây dựng kế hoạch, quy hoạch, lộ trình, các chương trình và dự án Ở tầm dài hạn hơn, các dự báo và tầm nhìn cũng mặc nhiên được cho là nằm ngoài nội hàm của khái niệm chiến lược

III.KHÁI NIỆM “CHIẾN LƯỢC” HIỂU THEO NGHĨA RỘNG

Dựa vào quan niệm hẹp và khá máy móc như trên về chiến lược nên trong thực tế, quá trình xây dựng các chiến lược thường chỉ tập trung hoạch định các mục tiêu (đôi khi có thêm định hướng, nhiệm vụ), đưa ra giải pháp là xong Các khâu dự báo, xác định tầm nhìn, xây dựng quy hoạch, kế hoạch, lộ trình, chương trình dự án cụ thể được cho là không thuộc vào nội dung xây dựng chiến lược và trong thực tế không được tiến hành trong quá trình xây dựng chiến lược, có khi được tiến hành trước, có khi sau, thường nằm trong khuôn khổ các dự án khác nhau, do các cơ quan khác nhau tiến hành và không có gì đảm bảo và kiểm tra xem giữa các khâu này có gắn kết với nhau không và gắn kết với nhau như thế nào

Có thể nói, cho đến nay ở Việt Nam, trong giới quản lý và nghiên cứu, khái niệm chiến lược vẫn chủ yếu được hiểu một cách độc lập tuyến tính và cơ học như là một khâu trong chu trình quản lý đi từ dự báo, đến hoạch định chiến lược, cụ thể hóa chiến lược thành quy hoạch, kế hoạch, chương trình và các dự án cụ thể Trong đó tầm thời gian cho các chiến lược thường được xác định ít nhất là 10 năm và trên 10 năm Tính chất tuyến tính thể hiện

ở quan hệ tuần tự trong chu trình quản lý trước tiên phải đưa ra dự báo, sau đó dựa trên các dự báo để hoạch định chiến lược Sau khi có chiến lược rồi mới cụ thể hoá chiến lược thành quy hoạch, kế hoạch và các chương trình và dự án Hầu như không có các liên hệ ngược lại nghĩa là thông qua việc thực hiện các quy hoạch các chương trình và dự án để điều chỉnh lại các mục tiêu chiến lược ban đầu

Trong thực tế, việc xem xét, đánh giá, tổng kết việc thực hiện các chiến lược thường không mấy khi được tiến hành, hoặc nếu có tiến hành thì cũng chỉ diễn ra vào cuối kỳ chiến lược, thường là sau 10 năm và khá là hình thức Thông thường chỉ có các kế hoạch 5

Trang 13

năm, kế hoạch hằng năm, các chương trình và dự án cụ thể là được đưa ra xem xét, đánh giá và tổng kết Mối quan hệ giữa dự báo, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình

và dự án thường “đứt đoạn”, không tường minh hoặc không xác lập được Ngay cả khi các

kế hoạch 5 năm, kế hoạch hằng năm, các chương trình và dự án cụ thể được đưa ra xem xét, đánh giá và tổng kết thì cũng không liên hệ với chiến lược để điều chỉnh chiến lược

đã xác định Chính vì vậy, sự hiện diện của các chiến lược sau khi được phê duyệt hầu như không được nhận biết và chiến lược một khi đã được phê duyệt là xong, “nằm im bất động” và sẽ chỉ được nhắc đến trong tương lai 10, 15 năm năm sau khi bắt đầu xây dựng một chiến lược mới

Hiện trạng nêu trên cho thấy một thực tế là chiến lược sau khi được xây dựng thường có quá ít vai trò, tác dụng trong thực tiễn Trong khi đó, các hoạt động tác nghiệp trong quản

lý thì nổi lên hàng ngày gắn với các hoạt động thường xuyên của các dự án, các chương trình thì lại không thấy hoặc có liên quan rất ít đến chiến lược

Vấn đề đặt ra là nên lựa chọn một khái niệm chiến lược như thế nào để nó trở nên thiết thực, không xa vời và thật sự gắn kết với việc thực hiện các quy hoạch, kế hoạch, các chương trình, dự án và hoạt động tác nghiệp thường ngày trong quản lý KH&CN cũng như kinh tế-xã hội? Bởi vì chỉ có dựa trên một khái niệm tổng thể đủ rộng và bao quát về chiến lược, đưa các khâu có liên quan như quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án vào trong nội hàm của khái niệm chiến lược, thay vì đặt chúng ở bên ngoài chiến lược, bên cạnh chiến lược thì khi đó, quá trình xây dựng chiến lược mới có điều kiện cần thiết

để xác lập mối liên hệ hữu cơ và khăng khít, phi tuyến giữa chiến lược với các quy hoạch,

kế hoạch, chương trình và dự án

Do vậy, theo chúng tôi, để bảo đảm xác lập mối liên hệ qua lại giữa chiến lược với quy hoạch các chương trình và dự án có thể và nên quan niệm chiến lược bao gồm trong nó cả các dự báo, quy hoạch, kế hoạch, các chương trình và dự án cụ thể trong sự thống nhất và

phù hợp với các mục tiêu chiến lược Nói cách khác, một “chiến lược” nên được hiểu là

cả một “gói” tổng thể bao gồm cả các dự báo dài hạn, các mục tiêu, phương tiện và các nguồn lực được bố trí sử dụng theo các quy hoạch, kế hoạch trung hạn và ngắn hạn, các

lộ trình, chương trình, dự án cụ thể để nhằm đạt được các mục tiêu dài hạn đã xác định

Một quan niệm như vậy về chiến lược sẽ không tách rời chiến lược với các quy hoạch, kế hoạch ,các chương trình và dự án cụ thể ngắn hạn và trung hạn Người ta có thể nhìn vào các quy hoạch, kế hoạch, các chương trình và dự án cụ thể ngắn hạn và trung hạn để thấy được các mục tiêu đã đặt ra trong dài hạn là gì Nói cách khác, trong cái ngắn hạn có cái dài hạn và trong cái dài hạn có cái ngắn hạn Trong quy hoạch , kế hoạch, chương trình dự

Trang 14

án có sự hiện diện của chiến lược và trong một chiến lược phải thấy được các quy hoạch, các chương trình và dự án cụ thể để đạt tới các mục tiêu chiến lược dài hạn và thể hiện được các phương tiện và nguồn lực được bố trí để thực thi chiến lược dài hạn Theo quan niệm này, nếu một chiến lược được đề xuất mà không hoặc chưa rõ sẽ được thực hiện cụ thể thông qua các quy hoạch và kế hoạch, các chương trình và dự án nào thì coi như chưa

có chiến lược

Điều cần lưu ý ở đây là việc đưa các quy hoạch, kế hoạch, các chương trình và dự án cụ thể vào trong nội hàm khái niệm chiến lược không có nghĩa là đồng nhất, hay đánh đồng giữa chiến lược và các quy hoạch, kế hoạch, các chương trình và dự án cụ thể Không thể không đồng ý với quan điểm cho rằng mỗi một trong các công cụ, chiến lược hay các quy hoạch, kế hoạch, các chương trình và dự án cụ thể đều có những chức năng riêng của nó

Chúng tôi cũng đồng ý với quan điểm của tác giả Nguyễn Khánh rằng “nội dung của chiến lược không được trùng với quy hoạch và kế hoạch”5 Chiến lược có sứ mạng riêng của nó nhưng nó cũng không thể đứng riêng rẽ, độc lập và tách rơi với các quy hoạch, kế hoạch, các chương trình và dự án cụ thể Và khi nó độc lập với các hoạch, các chương trình và dự án cụ thể thì nó sẽ không thể có tác dụng thực tiễn nào Việc đưa các quy hoạch, kế hoạch, các chương trình và dự án cụ thể vào trong nội hàm khái niệm chiến lược là nhằm bảo đảm được tác động qua lại lần nhau giữa chiến lược và các các quy hoạch, kế hoạch, các chương trình và dự án cụ thể được xử lý và thông qua đó làm sống động thêm vai trò và ý nghĩa của chiến lược dài hạn trong các khoảng thời gian trung hạn, ngắn hạn cũng như là các hoạt động thực thi các chương trình, dự án, các kế họach và quy hoạch

Thật ra, nếu xét một cách khách quan thì việc hình thành các khái niệm chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các chương trình và dự án, cũng như là việc rạch ròi, phân biệt những khái niệm đó với nhau chỉ là sản phẩm chủ quan của con người Các hoạt động phát triển trong thực tiễn là một thực thể không chia cắt diễn ra theo những quy luật nội tại và vốn

có của nó Chính vì vậy, đã đến lúc cần đưa các bộ máy khái niệm của con người về càng gần với hiện thực khách quan thì càng tốt, nghĩa là khái niệm càng tổng thể bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu, càng bớt chia cắt bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu Đó cũng chính là lý do tại sao chúng tôi lựa chọn cách hiểu “chiến lược” theo nghĩa rộng và tổng thể nêu trên để

sử dụng cho đề tài này

5Nguyễn Khánh (2007), Một số ý kiến về Đề cương chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2011-2020, in trong

sách “Bàn về chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam trong thời kỳ mới”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hà Nội,

tháng 9-2007; trang 4-10

Trang 15

Khái niệm “Chiến lược” do vậy cần trước hết phải được quan niệm lại cho thiết thực như

là những ý đồ đang trong quá trình được triển khai trong thực tiễn sinh động hàng ngày chứ không phải chỉ là những văn bản với những câu chữ nằm “bất động” trên giấy mô tả

về một tương lai xa xôi không thấy sự hiện diện trong thực tại Một “chiến lược” phải bao gồm trong nó sự bao quát, kết nối hữu cơ, thống nhất giữa ý đồ (cái ta muốn) trong tương lai, cái ta sẽ làm trong trung hạn (các kế hoạch) và cái ta đang triển khai trong những hoạt động thường ngày của các chương trình và dự án (thậm chí cả những hoạt động diễn ra ngoài khuôn khổ của các chương trình và dự án) Như thế, hoạch định chiến lược không phải chỉ là một khâu, một công đoạn, một phân khúc nằm bên cạnh các khâu, các công đoạn và phân khúc khác trong quy trình quản lý được quan niệm một cách độc lập tuyến tính bắt đầu từ Cương lĩnh chính trị của Đảng cầm quyền (đường lối), chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển 5 năm và hằng năm Chiến lược nên được hiểu là phạm trù tổng thể bao quát tòan bộ các ý đồ, toàn bộ các cục diện và các diễn tiến của các ý đồ đó trong các hoạt động thực tiễn

Tại nhiều nước trong khối xã hội chủ nghĩa trước đây, trong đó có Việt Nam, tồn tại gần như một chuẩn mực nhận thức về “hệ thống các công cụ chính sách” bao gồm nhiều tầng nấc trong đó “chiến lược” luôn được quan niệm là các mục tiêu và giải pháp dài hạn được

cụ thể hoá từ Cương lĩnh chính trị của Đảng cầm quyền và trên cơ sở đó (chiến lược) người ta xác định đường lối, chính sách, kế hoạch phát triển 5 năm và hằng năm Đặc biệt, chiến lược được phân biệt với sách lược, theo nghĩa là đường lối cơ bản, lâu dài và tương đối ổn định Trong khi đó, sách lược là những giải pháp tình thế, trước mắt, có thể linh hoạt thay đổi tuỳ theo những biến động của tình hình thực tế Theo quan niệm này,

“chiến lược” phải ổn định, còn “sách lược” phải linh hoạt và không thể ngược lại Một quan niệm cứng nhắc và máy móc như vậy về chiến lược vô hình trung đã đặt vị trí và xác định vai trò của chiến lược chỉ là một công cụ trung gian nằm giữa cương lĩnh và các hành động thực tiễn chứ không phải là bản thân các hành động đang tiến hành trong thực tiễn

Chiến Lược Quy hoạch, Kế hoạch Chính Sách, Biện pháp

CLĩnh

- htrị

Trang 16

Quan niệm như vậy về chiến lược thực chất là đã tách rời chiến lược khỏi những vận động

và diễn biến sinh động thường ngày trong thực tiễn Một chiến lược hoạch định xong rồi chỉ tồn tại trên văn bản với những câu chữ mô tả về một tương lai xa xôi là hệ quả từ nguyên nhân coi “chiến lược” đồng nhất với các mục tiêu và giải pháp dài hạn được đặt ra chỉ cho tương lai Vấn đề đặt ra là tại sao lại tồn tại một hệ thống các công cụ chính sách với nhiều tầng nấc trung gian và quan hệ với nhau một cách máy móc như vậy? Liệu điều này có liên quan gì đến đặc tính của một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung theo đó hoạt động kinh tế-xã hội bị chia cắt thành các phân đoạn, phân ban, phòng ban để trở thành đối tượng quản lý của các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương bất kể khả năng liên kết và điều phối của chính quyền ở mỗi cấp? Và cách sắp đặt và tổ chức hoạt động kinh tế,

và cả KH&CN dựa trên giả định rằng chúng có thể và cần phải tối ưu nhất khi được chỉ huy từ một trung tâm? Có thể nói, bộ máy các khái niệm do con người xây dựng nên để làm công cụ nhận thức thế giới, nhưng trong thực tế đã trở thành rào cản các vận động khách quan của thực tiễn kể cả những hoạt động khách quan của chính bản thân con người Bản thân hiện thực và thực tiễn khách quan vận động không có chiến lược bởi vì chiến lược trước hết là sản phẩm chủ quan của con người, do con người lường định, sắp đặt và sử dụng để tác động đến thực tiễn theo những ý đồ nhất định

IV YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI MỘT CHIẾN LƯỢC

Qua phân tích các chiến lược đựơc coi là thành công trong thực tiễn ở nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, nhiều học giả đã chỉ ra một số yêu cầu quan trọng sau:

Thứ nhất: Mục tiêu của chiến lược dù định tính hay định lượng thì cũng phải rõ ràng,

tường minh có thể

• Mục tiêu đề ra phải đơn giản, tương thích/phù hợp, và dài hạn

• Phải hiểu thấu đáo môi trường bên ngoài, đặc biệt là môi trường cạnh tranh

• Phải đánh giá khách quan nguồn lực có được từ đó để tìm ra cách phát huy các thế

mạnh và khắc phục các mặt yếu

• Phải có được cơ chế chỉ đạo thực thi chiến lược thật sự có hiệu quả Nếu không

quan tâm tới khâu chỉ đạo thực thi chiến lược, thì ngay cả một chiến lược được coi

là “hay” cũng ít có tác dụng trong thực tiễn Hơn thế nữa, điều này cũng cần được

dự liệu ngay trong quá trình soạn thảo chiến lược, chứ không phải là công việc

“hậu chiến lược”

Đây được xem vừa là các yêu cầu, đòi hỏi cần đặt ra ngay trong quá trình phân tích, chọn lựa chiến lược, vừa là các tiêu chí để đánh giá mức độ thành công của một chiến lược

Trang 17

Với quan niệm và yêu cầu như trên về chiến lược, quá trình xây dựng chiến lược phải bao gồm và bắt đầu bằng hoạt động dự báo, xác định tầm nhìn dài hạn và mục tiêu dài hạn, đưa ra các giải pháp, chính sách thực thi bằng các nguồn lực được bố trí hợp lý theo các quy hoạch, kế hoạch và thông qua lộ trình thực hiện với các chương trinh, dự án cụ thể Quá trình làm chiến lược theo quan niệm nêu trên không kết thúc sau khi Văn bản chiến lược được phê duyệt mà vẫn phải tiếp tục được cụ thể hóa thành các quy hoạch, kế hoạch, lộ trình, các chương trình và dự án cụ thể, đồng thời điều chỉnh mục tiêu và giải pháp cho phù hợp với những biến động của tình hình trong thực tiễn

Tóm lại, theo chúng tôi, khái niệm “chiến lược” như một công cụ định hướng và quản lý

các hoạt động thực tiễn ở tầm quốc gia nên được xác định là một gói tổng thể bao gồm cả các dự báo, tầm nhìn, các mục tiêu, giải pháp dài hạn, các nguồn lực được bố trí trong các quy hoạch, kế hoạch, các chương trình, dự án cụ thể theo một lộ trình thống nhất giữa mục tiêu và phương tiện, giữa các tầm dài hạn, trung hạn và ngắn hạn, giữa tổng thể và bộ

phận, giữa ngành và vùng Chiến lược không chỉ là những mục tiêu và giải pháp dài hạn trong tương lai mà còn phải bao gồm cả các quy hoạch, kế hoạch trung hạn, ngắn hạn

thực hiện các mục tiêu dài hạn Nếu một chiến lược dài hạn, một kế hoạch tổng thể mà

không được cụ thể hoá và xác lập được các liên hệ với các lộ trình thực thi theo thời gian

và các nguồn lực bảo đảm thì sẽ chủ quan, vô căn cứ và không có giá trị trong chỉ đạo

thực tiễn Như thế, về thực chất, một chiến lược phải bao gồm lộ trình và các giải pháp

huy động nguồn lực và cách thức tổ chức phối hợp sử dụng các nguồn lực để đạt các mục

tiêu cụ thể theo từng chặng thời gian trong lộ trình đã vạch ra Việc thiếu các lộ trình cụ

thể, các nguồn lực đảm bảo và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành và tác nhân có liên quan trong thực hiện các mục tiêu chiến lược đặt ra xuất phát từ quan niệm tuyến tính về chiến lược đang là vấn đề đặt ra cần khắc phục trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam 2011-2020 Chiến lược không chỉ là những mục tiêu và giải pháp dài hạn mà còn bao gồm cả những mục tiêu, giải pháp trung hạn và ngắn hạn trong sự thống nhất và liên thuộc lẫn nhau; Chiến lược không chỉ bao quát toàn cục mà còn nhấn mạnh một số diện và điểm ưu tiên, nổi trội; Chiến lược nên được quan niệm như một thiết

kế tổng thể (master plan) bao gồm trong đó: (1) mục tiêu; (2) giải pháp, nguồn lực, lộ

trình, kế hoạch, các chương trình và dự án ngắn hạn, trung hạn để đạt các mục tiêu dài hạn

đã đặt ra; (3) Cơ chế điều chỉnh các mục tiêu và giải pháp cho phù hợp với những biến động của tình hình thực tiễn

Trang 18

Việc lựa chọn các khái niệm về “Chiến lược”, “KH&CN”, “Chiến lược KH&CN”, phương pháp và quy trình tổ chức xây dựng chiến lược phát triển KH&CN của một quốc gia một mặt cần phải được luận cứ bằng những cơ sở lý thuyết nhất định đã được khái quát Mặt khác sự phát triển của khoa học và công nghệ trên thế giới cho đến nay cũng đã cung cấp nhiều lý thuyết khác nhau có thể sử dụng để soi sáng và luận cứ cho các lựa chọn khái niệm, phương pháp và quy trình tổ chức xây dựng chiến lược KH&CN Trong phần này, Đề tài sẽ trình bày một số lý thuyết có liên quan sử dụng để luận cứ cho các đề xuất

và khuyến nghị về khái niệm, phương pháp và quy trình tổ chức xây dựng Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020

I LÝ THUYẾT PHỨC TẠP VÀ HỒN ĐỘN

Suy cho cùng, tất cả các chiến lược dù là chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, chiến lược phát triển bền vững, chiến lược an ninh- quốc phòng, hay chiến lược phát triển KH&CN thì đặc điểm của bản thân các đối tượng mà chiến lược sẽ tác động đến sẽ quyết định phần lớn cách thức, phương pháp và quy trình tổ chức xây dựng một chiến lược phù hợp Trong những thập niên gần đây, nhận thức khoa học của loài người về tự nhiên, xã hội và tư duy

đã chuyển sang một mô thức mới (Paradigm), theo đó bên cạnh các phương pháp chia cắt các đối tượng nghiên cứu, phân đoạn các quá trình biến đổi của hiện thực toàn vẹn thành các “mẩu hiện thực”, các “đoạn quy trình” để tìm hiểu bản chất của hiện thực, mô tả hiện thực như những đối tượng có cấu trúc trật tự có chủ ý và nhân tạo, người ta đã bắt đầu một “Khoa học mới (New Science)” theo nghĩa thừa nhận và tôn trọng tính tổng thể, toàn vẹn, các quan hệ hữu cơ, phi tuyến , có khả năng tự tiến hóa, tự tổ chức của các đối tương nghiên cứu (dù là tự nhiên hay xã hội) vốn rất phức tạp, hỗn độn và không thể chia cắt Ngày nay, con người khó có thể điều khiển các đối tượng phức tạp như vậy bằng chiến lược nếu không tính đến “thế giới quan” của khoa học về cái phức tạp

1 Bản chất và nội dung của lý thuyết phức tạp

Lý thuyết Phức tạp (Complexity Theory) và Lý thuyết Hỗn độn (Chaos Theory: một nhánh của Lý thuyết Phức tạp) nghiên cứu các hệ thống phức tạp đến nỗi không thể dự báo một cách chính xác được tương lai của chúng, tuy nhiên chúng lại lại ẩn chứa những

mô thức (patterns) giúp chúng ta đương đầu với một thế giới ngày càng phức tạp

Phần Hai

MỘT SỐ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN KHÁI NIỆM, PHƯƠNG PHÁP VÀ QUY TRÌNH TỔ CHỨC XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KH&CN

Trang 19

Khoa học thực nghiệm thường xem xét thế giới bằng cách phân chia nó thành những mảnh ngày càng nhỏ hơn cho tới khi những mảnh này vẫn còn có thể hiểu được Sử dụng cách tiếp cận này, chúng ta đã bỏ qua bức tranh toàn cảnh to lớn Chúng ta có thể biết được mỗi con kiến cá thể nhưng không biết về hoạt động của cả tổ kiến Mổ xẻ một con chuột chẳng cho ta biết được gì về một con chuột sống Đôi khi các tương tác của các bộ phận lại trở thành mấu chốt để hiểu toàn bộ hệ thống Đây chính là nội dung nghiên cứu của Lý thuyết Phức tạp (LTPT) LTPT thích hợp cho nghiên cứu hàng loạt vấn đề, từ phân luồng giao thông, mạng lưới hàng không, động đất tới các vấn đề kinh tế-xã hội như thị trường chứng khoán, quy hoạch đô thị, sự phát triển của các hệ sinh thái, v.v.đặc biệt là khi cần đưa ra chiến lược để điều khiển các hệ thống mà về bản chất là phức tạp

LTPT và Hỗn độn là những khoa học mới, chúng chỉ thực sự phát triển từ sau khi ra đời những thế hệ máy tính có thể đảm nhiệm một khối lượng tính toán khổng lồ cần thiết để khám phá những bí mật của sự phức tạp Giáo sư Stephen Hawking cũng như nhiều nhà khoa học khác, đã khẳng định: “Thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của Lý thuyết Phức tạp” Bên cạnh

đó, LTPT đã góp phần tạo nên một mô thức tư duy mới, tư duy hệ thống, bổ sung cho những khiếm khuyết của mô thức tư duy cũ, tư duy cơ giới và tất định của các thế kỷ trước

LTPT hoặc nói cách khác, Khoa học hệ thống hiện đại, có thể sẽ không cho ta nhiều hiểu biết dưới dạng các định lý được chứng minh chặt chẽ một cách duy lý, nhưng kết hợp các nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn sẽ cung cấp cho con người một cách tiếp cận mới phù hợp với cuộc sống hiện đại, đặc biệt trong việc tìm lời giải cho các bài toán bí ẩn về vũ trụ, tự nhiên, sự sống, trí tuệ, về quan hệ giữa vật chất và tinh thần, và đặc biệt là trong quản lý các hoạt động thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng sống của bản thân con người, phát triển các công cụ quản lý kinh tế và xã hội năng động và sáng tạo phục vụ hạnh phúc của con người Đây là một lĩnh vực khoa học mới, như một số nhà khoa học đã nói, nó có thể thay đổi cuộc sống của chúng ta giống như những khám phá của Michael Faraday về điện và các tính chất của nó

2 Vài nét về lịch sử phát triển và nội dung của LTPT

Mặc dù phần lớn các kết quả của LTPT mới được phát triển khoảng 30 năm trở lại đây nhưng đã có những nhà khoa học soi sáng con đường mà nay chúng ta đang phát triển trong lĩnh vực nghiên cứu về LTPT Xin điểm lại một số nét về lịch sử phát triển cùng với những nhà khoa học đã có những cống hiến đánh dấu các mốc phát triển trong lĩnh vực khoa học này6

6 A History of Chaos and Complexity; http://complexity.orconhosting.net.nz/history.html

Trang 20

Năm 1870, Nhà vua Thụy điển đã công bố một cuộc thi toán học, cấp giải thưởng cho người giải được bài toán 3 vật thể Khi có 2 thiên thể, một thiên thể quay quanh một thiên thể khác, ta chỉ cần dùng định luật Newton về chuyển động để hiểu được và dự báo chuyển động của chúng Thêm vào vật thể thức ba: một vật thể quay quanh vật thể trung tâm, còn một vật thể thứ ba lại quay quanh nó; giống như trường hợp mặt trăng, trái đất và mặt trời trong thái dương hệ Bài toán trở nên phức tạp và định luật Newton không đủ để đưa ra lời giải chính xác Henri Poincare (1854-1912) đã chứng minh rằng bài toán 3 vật thể là không giải được Khi trái đất chuyển động, nó thay đổi khoảng cách với những vật thể còn lại và lực hấp dẫn đã thay đổi Tương tác giữa 3 vật thể phức tạp đến nỗi các phép tính đều thất bại Và nếu chúng ta đã không thể tính toán được chuyển động của 3 vật thể, thì làm sao có thể dự báo được kết quả của các hệ thống mà chúng ta gặp gỡ hàng ngày với hàng triệu, hàng tỷ bộ phận tương tác với nhau, thí dụ hệ thống đổi mới của một vùng, một quốc gia?

Trong những năm 1940, lĩnh vực Điều khiển học (Cybernetics) đã phát triển, Louis Kauffmann, chủ tịch Hiệp hội Hoa Kỳ về Điều khiển học (American Society for Cybernetics) đã định nghĩa: “Điều khiển học là lĩnh vực nghiên cứu các hệ thống và các quá trình tương tác với nhau và sản sinh ra nhau” Điều khiển học đã liên kết nhiều lĩnh vực nghiên cứu từ các hệ thống điều khiển tới lý thuyết mạng điện, sinh học tiến hóa Norbert Wiener và W Ross Ashby là những người tiên phong quan trọng trong lĩnh vực Điều khiển học John van Neumann cũng đã là người có nhiều ảnh hưởng trong những nghiên cứu ban đầu về các hệ tự động (automata) tế bào Điều khiển học đã phát triển và tàn lụi dần trong nhiều năm Từ khi nó liên kết được nhiều lĩnh vực kiến thức, nó đã trở nên mạnh mẽ bởi những lĩnh vực đang phát triển LTPT là một trong những ngành khoa học lấy cảm hứng từ đó, nhưng nó đã tiếp tục phát triển theo hướng riêng của mình

Ludwig van Bertalanffy là một trong những người đầu tiên đã thúc đẩy Lý thuyết Hệ thống tổng quát (General Systems Theory) đã phát triển cùng vào thời gian đó Ông nhấn mạnh rằng hệ thống đóng truyền thống không thể giải thích được các dạng hệ thống trong thế giới của chúng ta Tác phẩm của ông đã ảnh hưởng tới Điều khiển học và dẫn tới công trình về các hệ thống tiêu tán (dissipative systems) Lý thuyết Hệ thống Tổng quát đã nhấn mạnh tính toàn thể (holism) hơn là tính quy giản (reductionism) và tính tổ chức (organism) hơn là tính cơ giới (mechanism) Van Bertalanffy đã xem công trình của mình đặc biệt thích hợp đối với các hệ thống xã hội và đã được sử dụng trong các lĩnh vực nhân chủng học, kinh tế học, khoa học chính trị và tâm lý học Margaret Mead và Gregory Bateson đã

hỗ trợ phát triển Lý thuyết Hệ thống Tổng quát trong các khoa học xã hội

Trong những năm 1960, nhà thiên văn học Ed Lorenz dùng máy tính để chạy một chương trình mô phỏng thời tiết Một hôm khi muốn vội vàng cho xong việc, ông đặt máy tính quy

Trang 21

tròn các con số tính được để có thể tìm thấy kết quả sớm hơn Ông hy vọng rằng việc quy tròn số sẽ có ít hoặc không ảnh hưởng gì đến kết quả cuối cùng Tuy nhiên thật ngạc nhiên

là kết quả cuối cùng lại rất khác biệt Ông thấy rằng những thay đổi nhỏ trạng thái của hệ thống có thể gây ra những thay đổi to lớn ở đầu ra cuối cùng (tính nhạy cảm với điều kiện ban đầu- sensitivity to initial conditions) Chúng ta thường quen với ý nghĩ rằng những thay đổi lớn cần những lực lượng mạnh Hiện tượng trên thường được phát biểu một cách

hình tượng rằng (tuy có cường điệu ít nhiều) “một cánh bướm vẫy ở Hồng Kông có thể gây ra bão tố ở Texas” hoặc như cách nói dân gian ở Việt Nam: “sai một ly, đi một dặm”

Bức tranh trên là mô tả toán học của tập hút (attractor) mà ông tìm được khi khảo sát thời tiết và được gọi tên là tập hút cánh bướm hay tập hút Lorenz (butterfly attractor/ Lorenz attractor)

Nếu như những thay đổi nhỏ trong điều kiện ban đầu của một hệ thống phức tạp có thể làm thay đổi rất lớn kết quả cuối cùng, thì việc dự báo thời tiết dài hạn là không thể làm được vì không có cách nào đo đạc và mô tả thời tiết một cách hoàn hảo tại bất cứ thời điểm nào Luôn luôn tồn tại một mức chính xác hơn cần phải đo

Trong những năm đầu thập niên 1970, Robert May nghiên cứu về tốc độ sinh trưởng của sâu bọ thay đổi theo mức cung cấp thức ăn và đã đi tới kết quả tương tự như của Ed Lorenz Ông thấy rằng tại những giá trị tới hạn, hệ thống có hai lần lâu hơn để quay lại tình trạng ổn định Sau nhiều chu kỳ gấp đôi như thế, hệ thống trở nên không thể dự báo

được Sự gấp đôi chu kỳ là một khái niệm quan trọng trong nhiều ngành của LTPT

Vào năm 1971, David Ruelle và Floris Takens đã phát hiện được những tập hút lạ (cũng được coi là các tập hút hỗn độn- chaotic attractors) Họ đã chiếu chúng lên một không gian pha với mỗi chiều ứng với một biến của hệ thống Điều này cho phép ánh xạ một cách chính xác một hệ thống và động học (dynamics) của nó

Illya Prigogine đã nghiên cứu trong lĩnh vực các hệ thống tiêu tán (dissipative systems) Ông đã nhận giải Nobel về lĩnh vực này Một hệ thống tiêu tán là một hệ thống duy trì hình dạng hiện hành hoặc đồng nhất vì có một dòng năng lượng chảy qua hệ thống Cơ thể chúng ta là một hệ tiêu tán bởi vì nó được duy trì bởi một số dòng năng lượng, chẳng hạn như thực phẩm, nước, không khí và cả những kích thích của môi trường và các quá trình nhận thức Những hệ thống tiêu tán hoạt động cách xa với trạng thái cân bằng và không tại một điểm cân bằng như người ta vẫn nghĩ Prigogine đã tìm thấy những hệ thống tiêu tán hóa tính có ứng xử kỳ lạ chẳng hạn như thay đổi hóa học màu sắc một cách nhịp nhàng Làm thế nào mà các phân tử trong hỗn hợp biết được khi nào thì cần thay đổi màu? Mitchel Feigenbaum, vào cuối thập niên 1970, đã phát hiện sự gấp đôi chu kỳ (period

Trang 22

doubling) Theo Ông đây là cách thông thường để trật tự biến thành hỗn độn Ông đã tìm được những tỷ lệ tuần hoàn trong việc nhân đôi chu kỳ, ngày nay gọi là các số Feigenbaum (Feigenbaum Numbers) Chẳng hạn, các số Feigenbaum cũng được tìm thấy trong việc nhân đôi chu kỳ dẫn tới các cơn đau tim

Rene Thom đã phát triển Lý thuyết Tai biến (Catastrophe Theory) dựa trên việc nghiên cứu cách thức một hệ thống phức tạp chia đôi hoặc rẽ nhánh Hệ thống đó sẽ đạt tới điểm tới hạn (critical point) qua việc gấp đôi chu kỳ và phải hoặc sụp đổ thành hỗn độn hoặc tự

tổ chức lại để đạt tới một mức độ phức tạp mới R Thom đã khảo sát sự nhảy vọt biến thành hỗn độn và hoàn cảnh xảy ra điều đó.Santa Fe Institute (SFI) được thành lập năm

1984 đóng tại Santa Fe, bang New Mexico, Hoa Kỳ, là một trung tâm nghiên cứu và giáo dục tư nhân, độc lập, cho tới nay vẫn đi tiên phong trong những nghiên cứu về hỗn độn và phức tạp7 Hai trong các thành viên nổi tiếng của viện là:

• Chris Langton nghiên cứu nhiều về Biên của hỗn độn (the Edge of Chaos), đó là điểm mà các hệ thống vẫn có đủ trật tự để duy trì hiện trạng, đồng thời cũng đủ hỗn độn cho phép đổi mới và tiến hóa Tại đó, quá trình tự tổ chức và tính hợp trội có thể xuất hiện; và

• Stuart Kauffman nghiên cứu các mạng lưới liên kết tạo thành những chương trình máy tính nhỏ Khi chúng tương tác với nhau trong mạng lưới, xuất hiện nhiều kết quả bất ngờ Thường thì có thể dự báo chúng một cách có căn cứ Tuy nhiên tại các mức tới hạn, các hệ thống sẽ tối ưu hóa hiệu quả của chúng thông qua việc cùng thích nghi Công trình của ông đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực sinh học tiến hóa

Một số lĩnh vực nghiên cứu khác liên quan: Nghiên cứu tính hệ thống phức tạp dựa trên những mô phỏng (simulations) toán học về hiện trạng của thế giới thực, sử dụng các kỹ thuật chẳng hạn như các thuật toán di truyền học

Với những nét chính nêu trên, có thể nhận thấy rằng LTPT là lĩnh vực nghiên cứu những đặc tính chung của các hệ thống được coi là phức tạp trong tự nhiên, xã hội và khoa học Hiện tại nó được gọi bằng nhiều tên khác nhau như: Lý thuyết các hệ thống phức tạp, khoa học về tính phức tạp, v.v Vấn đề chủ yếu gặp phải khi nghiên cứu các hệ thống phức tạp

là rất khó mô phỏng và mô hình hóa các tương tác vốn rất đa tạp trong chúng

Có thể thấy lĩnh vực khoa học này được xem xét trong những ngữ cảnh riêng biệt và hiện nay chưa có sự đồng thuận về một định nghĩa tổng quát cho các hệ thống phức tạp LTPT

Trang 23

vẫn đang tiếp tục phát triển, tuy chậm chạp nhưng chắc chắn đang hòa vào với dòng nghiên cứu khoa học chính thống với nhiều lĩnh vực nghiên cứu mới đang mở ra

Nghiên cứu các hệ thống phức tạp đang mang lại sức sống mới cho nhiều lĩnh vực khoa học khi mà chiến lược giản quy, điển hình của cách tư duy khoa học cũ, ngày càng tỏ ra khiếm khuyết Các hệ thống phức tạp, do đó, thường được dùng như một thuật ngữ rộng bao quát một cách tiếp cận nghiên cứu những vấn đề trong nhiều bộ môn khoa học khác nhau bao gồm các khoa học về thần kinh, các khoa học xã hội, thiên văn học, hóa học, vật

lý, khoa học tính toán, tâm lý học, cuộc sống nhân tạo (artificial life), tính toán quá trình tiến hóa (evolutionary computation), kinh tế học, dự báo động đất, sinh học phân tử và những nghiên cứu về bản chất của chính các tế bào sống Xã hội loài người (và có thể cả

bộ não con người) là những hệ thống phức tạp trong đó cả các thành phần lẫn những ghép nối chúng đều không đơn giản

3 Lý thuyết phức tạp và tư duy hệ thống

LTPT cùng với những thành tựu khoa học mới, đăc biệt là những thành tựu sau đây, khám phá ra tính giới hạn của nhận thức con người8 , đã tạo điều kiện hình thành và khuyến khích một phương pháp tư duy mới, tư duy hệ thống LTPT đã mang lại sức sống mới cho nhiều lĩnh vực khoa học mà phương pháp tư duy cũ tỏ ra khiếm khuyết, đó là những khuôn khổ tư duy cơ giới, giản quy (reductionism), tất định, tuyến tính

• Thuyết tương đối Einstein với những quan niệm hoàn toàn mới về không gian, thời

gian và hấp dẫn;

• Nguyên lý bất định Heisenberg đặt ra giới hạn không thể vượt qua trong việc khảo

sát vũ trụ bằng quan sát;

• Định lý bất toàn (còn gọi là Bổ dề) Godel chỉ ra giới hạn của nhận thức toán học:

trong một hệ tiên đề hình thức bất kỳ, như toán học hiện hành, luôn tồn tại những bài toán mà ta không thể thừa nhận hay bác bỏ chỉ dựa trên hệ tiên đề đã cho;

• Lý thuyết hỗn độn, cho rằng các hệ thống tất định, chẳng hạn định luật hai Newton, cũng có thể cho kết quả không tất định Một thăng giáng rất nhỏ lối vào có thể dẫn tới những thay đổi rất lớn ở đầu ra Đó là lý do dự báo thời tiết không thể

chính xác, cho dù đã biết mọi qui luật của cơ học chất lưu;

• Lý thuyết đa vũ trụ: giả thuyết về những vũ trụ song song hay đa vũ trụ (multiverse), đối ngược với quan niệm đơn vũ trụ thông thường (universe) Toàn thể vũ trụ giống như những bong bóng xà phòng, mỗi bong bóng là một vũ trụ với

8 Đỗ Kiên Cường- Giới hạn của nhận thức- (Tạp chí Tia Sáng);

http://www.avsnonline.net/forum/viewtopic.php?p=100804

Trang 24

hệ qui luật riêng; tình cờ trong vô vàn các bong bóng đó, có một bong bóng phù hợp với sự sống Nếu biết rằng các bong bóng vũ trụ không thể liên lạc với nhau, sẽ hiểu cái giới hạn về nguyên lý mà lý thuyết đa vũ trụ đặt ra đối với khả năng nhận thức Chúng ta chỉ là những sinh linh nhỏ bé trong một bong bóng đang cố tìm hiểu luật chơi Một cố gắng thật đáng ngưỡng mộ, nhưng cũng thật đáng thất vọng;

GS.TS Phan Đình Diệu đã công bố 2 bài viết lý giải tường tận và sâu sắc những đặc điểm của tư duy hệ thống và nhu cầu bức thiết phải đổi mới tư duy trong khoa học cũng như trong giải quyết những vấn đề của cuộc sống hiện đại; nhất là những vấn đề thuộc về chính trị, kinh tế, xã hội 9, 10

Chúng tôi xin nêu ra ở đây những đặc điểm của tư duy hệ thống do Giáo sư Phan Đình Diệu tóm lược trong các bài viết trên

(1) Ðặc điểm chủ yếu của tư duy hệ thống là ở cách nhìn toàn thể và do cách nhìn toàn thể

mà thấy được những thuộc tính hợp trội (emergence) của hệ thống Các thuộc tính hợp trội

là của toàn thể mà từng thành phần không thể có… Hợp trội là sản phẩm của tương tác, qua tương tác mà có cộng hưởng tạo nên những giá trị cao hơn tổng gộp (aggregation) đơn giản các giá trị của các thành phần Ðể tạo nên được những thuộc tính hợp trội có chất lượng cao của hệ thống, thì phải can thiệp vào các quan hệ tương tác, chứ không phải vào hành động của các thành phần Ðồng thời cũng cần chú ý là trong tiến hoá, qua việc tham gia tương tác các thành phần góp phần tạo nên những tính chất hợp trội của hệ thống, nhưng mặt khác, chính những tính chất hợp trội đó của hệ thống cũng làm tăng thêm phẩm chất của các thành phần

Trong các hệ thống thực tế, có nhiều loại tương tác khác nhau, có những tương tác qua trao đổi vật chất và năng lượng như trong các hệ vật lý, có những tương tác chủ yếu là qua trao đổi thông tin (và tri thức) như trong các hệ văn hoá - xã hội ; các tương tác phải được

mô tả bằng một thứ ngôn ngữ nào đó, như các mô hình toán học, mô hình lôgích, mô hình thông tin và cybernetics (với các quan hệ vào-ra và các vòng phản hồi), mô hình văn hoá -

xã hội (với các quan hệ được mô tả một cách định tính), v.v Hệ thống có các tương tác bên trong, nhưng khác với các hệ kín thường được xét đến trong cơ học và vật lý, các hệ thống thực tế trong sinh học, sinh thái, kinh tế và xã hội hầu hết là các hệ mở, nghĩa là có các tương tác với bên ngoài, với môi trường Hành vi của một hệ mở chỉ có thể hiểu trong bối cảnh các tương tác với môi trường đó Ðể "quản lý" một hệ thống phát triển, điều hết

9 Phan Đình Diệu- Tư duy hệ thống và đổi mới tư duy; Tạp chí Thời đại mới số 6 năm 2002; trang 89-118;

http://www.tapchithoidai.org/Thoidai06.htm

10 Phan Đình Diệu- Góp vài suy nghĩ để cùng tư duy tiếp tục về đổi mới (và vài điều bàn thêm); Thời đại mới số 6,

Trang 25

sức quan trọng là phải hiểu được các mối tương tác với môi trường, và cần nhớ rằng trong môi trường có những yếu tố ta điều khiển được, nhưng có rất nhiều yếu tố mà ta không thể điều khiển được

Thí dụ, trong tự nhiên, cho đến nay hiểu biết của chúng ta về quá trình tiến hóa của sự sống từ các đơn bào đến đa bào chịu tác động như thế nào của môi trường tự nhiên vẫn còn rất hạn chế Sự khó khăn của các nhà sinh học hiện giờ là làm sao lý giải: 1) cách thức một quần thể tế bào trở thành một thực thể thống nhất có khả năng tự sinh sản, hay 2) cơ chế tiến hóa và đặc tính chọn lọc tự nhiên đã thay đổi như thế nào giữa mức độ tổ chức của thực thể đơn lẻ và của một nhóm các thực thể thống nhất11

Tài năng của người lãnh đạo hay quản lý là ở chỗ trên cơ sở những hiểu biết tích luỹ được

mà điều khiển tốt những gì điều khiển được, gây ảnh hưởng đến những gì mà mình không điều khiển được, và cố cảm nhận những gì mà mình cũng không gây ảnh hưởng được Một bản chiến lược cũng vậy, nó cần thể hiện được rõ ràng phương hướng và cách thức nó

sẽ điều khiển và tác động tới những gì có thể điều khiển được thuộc đối tượng của chiến lược và cố gắng, có biện pháp lường trước những diễn biến, những kết cục mà chiến lược không thể tác động được, nằm ngoài khả năng điều khiển hoặc tác động của chiến lược

(2) Tính có mục tiêu cũng là một đặc điểm rất quan trong của các hệ thống phức tạp Có mục tiêu, chứ không phải có mục tiêu biết trước, được xác định từ đầu Có thể có một mục tiêu, mà cũng có thể có nhiều mục tiêu đồng thời Vì hệ là mở, hoạt động trong môi trường, nên muốn đạt mục tiêu của mình cũng cần biết mục tiêu của người, của các đối

tác Biết để cố "gây ảnh hưởng đến những gì mà mình không điều khiển được" Mục tiêu

của đối tác, nói dễ hiểu, là cái mà đối tác thích Mà cái thích của con người thì không phải bao giờ cũng dễ hiểu Có cái thích hợp lẽ, ta có thể hiểu bằng những suy luận duy lý Có những cái thích theo cảm hứng, lại có những cái thích theo thị hiếu phù hợp với một văn hoá nào đó, ta không thể dùng lý lẽ lôgích mà hiểu được Không thể áp đặt cái thích của mình cho người, không thể suy bụng ta ra bụng người; mà phải bằng trực cảm tế nhị và nghiên cứu công phu để hiểu được cái lẽ tại sao mà họ làm những việc họ làm, họ thích những cái họ thích, từ đó cảm nhận được lý do mục tiêu của những đối tác trong môi trường, rồi tuỳ đó mà xác định các giải pháp thích nghi của mình Các lý thuyết điều khiển tối ưu, lý thuyết trò chơi, thích hợp cho một số lớp các hệ có mục tiêu khá đơn giản; ngày nay, "điều khiển" trong các hệ thích nghi phức tạp với nhiều tác tử (agents) là một loại bài toán rất có ý nghĩa thời sự, nhưng khó được giải quyết chỉ bằng các phương pháp hình thức, và sẽ cần nhiều cách tiếp cận mới để nghiên cứu

11 Theo Paul B Rainey (2007) Evolution, Unity from conflict, Nature, Sinh học Việt Nam

Trang 26

(3) Tính đa chiều (multidimensionality), hay cũng gọi là đa thứ nguyên, là một đặc điểm cốt yếu của tư duy hệ thống Trong thế giới mà ta đang sống, trong các hệ thống của tự nhiên và xã hội luôn luôn tồn tại những khuynh hướng đối lập nhau, những xu thế trái ngược nhau; có những đối lập dẫn đến đối kháng cực đoan đòi hỏi một mất một còn, nhưng đó không phải là phổ biến, mà phổ biến là các khuynh hướng đối lập không loại trừ nhau, chung sống và tương tác với nhau bằng đấu tranh và thoả hiệp, tạo nên một quan hệ

bổ sung, một trạng thái mới với những chất lượng mới cho phát triển Lão tử viết trong

Ðạo đức kinh: "thiên hạ đều biết tốt là tốt, thì đã có xấu rồi ; đều biết lành là lành, thì đã

có cái chẳng lành rồi ; Bởi vậy, có với không cùng sanh, khó và dễ cùng thành, dài và ngắn cùng hình, cao và thấp cùng chiều, "

Phép biện chứng và tư duy hệ thống nói rõ hơn, không chỉ về cái lẽ cùng tồn tại của các thuộc tính đối lập, mà còn cả về sự tương tác của các mặt đối lập, sự chuyển hoá giữa các mặt đó với nhau, để sáng tạo nên những chất lượng cao hơn trong quá trình phát triển của

các hệ thống Theo nhà điều khiển học Ackoff, "các phần không chấp nhận được riêng rẽ

có thể tạo nên một toàn thể chấp nhận được" Chẳng hạn, riêng kỷ luật hay riêng tự do

không tạo thành một xã hội tốt, nhưng trong một xã hội lành mạnh, vừa có kỷ luật, vừa có

Cả hai đều cần thiết và bổ sung cho nhau để sáng tạo nên những chất lượng phong phú mới của cuộc sống

Ða chiều cũng là một cách nhìn nhiều mặt, nhiều cấp độ khi tìm hiểu các hệ thống Một lý thuyết về một loại hệ thống nào đó bao giờ cũng phản ánh một cách hiểu nhất định về từng

mặt và từng cấp độ khi xem xét nó Cần hết sức tránh việc áp đặt một lý thuyết cụ thể nào xem là chân lý tuyệt đối về các hệ thống đó, mà nên xem mỗi lý thuyết đều có những giới hạn giải thích nhất định Ðặc biệt, đối với các hệ thống kinh tế và xã hội, nhiều lý thuyết

trước đây được xây dựng theo các mô hình cơ giới, tất định, đã không còn thích hợp với

sự phát triển hiện đại, cần được xem xét lại theo quan điểm đa chiều nói trên

(4) Các hệ thống phức tạp đều có những quan hệ phi tuyến Nếu hệ thống có mô hình toán học, thì trong mô hình đó có những quan hệ toán học không tuyến tính được định nghĩa

Trang 27

một cách chính xác, còn nếu không có mô hình toán học thì ta có thể hiểu phi tuyến là những quan hệ không có sự phụ thuộc đều đặn giữa các thay đổi của nguyên nhân và của

hệ quả Tính phi tuyến là phổ biến đối với các hệ thống phức tạp Chính do tính phi tuyến

mà hành vi của hệ thống có thể có những bất thường, phụ thuộc nhậy cảm vào những đổi thay rất bé của các điều kiện ban đầu, từ ổn định chuyển sang bất ổn định, từ trật tự chuyển sang phi trật tự và hỗn độn Mặt khác, khi một hệ thống đi vào những trạng thái xa cân bằng, tới "bên bờ hỗn độn", thì cũng là lúc có thể có những bước nhảy đột biến đến một trật tự mới có tính tổ chức cao hơn Có thể có những khả năng, nhưng khả năng cụ thể

nào là không tiên đoán được ở đây ta gặp một tình huống khác về chất so với các hệ thống cân bằng và ổn định Trong cân bằng và ổn định thì ta có thể tiên đoán và lập kế hoạch, còn ở đây, có thể dự phóng chứ không thể tiên đoán chính xác và lập kế hoạch trước, ta phải chuẩn bị ứng phó với nhiều cái có thể và xử trí một cách linh hoạt, thích nghi với diễn biến cụ thể của tình hình Bước nhảy đưa ta đến đâu là tuỳ ở sự mẫn cảm trong lựa

chọn một cách sáng tạo và linh hoạt của người tham gia Thế giới đã không còn là tuyến tính, tư duy phi tuyến đòi hỏi con người phải luôn sẵn sàng đối phó với những điều chưa biết, chưa từng gặp, với những bất định và bất ổn định, và bằng năng lực thích nghi, sáng tạo mà tìm được từ trong những bất định, bất ổn định đó những hướng đi tới những trật tự mới Ta đã biết trong nền kinh tế hiện đại có nhiều yếu tố tuân theo những quan hệ phi

tuyến với cơ chế tự tăng cường, với các vòng phản hồi dương, tạo nên những bất ổn định thường xuyên và những trồi sụt thất thường của các ưu thế cạnh tranh Trong một môi trường như vậy không thể giữ mãi cách quản lý cũ bằng kế hoạch hoá mà phải tự chuẩn bị cho mình một năng lực thích nghi, thường xuyên sáng tạo, linh hoạt để phản ứng nhanh với mọi biến động và không bỏ lỡ những thời cơ

Những điều trình bày kể trên về tư duy hệ thống có thể góp phần giúp ta có một cách nhìn mới, một cách nghĩ mới về các hệ thống phức tạp Có những điều đã có căn cứ khoa học

rõ ràng, nhưng cũng còn nhiều điều chưa có những lý giải khoa học đủ sức thuyết phục Khoa học ngày nay đang cố mở rộng khả năng cho những phương pháp nghiên cứu của mình để bao quát thêm những chân trời mới của nhận thức Nhưng có giới hạn nào đó cho khoa học hay không? Từ năm 1936, Max Planck, nhà vật lý sáng lập cơ học lượng tử, đã

viết: "Khoa học [ ] có nghĩa là một sự cố gắng không mệt mỏi và một sự phát triển tiến

bộ liên tục nhằm hướng tới một mục đích mà trực giác thơ mộng có thể nắm bắt được nhưng trí tuệ không bao giờ có thể hiểu thấu hoàn toàn" Cái phức tạp, đa dạng và cực kỳ

phong phú của thiên nhiên và cuộc sống, trải qua nhiều thế kỷ trước khi được nhận thức bằng khoa học đã được con người cảm nhận qua trực giác và thể hiện bằng ngôn ngữ của thơ ca, âm nhạc, hội hoạ, của nghệ thuật nói chung Và giờ đây, sau mấy thế kỷ khoa học được phát triển như một công cụ chủ yếu của nhận thức thế giới, dù khoa học đã mạnh

hơn bao giờ hết, nhưng chính vì rất mạnh mà tự hiểu được những hạn chế của mình, nên

Trang 28

lại cần đến sự hỗ trợ của nghệ thuật để nắm bắt những cái mà mình không thể hiểu thấu hoàn toàn Phải chăng đây là lúc cả khoa học và nghệ thuật đã cùng đạt đến trình độ chín muồi để mà không còn tách bạch, phân chia, để mà liên kết hỗ trợ nhau cùng giúp con người thấu hiểu và cảm nhận được mọi vẻ đẹp phong phú cũng như mọi biến hoá phức tạp của tự nhiên và của cuộc đời

Ngoài 2 bài viết trên, có thể kể đến cuốn sách (với bản dịch hiện có ở Việt Nam) của Jamschid Garajedaghi với tên “Systems Thinking: Managing Chaos and Complexity, A Platform for Designing Business Architechture”; trong đó, tác giả đã nêu những nguyên tắc cơ bản để áp dụng tư duy hệ thống làm cơ sở cho thiết kế kiến trúc kinh doanh, đồng thời đưa ra những sơ đồ cụ thể trong thực hành thiết kế hệ thống.12 Đây có thể là một tài liệu tham khảo tốt cho việc vận dụng phương pháp luận tư duy hệ thống trong xây dựng chiến lược nói chung và chiến lược KH&CN nói riêng

4 Một vài hệ quả của LTPT trong tư duy xây dựng chiến lược

4.1 Tương lai là không thể tiên đoán

Bất kể biết hay chưa biết về bản chất vô cùng phức tạp của vũ trụ, của thế giới bên ngoài,

từ thời cổ đại, con người đã có mong muốn thấy trước, nhìn trước được tương lai Thông qua thuật tử vi và khả năng tiên tri bằng thấu thị, nhiều số mệnh của con người cũng đã được đoán định Thông qua các nhà chiêm tinh, nhiều kết cục của thế giới cũng đã được tiên đoán và để lại nhiều giai thoại nhuốm màu thần bí cho đến tận ngày nay

Tuy nhiên, rất ít người vào đầu những năm 90 thấy trước được đó sẽ là thập kỷ xảy ra cuộc nội chiến ở Châu Âu giết chết hàng trăm ngàn người ở Cô-Xô-Vô (Nam Tư cũ), con

số nửa triệu người sử dụng internet đạt được trong vòng vài ba năm, suy thoái kinh tế kéo dài ở Nhật Bản bắt đầu từ đầu những năm 1990 sau gần 40 năm phát bùng nổ sau Thế chiến thế giới thứ Hai, và bùng nổ kinh tế kéo dài ở Hoa Kỳ suốt hai nhiệm kỳ của Tổng thống B.Clinton, cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu bắt đầu từ 2008, hay là sự phát hiện ra bản đồ hoàn chỉnh của gien người Cũng rất ít người vào đầu năm 2000 nhìn thấy trước được thảm hoạ ở New York hàng ngàn người chết sau vụ khủng bố ở Trung tâm Thương mại Thế giới ngày 11-9 Ngay cả những cơn sóng thần – một thảm hoạ ở Châu Á cũng đã không được cảnh báo đủ sớm để cứu mạng sống cho hàng trăm ngàn người dân vô tội

12 Jamschid Garajedaghi- “Systems Thinking: Managing Chaos and Complexity, Aplatform for Designing Business Architechture” Nxb Butterworth – Heinemann xuất bản năm 1999 Bản dịch của Chu Tiến Ánh “Tư duy hệ thống- Quản lý hỗn độn và phức hợp, Một cơ sở cho thiết kế kiến trúc kinh doanh” do Nxb Khoa học Xã hội ấn hành năm

Trang 29

Theo các tài liệu công bố, độ tin cậy dự báo kinh tế của Cơ quan Ngân sách Quốc hội Hoa

Kỳ chỉ đạt dưới 50%, của Hội đồng Cố vấn kinh tế là 36%; của các tổ chức quốc tế lớn như IMF, OECD, WTO kết quả dự báo cũng không khả quan hơn Bản thân IMF và OECD đã từng dự báo lạc quan về tăng trưởng kinh tế thế giới trước khi cuộc khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ nổ ra không lâu Các nhà kinh tế thế giới cũng đã dự báo sai trong

cả 4 lần xảy ra suy thoái kinh tế thế giới trong 4 thập kỷ qua Trước những kết quả bấp bênh trong dự báo của các nhà kinh tế, người ta đã định nghĩa mỉa mai: “Nhà kinh tế là một chuyên gia mà phải đến ngày mai thì ông ta mới biết được vì sao điều ông ta dự đoán ngày hôm qua đã không xảy ra” Một nhà kinh tế từng đoạt giải Nobel đã nói rằng, các nhà kinh tế không thể dự báo chính xác những thời điểm bước ngoặt kinh tế Bởi vì, dự báo kinh tế là một trò chơi may rủi, chứ không phải nhờ vào kỹ năng, không ai có thể vượt qua yếu tố ngẫu nhiên để liên tục đưa ra các dự báo kinh tế chính xác

Như vậy, việc đoán trước thời điểm xảy ra của một tương lai nào đó (gắn với các biến cố

về KH&CN, kinh tế-xã hội) như là một chức năng quan trọng nhất của dự báo KH&CN truyền thống ngày càng trở nên khó khăn và kém chính xác do bản chất phức tạp và hỗn độn của các đối tượng được dự báo Các xu thế phát triển KH&CN ngày càng diễn ra một cách nhanh chóng, phi tuyến, tác động đa ngành, đa lĩnh vực, phạm vi ảnh hưởng sâu rộng, mang tính toàn cầu và không thể nào kế hoạch hoá được Thành thử, thay vì tiên đoán tương lai , dự báo KH&CN nhiều năm trở lại đây đã chuyển sang cách tiếp cận mới mới quan tâm nhiều hơn đến việc đưa ra những hình dung về tương lai, theo đó nhiều tương lai thay thế nhau sẽ được đưa ra xem xét và tính đến thay vì chỉ một tương lai duy nhất được kỳ vọng và xem xét Việc tính đến nhiều tương lai khác nhau có thể xảy ra và lường trước những tác động của nó tỏ ra thích hợp hơn là chỉ đặt cược vào một tương lai nhất định để rồi khi tương lai không xảy đến đưa con người vào tình trạng bị bất ngờ và bị động Tư duy lại tương lai là một yêu cầu thiết thực của thực tiễn phát triển thế giới ngay

từ những năm đầu của Thế kỷ 21 Một khi quan niệm về tương lai đã thay đổi, quan niệm

về chiến lược và tư duy xây dựng chiến lược cũng sẽ không thể không thay đổi cho phù hợp với thực tiễn

4.2 Hệ quả của việc nhận thức tương lai là không thể tiên đoán

4.2.1 Thay đổi cách tiếp cận dự báo KH&CN kiểu truyền thống

Một đặc điểm khác nữa của dự báo KH&CN truyền thống là thường hướng vào những sự kiện xác định, mô tả xu hướng và diễn tiến của quá trình với các thao tác kỹ thuật làm giảm mức độ bất định của các bién cố và xu thế trong quá trình dự báo Các nghiên cứu

“nhìn trước” không chỉ đánh giá các sự kiện và xu thế Quan trọng hơn, cách tiếp cận

“nhìn trước” thừa nhận sự tồn tại của những yếu tố bất định, các tình huống không rõ ràng, chắc chắn và những đột biến trong các quá trình phát triển Những nghiên cứu loại này

Trang 30

không cố khiên cưỡng chuyển những yếu tố bất định thành xác định như các thao tác toán học thường làm khi nghiên cứu các quá trình kinh tế-xã hội mà thừa nhận sự tồn tại thực tế của các bất định và tình huống không rõ ràng Từ đó tìm giải pháp để đối phó với các bất định có thể xảy ra Ở đây, tư duy mới đòi hỏi con người cần phải học cách suy nghĩ và hành động phù hợp với thực tế là nhiều tương lai khác nhau có thể xảy ra mà không riêng chỉ một tương lai nhất định nào

Thực tiễn này đặt ra nhu cầu một mặt phải đánh giá một cách cẩn trọng hơn những rủi ro KH&CN có thể gây ra, chủ động giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra Mặt khác phải đưa dự báo và qúa trình làm chính sách KH&CN thoát ra khỏi khuôn khổ chật hẹp, thuần tuý kỹ thuật và hành chính để trở thành các diễn đàn xã hội rộng rãi được thông tin tốt , khả năng chia sẻ tầm nhìn trực cảm, mục tiêu, lợi ích và trách nhiệm xã hội giữa các giới

có liên quan giảm thiểu tác động bất lợi về mặt xã hội Liên quan đến những biến đổi phi tuyến và ít khả năng dự báo được, cần thiết phải có cách tiếp cận rất khác, thí dụ như:

• Cơ chế rà soát theo chiều ngang để xác định những vấn đề có thể xảy đến

• Năng lực phản ứng nhanh ( bởi vì cơ chế tốt nhất cũng sẽ vẫn bỏ lỡ các biến cố, sự kiện, các cơ hội đối phó với các thách thức)

• Các chiến lược đủ mạnh để đối phó với một loạt các tình huống có thể xảy ra

• Sử dụng nhiều nguồn tin tình báo-bao gồm cả loại dữ liệu mềm hơn là chỉ dựa vào

hệ thống thông tin thống kê thường luôn luôn lạc hậu

So sánh dự báo KH&CN truyền thống và cách tiếp cận foresight - (“nhìn trước”)

Dự báo KH&CN truyền thống Tiếp cận nhìn trước( “nhìn trước”)

1- Quan

niệm về

tương lai

• Tương lai mang tính xác xuất có

thể tính được khả năng xảy ra

• Tương lai diễn ra một cách khách

quan, nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người, tương lai không nằm trong khái niệm kế hoạch

• Mô thức

• Tương lai mang tính bất định và

không thể dự báo được

• Tương lai còn có thể xảy ra tuỳ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, tương lai có thể được chủ động lựa chọn và đạt đến thông qua kế hoạch hành động

• Hoài nghi 2- Những

“nhìn trước” bao gồm các nhà làm chính sách, doanh nhân, các nhà quản

Trang 31

vi và mô hình dự báo nhất định mực, các giá trị, thái độ ứng xử và lợi

ích của những cá nhân và tầng lớp xã hội khác nhau, các mối quan tâm cũng như là khả năng hành động của họ

• Mở và siêu ranh giới giữa các bộ môn, lĩnh vực hoạt động, thảo luận trao đổi

ý kiến nhiều chuyên gia để khắc phục những hiểu biết hạn hẹp của từng cá nhân

4- Công

cụ thường

sử dụng

• Định lượng là chủ yếu

• Ngoại suy xu thế quá khứ để dự

báo tương lai

• Các mô hình và giả định

• Định tính là chủ yếu

• Xuất phát từ tương lai được lựa chọn trong nhiều tương lai thay thế để chủ động tiến đến tương lai mong muốn

• Sử dụng ý kiến chuyên gia 5- Cơ sở

lý thuyết • Lý thuyết giản đơn, giản quy hiện

thực phức tạp thành một vài yếu tố

và xu thế có thể dự báo

• Lý thuyết phức tạp, thừa nhận tính phức tạp của tương lai không thể dự báo

• Hoạt động độc lập với quá trình

làm chính sách và ra quyết định • Đi kèm, gắn liền, tích hợp, lồng ghép

trong chính quá trình làm chính sách

7- Sản

phẩm đầu

ra

• Dự báo thời gian xuất hiện các

biến cố ( phát minh khoa học, sáng chế công nghệ)

• Cung cấp thông tin mang tính ước

lệ ở các mức độ khác nhau để tham khảo cho quá trình làm chính sách

• Một gói các giải pháp được chuẩn bị, thiết kế, đề xuất thay vì chỉ đưa ra một

dự báo nào đó về thời gian xuất hiện các biến cố (phát minh hoặc sáng chế công nghệ)

• Chính là quá trình thảo luận , đánh giá, điều chỉnh và quyết định chính sách tầm chiến lược sách lược

Nguồn: Nguyễn Mạnh Quân (2004), Vận dụng cách tiếp cận technology foresight (nhìn trước công nghệ) trong xác định các hướng KH&CN ưu tiên ở Việt Nam: Trường hợp ngành chế biến thực phẩm, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ., Hà Nội, 99 trang

Lịch sử phát triển cho thấy, quá khứ của một dân tộc ngày càng chỉ có ý nghĩa tương đối, nếu không làm sao có thể giải thích được hiện tượng Nhật Bản, Singapo, Hàn Quốc và cả

Trung Quốc trong quá khứ vốn là những nước nghèo Thực tế cho thấy, tương lai mới là quyết định Và nếu như thành bại của các nền kinh tế và các dân tộc ngày càng bị quyết

định bởi tương lai và ngày càng ít bị ảnh hưởng bởi quá khứ thì tại sao chúng ta lại nghiên cứu về tương lai ít như thế? Dự báo KH&CN với tính cách cách là một lĩnh vực nghiên cứu về tương lai cần phải đổi mới để tìm tòi những cách tiếp cận mới, phù hợp với những đòi hỏi của thực tiễn “Nhìn trước” với những đổi mới nêu trên có thể là một cách tiếp cận đáng quan tâm đối với các nhà quản lý

Trang 32

4.2.2 Áp dụng LTPT trong xác định phương pháp, quy trình xây dựng chiến lược KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020

Theo quan niệm của lý thuyết phức tạp, các hoạt động KH&CN diễn ra trong một quốc gia cần được xem xét như một hệ thống phức tạp Hệ thống KH&CN được đặt trong một môi trường, một hệ thống lớn hơn, đó là môi trường kinh - tế xã hội – văn hóa-chính trị, đồng thời cũng phải nhìn nhận hệ thống KH&CN của một quốc gia trong hệ thống KH&CN vùng, thế giới với những dòng tri thức và thông tin, nhân lực, vật lực, tài lực lưu chuyển giữa các quốc gia theo các luật chơi, thông lệ và chuẩn mực quốc tế Theo GS Hoàng Tụy: “Giáo dục, khoa học là một hệ thống phức tạp, chỉ có thể quản lý tốt trên cơ sở hiểu biết đầy đủ các đặc thù hệ thống của nó”13 Theo cách phân loại của Jamshid Gharajedaghi

14, ta có thể xếp KH&CN vào các hệ thống phát triển loại 8 là hệ có chủ định, đa phương cơ cấu, đa phương chức năng và đa phương quá trình

KH&CN có thể xếp vào mô hình văn hóa xã hội, đây là loại hệ thống liên kết bằng thông tin Hệ thống này, theo kinh nghiệm của chúng tôi suy ra từ những nhận xét chung của Jamshid Gharajedaghi, có những đặc thù sau:

• Mỗi hệ thống xã hội, trong đó có hệ thống KH&CN đều thể hiện một số nét đặc trưng còn được duy trì ngay cả khi mọi cá nhân thành viên đã được thay thế hết Cái đặc trưng cho hệ thống xã hội không chỉ là thành viên của nó, mà cả mối quan hệ giữa các thành viên với nhau cũng như với toàn hệ thống

• Hệ thống KH&CN chịu ảnh hưởng to lớn của nền văn hóa dân tộc, nhà khoa học tạo ra văn hóa của mình và nền văn hóa nào tạo nên con người ấy Điều này phải chăng có thể coi là giải thích một số thắc mắc cho rằng các nhà khoa học Việt Nam không phục nhau và khó hợp tác với nhau (?) Nhưng điều quan trọng hơn, sự phụ thuộc vào văn hóa, truyền thống dân tộc của KH&CN ở Việt Nam còn giải thích cho sự “nhỏ bé, khiêm nhường” và những bất cập của năng lực KH&CN đất nước trong tương quan với thế giới và khu vực Đặc biệt là những yếu kém của cái gọi là “nghiên cứu cơ bản” ở Việt Nam, một dân tộc trong hàng ngàn năm lịch sử vốn không có truyền thống (điều kiện) tư duy khoa học thực chứng ở tầm phổ quát cả trong tự nhiên lẫn xã hội

• Trong mỗi hệ thống xã hội, những cản trở then chốt tầm quốc gia nhất đối với

sự thay đổi tiến bộ của hệ thống là mỗi cá nhân đều lo sợ bị vứt bỏ và đều cố gắng làm sao cho mình trở nên “hợp thức”, giống với mọi người Đây có thể là

13 Bài viết "Năm mới, chuyện cũ" của Giáo Sư Hoàng Tụy trên Tia Sáng

Trang 33

khó khăn phổ biến khi cải tổ hệ thống KH&CN, và có thể là lý do sau bao nhiêu biện pháp đổi mới mà hệ thống KH&CN Việt Nam vẫn chưa tiến bộ bao nhiêu

• Sự phát triển của tổ chức KH&CN bao gồm sự biến đổi các mục tiêu của tổ chức tiến tới những cấp độ cao hơn về hội nhập theo các xu hướng nhất thể hóa

và chuyên biệt hóa Đây là một quá trình tiến hóa khách quan giúp cho hệ thống KH&CN tăng thêm năng lực phát triển của mình nhằm phục vụ bản thân, các thành viên của tổ chức và thích ứng với môi trường phát triển kinh tế xã hội

• Trong mỗi tổ chức KH&CN, tương ứng với mỗi cấp độ chuyên biệt hóa đều có một cấp độ tối thiểu về hội nhập và nhất thể hóa mà dưới mức đó tổ chức có thể tan rã trong tình trạng hỗn độn Đảo lại, những cấp độ cao hơn về hội nhập, nhất thể hóa cũng đòi hỏi những mức độ cao hơn về chuyên biệt hóa nhằm tránh tình trạng tê liệt của tổ chức

• Nếu mỗi tổ chức KH&CN không phục vụ hữu hiệu các chủ đích/ các mục tiêu, của toàn hệ thống mà nó thuộc về thì hệ thống cũng không thể phục vụ tốt cho

tổ chức Điều này đòi hỏi mỗi tổ chức KH&CN phải được thiết kế cách nào để đảm bảo cho các bộ phận có đủ năng lực để vận hành như các hệ thống độc lập kèm theo khả năng tương đối tự kiểm soát, đồng thời hoạt động như các bộ phận hữu trách của một thể toàn khối cố kết, có quyền thực hiện những lựa chọn tập thể

Trên đây là một trong những hệ quả của cách nhìn hệ thống KH&CN như một hệ thống phức tạp, chúng tôi nhận ra chúng từ những gợi ý chung về đặc điểm của các hệ thống văn hóa - xã hội do Jamshid Gharajedaghi tổng kết Việc coi hệ thống KH&CN như một hệ thống phức tạp còn đưa đến nhiều hệ quả khác rất đáng lưu ý đối với việc lựa chọn khái niệm, phương pháp, quy trình tổ chức xây dựng chiến lược KH&CN trong bôí cảnh hiện nay

Trước hết, không thể có một chiến lược KH&CN nào như là sản phẩm của ý chí và nhận

thức chủ quan của con người hoàn toàn “trùng khít” với cái gọi là “hệ thống KH&CN” đang vận động trong hiện thực và sẽ tiến tới trong tương lai (vì tương lai là không thể tiên đoán) Nhiều lắm, các chiến lược cũng chỉ là những hình ảnh “xấp xỉ” “gần đúng” của hiện thực hoạt động KH&CN trong khuôn khổ các hệ thống được quan niệm trong tư duy của con người Chính vì vậy, các chiến lược trong trường hợp lý tưởng nhất cũng chỉ có thể “nằm trong tiến trình vận động của hiện thực” , bám đuổi theo, đôi khi vượt lên trước nhưng cũng chỉ là tiệm cận dần hiện thực từ cả hai biên Vì thế, một chiến lược không thể chỉ xây dựng một lần là xong Quá trình điều chỉnh chiến lược, làm cho nó thích nghi và phù hợp với hiện thực cũng quan trọng không kém việc xây dựng một chiến lược

Trang 34

Thứ hai, Vì bản chất hệ thống KH&CN là một hệ thống phức tạp như trên đã nói nên

không một phương pháp cụ thể nào tự nó có thể đủ để tiếp cận nó một cách toàn diện và thấu suốt Phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, mà đúng ra phải tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau, nhiều lý thuyết khác nhau thì mới có thể giảm thiểu được những sai biệt giữa cái người làm chiến lược mong muốn, nhìn thấy và cái vốn có trong thực tiễn hoạt động KH&CN cùng với các tương tác của chúng với môi trường bên ngoài Đặc biệt, việc coi hệ thống KH&CN như một đối tượng phức tạp làm cho xu hướng giản đơn hóa hoạt động KH&CN, quy chúng về kiểu quan hệ tuyến tính ngày càng trở nên hình thức và phi thực tế

Thứ ba, bản chất hệ thống KH&CN là một hệ thống phức tạp như trên đã nói và mọi chiến

lựợc chỉ có thể phản được “xấp xỉ, gần đúng” hiện thực phức tạp đó dù có cố gắng đến đâu, dùng những phương pháp tinh xảo đến thế nào Thành thử, những gì con người nghĩ, mong muốn, cảm thấy trở nên rất quan trọng khi xây dựng và nhất là khi đánh giá thành công hay thất bại của một chiến lược Ở đây, bản chất nhân văn của chiến lược phát triển KH&CN phải được đặt lên hàng đầu trong tương quan với các trình diễn kỹ thuật, phương pháp xây dựng chiến lược mang tính “giả” thuật, Vấn đề không thể không đặt ra là những người chịu tác động của chiến lược có tham gia vào quá trình xây dựng chiến lược không?

Họ có biết và sẵn sàng “làm theo” những gì chiến lược đề ra hay không? Và họ sẽ hưởng lợi gì từ việc thực thi một chiến lược như vậy? Điều này cũng tương tự đối với các tổ chức trong xã hội Chính vì vậy, sự tham gia của các tác nhân chịu ảnh hưởng của chiến lược trong xây dựng, đánh giá chiến lược là yêu cầu không những bảo đảm tính nhân văn mà còn nâng cao tính khả thi, khả năng chia sẻ rủi ro của chiến lược phát triển KH&CN trong quá trình thực hiện

Trong thực tế, không phải tất cả chiến lược phát triển KH&CN đều thể hiện được tính nhân văn Đã nói đến chiến lược là nói đến việc xác định những mục tiêu mang tính toàn cục, lâu dài cho một tổ chức, đảng phái chính trị, và thường là của một quốc gia, dân tộc

Vì những mục tiêu lâu dài, toàn cục như thế, nhiều khi trong thực tế, các chiến lược thường chạy theo những mục tiêu chung chung, vô cảm, không thể hiện được nhu cầu cụ thể, bức xúc, thiết yếu trong sản xuât và đời sống của đông đảo các tầng lớp dân cư Thí

dụ cách đặt mục tiêu cho một quốc gia đứng vị trí thứ mấy trong khu vực, ở vào trình độ nào trên thế giới về tiềm lực KH&CN v.v Chắc chắn, hàng triệu người dân đang phải hàng ngày hàng giờ sử dụng nguồn nước sinh hoạt không hợp vệ sinh, hàng triệu người dân đủ các loại bệnh tật hiểm nghèo chưa chăm sóc y tế kịp thời, hàng triệu đồng bào bị nhiễm chất độc da cam với những hậu quả đau thương lâu dài, hàng triệu bà con nông dân nay chặt cây này mai trồng cây khác phó mặc cho giá cả lên xuống trên thị trường, các thế hệ người Việt đau xót trước hiện tượng văn hóa Việt đang bị xói mòn, sẽ không cảm

Trang 35

nhận được hoặc có thì cũng không hề thấy các chiến lược với cách xác định mục tiêu như thế là hữu ích, thiết thân Cần nói thêm là cũng với cách xác định mục tiêu chiến lược như vậy, các nhà làm chiến lược KH&CN vô hình chung dễ sa vào thứ chính trị mỵ dân Thứ đến, do hậu quả của quá khứ để lại, tư duy của các nhà hoạch định chiến lược phát triển KH&CN chỉ thiên về các lĩnh vực khoa học công nghệ mà không quan tâm đúng mức đến các vấn đề của khoa học xã hội và nhân văn, (có thể là do người ta không dễ và không ở đâu xếp hạng một nền văn hóa đứng thứ mấy trong khu vực và trên thế giới ?!) Công nghệ có thể là then chốt, là chìa khóa cho phát triển nhưng suy cho cùng chỉ là phương tiện Rất nhiều nhu cầu thiết thực về đời sống nội tâm, tâm tư, tình cảm của con người sẽ không được giải quyết nếu như chúng ta chỉ chạy theo những thứ hạng hoặc mỹ từ mạnh yếu về mặt này mặt khác, nhất là các lĩnh vực công nghệ Và sau cùng, không thể có tính nhân văn nếu một chiến lược KH&CN được xây dựng không có sự tham gia của người dân (bao gồm cả các nhà khoa học và trước hết là những người làm khoa học), và do đó các nhu cầu thiết thực của người dân không được thể hiện trong chiến lược, không chỉ ra được có những liên hệ nhân quả nào đó giữa các mục tiêu chiến lược tổng quát (thường là chung chung) với những nhu cầu thiết thực của họ Việc bộ bộ, ngành ngành làm chiến lược mà chiến lược của ngành nào chỉ biết đến chiến lược của ngành nấy chắc chắn cũng

sẽ sản sinh ra những thứ chiến lược không có tính nhân văn bởi vì mỗi con người phải là

“tổng hòa của các mối quan hệ trong xã hội” mà sự thiếu gắn kết hợp giữa các chiến lược không thể bảo đảm được

Thành thử, bên cạnh một số yêu cầu khác, bảo đảm tính nhân văn nên và phải là một yêu cầu thiết yếu của chiến lược phát triển KH&CN nước ta đang chuẩn bị xây dựng Bảo đảm tính nhân văn của chiến lược đòi hỏi trước hết quá trình xây dựng phải có sự tham gia của người dân, của đông đảo các nhà khoa học trong nước và những người đang sinh sống hoạt động KH&CN ở nước ngoài, chí ít thông qua các tổ chức đại diện của họ Phải tạo ra khuôn khổ làm chiến lược mang tính tổng thể, đủ rộng rãi để các chiến lược của các bộ, các ngành, các lĩnh vực KH&CN phối hợp chặt chẽ với nhau, hướng vào giải quyết những nhu cầu thiết yếu của người dân Chạy theo các thứ hạng cũng được, nhưng không nên nếu chỉ chạy theo thứ hạng Hãy xem Nhật Bản, một cường quốc công nghệ trên thế giới nhưng mục tiêu chiến lược KH&CN của họ đến năm 2025 được xác định là “bảo đảm cho mọi người dân Nhật Bản có thể sống mạnh khỏe suốt đời”

II LÝ THUYẾT ĐỔI MỚI

Một hệ quả quan trọng khác của LTPT đối với các nghiên cứu chiến lược, chính sách và quản lý hoạt động KH&CN, có tác động rất lớn đến việc lựa chọn khái niệm, phương pháp và quy trình tổ chức xây dựng chiến lược KH&CN trong bối cảnh thế giới ngày nay

Trang 36

là sự xuất hiện của “cái gọi là” lý thuyết đổi mới ( Theory of Innovation) và cách tiếp cận

hệ thống đổi mới ( Innovation Systems Approach)

1 ĐỔI MỚI LÀ GÌ?

Innovation - đổi mới là thuật ngữ thường gặp trên các sách báo nghiên cứu quản lý và

phát triển KH&CN (KH&CN) trên thế giới, đặc biệt là tại khối các nước thuộc tổ chức OECD 3-4 chục năm trở lại đây Muộn hơn chút ít, cách đây 1-2 thập kỷ, cách tiếp cận hệ thống đổi mới đã được nghiên cứu áp dụng tại nhiều nước thuộc khối các nước NICs và một số nước đang phát triển khác tại Đông Âu, Châu Á và Châu Mỹ La tinh Không phải

ai cũng để ý (nhất là dưới giác độ quản lý KH&CN), đằng sau thuật ngữ và cách tiếp cận này là cả một thực tiễn đổi mới15 rất sôi động diễn ra hàng ngày trên thế giới, trở thành đối tượng cho nhiều hướng nghiên cứu với những cơ sở lý thuyết đã được tích luỹ từ nhiều thập kỷ trước đó

Theo cách hiểu truyền thống và mang tính học thuật về phân công lao động trong xã hội

có nhiều loại hoạt động mang tính chuyên môn hoá như hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, sản xuất kinh doanh, thương mại và nhiều loại hoạt động xã hội khác Mỗi một loại hoạt động xã hội này có đặc điểm riêng về mục đích, phạm vi và chịu

sự chi phối của những quy luật nội tại, đặc thù và được tiến hành bởi đội ngũ các chuyên gia trong những tổ chức độc lập Thí dụ các hoạt động khoa học thường được tiến hành bới các nhà nghiên cứu khoa học, được tổ chức theo các nguyên tắc phù hợp với tính đặc thù của khoa học và chịu sự chi phối của những nguyên lý đươc nghiên cứu trong khoa học luận Các hoạt động phát triển công nghệ cũng được quan niệm là mang tính chuyên môn hoá được tiến hành bởi các nhà sáng chế công nghệ và chịu sự chi phối của các quy luật công nghệ như vòng sống công nghệ, tính không loại trừ trong ứng dụng công nghệ, tính rủi ro trong ưngdụng công nghệ, v.v….Những đặc thù này được tăng cường và củng

cố trong suốt quá trình công nghiệp hoá điễn ra vài trăm năm ở các nước công nghiệp với

sự phát triển của các tổ chức R&D chuyên môn hoá về sau cũng lan truyền tới nhiều nước mới công nghiệp (NICs), các nước theo mô hình kế hoạch hoá tập trung và trở thành tiêu chuẩn chung trong mô hình tổ chức hoạt động KH&CN một cách chuyên môn hoá bên cạnh các hoạt động sản xuất công nghiệp, thương mại và trao đổi

Đặc điểm chủ yếu của quan niệm và tổ chức hoạt động khoa học, công nghệ truyền thống này là chuyên môn hoá, bên cạnh nhau, tuần tự của các hoạt động trong chuỗi R&D theo một chiều duy nhất đi từ nghiên cứu cơ bản đến phát triển công nghệ rồi đưa vào ứng

15 Thậm chí, đã có nhà nghiên cứu quan niệm đó là “một cuộc chiến đổi mới” Xin xem trong: Christoph-Friedrich

Trang 37

dụng trong sản xuất Mô hình tuyến tính này vẫn tồn tại, ít nhất trong tư duy, quan niệm của nhiều nhà khoa học, công nghệ và cả giới quản lý, lãnh đạo tại nhiều tổ chức và quốc gia, nhất là ở các nước đang chuyển đổi do ảnh hưởng của mô hình kế hoạch hoá tập trung kiểu Liên Xô trước đây

Chuyên môn hoá các hoạt động R&D một mặt đã mang lại năng suất cao nhưng mặt khác cũng dẫn đến những tách biệt thái quá và gây khó khăn cho liên kết các hoạt động R&D với nhu cầu và đòi hỏi của thị trường, thậm chí vượt ra khỏi khả năng điều phối của các chủ thể quản lý; Quan trọng hơn, quan niệm và tổ chức chuyên môn hoá thái quá và hoạt động điều phối quản lý mang tính chất can thiệp của các chủ thể quản lý đã làm biến dạng

và cản trở quan hệ tự tổ chức, tự liên kết của các tác nhân R&D , sản xuất, trao đổi và tiêu dùng các kết quả của hoạt động R&D

Quan niệm và tổ chức hoạt động R&D theo cách tuần tự và một chiều đã dẫn đến những sai lầm trong chiến lược và chính sách đầu tư phát triển KH&CN tại một số quốc gia đang phát triển dành quá nhiều nguồn lực cho nghiên cứu khoa học, coi nhẹ các hoạt động chuyển giao, ứng dụng và phát triển công nghệ Hệ quả khác của quan niệm tuần tự, một chiều trong tổ chức hoạt động KH&CN là chỉ chú trọng phía cung, lấy các tổ chức KH&CN và các nhà KH&CN làm đối tượng chính để đầu tư, thậm chí bỏ qua khía cạnh nhu cầu, không quan tâm đến doanh nghiệp và doanh nhân là những chủ thể ứng dụng các kết quả do hoạt động R&D tạo ra

Quan niệm và mô hình tổ chức hoạt động KH&CN theo kiểu chuyên môn hoá và tuyến tính đã dẫn đến máy móc, đơn điệu và sai lầm trong hoạch định chiến lược và chính sách đầu tư cho khoa học công nghệ, gây khó khăn cho quản lý và điều phối, giảm hiệu quả và gây lãng phí lao động xã hội

Những năm gần đây, nhiều nỗ lực về phương pháp đã được dành cho các biện pháp gắn kết, liên kết các hoạt động R&D với sản xuất, thương mại và dịch vụ xã hội nhưng chưa dẫn đến những chuyển biến đột phá trong nâng cao hiệu quả đầu tư và hiệu lực quản lý R&D Một nguyên nhân quan trọng là do vẫn duy trì khuôn khổ của mô hình tuyến tính nêu trên trong khi tìm cách liên kết các hoạt động R&D được chuyên môn hoá với các hoạt động sản xuất, thương mại và dịch vụ xã hội khác

Sự xuất hiện của khái niệm đổi mới (innovation) thể hiện một cách tiếp cận mới đối với các hoạt động R&D Theo đó, các hoạt động R&D, cán bộ R&D, tổ chức R&D chuyên môn hoá không được quan niệm là đối tượng riêng biệt và duy nhất cho quản lý và chính

Trang 38

sách R&D Đối tượng của quản lý và chính sách R&D truyền thống được xác định là các

hoạt động đổi mới và các hệ thống đổi mới

Đổi mới là hoạt động có mục đích cuối cùng là tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới hoặc phương pháp mới, cách thức mới để làm ra các sản phẩm và dịch vụ không mới được thị trường chấp nhận và thông qua đó để thu được lợi nhuận So với các hoạt động R&D chuyên môn hóa, đổi mới có những đặc điểm như sau:

1.1 Tính tổng thể: đổi mới được quan niệm là một hoạt động tổng thể bao gồm nhiều loại

hoạt động khác nhau từ nghiên cứu và phát triển đến thiết kế, chế tạo, sản xuất, thương mại hoá, trao đổi và tiêu dùng sản phẩm mới và dịch vụ mới trên thị trường Hoạt động đổi mới không chỉ bó hẹp và kết thúc khi đưa ra được ý tưởng hoặc các thiết kế công nghệ trong phòng thí nghiệm hoặc các sáng chế công nghệ được đăng ký và cấp bằng Hoạt động đổi mới còn tiếp diễn cho đến khi từ các sáng chế công nghệ đi đến chỗ chế tạo và đưa ra những sản phẩm hoặc dịch vụ mới được thị trường chấp nhận Cần nhấn mạnh một

sự khác biệt ở đây là những hoạt động sau R&D này trong quan niệm trước đây được coi

là nằm ngoài phạm vi quản lý và đối tượng tác động của các chính sách R&D Tuy nhiên trong hoạt động đổi mới, các hoạt động sau và ngoài R&D (thiết kế, chế tạo, ứng dụng và

sử dụng các kết quả R&D, các hoạt động học hỏi, cải tiến tổ chức, quản lý, đào tạo nhân lực theo yêu cầu của đổi mới) có liên quan chặt chẽ với hoạt động R&D và thậm chí còn trở nên quan trọng hơn bản thân các hoạt động R&D một khi để tạo ra sản phẩm mới người ta có thể mua sáng chế, thiết kế trên thị trường mà không nhất thiết phải tiến hành nghiên cứu và phát triển công nghệ Ở đây, các hoạt động R&D truyền thống được đặt trong khuôn khổ rộng hơn bao gồm toàn bộ các hoạt động có liên quan gắn kết với nó trong quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới Thực chất, về phạm vi, đổi mới là khái niệm bao gồm một tổng thể các hoạt động R&D và liên quan với R&D mà không chỉ bao gồm riêng hoạt động R&D Nói ngắn gọn, đổi mới bao gồm các hoạt động R&D và ngoài R&D; hoặc bao gồm đổi mới công nghệ và ngoài công nghệ nếu như lấy công nghệ là trung tâm của hoạt động đổi mới Chính vì thế người ta thường phân biệt hai loại đổi mới chủ yếu là đổi mới công nghệ (phương pháp) và đổi mới ngoài công nghệ (trong đó có đổi mới sản phẩm, đổi mới tổ chức, v.v.)

1.2 Tính thị trường, một ý tưởng hay một dự án chế tạo sản phẩm hoặc dịch vụ chỉ được

xem là đổi mới một khi sản phẩm , dịch vụ hoặc quy trình công nghệ mới được đưa ra thị trường và được thị trường chấp nhận, được mua-bán và sử dụng trong xã hội Điều này rất khác với các hoạt động R&D truyền thống chỉ kết thúc khi công nghệ mới được cấp bằng, giải pháp mới được công nhận là giải pháp hữu ích và được bảo hộ

Trang 39

1.3 Tính đa dạng, hoạt động đổi mới so với hoạt động R&D truyền thống, chuyên môn

hóa đa dạng và phong phú hơn, Nó có thể diễn ra ở các tổ chức R&D và ngoài R&D Nó

có thể diễn ra ở tất cả các loại doanh nghiệp với quy mô khác nhau từ các tập đoàn đến các công ty vừa và nhỏ Hoạt động đổi mới cũng có thể diễn ra khắp các vùng, các khu vực từ công nghệ cao đến các công nghệ truyền thống, không phải chỉ ở trong công nghệ thông tin hay công nghệ sinh học Xét về mức độ mới người ta cũng phân biệt các đổi mới cơ bản và đổi mới

1.4 Về tính không tuần tự, đổi mới là loại hoạt động không diễn ra theo một trình tự đã

định, biết trước nghĩa là bắt đầu từ nghiên cứu tìm ra quy luật, nguyên lý khoa học, rồi trên cơ sở đó phát triển công nghệ sau đó mới đưa công nghệ vào sản xuất đưa ra sản phẩm và dịch vụ mới Đổi mới có thể bắt đầu từ bất kỳ một công đoạn nào trong chu trình nêu trên Thí dụ có thể được bắt đầu từ ý tưởng mới nảy sinh trong khi sử dụng sản phẩm mới, dịch vụ mới và một khía cạnh nào đó của sản phẩm, dịch vụ có thể được cải tiến không nhất thiết phải diễn ra thông qua hoạt động R&D, thậm chí không nhất thiết phải sử dụng công nghệ mới Thí dụ điển hình nhất về tính không tuần tự của hoạt động đổi mới là quy trình chuyển giao công nghệ ngược được phát hiện những năm gần đây về hiện tượng nhiều nước mới công nghiệp hoá đã hầu như đi theo chu trình ngược với các nước công nghiệp phát triển, bắt đầu từ nhập khẩu dây chuyền thiết bị sản xuất toàn bộ kiểu “chìa khoá trao tay”, sau đó cải tiến công nghệ, rồi mới tiến hành nghiên cứu triển khai và nghiên cứu cơ bản Cả hai con đường, chu trình xuôi và ngược (từ gốc đến ngọn và từ ngọn đến gốc) đều đã dẫn đến nâng cao năng lực công nghệ và trình độ sản xuất công nghiệp, dịch vụ, đa dạng hoá và tăng cường hàm lượng tri thức và công nghệ trong sản phẩm, dịch vụ

1.5 Tính hệ thống, với chủ thể là doanh nhân và doanh nghiệp theo đuổi lợi nhuận, hoạt

động đổi mới là loại hoạt động mang tính hệ thống, diễn ra thông qua hệ thống bao gồm nhiều tác nhân tham gia và quan hệ giữa tác nhân với nhau trong quá trình tạo ra tri thức mới, sản phẩm và dịch vụ mới Thành phần các tác nhân tham gia hoạt động đổi mới bao gồm các nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, công nghệ, các cơ quan quản lý nhà nước, các thiết chế thị trường (tổ chức và luật lệ), nhà sản xuất, khách hàng tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ đổi mới Khác với hoạt động R&D chuyên môn hoá có thể xảy ra ở chỉ một tổ chức R&D nhất định, hoạt động đổi mới không bao giờ diễn ra tại một doanh nghiệp riêng

rẽ Hoạt động đổi mới luôn diễn ra trong khuôn khổ các hệ thống đan xen lẫn nhau rất phức tạp

1.6 Tính phức tạp, như là hệ quả của các đặc tính tổng thể, tính không tuần tự và tính hệ

thống, hoạt động đổi mới có cấu trúc vô cùng phức tạp với vô vàn các tác nhân và mối

Trang 40

quan hệ theo nhiều chiều và phi tuyến không thể áp dụng các phương pháp giản quy hoặc các chỉ số thô sơ để đánh giá và dự báo Chính vì vậy trong số vô vàn các tác nhân và mói quan hệ đó nhiều nhất cũng chỉ có thể chỉ ra các động lực, một số các bất định và chiều hướng chi phối diễn tiến hoạt đổi mới trong các hệ thống đổi mới

1.7 Khả năng tự tổ chức, đây là đặc tính quan trọng của hoạt động đổi mới Tuy có cấu

trúc phức tạp nhưng hoạt động đổi mới có khả năng tự tổ chức, tự liên kết, tự tìm đến những đối tác cần thiết để tạo gắn cung với cầu, gắn công nghệ với sản phẩm hàng hoá, dịch vụ mà không cần có sự can thiệp từ bên ngoài Hơn nữa can thiệp hành chính, máy móc của các cơ quan quản lý thường cản trở hơn là tạo điều kiện nuôi dưỡng và phát huy khả năng tự tổ chức của các hoạt động đổi mới

Lý thuyết về các hệ thống tự tổ chức ( Self-organizing systems) ra đời từ khá sớm và có

ảnh hưởng rất lớn đến quản lý nói chung và vai trò quản lý của Nhà nước nói riêng Những phát hiện của Darwin về cơ chế chọn lọc tự nhiên trong quá trình tiến hoá của các loài đã là cơ sở ban đầu cho sự hình thành lý thuyết về các hệ thống tự tổ chức ngày càng trở thành cơ sở cho sự phát triển của sinh vật học hiện đại 16 Adam Smith đã phát hiện ra các nền kinh tế vận động không phải theo các quy tắc do con người nghĩ ra mà là kết quả hoạt động của những con người không được phối hợp với nhau nhưng chịu sự chi phối của một thứ “ bàn tay vô hình” tự sắp xếp, tổ chức các hoạt động kinh tế theo quy luật của thị

trường Ông quan niệm:”cơ chế thị trường là một trật tự tự nhiên có khả năng tự điều chỉnh” 17 Trong các khoa học xã hội ngoài kinh tế học, các hệ thống tự tổ chức được mô phỏng trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều môn học như: ngôn ngữ học, khoa học luận, đo lường công nghệ (technometrics), và cả trong nghệ thuật Ý tưởng về hệ thống

phi tập trung và tự tổ chức (Self-organizing and decentralised system) của Hayek cũng là

một trong những tư tưởng mạnh mẽ có ảnh hưởng nhất trong thời kỳ hiện đại 18 Theo quan diểm này, các hệ thống từ tự nhiên kinh tế đến xã hội đều có khả năng tự tổ chức và tồn tại theo những quy luật nội tại của chính bản thân chúng, không phải chỉ do sự can thiệp bên ngoài Sự can thiệp từ bên ngoài không phải bao giờ cũng tối ưu hơn phương thức tự điêu chỉnh, tự thích ứng của các loại tổ chức Sự can thiệp từ bên ngoài để có thể tối ưu phải dựa trên những quy luật phát triển nội tại của bản thân tỏ chức và lựa chọn khôn ngoan những hình thức và mức độ can thiệp thích hợp với từng loại tổ chức, và từng giai đoạn phát triển của tổ chức

16 Prigogine, Ilya and Isabel Stenger,(1984) " Order out of Chaos: Man s New Dialogue With Nature, London 1984

17 Dẫn theo: Paul A Samuelson & William D Nordhaus “Economics” Fourteenth Edition, McGraw-Hill International

Editions, 1992, page376

Ngày đăng: 25/05/2014, 09:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị về “Chính sách khoa học và kỹ thuật:, 1981, trang 10, 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách khoa học và kỹ thuật
2. Đảng Cộng sản Việt Nam ,“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội”, Nhà Xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1991, trang 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội”
Nhà XB: Nhà Xuất bản Sự thật
4. Trương Tấn Sang- Hội nghị Hội Đồng Lý Luận Trung Ương lần thứ 6, Hà Nội, 11/8/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị Hội Đồng Lý Luận Trung Ương lần thứ 6
5. OECD, DSIT/STP (2007) 3; “Review of China’s Innovation System and Policy”; 26-27, March 2007; Paris Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Review of China’s Innovation System and Policy”
6. GS. Richard H.K.Vietor, trường Quản trị Kinh doanh Harvard, “Các quốc gia cạnh tranh như thế nào”, Phần III: Chiến lược và cấu trúc phát triển của mỗi quốc gia, Anh Minh dịch, http://www.tuanvietnam.net , 11/6/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Các quốc gia cạnh tranh như thế nào”
7. John Irvine & Ben Rt.Martin (1984), “Nhìn trước sự phát triển của khoa học: Ưu tiên cho các hướng có triển vọng”, Frances Pinters (Publishers), London and Dover, N.H (Tiếng Anh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn trước sự phát triển của khoa học: Ưu tiên cho các hướng có triển vọng
Tác giả: John Irvine & Ben Rt.Martin
Năm: 1984
8. Walter Peissl (2001), “Technology Foresight”-Không chỉ là mốt”, International Journal of Technology Management, Vol.21, Nos.7/8, 2001. (Tiếng Anh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Technology Foresight-Không chỉ là mốt
Tác giả: Walter Peissl
Nhà XB: International Journal of Technology Management
Năm: 2001
9. Luis Sanz-Menendez et.al (2001), “Tìm hiểu về Technology Foresight trong bối cảnh chính sách KH&CN”, International Journal of Technology Management, Vol.21, Nos.7/8, 2001. (Tiếng Anh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về Technology Foresight trong bối cảnh chính sách KH&CN
Tác giả: Luis Sanz-Menendez, et.al
Nhà XB: International Journal of Technology Management
Năm: 2001
10. Terutaka Kuwahara (Giám đốc Trung tâm “nhìn trước” KH&CN Nhật Bản),”Tài liệu phỏng vấn trực tiếp” , 28 December 2001, NISTEP, Tokyo, Japan Sách, tạp chí
Tiêu đề: nhìn trước” KH&CN Nhật Bản),”"Tài liệu phỏng vấn trực tiếp
11. Christopher Freeman (1988), “Nhật Bản: Một hệ thống đổi mới quốc gia kiểu mới?” In trong Giovanni Dosi et.al (1988), Technical Change and Economic Theory, Pinter Publishers Ltd.London (Tiếng Anh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Technical Change and Economic Theory
Tác giả: Christopher Freeman, Giovanni Dosi
Nhà XB: Pinter Publishers Ltd.
Năm: 1988
12. Terutaka Kuwahara (2001), “Technology Foresight” – Những kết quả từ đợt điều tra Delphi lần thứ 7”, Trung tâm “nhìn trước” KH&CN Nhật Bản (Tiếng Anh) 13. Xã luận, The Japan Times, Jan.11, 2002 (Tiếng Anh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Technology Foresight
Tác giả: Terutaka Kuwahara
Nhà XB: Trung tâm “nhìn trước” KH&CN Nhật Bản
Năm: 2001
14. Otto Lin (2005), Bài giảng tại Khoá học về phát triển công nghệ dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Bộ KH&CN Trung quốc, Bắc Kinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng tại Khoá học về phát triển công nghệ dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tác giả: Otto Lin
Năm: 2005
15. Wong Pok Kam (1999), Bài trình bày tại Hội thảo về Hệ thống đổi mới quốc gia, Hanns Seidel Foundation và NISTPASS tổ chức TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài trình bày tại Hội thảo về Hệ thống đổi mới quốc gia
Tác giả: Wong Pok Kam
Nhà XB: Hanns Seidel Foundation
Năm: 1999
16. McKelvey, M (1991) How do National Systems of Innovation Differ? A Critical Analysis of Porter, Freeman, Lundvall and Nelson. In G,M. Hodgson and Sách, tạp chí
Tiêu đề: How do National Systems of Innovation Differ? A Critical Analysis of Porter, Freeman, Lundvall and Nelson
Tác giả: McKelvey, M
Nhà XB: G,M. Hodgson
Năm: 1991
17. Kevil Bryan and Alison Wells (1999), A New Economic Paradigm? Innovation- Based Evolutionary Systems, Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: A New Economic Paradigm? Innovation-Based Evolutionary Systems
Tác giả: Kevil Bryan and Alison Wells
Năm: 1999
18. Ngân hàng Thế giới (WB) (1998/99) Báo cáo về tình hình phát triển thế giới: Tri thức cho phát triển, NXB Chính trị quốc gia.(Sách tham khảo- Bản tiếng Việt) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về tình hình phát triển thế giới: Tri thức cho phát triển
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia.(Sách tham khảo- Bản tiếng Việt)
19. Zvi Griliches (1995) Technology, Education and Productivity, (Occassional Paper), N.18, International Centre for Economic Growth, p.1-37, ( Tài liệu dịch phục vụ nghiên cứu của Viện Thông tin Khoa học xã hội, Số TN 96-98, Hà nội 1996) 20. Prigogine,Ilya and Isabel. Stenger, (1984) Order out of Chaos: Man’s NewDialogue With Nature, London 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Technology, Education and Productivity
Tác giả: Zvi Griliches
Nhà XB: International Centre for Economic Growth
Năm: 1995
21. Đặng Mộng Lân (1993) Phân tích năng lực công nghệ quốc gia, Đề tài KC 01-03, Viện Dự báo chiến lược khoa học và công nghệ, hà nội , 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích năng lực công nghệ quốc gia
28. Đỗ Kiên Cường- Giới hạn của nhận thức - (Tạp chí Tia Sáng); http://www.avsnonline.net/forum/viewtopic.php?p=100804 Link
29. Phan Đình Diệu- Tư duy hệ thống và đổi mới tư duy; Tạp chí Thời đại mới số 6 năm 2002; trang 89-118; http://www.tapchithoidai.org/Thoidai06.htm Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. “Chiến lược KH&CN” và “Chiến lược đổi mới”. - nghiên cứu phương pháp, quy trình tổ chức xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ việt nam giai đoạn 2011-2020
Bảng 1. “Chiến lược KH&CN” và “Chiến lược đổi mới” (Trang 65)
Hình 9. Những ảnh hưởng đến phát triển chùm ngành công nghiệp. - nghiên cứu phương pháp, quy trình tổ chức xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ việt nam giai đoạn 2011-2020
Hình 9. Những ảnh hưởng đến phát triển chùm ngành công nghiệp (Trang 75)
Bảng 6. Các dòng công nghệ chảy vào chùm ngành lâm nghiệp Phần lan,1989 - nghiên cứu phương pháp, quy trình tổ chức xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ việt nam giai đoạn 2011-2020
Bảng 6. Các dòng công nghệ chảy vào chùm ngành lâm nghiệp Phần lan,1989 (Trang 76)
Bước 10: Hình thành các khuyến nghị ưu tiên với các cơ quan  làm chính sách. - nghiên cứu phương pháp, quy trình tổ chức xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ việt nam giai đoạn 2011-2020
c 10: Hình thành các khuyến nghị ưu tiên với các cơ quan làm chính sách (Trang 88)
Bảng 2:  Các công nghệ  định hướng sản phẩm và công nghệ  nền  được lựa chọn theo  phương pháp điều tra Delphi ở Hàn Quốc - nghiên cứu phương pháp, quy trình tổ chức xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ việt nam giai đoạn 2011-2020
Bảng 2 Các công nghệ định hướng sản phẩm và công nghệ nền được lựa chọn theo phương pháp điều tra Delphi ở Hàn Quốc (Trang 121)
Hình thành  Dự thảo số 1 của Bản Chiến lược, hoàn thiện các dự  thảo tiếp  theo và phê duyệt chiến lược - nghiên cứu phương pháp, quy trình tổ chức xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ việt nam giai đoạn 2011-2020
Hình th ành Dự thảo số 1 của Bản Chiến lược, hoàn thiện các dự thảo tiếp theo và phê duyệt chiến lược (Trang 243)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN