Điều đó được thể hiện rõ trong quan điểm phát triển KH&CN đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31/10/2012 Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về phát triển kho
Trang 1VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XÁC ĐỊNH ĐỊNH HƯỚNG CÔNG NGHỆ ƯU TIÊN TRONG CHIẾN LƯỢC
PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG QUA ỨNG DỤNG KỸ THUẬT NHÌN TRƯỚC CÔNG NGHỆ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HÀ NỘI -2016
Trang 2VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XÁC ĐỊNH ĐỊNH HƯỚNG CÔNG NGHỆ ƯU TIÊN TRONG CHIẾN LƯỢC
PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG QUA ỨNG DỤNG KỸ THUẬT NHÌN TRƯỚC CÔNG NGHỆ
Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60.34.04.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN ĐÌNH BÌNH
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Luận văn này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của
TS Nguyễn Đình Bình
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm
vi hiểu biết của tôi
Hà Nội, ngày 28 tháng 7 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG CÔNG NGHỆ ƯU TIÊN TRONG CHIẾN LƯỢC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 8
1.1.Tổng quan chiến lược khoa học và công nghệ 8
1.2 Một số phương pháp định hướng công nghệ ưu tiên trong xây dựng chiến lược khoa học và công nghệ 16
1.3 Tổng quan kỹ thuật Nhìn trước công nghệ 23
Chương 2:KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ XÁC ĐỊNH HƯỚNG CÔNG NGHỆ ƯU TIÊN TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG QUAKỸ THUẬT NHÌN TRƯỚC CÔNG NGHỆ 35
2.1 Kinh nghiệm xác định hướng công nghệ ưu tiên của Nhật Bản 35
2.2 Kinh nghiệm xác định hướng công nghệ ưu tiên của Hàn Quốc 41
2.3 Kinh nghiệm xác định hướng công nghệ ưu tiên của Liên bang Nga 45
2.4 Kinh nghiệm của một số nước 53
2.5 Bài học cho Việt Nam 55
Chương 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG KỸ THUẬT NHÌN TRƯƠC CÔNG NGHỆ TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH HƯỚNG CÔNG NGHỆ ƯU TIÊN Ở VIỆT NAM 58
3.1 Thực trạng việc xác định hướng ưu tiên trong chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời gian qua 58
3.2 Bối cảnh trong việc xác định hướng công nghệ ưu tiên trong chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam trong thời gian tới 64
3.3 Đề xuất giải pháp ứng dụng kỹ thuật Nhìn trước công nghệ trong việc xác định hướng công nghệ ưu tiên ở Việt Nam 69
KẾT LUẬN ……… ……… 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 51
MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Khoa học và công nghệ (KH&CN) là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững đất nước Vai trò của hoạt động KH&CN đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước được coi là căn cứ và giải pháp cho chiến lược phát triển kinh tế- xã hội đất nước Điều đó được thể hiện
rõ trong quan điểm phát triển KH&CN đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31/10/2012 Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế: “Phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp Sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước và tài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đóng vai trò quyết định thành công của sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ” Chiến lược KH&CN đóng vai trò là công cụ định hướng cho sự phát triển KH&CN trong từng giai đoạn, kết quả thực hiện Chiến lược cần tiến tới đạt được mục tiêu đã đề ra và qua đó phát triển KH&CN nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nước ta nói chung Do đó, xây dựng chiến lược phát triển KH&CN cần được quan tâm thích đáng, qua đó tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
Thật vậy, công nghệ thay đổi nhanh chóng đòi hỏi đầu tư lớn và có độ rủi ro cao và phải có sự hỗ trợ của Chính phủ về mặt ngân sách Nhà nước không thể đáp ứng mọi yêu cầu của KH&CN nên vấn đề phát triển có chọn lọc, xác định lựa chọn công nghệ ưu tiên trong chiến lược KH&CN đều được cân nhắc Tuy nhiên bằng cách nào để lựa chọn trúng hướng công nghệ ưu tiên phù hợp với bối cảnh cụ thể, mục tiêu phát triển của từng nước và khả năng nguồn lực của quốc gia? Các quốc gia phát triển trên thế giới đã lựa chọn cách thức nào để xác định công nghệ ưu tiên của mình? Thực tế, trong những năm trước đây, để xác định các công nghệ ưu tiên người ta chú ý nhiều tới các ý kiến, đề xuất của giới khoa học, nhưng hiện nay đặc
Trang 62
biệt là các nước đang phát triển họ chú trọng đến sức kéo của thị trường (nhu cầu của thị trường do các doanh nghiệp đưa ra) và phù hợp với mục tiêu ưu tiêu của quốc gia Dựa vào kỹ thuật Nhìn trước công nghệ có thể chủ động lựa chọn các phương án phát triển cho tương lai và đến nay không chỉ một số tổ chức có uy tín như UNIDO, UNESCO mà các quốc gia phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc,…và nhiều quốc gia khác sử dụng kỹ thuật Nhìn trước để xác định ưu tiên công nghệ của
tổ chức, quốc gia mình
Việt Nam với nguồn lực hạn chế, KH&CN còn nhiều yếu kém và chưa phát triển tương xứng với vai trò của nó, áp dụng kỹ thuật Nhìn trước để xác định công nghệ ưu tiên phục vụ xây dựng chiến lược phát triển KH&CN cần được thực hiện
như thế nào? Với mục đích như trên, đề tài luận văn tập trung vào việc: “Đề xuất
giải pháp xác định định hướng công nghệ ưu tiên trong chiến lược phát triển khoa học và công nghệ thông qua ứng dụng kỹ thuật Nhìn trước công nghệ”
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Nhìn trước công nghệ là một thuật ngữ đã được sử dụng rộng rãi bởi các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách, nhà công nghiệp, nhà tư vấn và những lĩnh vực khác trên thế giới Theo Google Scholar đã có hơn 5000 bài báo chuyên ngành sử dụng thuật ngữ này, trong khi Google đã đăng kí hơn 90.000 lần truy cập Khái niệm Nhìn trước ban đầu liên quan đến tương lai cụ thể hơn liên quan đến công nghệ
Theo tác giả Ben R.Martin và Ron Johnston[24]đã viết: từ những năm 1990,
kỹ thuật Nhìn trước công nghệ đã lan truyền nhanh chóng Tác giả đã nghiên cứu kinh nghiệm Nhìn trước công nghệ ở Anh, Úc, New Zealand Qua đây để thấy được những lợi ích của quá trình Nhìn trước công nghệ, họ quan tâm đến mối quan hệ hợp tác dài hạn giữa các công ty, các ngành công nghiệp, các trường đại học, chính phủ và xã hội nói chung
Theo A Diana Woft- Albers [35] đã viết về định nghĩa Nhìn trước ở thế hệ thứ 3 do Trung tâm APEC đề xuất rằng: “Nhìn trước liên quan đến nỗ lực có hệ thống để nhìn vào tương lai của khoa học, công nghệ, xã hội và nền kinh tế, các
Trang 73
tương tác của họ để thúc đẩy lợi ích xã hội, kinh tế và môi trường” Bối cảnh kinh
tế, xã hội và văn hóa của các quốc gia khác nhau và các ngành công nghiệp khác nhau có thể ảnh hửng đến việc lựa chọn phương pháp Nhìn trước; kết hợp các phương pháp có thể hiệu quả hơn, ví dụ kịch bản và Delphi Kinh nghiệm của Trung tâm APEC thì Nhìn trước là một công cụ hữu hiệu cho việc lập kế hoạch chiến lược ở cấp độ đa nền kinh tế, quốc gia, công nghiệp
Theo báo cáo của UNIDO thì từ những năm 1990 việc sử dụng Nhìn trước được phổ biến ở các nước Hầu hết các nước thành viên OECD, các nước châu Âu
và nhiều nước Châu Á, Nam Mỹ đã tiến hành nghiên cứu “Nhìn trước công nghệ” quốc gia (Johnston 2002) Cách tiếp cận “Nhìn trước công nghệ” của UNIDO tập trung vào vấn đề phát triển công nghiệp dựa trên nguồn tài nguyên đến dựa trên công nghệ để thúc đẩy sản xuất tốt hơn trong nền kinh tế quốc tế Cách tiếp cận này
là công cụ xác định rủi ro và cơ hội giúp cho chính phủ đáp ứng thành công hiện tại
và chuẩn bị thay đổi thách thức cho tương lai Đã có những sự thay đổi ngày càng tăng từ các nghiên cứu “Nhìn trước công nghệ” cho thấy rằng: sự đa dạng các công
cụ có sẵn của Nhìn trước thích hợp cho từng mục đích và những điểm mạnh, điểm yếu khác nhau Đa số phạm vi áp dụng Nhìn trước ở cấp quốc gia Điều này phản ánh một giai đoạn trong việc nghiên cứu “Nhìn trước công nghệ” để xác định ưu tiên và mục tiêu chính sách Nhìn chung, các nghiên cứu đã được xây dựng và thực hiện bởi các tổ chức có trách nhiệm quốc gia về vấn đề khoa học và công nghệ chẳng hạn như một cơ quan thuộc chính phủ hoặc một cơ quan tư vấn Đến nay, Nhìn trước công nghệ ở cấp độ quốc gia đã trải qua các giai đoạn sau: Giai đoạn phát triển Nhìn trước đầu tiên xuất hiện đầu những năm 1980 với nội dung chủ yếu
đề cập đến việc xác định các công nghệ mới nổi lên, hoặc những lĩnh vực khoa học mang tính quốc gia Các nước ứng dụng Nhìn trước ở giai đoạn này chủ yếu nhằm định hướng lại đầu tư cho khoa học- công nghệ của quốc gia Giai đoạn phát triển thứ hai vào đầu những năm 1990 thì Nhìn trước gắn việc kết hợp công nghệ với thị trường, đặt nền móng cơ sở cho việc huy động sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp và cả giới nghiên cứu hàn lâm Giai đoạn phát triển Nhìn trước thứ ba vào năm 1999 đến nay có thiên hướng xã hội hóa mạnh Hoạt động Nhìn trước ở giai
Trang 84
đoạn này thu hút được sự tham gia của nhiều bên và cộng đồng, cả trên bình diện quốc tế, khu vực, quốc gia và trong từng ngành cụ thể Giai đoạn phát triển Nhìn trước lần thứ 4 [23] chương trình Nhìn trước có vai trò phân phối trong khoa học và
hệ thống đổi mới, chứ không phải được sở hữu của một nhà tài trợ duy nhất Giai đoạn phát triển Nhìn trước lần thứ 5: Một sự kết hợp của các chương trình và các bài tập nhìn xa được phổ biến trên các trang web, kết hợp với nhiều yếu tố khác hỗ trợ cho quá trình ra quyết định của chiến lược
Hiện nay, cách tiếp cận theo phương pháp luận của Nhìn trước không chỉ bó gọn trong lĩnh vực Nhìn trước công nghệ mà đã lan tỏa sang các lĩnh vực khác bao gồm cả khoa học xã hội, trong đó có khoa học kinh tế
Keenan (2007) trong một nghiên cứu có tựa đề “xem xét về các phương pháp được sử dụng trong Nhìn trước công nghệ” đã giới thiệu các nguồn lực (về tiền và thời gian), số lượng người tham gia, mở rộng các chuyên gia và các đối tượng trong
dự án Nhìn trước công nghệ Các phương pháp Nhìn trước công nghệ đa số liên quan đến các dữ liệu định lượng, xử lý thu thập thông tin dựa trên bằng chứng, sử dụng sự sáng tạo, năng lực kết hợp của các phương pháp truyền thống
Tóm lại: Các nghiên cứu trên chủ yếu xoay quanh vấn đề liên quan đến cơ sở
lý luận kỹ thuât Nhìn trước công nghệ, các phương pháp được ứng dụng trong nó và mục tiêu được dùng hỗ trợ cho quá trình xây dựng chiến lược và đặc biệt góp phần quan trọng vào việc xác định hướng công nghệ ưu tiên
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam thì từ những năm 2000, Nguyễn Văn Thu [13],[14],[15] đã tiến hành những nghiên cứu ban đầu về phương pháp luận Nhìn trước Tác giả đã tổng quan phân tích lý luận và phương pháp luận về Nhìn trước và kinh nghiệm áp dụng Nhìn trước của một số nước dưới góc nhìn của người Việt Nam đang có ý định vận dụng cách tiếp cận Nhìn trước như là một công cụ hỗ trợ nhằm nghiên cứu chất lượng quá trình ra quyết định về chiến lược và chính sách KH&CN
Năm 2004 tác giả Nguyễn Mạnh Quân [11] đã phân tích tổng quan kinh nghiệm nghiên cứu vận dụng cách tiếp cận Nhìn trước trong lựa chọn các hướng KH&CN ưu tiên ở Việt nam: trường hợp chế biến ngành thực phẩm Liên quan đến
Trang 95
chủ đề của đề tài thì tác giả Nguyễn Mạnh Quân [10],[12] đã có nghiên cứu về phương pháp, quy trình tổ chức xây dựng chiến lược phát triển KH&CN Mục đích của đề tài là đề xuất cách tiếp cận và quy trình tổ chức xây dựng chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Đề tài luận văn cũng xin được kế thừa một số kết quả của nghiên cứu và chỉ tập trung xác định đinh hướng công nghệ
ưu tiên trong xây dựng chiến lược KH&CN (là bước thứ 3 trong 8 bước)
Năm 2013 Trần Thọ Đạt [6] đã trình bày lý thuyết chung về Nhìn trước, phương pháp luận của cách tiếp cận Nhìn trước trong xây dựng chiến lược nói chung, chiến lược phát triển nguồn nhân lực giảng dạy nói riêng Tác giả đi sâu phân tích kịch bản ngành công nghệ thông tin và nguồn lực giảng dạy công nghệ thông tin, đồng thời đề ra chiến lược phát triển nguồn nhân lực giảng dạy công nghệ thông tin của Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 trên cơ sở tiếp cận Nhìn trước, đề xuất
cơ chế, chính sách, giải pháp
Năm 2016 Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ (Bộ KH&CN), Văn phòng các Chương trình KH&CN quốc gia, Công ty cổ phần giống cây trồng Trung Ương phối hợp tổ chức Hội thảo “Báo cáo kết quả xây dựng bản đồ công nghệ, lộ trình đổi mới công nghệ áp dụng cho ngành chọn tạo giống lúa, sản xuất lúa gạo tại Việt Nam”
Tóm lại: Nhìn trước đã thực hiện ở trong nước mới tập trung xem xét về phương pháp luận của cách tiếp cận Nhìn trước và một số nghiên cứu ban đầu về đề xuất vận dụng Nhìn trước đối với ngành chế biến thực phẩm, ngành chè hay trong xây dựng chiến lược nguồn nhân lực giảng dạy công nghệ thông tin Gần đây Nhìn trước công nghệ đã được ứng dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, tương lai trong lĩnh
vực y tế, vật liệu
3.Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu: Đề xuất giải pháp xác định hướng công nghệ ưu tiên
trong chiến lược phát triển khoa học và công nghệ thông qua ứng dụng kỹ thuật Nhìn trước công nghệ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 106
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn tập trung giải quyết một số vấn đề sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về xác định hướng công nghệ ưu tiên trong việc xây
dựng chiến lược thông qua kỹ thuật Nhìn trước công nghệ
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về việc sử dụng kỹ thuật Nhìn trước công nghệ
để xác định hướng công nghệ ưu tiên trong việc xây dựng chiến lược
- Đề xuất giải pháp xác định hướng công nghệ ưu tiên trong xây dựng chiến lược KH&CN ở Việt Nam
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Tập trung nghiên cứu bản chất của công cụ Nhìn trước công nghệ định hướng cho việc xác định hướng công nghệ ưu tiên trong chiến lược phát triển KH&CN
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Xác định hướng công nghệ ưu tiên trong chiến lược phát triển KH&CN
thông qua ứng dụng kỹ thuật Nhìn trước công nghệ
5.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Nghiên cứu cơ sở lý luận dựa trên tổng quan công
trình nghiên cứu, bài báo trong và ngoài nước, kế thừa kết quả từ một số đề tài về
chiến lược và lựa chọn ưu tiên trong xây dựng chiến lược KH&CN ở Việt Nam
-Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích tài liệu: Thu thập những tài liệu (các nghiên cứu, các công trình, các bài báo…) ở trong và ngoài nước về khái niệm chiến lược và chiến lược KH&CN, công nghệ ưu tiên và kỹ thuật Nhìn trước công nghệ
6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học: Góp phần bổ sung, làm rõ hơn vai trò của kỹ thuật Nhìn trước công nghệ trong hệ thống phương pháp xác định hướng công nghệ ưu tiên
Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần vào quá trình xác định hướng công nghệ ưu tiên trong chiến lược phát triển khoa học và công nghệ thông qua ứng dụng kỹ thuật Nhìn trước công nghệ
Trang 117
7.Cơ cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận và kiến nghị thì cơ cấu luận văn bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận về định hướng công nghệ ưu tiên trong chiến lược
khoa học và công nghệ
Chương 2: Kinh nghiệm quốc tế về xác định hướng công nghệ ưu tiên trong
chiến lược phát triển khoa học và công nghệ thông qua kỹ thuật Nhìn trước công nghệ
Chương 3: Đề xuất giải pháp xác định hướng công nghệ ưu tiên trong xây
dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ thông qua kỹ thuật Nhìn trước công nghệ
Trang 128
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG CÔNG NGHỆ ƯU TIÊN
TRONG CHIẾN LƯỢC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Nhiều quốc gia ở các trình độ phát triển khác nhau trên thế giới từ mấy thập kỷ gần đây đã có những thay đổi tư duy, quan điểm và cách tiếp cận chiến lược phát triển quốc gia trong bối cảnh quốc tế hóa và toàn cầu hóa Vậy chiến lược, chiến lược KH&CN được hiểu như thế nào và định hướng công nghệ ưu tiên trong chiến lược quan trọng ra sao hay dùng kỹ thuật gì để giúp định hướng công nghệ ưu tiên trong xây dựng chiến lược khoa học và công nghệ Chương 1 của Đề tài luận văn sẽ tìm hiểu và làm rõ các nội dung nêu trên
1.1.Tổng quan chiến lược khoa học và công nghệ
1.1.1.Khái niệm chiến lược
Thuật ngữ “chiến lược” bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp cổ “stratagem” hoặc
“strateges” và nó mang ý nghĩa về tư tưởng chỉ đạo có tính cơ bản đối với các hành
vi để đạt được mục đích lớn nào đó mà người ta mong muốn
Khái niệm chiến lược bắt đầu xuất hiện từ trong lĩnh vực quân sự với nghĩa ban đầu là nghệ thuật lãnh đạo quân, tức là một kế hoạch cấp cao để đạt được một hay nhiều mục tiêu trong điều kiện không chắc chắn
Sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật cũng như trình độ phát triển của xã hội ngày càng đặt ra vấn đề mở rộng quan hệ hợp tác giữa các cá nhân, tổ chức từ quy
mô nhỏ đến quy mô lớn Cũng từ đó, khái niệm chiến lược dần được sử dụng phổ biến trong nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau Cách hiểu về khái niệm chiến lược theo
quan điểm của nhiều tác giả và các tổ chức trên thế giới vẫn còn khác nhau Theo tác giả Fêđôrenkô [21], “chiến lược là nguyên tắc bất kì, quy định những hành
động trong mỗi tình huống của quá trình nhận quyết định Nguyên tắc đó cần bao quát toàn bộ quá trình nhận quyết định và mọi trường hợp có thể xảy ra” Như vậy, theo khái niệm trên thì chiến lược bao gồm 3 yếu tố: mục tiêu, quan điểm, chính sách (thực hiện) Quan điểm này được tiếp cận dưới góc độ toán học và điều khiển học, vì thế khái niệm chiến lược được xem là nguyên tắc, thể hiện tính chắc chắn, chính xác và mang tầm bao quát cao
Trang 139
Trung tâm kinh tế của Ôxtrâylia (CIE) [1]cho rằng, “chiến lược gồm chiến
lược trung hạn và chiến lược dài hạn, nội dung chiến lược phải xác định được điểm xuất phát và mục tiêu cuối cùng của một giai đoạn phát triển, phải xây dựng các thể chế và tận dụng yếu tố thị trường để đạt được các mục tiêu phát triển, trong đó nhấn mạnh chiến lược phải tính đến các khía cạnh vĩ mô và vi mô cũng như các khía cạnh chính trị xã hội của các mục tiêu phát triển và chỉ ra cần phải làm gì để đạt
được các mục tiêu đề ra” Có thể thấy, quan điểm này về khái niệm chiến lược vừa thể hiện tầm bao quát, vừa cụ thể và chi tiết trong việc hoạch định mục tiêu và cách thức để đạt được mục tiêu đó
Tổ chức phát triển Công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO) cho rằng:
“Thông thường, một chiến lược phát triển có thể mô tả như bản phác thảo quá trình phát triển nhằm đạt những mục tiêu đã định cho một thời kì từ 10-20 năm; nó hướng dẫn các nhà hoạch định chính sách trong việc huy động và phân bổ các nguồn lực Như vậy, có thể nói chiến lược cung cấp một “tầm nhìn” của một quá trình phát triển mong muốn và sự nhất quán trong các biện pháp tiến hành Chiến lược có thể là cơ sở cho các kế hoạch phát triển toàn diện ngắn hạn và trung hạn, hoặc là một nhận thức tổng quát không bị ràng buộc của những người trong cuộc trong thời kỳ đó về những triển vọng, những thách thức và những đáp ứng mong muốn” Như vậy, quan điểm của UNIDO xác định thời hạn cụ thể của một chiến lược (10-20 năm), nhấn mạnh đến việc phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu Hơn nữa, khái niệm này đã đề cập đến chủ thể xây dựng chiến lược
Năm 2003, trong một số công trình nghiên cứu của PSG.TS.Ngô Doãn Vịnh [17] cũng đề cập đến nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về nghiên cứu chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, lý giải những vấn đề lý luận cơ bản
về tăng trưởng phát triển; về chiến lược, quy hoạch phát triển và bàn luận việc vận
dụng chúng vào điều kiện Việt Nam Phần hai của tác phẩm với tựa đề “Chiến lược, quy hoạch phát triển: Kế sách và hành động”, tác giả đã đưa ra quan điểm khái
niệm chiến lược và làm rõ những vấn đề cốt lõi về khái niệm này Theo tác giả,
“phàm những vấn đề có tính chất toàn cục thì chúng được xem là chiến lược Do nhiệm vụ có tính chất toàn cục đều không thể thực hiện ngay trong một lúc được, vì
Trang 1410
thế nó có tính chất lâu dài; hơn nữa, những vấn đề có tính chất toàn cục và lâu dài thường là những vấn đề quan trọng” Cũng trong phần này, tác giả luận giải một số vấn đề về lý luận chiến lược, trong đó phân tích rằng, một chiến lược thường gồm hai yếu tố tạo nên là tư tưởng chỉ đạo chiến lược và mục tiêu chiến lược Theo quan điểm này, khái niệm chiến lược mang tính chất chung chung, chỉ tính đến tính chất toàn cục và lâu dài của vấn đề, chưa thể hiện rõ về nội hàm khái niệm
Năm 2007, nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh đã định nghĩa chiến lược [8] như sau: “Chiến lược là sự bố trí tổng thể các nguồn lực, các giải pháp để đạt mục đích – mục tiêu tổng quát do người lãnh đạo định ra” Ở đây, tác giả đưa ra
quan điểm về khái niệm chiến lược bao gồm: Mục tiêu, giải pháp và nguồn lực
Một số chuyên gia [2] cho rằng, “chiến lược chỉ nên là một bản về tầm nhìn dài hạn với những dự báo xu hướng phát triển, các quan điểm phát triển, trong đó những ý tưởng và quan điểm có tầm quan trọng hàng đầu” Họ chỉ ra hai hướng lựa chọn trong cách hiểu đối với một chiến lược: thứ nhất là lựa chọn về phạm vi rộng
hay hẹp của chiến lược được xây dựng theo thời gian, thứ hai là chiến lược được xác định theo mục tiêu Với quan điểm về cách thể hiện chiến lược thứ hai, thì mục
tiêu không đưa vào nội dung nội hàm khái niệm chiến lược Theo đó, chiến lược chỉ
là công cụ, phương tiện, con đường để đạt tới mục tiêu đặt ra Hay nói cách khác, mục tiêu là cái cần đạt được trong tương lai, còn chiến lược là cách thức để đạt tới mục tiêu đó
Trong một số nghiên cứu [9];[11] của tác giả Nguyễn Mạnh Quân cũng đã đưa ra quan điểm về chiến lược như sau: “Một chiến lược nên được hiểu là cả một
“gói” tổng thể bao gồm cả các dự báo dài hạn, các mục tiêu, phương tiện và các nguồn lực được bố trí sử dụng theo các quy hoạch, kế hoạch trung hạn và ngắn hạn, các lộ trình, chương trình, dự án cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu dài hạn đã xác định” Có thể thấy, quan điểm này đã thống nhất được các yếu tố và xác lập mối quan hệ không tách rời giữa chiến lược với các quy hoạch, kế hoạch, chương trình
và dự án cụ thể Hơn nữa, với việc lựa chọn khái niệm chiến lược mang tính tổng thể và toàn diện như thế có giá trị thực tiễn hóa chiến lược qua sự hiện diện của nó trong các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án Qua đó, vai trò thiết thực của
Trang 15Chiến lược không bao gồm mục tiêu, nghĩa là chiến lược chỉ là công cụ,
phương tiện, con đường để đạt tới mục tiêu đặt ra Hay nói cách khác, mục tiêu là
cái cần đạt được trong tương lai, còn chiến lược là cách thức để đạt tới mục tiêu đó Chiến lược chỉ gồm mục tiêu và giải pháp, không bao hàm nguồn lực thực hiện Và trong thực tiễn, hầu hết các bản chiến lược được xây dựng chỉ nói đến mục
tiêu dài hạn, giải pháp dài hạn
Chiến lược gồm cả mục tiêu và phương tiện (trong đó phải thể hiện được cả giải pháp và nguồn lực thực hiện) Với những quan điểm theo cách tiếp cận này,
nhiệm vụ của một chiến lược phải giải quyết cả ba vấn đề: Định rõ mục tiêu cần đạt tới; Chỉ rõ con đường cần đi; Hướng phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu đã chọn Do đó, nhiệm cụ của chiến lược phải tìm ra được phương thức lựa chọn ưu tiên và sử dụng nguồn lực làm sao để có thể đạt được mục tiêu cao nhất Đây là việc đặt ra đối với việc phân tích và lựa chọn chiến lược
Những yêu cầu đặt ra đối với vai trò thực thi của chiến lược đã dẫn đến việc
hình thành một hệ thống quan niệm gần đây, coi chiến lược là cả một gói tổng thể
từ dự báo, xác định mục tiêu, giải pháp, nguồn lực, đến tổ chức thông qua các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án nhằm xác định các mục tiêu dài hạn
Chiến lược do Nhà nước ban hành như một công cụ quản lý- dù ở cấp nào, trong lĩnh vực nào cũng có thể coi là một dạng can thiệp của nhà nước Do vậy, chiến lược cũng nằm trong phạm trù về chính sách và là một loại can thiệp về chính sách [16]
1.1.2 Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ
Chiến lược chung được hiểu như vậy, vậy chiến lược phát triển khoa học và công nghệ nói riêng được hiểu như nào Đến nay, chưa có công trình nào làm rõ
Trang 16“tinh thần cơ bản” của đường lối phát triển do con người định ra, nó thể hiện chủ
đề tư tưởng và gắn liền với chủ đề tư tưởng ấy là phạm vi bao quát và nội dung chủ yếu (hay trọng tâm) của chiến lược được thể hiện thông qua mục tiêu, hệ thống các quan điểm, biện pháp cơ bản có tính chiến lược về phát triển của một đối tượng (hay một hệ thống) mà các nhà lãnh đạo đề ra; nó chỉ đạo hành động thống nhất của một cộng đồng hay một quốc gia hoặc một nhóm quốc gia nhằm đạt tới mục tiêu cao nhất, lớn nhất, tổng quát nhất đã xác định Nói như thế mỗi quốc gia phải gắn với một chiến lược cụ thể
Theo tác giả B Benev: “Chiến lược KH&CN được hiểu là sự xác định các phương hướng chủ yếu, các con đường phát triển, các vấn đề KH&CN ưu tiên và các nỗ lực hướng đích của Nhà nước trong lĩnh vực KH&CN” [10]
Nhìn chung, theo cách hiểu này chiến lược KH&CN được hiểu theo như sau:
- Chiến lược phải xác định mục tiêu dài hạn phát triển KH&CN
- Trọng điểm ưu tiên về KH&CN
- Con đường để thực hiện mục tiêu theo hướng ưu tiên
- Các biện pháp hỗ trợ của Nhà nước để thực hiện mục tiêu đã xác định
Theo cách hiểu này, đối tượng của chiến lược KH&CN mặc nhiên được
hiểu là các hoạt động KH&CN Hoạt động KH&CN theo mô hình tuyến tính được hiểu chỉ bao gồm các hoạt động nghiên cứu khoa học (trong đó bao gồm nghiên cứu
cơ bản và nghiên cứu định hướng ứng dụng) và phát triển công nghệ, tức là các hoạt động diễn ra trước khi tiến hành sản xuất, chế tạo ra các sản phẩm vật chất, hay nói cách khác là những hoạt động nằm bên ngoài hoạt động sản xuất và kinh doanh
Tác động của chiến lược KH&CN chỉ cung cấp đầu vào dưới dạng các tri thức khoa học, các ý tưởng công nghệ và các sáng chế công nghệ cho quá trình sản xuất kinh doanh và không quan tâm đến quá trình và kết quả áp dụng những
Trang 1713
sản phẩm nghiên cứu KH&CN vào trong sản xuất kinh doanh như thế nào Nhiệm
vụ chủ yếu của chiến lược KH&CN là lựa chọn hướng nghiên cứu KH&CN trọng điểm, lựa chọn các mục tiêu xây dựng tiềm lực KH&CN
Nhược điểm của cách quan niệm này về đối tượng và phạm vi của chiến lược KH&CN là dễ thấy và hậu quả lớn nhất là chiến lược KH&CN không đi vào thực tế và gắn những hoạt động phát triển kinh tế-xã hội, sản xuất
và kinh doanh với những sản phẩm và dịch vụ mới mà xã hội có thể nhận biết
Chủ thể tham gia xây dựng chiến lược KH&CN :các cơ quan là nhà nước,
các tổ chức nghiên cứu Chiến lược, cộng đồng KH&CN, tổ chức KT-XH, chính trị
Sản phẩm đầu ra của “chiến lược KH&CN”thường là một văn bản bao gồm:
- Các quan điểm chỉ đạo
- Các mục tiêu cần đạt tới
- Các trọng điểm ưu tiên về KH&CN
- Các con đường/ cách đi để đạt tới mục tiêu theo các hướng ưu tiên đã lựa chọn
- Các biện pháp tác động của nhà nước để thúc đẩy phát triển KH&CN
Như vậy, mục tiêu của chiến lược KH&CN theo cách tiếp cận truyền thống hướng đến “trong lĩnh vực KH&CN”, “đáp ứng nhu cầu phát triển của bản thân KH&CN”
Chiến lược KH&CN theo nghĩa “đổi mới- Innovation”
“Innovation” là quá trình “chuyển ý tưởng thành sản phẩm mới hoặc sản phẩm hoàn thiện đưa ra thị trường, thành quy trình đưa vào hoạt động hoặc hoàn thiện trong công nghiệp và thương mại, hoặc đưa ra cách tiếp cận mới về dịch vụ xã hội” (Nelson, 1993) “ Đổi mới là một quá trình biến đổi bao gồm trong đó các hoạt động phát minh khoa học, nghiên cứu ứng dụng, triển khai công nghệ, đào tạo nhân lực, đầu tư tài chính, tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm” ( Arthur J Carty, 1988) [9]
Điểm khác biệt về cơ bản giữa hoạt động KH&CN với hoạt động đổi mới ở
chỗ, đầu ra của các hoạt động KH&CN là các kết quả nghiên cứu như phát minh, sáng chế thì sản phẩm đầu ra của hoạt động đổi mới là các sản phẩm, dịch vụ mới
được xã hội và thị trường chấp nhận
Trang 1814
Đối tượng của “chiến lược đổi mới” được hiểu là hoạt động đổi mới bao
gồm cả R&D và ngoài R&D như ứng dụng và phát triển công nghệ, sản xuất, chế tạo và tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ xã hội
Chủ thể tham gia xây dựng “chiến lược đổi mới” là các doanh nghiệp
vì các kết quả nghiên cứu là một đầu vào, là một phương án để doanh nghiệp xem xét, cân nhắc và lựa chọn chứ không phải là phương án duy nhất để đáp ứng nhu cầu của họ Vì thế cần biết được nhu cầu của họ cần gì, mục tiêu họ muốn gì
để có thiết kế chiến lược phù hợp với từng thời kì, từng giai đoạn Chính các doanh nghiệp sẽ là người đưa ra các nhu cầu thật sự cho các ứng dụng kết quả hoạt động KH&CN, liên kết giữa hoạt động KH&CN với sản xuất kinh doanh trong các hệ thống đổi mới
Sản phẩm đầu ra của “chiến lược đổi mới” mục tiêu về xây dựng
tiềm lực KH&CN, chiến lược phát triển KH&CN theo cách tiếp cận hệ thống đổi mới (lấy các hoạt động đổi mới làm đối tượng của chiến lược) phải được cụ thể hóa bằng một số chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng một số ngành và sản phẩm quốc gia với sự tham gia của các bộ ngành, tập đoàn doanh nghiệp
và các tổ chức KH&CN có liên quan
Như vây, mục tiêu chiến lược đổi mới phải gắn với chính sách nhằm phục vụ các mục tiêu của chiến lược kinh tế xã hội Qua đó, đã thể hiện hệ quan điểm xác
định mục tiêu chiến lược KH&CN không tách rời mục tiêu phát triển KT-XH, thực
sự đưa chiến lược KH&CN gắn liền với thực tiễn
Qua đây có thể thấy chiến lược được đề cập nhiều đến trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội và chiến lược KH&CN Các nhà nghiên cứu lịch sử KH&CN thường lưu ý tới hai chức năng cơ bản của KH&CN, đó là [5]:
- Chiến lược phục vụ kinh tế-xã hội
- Chiến lược dẫn đường cho kinh tế- xã hội
Chiến lược không chỉ là mục tiêu, mà bao gồm cả chương trình, hành động
và giải pháp để hướng tới mục tiêu Vậy làm sao để đạt được mục tiêu đề ra? Thì việc xác định định hướng công nghệ ưu tiên là vô cùng quan trọng đối với các quốc gia trong tình trạng khan hiếm nguồn lực và hạn chế về ngân sách
Trang 1915
1.1.3 Định hướng công nghệ ưu tiên trong chiến lược khoa học và công nghệ
Ưu tiên không chỉ có nghĩa là việc người ta làm trước các việc khác theo thứ
tự thời gian mà quan trọng và thiết thực hơn còn thể hiện ở các nguồn lực (đặc biệt
là về tài chính) được bố trí, phân bổ cho lĩnh vực ưu tiên phải nhiều hơn, lớn hơn các lĩnh vực khác [11]
Do có thay đổi về phạm vi xem xét của các hoạt động KH&CN nên ưu tiên KH&CN cũng thay đổi và không còn chỉ được hiểu các những ưu tiên về các chủ đề chuyên môn KH&CN thuần túy, có nghĩa tự thân chỉ nhằm giải quyết những vấn đề nội tại của bản thân KH&CN Thêm vào đó, ưu tiên KH&CN có xu hướng được mở rộng, gắn kết và lồng ghép trong những ưu tiên về kinh tế xã hội, chính trị, văn hóa, môi trường, nhằm giải quyết những vấn đề không thuần túy hoặc là nằm bên ngoài KH&CN Ưu tiên KH&CN có thể được xác định dưới 3 dạng [11]:
- Ưu tiên theo các lĩnh vực KH&CN chuyên môn thuần túy dưới dạng các bộ môn khoa học (toán học, vật lý học, sinh học, vv ), lĩnh vực khoa học (nghiên cứu cơ bản hoặc nghiên cứu ứng dụng) và ưu tiên theo các lĩnh vực công nghệ (công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ tự động hóa,vv )
- Ưu tiên KH&CN gắn với các ngành và lĩnh vực, thí dụ như: KH&CN trong nông nghiệp, công nghiệp chế biến thực phẩm, trong sản xuất, quản lý và phân phối điên năng…Đặc điểm của dạng ưu tiên KH&CN này thường bao gồm hoặc liên quan đến nhiều bộ môn khoa học, nhiều lĩnh vực công nghệ khác nhau để giải quyết những vấn đề của cả một ngành kinh tế chứ không chỉ riêng một bộ môn khoa học hay lĩnh vực công nghệ nào Mục tiêu của việc xác định ưu tiên KH&CN loại này chủ yếu nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế của một ngành, một lĩnh vực ví dụ như vấn đề cạnh tranh, chất lượng sản phẩm, tiêu dùng hàng hóa
- Ưu tiên KH&CN được lồng ghép trong các mục tiêu phát triển KT-XH, các ưu tiên chiến lược và chính sách phát triển các lĩnh vực KT-XH Thí dụ các vấn đề y tế, giáo dục, phòng và chống thiên tai, chống khủng bố So với hai loại ưu tiên trên , loại
ưu tiên này có phạm vi tập hợp rộng rãi hơn và liên quan nhiều đến hoạt động quản lý của các nhà nước, các chính phủ và liên quan đến chi tiêu tài chính công
Trang 2016
Xét về bản chất xác định công nghệ ưu tiên là tìm kiếm sự đồng thuận về các hoạt động nhằm xác định đâu là các hoạt động có tầm quan trọng hơn, cần ưu tiên thực hiện Xác định đúng thứ tự ưu tiên vừa là đòi hỏi khách quan là mục tiêu của quá trình quản lý, mọi quốc gia, mọi ngành, mọi cấp đều phải đối mặt với tình trạng nguồn lực có hạn
Công nghệ ưu tiên ở đây có nghĩa rằng nhà nước sẽ tập trung đầu tư từ ngân sách để xây dựng năng lực hoạt động cho lĩnh vực đó để đón trước một số hướng có lợi thế và triển vọng hỗ trợ khu vực doanh nghiệp trong tương lai
Vậy có thể hiểu công nghệ ưu tiên là tổng hợp các năng lực, nguồn lực cho phát triển đồng thời tập trung vào một số sản phẩm, một số công nghệ then chốt và
ưu tiên phân bổ nguồn lực đầu tư và nghiên cứu hiệu quả hoạt động KH&CN
Việc xác định hướng công nghệ ưu tiên cho chiến lược phát triển KH&CN là một nghệ thuật Nghệ thuật này xuất phát từ hiểu biết sâu sắc về năng lực nội sinh của KH&CN Đó là một dạng năng lực tổng hợp, không tuân theo những suy diễn cơ học máy móc, tuyến tính, mà rất biện chứng, khách quan, toát lên tinh thần vận dụng sức mạnh tổng hợp trong thời đại toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế sâu rộng như ngày nay
Ví dụ, ở một giai đoạn nhất định của phát triển tiềm lực, không nhất thiết phải chờ đợi đến khi ta tự làm được tất cả thì nước ta mới được thụ hưởng những thành tựu của công nghệ hiện đại, ví dụ như vệ tinh, công nghệ thông tin-viễn thông Ngược lại, có những lĩnh vực nhậy cảm, cạnh tranh cao, thì chúng ta bắt buộc phải xây dựng tiềm lực vững chắc, ví dụ liên quan đến an ninh, quốc phòng
Có thể thấy nguồn ngân sách của các nhà nước để đầu tư cho KH&CN là không thể đáp ứng được hết yêu cầu đặt ra Vấn đề phát triển có chọn lọc, lựa chọn ưu tiên trong khoa học và công nghệ đặt ra với mọi quốc gia Lựa chọn công nghệ ưu tiên là một trong những bước quan trọng của xây dựng Chiến lược Vậy phương pháp nào ưu việt hơn cả để xác định công nghệ ưu tiên?
1.2 Một số phương pháp định hướng công nghệ ưu tiên trong xây dựng chiến lược khoa học và công nghệ
Với cách hiểu Chiến lược KH&CN như đã đề cập ở phần trên, thì làm cách nào để xây dựng được chiến lược KH&CN theo quan niệm như vậy Dưới đây tác
Trang 2117
giả luận văn sẽ tìm hiểu một số phương pháp xây dựng chiến lược KH&CN nhưng tập trung lựa chọn và nhấn mạnh vào phương pháp nào ưu việt hơn được dùng để xác định định hướng công nghệ ưu tiên trong xây dựng chiến lược KH&CN:
1.2.1.Phương pháp phân tích SWOT
SWOT là một công cụ phân tích có thể được sử dụng để kiểm tra những điểm mạnh và điểm yếu bên trong mỗi quốc gia, ngành và doanh nghiệp cũng như các cơ hội thách thức bên ngoài đối với các quốc gia, ngành và doanh nghiệp đó Phân tích SWOT có liên quan đến việc thu thập các yếu tố bên trong và bên ngoài mà có thế có tác động đến sự phát triển của quốc gia, ngành
và doanh nghiệp Kỹ thuật này giúp cho các quốc gia, ngành và doanh nghiệp tự phân tích điểm mạnh, điểm yếu và biết chớp thời cơ một cách thuận lợi Chất lượng phân tích của mô hình SWOT phụ thuộc vào chất lượng thông tin thu thập được Phân tích SWOT được chia thành 3 phần: phân tích điều kiện bên trong, phân tích điều kiện bên ngoài, phân tích điều kiện cả bên trong- bên ngoài của đối tượng [12]
Sản phẩm của bản phân tích SWOT là các yếu tố tích cực và tiêu cực tiềm năng được nhận dạng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của quốc gia Vì vậy đây
là công cụ trọng tâm trong các phân tích chiến lược để từ đó xác định công nghệ nào cần ưu tiên đối với một quốc gia
Ưu điểm: của phương pháp SWOT
- Là quá trình kết quả để lựa chọn và sắp xếp trật tự công nghệ ưu tiên trên các yếu tố liên quan
- Bản kết quả phân tích SWOT là một chỉ dẫn quan trọng để xây dựng các kế hoạch ở tầm nhìn dài hạn
Hạn chế:
- Chất lượng các yếu tố ưu tiên còn nhiều tranh luận
- Không dễ dàng phân tích khi gặp phải các yếu tố phức tạp hoặc yêu cầu các chuyên gia công nghệ và chuyên môn cao
Vấn đề là ở chỗ thông tin nào sẽ được điền vào ma trận đó Để có những thông tin mang tính chất đánh giá, so sánh như vậy, lại cần phải huy động sự tham
Trang 2218
gia phân tích của những chuyên gia am hiểu tình hình thực tiễn, tương quan so sánh giữa các đối tượng được đem ra so sánh Do đó, thực tiễn đã chỉ ra đây là phương pháp ít được sử dụng để xác định ưu tiên trong xây dựng chiến lược, các lựa chọn chiến lược khó có thể được xem là được luận cứ tốt
1.2.2.Phương pháp xây dựng kịch bản
Ban đầu thuật ngữ kịch bản được dùng trong các nhà hát và trong kỹ thuật làm phim ảnh Thuật ngữ này có nghĩa là các bản thảo chức năng của một vở kịch hoặc một bộ phim Một bản thảo như vậy không chỉ bao gồm các đoạn văn với các câu văn và các đoạn hội thoại của diễn viên, mà nó còn bao gồm các ghi chú và lời khuyên của đạo diễn, diễn viên, quay phi, biên tập viên và thiết lập trang trí cho các hành động, dàn dựng, cảnh quan và các vật dụng trang trí Nó cũng mô tả sự chuyển động mà các diễn viên phải thực hiện, vị trí của họ trên sân khấu và có lẽ cả những chi tiết về nhân vật, sự xuất hiện của nhân vật
Theo Anita Rubin [28] trong nghiên cứu tương lai, có hai cách hiểu khác nhau cho khái niệm “kịch bản” Đầu tiên, suy nghĩ kịch bản là một cách hiểu về
tương lai, dựa trên cơ sở các nghiên cứu tương lai như là một lĩnh vực của các cuộc điều tra Các kịch bản nhằm xem xét khả năng sẽ mang đến những cơ hội đến các tương lai khác nhau và thay thế, để nó trở thành hiện thực Suy nghĩ kịch bản với những tương lai thay thế của nó làm tăng tính linh hoạt trong việc đưa ra lựa chọn chiến lược và do đó làm tăng khả năng chuẩn bị cùng một lúc cho nhiều lựa chọn khác nhau trong tương lai Như vậy, suy nghĩ kịch bản là một công cụ có thể sử dụng hầu hết trong các công việc theo định hướng tương lai và đưa ra quyết định,
cho nhiều nhà tương lai học; Nghĩa thứ hai của khái niệm “kịch bản” được dùng
trong các nghiên cứu tương lai liên quan đến phương pháp Chúng ta thường gọi là các phương pháp kịch bản và thực hiện kịch bản (Bell, 1997a, 316) nói rằng một kịch bản có thể được xem như là một cách để tóm tắt kết quả của nghiên cứu tương lai, nó dựa trên các phương pháp định lượng mà căn cứ trên các dữ liệu cứng
Một định nghĩa được đưa ra bởi Van Notten 2005 [27]: “Các kịch bản là những mô tả phù hợp và súc tích của tương lai về giả thuyết thay thế mà phản ánh
Trang 23Theo Rialland [27] Mục đích của kịch bản cũng như công việc lập kế hoạch kịch
bản, xây dựng các kịch bản là: đưa ra tầm nhìn tương lai, hạn chế và loại bỏ tính không chắc chắn của tương lai và thực sự trở thành công cụ đắc lực phục vụ cho quá trình hoạch định chính sách hiện tại để đạt hiệu quả cao nhất
Nội dung của một kịch bản thường được thể hiện theo một dàn bài lô gic như sau:
• Xác định và mô tả những diễn biến và tình hình của đối tượng xem xét trong tương lai bao gồm cả những diễn biến tích cực và tiêu cực
• Đưa ra những luận cứ, lý giải những nguyên nhân dẫn đến tính hình tương lai
đó xuất phát từ các động lực và các bất định tính đến trong kịch bản
• Xác định, lựa chọn những ưu tiên và chiến lược hành động cần theo đuổi để khai thác những yếu tố tích cực và hạn chế yếu tố tiêu cực
Ưu điểm: của phương pháp kịch bản
- Việc xây dựng kịch bản sẽ cung cấp thông tin để suy nghĩ và đề xuất các chiến lược, giúp xác định xem những công nghệ ưu tiên nào là quan trọng cho các
kịch bản trong tương lai
- Công nghệ ưu tiên được đề xuất theo cơ chế đồng thuận do vậy khả năng
thực thi sẽ lớn hơn
Hạn chế:
Kết quả của kịch bản phụ thuộc vào khả năng tổ chức thực hiện của nhóm điều hành, ở chất lượng chuyên gia được mời tham dự và đặc biệt là vai trò của người chủ trì hội thảo
1.2.3.Phương pháp xây dựng lộ trình công nghệ (Techonology roadmap)
Lộ trình công nghệ (TRM) [12] là công cụ toàn diện giúp các doanh nghiệp nắm bắt thị trường tốt hơn và ra quyết định đầu tư công nghệ hữu hiệu hơn Đấy là một quá trình kế hoạch hóa của ngành công nghiệp nhận dạng sản phẩm tương lai,
Trang 2420
công nghệ và dịch vụ cần thiết của mình đồng thời đánh giá và lựa chọn các công nghệ đáp ứng được các nhu cầu đó Thông qua TRM, các doanh nghiệp liên kết với giới khoa học, chính phủ, tạo ra nhiều đối tác mới và phát triển các giải pháp sáng
tạo cho các công nghệ và nhu cầu nghiên cứu hiện hành
Mục đích của TRM là đem lại lợi ích cho quốc gia, nền công nghiệp và doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch đổi mới công nghệ để tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Trong chiến lược phát triển công nghiệp của Canada, người
ta đã khẳng định “những ngành công nghiệp đã có TRM đang vươn lên đến một giai đoạn mới, nơi mà những sáng kiến, cải tiến công nghệ sẽ đáp ứng được nhu cầu mà thị trường đòi hỏi”
Lộ trình công nghệ: là phương pháp xác định những công nghệ quan trọng cần thiết từ việc đánh giá thị trường trong tương lai, thông qua các mốc thời gian (3 năm, 10 năm, hoặc lâu hơn nữa) để đáp ứng đòi hỏi của thị trường; đồng thời đưa ra các biện pháp phối hợp để triển khai TRM và các hoạt động sau khi triển khai TRM
đó
Lộ trình công nghệ ở Việt Nam đã được Bộ KH&CN ứng dụng vào ngành chọn tạo giống lúa Đây là bộ tư liệu hiểu rõ về hiện trạng công nghệ Việt Nam gắn với thị trường và sản phẩm [4]
Trong lĩnh vực lúa gạo, những năm qua, việc ứng dụng và đổi mới công nghệ
đã giúp Việt Nam không chỉ đảm bảo an ninh lương thực mà còn ở top 3 các nước xuất khẩu hàng đầu thế giới Nhưng trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt cùng với biến đổi khí hậu phức tạp, sản xuất lúa gạo cần có chiến lược mới, hướng tới nền nông nghiệp sản xuất theo chuỗi hàng hóa, giá trị tăng cao
Bản đồ công nghệ chọn tạo giống lúa được hoàn thành sẽ cung cấp thông tin định hướng công nghệ tương lai để sản xuất chất lượng cũng như chống lại loại bệnh, chống chịu hạn mặn Cụ thể, bản đồ này đã chỉ ra, Việt Nam có khả năng đáp ứng 100% nhu cầu giống lúa thuần, còn với giống lúa lai chỉ đáp ứng được 33%, còn lại phải nhập khẩu từ Trung Quốc và Ấn Độ với giá trị nhập khẩu xấp xỉ 35 triệu USD Trong đó tỷ trọng xuất khẩu các giống lúa chất lượng cao còn thấp, chưa
có giống xuất khẩu mang thương hiệu Việt Nam Yêu cầu đặt ra trong thời gian tới
Trang 2521
là Việt Nam phải tạo ra giống có chất lượng tốt, năng suất cao, chống chịu với những yếu tố bất lợi như rầy nâu, đạo ôn, bạc lá, virus, hạn mặn, ngập.Nhờ định hướng trên, Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long thời gian qua đã tập trung nghiên cứu và tạo ra được một số giống lúa chịu hạn mặn, có năng suất chất lượng và chống chịu sâu bệnh như MO137, OM10373
Bên cạnh bản đồ trong tạo giống lúa, trong năm nay, Bộ Khoa học tiếp tục hoàn thiện bản đồ công nghệ trong lĩnh vực sản xuất văcxin; đến 2017-2018 là bản
đồ lĩnh vực công nghệ gene; tế bào gốc; ngành sản xuất vật liệu và linh kiện điện tử, bán dẫn Đến năm 2020 Việt Nam sẽ cơ bản hình thành hệ thống bản đồ công nghệ các ngành, lĩnh vực sản xuất quan trọng
1.2.4 Phương pháp điều tra Delphi
Phương pháp điều tra Delphi là phương pháp dự báo bằng trưng cầu ý kiến điển hình do hai nhà khoa học Mỹ là O.Helmer và D.Gordon đề xướng và lấy tên một thành phố cổ Hy Lạp
Phương pháp này được tiến hành nhằm tìm kiếm sự đồng thuận của các chuyên gia thông qua việc một số vòng hỏi ý kiến về những phán đoán, nhận định, đánh giá một vấn đề tương lai bằng các phiếu hỏi
Phương pháp này có các đặc điểm chủ yếu sau [36]:
- Có tính khuyết danh: Điều này loại trừ hoàn toàn hình thức thảo luận trực tiếp và công khai, loại trừ được yếu tố tâm lý Cuộc trưng cầu được tiến hành thông qua bản tự khai khuyết danh và có ý kiến thông báo cho các chuyên gia, không nêu rõ của ai
- Sử dụng tích cực các mối quan hệ ngược để điều chỉnh các câu trả lời, điều
đó được thể hiện ở chỗ cuộc trưng cầu được tiến hành qua nhiều giai đoạn Kết quả trưng cầu ở giai đoạn trước được thông báo cho giai đoạn sau Dựa vào các thông tin đã được thông báo này mà các chuyên gia đánh giá điều chỉnh câu trả lời của mình Liên hệ ngược cho phép loại bỏ những thông tin không có ích và giảm độ tản mạn trong câu trả lời, hạn chế những tác động bên ngoài của tập thể
Công dụng: phương pháp này thường sử dụng với các dự báo có tính dài hạn
Trang 2622
Ưu điểm: phương pháp Delphi
- Phù hợp để xem xét sự phát triển dài hạn
- Phương pháp này được áp dụng có hiệu quả cho những đối tượng thiếu (hoặc chưa đủ) số liệu thống kê, phát triển có độ bất ổn lớn hoặc đối tượng của dự báo phức tạp không có số liệu nền
- Khả năng khảo sát một cách tỉ mỉ, rõ ràng và khách quan về những vấn đề được xem xét
Hạn chế
- Việc lựa chọn chuyên gia trong từng lĩnh vực công nghệ đòi hỏi phải tốn nhiều công sức; các bảng hỏi phải được thiết kế và thử nghiệm để tránh tình trạng không rõ nghĩa
- Chu trình nhiều vòng khảo sát sẽ tốn thời gian và tiền bac Số lượng chuyên gia tham gia khảo sát vòng sau ít hơn vòng trước nên cần kết hợp thêm các
kỹ thuật khác để thu thập ý kiến đánh giá của các chuyên gia
Kết quả của phương pháp này chủ yếu phục vụ cho nhu cầu định hướng, quản lý vì thế cần kết hợp với các phương pháp định lượng khác
1.2.5.Phương pháp Nhìn trước công nghệ
Nhìn trước công nghệ: là một phương pháp được sử dụng để xác định những công nghệ ưu tiên cần thiết cho chiến lược quốc gia trong một tập hợp các công nghệ có thể được phát triển Đây là một cách tiếp cận rất “chủ động, tích cực, sáng tạo và hướng về tương lai” [12]
Nhìn trước công nghệ đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, nhưng mục đích chung của Nhìn trước thể hiện các nội dung sau [6]:
- Nhìn trước giúp khám phá các cơ hội, thiết lập các ưu tiên đầu tư khoa học và đổi mới công nghệ Điều này sẽ giúp cho việc phân bổ nguồn lực hạn chế vào các hạng mục một cách hiệu quả
- Nhìn trước giúp minh chứng tầm quan trọng của hệ thống khoa học và đổi mới công nghệ Thông qua Nhìn trước các cơ hội công nghệ được nhận biết, năng lực công nghệ được khám phá Đó là cơ sở tốt cho phát triển hệ thống công nghệ
Trang 2723
- Nhìn trước mang lại nhân tố mới trong các tranh luận chiến lược Xu hướng sử dụng Nhìn trước như là công cụ trong nhiều lĩnh vực thuộc chính sách khoa học- công nghệ ngày càng trở nên phổ biến
- Nhìn trước giúp hình thành một mạng lưới, các mối quan hệ liên ngành, lĩnh vực, thị trường cho vấn đề nghiên cứu
Như vậy mục đích quan trọng nhất của Nhìn trước công nghệ là giúp xác định những công nghệ ưu tiên có khả năng tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội lớn nhất
Để thực hiện được Nhìn trước công nghệ cần có kinh phí, thời gian và khả năng tập hợp nhiều nhóm chuyên gia KH&CN, các nhà khoa học xã hội, nghiên cứu viên Đó vừa là cơ hội vừa là thách thức để liên kết các nhà khoa học
Tóm lại, qua tìm hiểu về một số phương pháp cho xây dựng chiến lược ở
trên thì mỗi phương pháp đều có những điểm mạnh, điểm yếu và mức độ phù hợp khác nhau trong áp dụng với những mục tiêu khác nhau, công đoạn khác nhau trong quy trình xây dựng chiến lược Khi lựa chọn phương pháp để xác định hướng công nghệ ưu tiên không chỉ dùng một phương pháp mà cần có sự tích hợp với các phương pháp khác nhau để nâng cao hiệu quả và tác giả luận văn lựa chọn kỹ thuật Nhìn trước công nghệ để xác định hướng công nghệ ưu tiên trong xây dựng chiến lược KH&CN
1.3 Tổng quan kỹ thuật Nhìn trước công nghệ
1.3.1 Khái niệm Nhìn trước công nghệ
Dù Nhìn trước công nghệ có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực như công nghệ, quản lý, kinh doanh và kinh tế nhưng khái niệm chung về Nhìn trước công nghệ hiện vẫn còn nhiều tranh luận [24]
Năm 1995 Ben Martin [34] cho rằng: “Nhìn trước là các nỗ lực có hệ thống tập trung nghiên cứu triển vọng dài hạn của khoa học, công nghệ, môi trường và xã hội nhằm xác định các công nghệ mới nổi và những lĩnh vực nghiên cứu có ý nghĩa chiến lược, có khả năng đưa lại lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường lớn nhất” Hay Luke Georghiou: Nhìn trước công nghệ là một phương tiện có hệ thống đánh giá sự phát triển khoa học và công nghệ, có tác động mạnh tới khả năng cạnh tranh công nghiệp, tạo ra của cải và chất lượng của cuộc sống
Trang 2824
Từ khái niệm trên thì tác giả đưa ra năm khía cạnh sau:
- Nghiên cứu Nhìn trước công nghệ một cách có hệ thống
- Nhìn trước công nghệ phải được xem xét ở mục tiêu dài hạn (từ 10 năm trở lên, có thể 25- 30 năm), khác so với kế hoạch Nhìn trước bình thường
- Nhìn trước công nghệ không chỉ bị chi phối bởi khoa học và công nghệ mà còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế- xã hội
- Nhìn trước công nghệ thường tập trung vào những công nghệ
- Các dự án Nhìn trước công nghệ không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích về kinh tế,
mà phải quan tâm đến lợi ích tích cực và tiêu cực của nó đến xã hội
Trong những năm gần đây, thuật ngữ Nhìn trước công nghệ đã được sử dụng rộng rãi để mô tả hàng loạt các phương pháp giúp cải thiện việc ra quyết định Mục đích không chỉ nghiên cứu tương lai, các kịch bản hay các mô hình kinh tế lượng một cách chính xác mà Nhìn trước công nghệ còn kết nối nguồn tri thức để phát triển định hướng chiến lược và hướng tới tương lai Bên cạnh đó, Nhìn trước công nghệ giúp cho việc thiết lập những người có tri thức am hiểu về chính sách và vấn
đề liên quan một cách rõ ràng, xuyên suốt để có thể kết nối sự tương tác của các bên như công ty, chính phủ, lĩnh vực kinh doanh, tổ chức tình nguyện Nhìn trước công nghệ được sử dụng trên phạm vi rộng nhưng đến nay đã tập trung vào cạnh tranh quốc gia và đặc biệt là ưu tiên và phát triển các mục tiêu chiến lược cho lĩnh vực nghiên cứu khoa học Nhưng Nhìn trước công nghệ cũng có thể giải quyết các vấn
đề như: thay đổi nhân khẩu học, vấn đề môi trường, các yếu tố xã hội, chính trị và văn hóa Thật vậy, một trong những bài học chính của bài tập Nhìn trước công nghệ đến nay là vấn đề KH&CN gắn bó chặt chẽ hơn với các yếu tố xã hội và ngược lại lực lượng xã hội định hình sự phát triển và sử dụng KH&CN có tác động xã hội Vậy nên theo bài tập thực hành hướng dẫn Nhìn trước Foren [30] thì: “Nhìn trước công nghệ là 1 hệ thống bao gồm thu thập tin tức và xây dựng tầm nhìn cho tương lai trung và dài hạn, hướng tới việc đưa ra quyết định ngay từ hiện tại và huy động (sử dụng) nhiều hoạt động cùng tham gia
Lúc này Nhìn trước công nghệ được hiểu như sau:
Trang 29- Những cách tiếp cận tương tác liên quan đến việc tạo ra mạng xã hội mới (forging new social networks)
- Các sản phẩm chính thức của “Nhìn trước” không chỉ có các kịch bản, chuẩn
bị kế hoạch mà nó còn xây dựng một tầm nhìn chiến lược mà có sự đồng thuận chung thông qua quá trình kết nối mạng
- Giải thích quan hệ “hành động và quyết định ngày hôm nay” ảnh hưởng đến tương lai
Nhìn trước công nghệ không đơn thuần là dự đoán tương lai mà còn cung cấp công cụ để nhận biết và can thiệp hình thành tương lai hơn là dự báo những gì
đã được sắp đặt Một phần khác biệt quan trọng mà Nhìn trước công nghệ có thể phân biệt với các hoạt động khác là có sự tham gia của nhiều bên liên quan
Ngày nay, thuật ngữ Nhìn trước công nghệ (Technology Nhìn trước công nghệ) và Nhìn trước (Nhìn trước công nghệ) được sử dụng thay thế nhau “Xét về mặt đối tượng, người ta quen gọi là Nhìn trước công nghệ nhưng trên thực tế khái niệm này đã được mở rộng hơn vì trong quá trình thực hiện người ta phải “Nhìn trước” cả những xu hướng thay đổi về thị trường, những nhu cầu của xã hội và bảo
vệ môi trường cũng như nhu cầu thay đổi về công nghệ” [15]
1.3.2 Đặc điểm của Nhìn trước công nghệ
Theo Ủy ban Châu Âu [38] cho rằng có năm đặc điểm sau để giúp nhận biết Nhìn trước công nghệ:
Thứ nhất, Nhìn trước công nghệ không chỉ là công cụ phân tích hay dự tính
sự phát triển trong tương lai mà nó còn thúc đẩy các tác nhân trong việc định hình tương lai có nghĩa là tạo dựng tương lai phù hợp với mục tiêu đề ra Các nghiên cứu
về phân tích tương lai mà không gắn với hành động cụ thể thì có thể không được coi
Trang 30Thứ ba, Nhìn trước công nghệ thu hút sự tham gia của nhiều người Nhìn trước công nghệ không được thực hiện bởi một nhóm chuyên gia hoặc một viện nghiên cứu mà nó bao gồm công sức và trí tuệ của nhiều nhóm nghiên cứu, học giả
và các chuyên gia khác nhau liên quan đến đối tượng nghiên cứu Kết quả của việc thực hiện Nhìn trước công nghệ được phổ biến rộng rãi đến nhiều độc giả và từ đó
có thể thu được nhiều ý kiến phản hồi
Thứ tư, Nhìn trước công nghệ mang tính liên ngành Điều này có nghĩa là nghiên cứu sẽ không thể được hiểu một cách chính xác nếu con người nghiên cứu
nó một cách độc lập mà cần có cách thức tiếp cận nhằm nắm bắt thực tế trên phương diện tổng thể với hầu hết các yếu tố tác động đến vấn đề nghiên cứu
Thứ năm, Nhìn trước công nghệ nghiên cứu về tương lai và cung cấp thông tin tương lai đó cho việc ra quyết định ở hiện tại
1.3.3.Mục tiêu của Nhìn trước công nghệ
Mục tiêu của việc phân tích và lựa chọn chiến lược chính là việc thiết lập các mục tiêu dài hạn và tạo ra các chiến lược thay thế, lựa chọn ra trong số đó một vài chiến lược để theo đuổi Phân tích chiến lược và lựa chọn nhằm định ra hàng loạt những hành động mà nó có thể giúp cho quốc gia/ tổ chức đạt những sứ mệnh cũng như các mục tiêu đã đề ra
Vận dụng Nhìn trước công nghệ trong thực tế sẽ mang lại cả lợi ích hữu hình
và lợi ích vô hình Nhìn trước công nghệ sẽ giúp cải thiện việc ra quyết định quản lý, thực hiện quyết định và tăng khả năng thích ứng với những thay đổi trong tương lai Có thể nói, trong đầu ra nêu trên, vai trò của Nhìn trước công nghệ trong xác
Trang 3127
định ưu tiên của chiến lược là động lực chính thúc đẩy các quốc gia đẩy mạnh nghiên cứu về Nhìn trước công nghệ Cần xác định rõ mục tiêu của hoạt động của Nhìn trước công nghệ để có thể vận dụng các kỹ thuật phù hợp Theo Rafael Popper [26] đã phân hoạt động Nhìn trước công nghệ thành 9 nhóm mục tiêu như sau:
- Tạo điều kiện hợp tác và trao đổi (kết nối mạng)
- Phát triển định hướng chính sách
- Nhận ra động cơ và rào cản của STI (khoa hoc, công nghệ và đổi mới)
- Khuyến khích ý tưởng tương lai
- Hỗ trợ chiến lược STI và xác định ưu tiên
- Hỗ trợ xác định các lĩnh vực nghiên cứu/ đầu tư
- Chia sẻ tầm nhìn
- Xử lý thách thức lớn
- Khởi động các cuộc thảo luận
Thông thường mỗi nhóm bài tập có 3 đến 4 mục tiêu đặc thù
c Động cơ và rào cản của khoa học, công nghệ và đổi mới
Rào cản thường đề cập đến những vấn đây khó khăn đối với sự phát triển của một quốc gia hay một lĩnh vực cụ thể Những rào cản có thể có là: Xã hội (ví dụ như văn hóa hợp tác chưa phát triển, năng lực con người hạn chế); Công nghệ (thiếu
cơ sở hạ tầng); Kinh tế ( tài trợ hạn chế); Môi trường (biến đổi khí hậu); Chính trị (
Trang 32d Khuyến khích ý tưởng tương lai
Nhìn trước công nghệ là công cụ định hướng về tương lai Điều này bao gồm
- Đánh giá tầm nhìn trung hạn và dài hạn
- Đánh giá mong muốn (sự cần thiết), kịch bản có thể thay thế trong tương lai
- Xác định các ứng dụng và tác động của công nghệ mới trong tương lai;
- Thăm dò các xu hướng phát triển trong tương lai (ví dụ như năng lượng) và phân ngành (ví dụ như nhiên liệu sinh học)
- Xác định các cơ hội, mối đe dọa và thách thức trong tương lai;
- Kết nối nghiên cứu kinh doanh với mục tiêu của chính phủ;
e Chiến lược khoa học, công nghệ và đổi mới và xác định hướng công nghệ
ưu tiên
Nhìn trước công nghệ ở Châu Âu cho thấy có xu hướng huy động các bên liên quan để thiết lập hoặc tăng cường chiến lược STI kết nối với các ngành công nghiệp công hoặc tư Các hoạt động này thường đánh giá phát triển STI trong các lĩnh vực
cụ thể (ví dụ như nông nghiệp, môi trường, y tế) cũng như điều kiện để phát triển sản xuất công nghiệp và khả năng thương mại hóa và tăng cường dịch vụ trong các lĩnh vực quan trọng
Trang 3329
Xác định công nghệ ưu tiên của hoạt động Nhìn trước có tầm quan trọng hơn cả, đây chính là động lực khích lệ nhiều nước, nhiều cấp quan tâm tổ chức và tiến hành Nhìn trước công nghệ Đây là đòi hỏi khách quan bởi vì cả nước phát triển thì luôn phải đối mặt với nguồn lực có hạn vì vậy cần xác định những công nghệ ưu tiên để đầu tư có trọng tâm trọng điểm
Nhìn trước đến nay đã trải qua ba giai đoạn và đang phát triển ở giai đoạn thứ
tư Tuy nhiên Nhìn trước từ thế hệ thứ hai và thế hệ thứ ba tích hợp các phương pháp tương tác và liên kết khi đối tượng tham gia có cả doanh nghiệp, chính phủ
Do đó, việc xác định hướng công nghệ ưu tiên sẽ được kết hợp đồng thời hai cách tiếp cận “từ trên xuống” và “từ dưới lên” trong quá trình lấy ý kiến của các chuyên gia Đặc biệt đối với lựa chọn ưu tiên ở cấp quốc gia thì sự quan tâm và hỗ trợ của Chính phủ, ý kiến của các nhà khoa học và doanh nghiệp tham gia vào quá trình Nhìn trước thì việc thực hiện và chấp nhận các kết quả đó sẽ dễ dàng hơn
Tuy nhiên, việc thiết lập ưu tiên STI không phải là mục tiêu dễ dàng Nó đòi hỏi sự kết hợp của nhiều hoạt động, ví dụ:
- Phân tích dữ liệu định tính và định lượng về phát triển STI
- Đánh giá chính sách nghiên cứu và phát triển công nghệ (Research and Technological development:) hiện có và ưu tiên đổi mới
- Xác định nhu cầu công nghệ trong tương lai, cơ hội và rủi ro;
- Xác định các tác động mong muốn và không mong muốn của công nghệ hiện đại (ví dụ như công nghệ sinh học)
Nhấn mạnh rằng một trong những thách thức đáng kể của việc xác định những ưu tiên là Nhìn trước công nghệ liên quan đến yêu cầu thiết lập ưu tiên trên
cơ sở giả định của các chuyên gia về tương lai thay vì quan điểm của họ về thực tế hiện nay
f Nghiên cứu và đầu tư
Việc xác định các nghiên cứu và khu vực đầu tư thường bao gồm: Xác định công nghệ khả thi, nghiên cứu mô hình kinh doanh thành công và yêu cầu về cơ sở
hạ tầng; Xác định các thị trường tiềm năng và định hướng kinh doanh; Chuyển rào cản của STI và động lực thành cơ hội cho cả ngành công nghiệp công và tư nhân; và
Trang 34h Những thách thức lớn
Ở cấp quốc tế có những bài tập có sự tham khảo của mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc và một vài bài tập tập trung vào các vấn đề biến đổi khí hậu, thiên tai, khủng bố Đối với các cấp độ quốc gia và địa phương có thể tìm thấy mục tiêu bài tập “truyền thống” gặp thách thức như: hội nhập khu vực, gắn kết xã hội và tăng trưởng kinh tế bền vững
i Hành động và các cuộc thảo luận
Kinh nghiệm cho thấy những người tham gia vào Nhìn trước thường là những người thực hiện hoặc giám sát việc thực hiện trong tổ chức của mình
Theo Georghiou và Cassingena Harper sắp xếp phân loại các mục tiêu của Nhìn trước công nghệ với việc xác định hướng công nghệ ưu tiên hợp nhất với phát triển chiến lược chính sách Vì vậy chia ra làm các nhóm sau:
- Nhóm 1: Phân tích tiềm năng công nghệ trong tương lai Sử dụng phương pháp tiếp cận Nhìn trước công nghệ để đánh giá tiềm năng và những hành động cần thiết khi xác định công nghệ ưu tiên
- Nhóm 2: Tập trung vào lĩnh vực chính sách cụ thể và sử dụng Nhìn trước công nghệ để phát triển chính sách
- Nhóm 3: Mục tiêu "để nuôi dưỡng" và phản ánh mục đích của những thực hành để tăng cường liên kết giữa các tác nhân trong nghiên cứu và đổi mới Mục tiêu của việc phát triển Nhìn trước công nghệ hay khả năng sử dụng Nhìn trước công nghệ cũng có thể tạo thành nhóm để trao đổi thông tin
Trang 351.3.4 Quy trình thực hiện Nhìn trước công nghệ
Các bước quan trọng để thực hiện Nhìn trước công nghệ thì đầu tiên là phải xác định được phạm vi của hoạt đông [25] Nhìn trước công nghệ cung cấp đầu vào cho quá trình xây dựng chiến lược vì thế mà các hoạt động Nhìn trước nhắm tới mục tiêu gì, các bên tham gia gồm các thành phần nào, các phương pháp phù hợp nhất…chẳng hạn sẽ trả lời một vài câu hỏi như: chúng ta đang ở đâu và làm thế nào
để đạt được cái chúng ta mong muốn? làm thế nào để chúng ta có kế hoạch để làm điều đó? Đó là một số câu hỏi điển hình cho giai đoạn ban đầu này Đối với mục này, nó là cần thiết để thu thập thông tin cơ bản có liên quan Định nghĩa về một mục tiêu chung thường được thực hiện bởi các chuyên gia chủ chốt, các nhà tài trợ tiềm năng và các nhà tư vấn về Nhìn trước Kết quả sau đó được lan truyền một cách công khai (UNIDO, 2005)
Nhìn trước công nghệ ở cấp quốc gia thường diễn ra cùng với các Bộ, các học viện khoa học, khoa học và tài chính của họ đến từ các khu vực công và tư (UNIDO, 2005) Thời gian Nhìn trước công nghệ hướng đến các tương lai từ 5 đến
20 năm (Miles, 2010)
Cách tiếp cận Nhìn trước công nghệ có thể được phân loại vào trong 4 cấp bậc (Voros, 2003), trong đó mỗi bước trả lời cho một câu hỏi
- Đầu vào: Những gì đang xảy ra?
- Phân tích:Những gì dường như xảy ra?
- Diễn giải: Những gì đang thực sự xảy ra?
- Tương lai: Những gì có thể xảy ra?
Trang 3632
………
………
………
Hình 1: Mô hình chung Nhìn trước công nghệ
Mô hình trên đã cho thấyNhìn trước hỗ trợ quá trình ra quyết định chiến lược
(những gì mà có thể chúng ta cần phải làm) và lập kế hoạch chiến lược (những gì
chúng ta sẽ làm và cách thức chúng ta làm nó ra sao) [20]
- Phương pháp đầu vào: những thứ đang xảy ra
Phương pháp đầu vào thu thập thông tin cần thiết cho các tổ chức để hiểu
được môi trường mà họ hoạt động Sử dụng các phương pháp thích hợp của Nhìn
trước để xác định mục tiêu chiến lược Đối với các dự án về Nhìn trước công nghệ
của chính phủ thì phương pháp Delphi được dùng chủ yếu đó là lấy ý kiến của các
chuyên gia về lĩnh vực nào đó trong tương lai
- Phương pháp phân tích: những gì dường như có thể xảy ra
Phương pháp phân tích được sử dụng để phân loại các thông tin thu được
trong giai đoạn đầu vào trước đó Có lẽ phương pháp được biết đến nhiều nhất ở
đây là phân tích xu thế và hầu hết các công việc tương lai đều liên quan đến xu thế
Những gì đang xảy ra
Đầu vào (Input)
Những gì dường như xảy raxayexaxảyrararara???ra
Diễn giải (Interpertation)
Trang 3733
Phân tích xu thế tìm kiếm các chủ đề và các mẫu hiện có trong xã hội Nó có thể là một cách tiếp cận định lượng tốt, đặc biệt là khi xu thế được dự báo vào trong tương lai trong một đặc trưng tuyến tính Phân tích xu thế thường là một dự báo đơn
lẻ mà được công bố hoặc được sử dụng trong công việc chiến lược hoặc một báo cáo về những gì sẽ xảy ra với xu thế đó, chứ không phải là những gì có thể xảy ra
Một phương pháp phân tích khác bao gồm phân tích tác động chéo mà tìm cách khám phá những tác động xu thế lên các xu thế khác và phân tích hình thái học – tìm cách khám phá cách thức các thành phần khác nhau của một hệ thống tìm kiếm một sự kết hợp mới của các yếu tố
Do đó, giai đoạn phân tích cần nhiều các phương pháp hơn là chỉ phân tích
xu thế Những cách tiếp cận phân tích tốt sử dụng một sự kết hợp của các phương pháp và tìm cách sử dụng một loạt các nguồn quét để tăng cường sức mạnh cho những phân tích tiếp theo
- Phương pháp diễn giải: Những gì đang thực sự xảy ra
Phương pháp ở cấp độ này được sử dụng để phân tích các dữ liệu của 2 bước trên bằng cách xác định bề mặt thế giới quan làm cơ sở để phân loại Phân loại là quá trình trong đó các ý tưởng và đối tượng được công nhận, phân biệt và hiểu rõ Hay nói cách khác phân loại ngụ ý rằng các đối tượng được nhóm thành các loại và
có mục đích cụ thể
- Phương pháp tương lai: Những gì có thể xảy ra?
Phương pháp ở cấp độ này tìm cách phát triển cái nhìn của tương lai thay thế cho một tổ chức Lập kịch bản cũng là một phương pháp được chú ý Phương pháp này đòi hỏi kiến thức chuyên môn và tập trung các chuyên gia để tạo ra kịch bản Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi bởi các tổ chức kinh doanh, chính phủ
và các bên liên quan
1.3.5 Điều kiện áp dụng Nhìn trước công nghệ
Đầu tiên là cần có sự quan tâm của Chính phủ đối với cách tiếp cận nhìn trước công nghệ Là công cụ đầu vào cho việc hoạch định xây dựng chiến lược và trong
đó chú trọng đến việc xác định hướng công nghệ ưu tiên
Trang 3834
Sau đó là cần được hỗ trợ về tài chính và thời gian, là những yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn phương pháp chính Chẳng hạn như các cuộc điều tra trên quy
mô lớn có thể tốn kém thời gian và tiền bạc
Tiếp đến là sự tham gia của các chuyên gia và các bên liên quan trong việc thực hiện các bài tập về Nhìn trước công nghệ Một số phương pháp, chẳng hạn như Delphi phù hợp với sự tham gia của nhiều các chuyên gia
Chất lượng của nhin trước công nghệ phụ thuộc nhiều vào hệ thống dữ liệu chuyên dụng cho phân tích và nhìn trước Do đó cần có nguồn thông tin dữ liệu trong nước và quốc tế liên quan đến công nghệ Hơn nữa, cần kết hợp với các phần mềm chuyên dụng dùng cho dự báo như SPSS, Eview…
Phổ biến các kết quả như phân tích, kết luận, đề xuất chính sách đối với đối tượng sẽ thụ hưởng kết quả và tìm kiếm phản hồi từ đối tượng đó
Kết luận Chương 1
Trong chương 1, tác giả đã lãm rõ hơn khái niệm chiến lược, chiến lược KH&CN, định hướng công nghệ ưu tiên trong chiến lược, các phương pháp xây dựng chiến lược.Từ đó, lựa chọn kỹ thuật Nhìn trước công nghệ được ứng dụng xác định hướng công nghệ ưu tiên và nghiên cứu để hiểu rõ hơn về cách tiếp cận Nhìn trước công nghệ
Một trong các nhiệm vụ được quan tâm trong xây dựng chiến lược là xác định hướng các công nghệ ưu tiên chiến lược Đây là hoạt động quan trọng vì các tổ chức đều ở trong tình trạng khan hiếm nguồn lực Vì thế Nhìn trước công nghệ là kỹ thuật được lựa chọn để xác định ưu tiên của chiến lược, đây cũng là động lực chính thúc đẩy các quốc gia đẩy mạnh nghiên cứu về Nhìn trước
Trang 3935
Chương 2 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ XÁC ĐỊNH HƯỚNG CÔNG NGHỆ
ƯU TIÊN TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG QUA KỸ THUẬT NHÌN TRƯỚC CÔNG NGHỆ
Tùy theo tình hình kinh tế- xã hội, trình độ phát triển và môi trường văn hóa của từng quốc gia mà mỗi nước có cách tiếp cận với Nhìn trước công nghệ riêng
Do đó, trong chương 2 tác giả tập trung giới thiệu kinh nghiệm sử dụng Nhìn trước công nghệ cho việc xác định hướng công nghệ ưu tiên trong xây dựng chiến lược KH&CN của một số nước: Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên Bang Nga và một số nước Trên cơ sở đó, rút ra được một số bài học đối với Việt Nam
2.1 Kinh nghiệm xác định hướng công nghệ ưu tiên của Nhật Bản
Từ cuối những năm 1960, Nhật Bản đã quyết định lựa chọn dự báo công nghệ là một công cụ chính sách và đã gửi một đội đến Hoa Kỳ để học hỏi kinh nghiệm các chuyên gia Năm 1970, cơ quan KH&CN (STA) đã tiến hành dự báo 30 năm đầu tiên của mình về tương lai [34] Mục đích xây dựng tổng quan toàn diện về KH&CN, cung cấp cho việc ra quyết định công và tư theo xu hướng dài hạn Nhật Bản đến nay đã thực hiện Nhìn trước công nghệ lần thứ 10 Tuy nhiên báo cáo luận văn xin tiếp cận đến Nhìn trước công nghệ lần thứ 7 đề cập đến việc xác định công nghệ ưu tiên cho Kế hoạch dài hạn của Nhật Bản đến năm 2030
Theo báo cáo kết quả nghiên cứu của Trung tâm Nhìn trước Khoa học và Công nghệ của NISTEP cùng hợp tác với Viện Công nghệ tương lai (Institute for
Future Technology) về Nhìn trước công nghệ lần thứ 7 [33] được công bố vào năm
2001 đề cập tới các công nghệ tương lai của Nhật Bản tới năm 2030, phục vụ cho công tác xây dựng Kế hoạch cơ bản về KH&CN lần thứ 2,đã thu được từ các khảo sát Nhìn trước công nghệ tương lai thực sự rộng rãi với hơn một nghìn chủ đề khảo sát.Cuộc khảo sát tiến hành trên 16 lĩnh vực, khác với khảo sát lần thứ 6 là 14 lĩnh vực Đó là: Công nghệ thông tin và truyền thông; điện tử; khoa học sự sống; y học
và chăm sóc sức khỏe; nông nghiệp, rừng, hải sản và thực phẩm; khoa học biển và trái đất; không gian; tài nguyên và năng lượng; môi trường; vật liệu và quá trình;
Trang 40c.Thiết lập các chủ đề: Các tiểu ban kiểm tra nhu cầu kinh tế- xã hội cần
thiết trong tương lai Các tiểu ban công nghệ thiết lập các chủ đề có tính đến các nhu cầu trên Đầu tiên, các tiểu ban thiết lập phạm vi của cuộc điều tra trong từng lĩnh vực, kiểm tra hướng tương lai của phát triển công nghệ Sau đó họ lập một danh sách các chủ đề
Các chủ đề đã được thiết lập theo các thông số sau:
Xem xét các chủ đề của cuộc khảo sát lần thứ 6 trong quan điểm về xu hướng công nghệ mới
Số lượng các chủ đề nói chung nên được đề cập đến giống như các cuộc khảo sát trước đó, các chủ đề sửa đổi và các chủ đề mới chiếm 1/3 những chủ đề đưa ra
Về nguyên tắc, các chủ đề khảo sát phải được cho là có thể thực hiện được cho đến năm 2030
Các giai đoạn công nghệ của mỗi chủ đề phải thể hiện những yếu tố sau:
“làm sáng tỏ”, “phát triển”, “sử dụng thực tế” và “sử dụng rộng rãi”
d.Lựa chọn người trả lời khảo sát: Đưa ra một danh sách với số lượng lớn
các chuyên gia có kiến thức sâu rộng đối với các chủ đề liên quan hoặc các đại diện đến từ ngành công nghiệp, chính phủ và các nhà nghiên cứu ở các viện, học viện Xem xét đến các yếu tố sau đây:
Ngành (nghề nghiệp): Trong cuộc khảo sát thứ sáu, chọn trả lời theo sự phân
bố ngành của những người làm việc R&D trong từng lĩnh vực Do đó tỷ lệ trung bình số người được hỏi trên tất cả các lĩnh vực được phân bố như sau: nhân viên công ty chiếm 36%, các trường đại học liên quan 37%, công chức 15 %, nhân viên không thuộc công ty 10% và những người khác 2% Khảo sát này nhằm mục đích