Vấn đề đặt ra là nên quan niệm chiến lược như thế nào để nó trở nên thiết thực, không xa vời và gắn chặt với việc thực hiện các quy hoạch các chương trình và dự án và hoạt động tác nghiệ
Trang 1viện chiến l−ợc và chính sách KH&CN
báo cáo tổng kết đề tài kh&cn cấp cơ sở
nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng chiến l−ợc KH&CN việt nam giai đoạn 2011-2020: khái niệm
và cách tiếp cận chủ nhiệm đề tài: nguyễn mạnh quân
7089
13/02/2009
hà nội - 2008
Trang 2Lời nói đầu
Ngày 29 tháng 1 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ có công văn chỉ đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam là hai cơ quan độc lập xây dựng Đề cương chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Việt nam giai đoạn 2010-2020 để trình Chính phủ Hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN) vừa là nền tảng và động lực, là khâu đột phá của quá trình CNH-HĐH đất nước, sẽ phải là một trong những căn cứ, nội dung và giải pháp chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đất nước giai đoạn 2010-2020, thực hiện mục tiêu đưa nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Xây dựng chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2010-
2020 sẽ là một cơ hội để huy động tâm huyết, trí tuệ của lực lượng KH&CN người Việt nói riêng và toàn thể người Việt nói chung vào sự nghiệp chấn hưng đất nước, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại để có thể nhanh chóng tạo ra những đột phá trong xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”
Để chuẩn bị cho quá trình xây dựng chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020, cần thiết phải tiến hành việc tổng kết thực tiễn xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2000-2010, nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài, đồng thời chuẩn bị cơ sở khái niệm, cách tiếp cận và phương pháp, quy trình tổ chức dự định áp dụng cho xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam giai
đoạn 2011-2020
Đề tài nghiên cứu này được thiết kế chủ yếu để xác định và lựa chọn các khái niệm liên quan trực tiếp đến chiến lược phát triển khoa học và công nghệ và cách tiếp cận xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Các phương pháp và quy trình tổ chức xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam giai đoạn 2011-
2020 sẽ được tiến hành nghiên cứu trong khuôn khổ của Đề tài cấp Bộ năm
2008
Tập thể tác giả chân thành cảm ơn Lãnh đạo Bộ, Lãnh đạo Viện và các cơ quan chức năng trong Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN đã quan tâm, tài trợ và hỗ trợ để đề tài được tiến hành Khuôn khổ kinh phí có hạn, cộng với những hạn chế khác khiến đề tài không thể tránh khỏi các thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý và thông cảm của các cơ quan và đồng nghiệp
Trang 3Chương I
kháI niệm “chiến lược”
I- Nguồn gốc khái niệm “chiến lược”
Tổng kết những bài học khụng thành cụng trong lĩnh vực kế hoạch hoỏ chiến lược người ta cho rằng nguyờn nhõn cơ bản là do không làm rõ bốn vấn đề sau:
Thứ nhất: Chiến lược là gỡ và tầm quan trọng của nú ở chỗ nào?
Thứ hai: Chiến lược cú vị trớ như thế nào trong toàn bộ quỏ trỡnh kế
hoạch hoỏ?
Thứ ba: Làm thế nào để cú thể xõy dựng được cỏc chiến lược phự
hợp?
Thứ tư: Làm sao để cỏc vấn đề trước mắt được giải quyết phự hợp
(khụng mõu thuẫn) với cỏc mục tiờu dài hạn? Và ngược lại, quan trọng hơn cả, làm sao để các mục tiêu, giải pháp dài hạn được cụ thể hoá một cách tường minh bằng các mục tiêu, giải pháp trong các kế hoạch trung hạn và ngắn hạn?
Trong 4 vấn đề nêu trên, cho đến nay câu hỏi tưởng chừng như rất đơn giản,
“Chiến lược” là gì vẫn chưa cú được quan niệm thống nhất Việc làm rừ phạm trự cơ bản này do vậy sẽ là xuất phát điểm, là tiền đề để triển khai mọi hoạt động, làm rõ các khái niệm và phạm trù có liên quan đến công tác hoạch định chiến lược phát triển nói chung và chiến lược phát triển KH&CN nói riêng
Như đó biết, thuật ngữ chiến lược cú xuất xứ từ lĩnh vực quõn sự Mặc dự chiến tranh gắn với lịch sử phỏt triển loài người từ xa xưa nhưng chiến lược quõn sự như một bộ phận hợp thành của nghệ thuật chỉ đạo quõn sự chỉ xuất hiện sau này Nhiều nhà nghiờn cứu lịch sử khoa học quõn sự ghi nhận rằng: vai trũ của “chiến lược” chỉ nổi lờn rừ rệt khi mục tiờu cuối cựng khụng thể đạt được bằng một chiến dịch mà cần phải dự kiến một số giai đoạn trờn con đường đạt tới mục tiờu; khi quy mụ chiến trường đó mở rộng ra nhiều chiến dịch và ở đú buộc phải tiến hành cỏc chiến dịch độc lập Cần phải phối hợp cỏc chiến dịch sao cho cỏc mục tiờu cục bộ đạt được trong từng chiến dịch hợp thành cỏc giai đoạn trờn con đường ngắn nhất đạt tới mục tiờu quõn sự cuối cựng
Trang 4Phải chăng tỡnh huống tương tự đang diễn ra với nhiều quỏ trỡnh và hoạt động kinh tế-xó hội hiện nay, trong đú cú khoa học và công nghệ (KH&CN)
Và cú lẽ khụng phải chạy theo “Mode” như nhiều người quỏ khắt khe thường chỉ trớch, mà thực tiễn cuộc sống tự nhiờn đó buộc người ta phải tư duy một cỏch “chiến lược” và tự nguyện vay mượn thuật ngữ “chiến lược” vốn của lĩnh vực quõn sự
II-“ Chiến lược” theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Điểm lại cỏc tài liệu bàn về vấn đề này, tuy cú nhiều cỏch diễn đạt khỏc nhau như: “chiến lược là chương trỡnh hành động ” , là “ Tổ hợp cỏc mục tiờu dài hạn và con đường để đạt tới cỏc mục tiờu đặt ra”, v.v nhưng sự khỏc biệt
chủ yếu thể hiện ở việc sắp xếp mối quan hệ giữa ba yếu tố: mục tiờu, con đường và nguồn lực ( phương tiện)
Một số tỏc giả khụng đưa phần xỏc định mục tiờu vào nội dung của “Chiến
lược” và coi “Chiến lược” là “cụng cụ “/ “phươg tiện”/“con đường”/ “cỏch đi” để đạt tới mục tiờu đã đặt ra Hay núi cỏch khỏc, ở đõy, khỏi niệm
“Chiến lược” được hiểu theo nghĩa hẹp Thí dụ, theo tác giả Nguyễn Khánh:
“Chiến lược là sự bố trí tổng thể các nguồn lực, các giải pháp để đạt được mục đích-mục tiêu tổng quát do người lãnh đạo đặt ra Và…nội dung của chiến lược không đồng nhất với mục tiêu”1
Một số tác giả khỏc lại cho rằng, nhiệm vụ của “Chiến lược” phải giải quyết
cả ba vấn đề:
• Định rừ mục tiờu cần đạt tới
• Chớ rừ con đường cần đi, và
• Hướng phõn bổ nguồn lực ( hàm ý: cần cú sự ưu tiờn nhất định ) để
đạt được mục tiờu đó lựa chọn
Trong quan niệm theo nghĩa rộng, “chiến lược” bao gồm cả mục tiêu và hơn
thế nữa việc xác định mục tiêu được xem là nhiệm vụ trước tiên của hoạch
định một chiến lược Đỏng lưu ý là trong ba yếu tố “Mục tiờu”, “Con
đường”, và “Nguồn lực”, trong hàm ý của nhiều tỏc giả, đều coi nguồn lực
là yếu tố hạn chế và trong trường hợp đú, nhiệm vụ của “Chiến lược” là
1Nguyễn Khánh (2007), Một số ý kiến về Đề cương chiến lược phát ttiển kinh tế-xã hội 10
năm 2011-2020, in trong sách “Bàn về chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam
trong thời kỳ mới”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hà Nội, 2007
Trang 5phải tỡm ra phương thức lựa chọn −u tiên và sử dụng cỏc nguồn lực làm sao
để cú thể đạt được mục tiờu cao nhất cú thể Chớnh đõy là đũi hỏi phải đặt ra
đối với việc phõn tớch và lựa chọn cỏc phương ỏn “Chiến l−ợc”
Về mối quan hệ giữa “Mục tiờu” và “Chiến l−ợc” (hiểu theo nghĩa hẹp), nhiều tỏc giả cho rằng “Mục tiờu” nhấn mạnh trạng thỏi cần đạt tới trong
tương lai; cũn “Chiến l−ợc ” là quỏ trỡnh đạt tới mục tiờu Trong trường hợp
này, người ta phõn ra ba trường hợp:
• Trường hợp thứ nhất: chiến lược lựa chọn hoàn toàn phự hợp với mục tiờu đặt ra
• Trường hợp thứ hai: khụng cú đủ chiến lược để đạt mục tiờu đó lựa chọn
• Trường hợp thứ ba: thừa chiến lược để đạt mục tiờu Hay núi cỏch khỏc, cú thừa nguồn lực để đạt mục tiờu, hoặc mục tiờu đề ra quỏ thấp
so với khả năng vố nguồn lực
Điều quan trọng mà nhiều tỏc giả nhắc tới là trong nghiờn cứu chiến lược, cho dự ở mức “cõn đối thụ”, khi xỏc định “Mục tiờu” và “Chiến l−ợc ” (hiểu
theo nghĩa hẹp) đều phải ước tớnh thời gian và nguồn lực cần thiết để đạt
được mục tiờu dự kiến Vỡ chỉ cú như vậy mới biết được khả năng hiện thực/
“tớnh khả thi” của cỏc lựa chọn “Chiến l−ợc” Hay núi cỏch khỏc, chỉ sau khi xem xột kỹ mối quan hệ “Mục tiờu- Phương tiện” chỳng ta mới biết được mục tiờu đặt ra cú sỏt thực khụng, chiến lược lựa chọn cú phự hợp khụng Và mỗi khi cỏc phương ỏn cõn đối nguồn lực khụng đỏp ứng yờu cầu thỡ phải
xem xột lại cả mục tiờu và chiến lược
Về tầm quan trọng của việc xỏc định “Mục tiờu” ngay cả cỏc tỏc giả tỏch hai phần “Mục tiờu” và “Chiến lược” thành hai phần riờng biệt, cũng cho rằng việc làm rừ mục tiờu cần đạt cú ý nghĩa vụ cựng quan trọng Nếu thiếu mục tiờu hành động chung cho cả hệ thống, thỡ cỏc phõn hệ sẽ chạy theo cỏc mục tiờu cục bộ của mỡnh, và thậm chớ, nhiều khi cũn chống đối lẫn nhau, và khụng thể cú được hành động thống nhất Mục tiờu thống nhất cũng sẽ quy
định tiờu chuẩn đỏnh giỏ tớnh hợp lý của hướng hành động lựa chọn, và thước đo hiệu quả đạt được, và định hướng chung cho toàn bộ hoạt động của
cả hệ thống
Nhiều tỏc giả cho rằng: Nếu xác định mục tiờu khụng đỳng, hoặc sai lạc cú nghĩa là chỳng ta đó chạy theo giải quyết một vấn đề đặt ra khụng “Trỳng” hoặc không đúng ngay từ đầu và điều đú sẽ dẫn tới sự phung phớ nguồn lực
Trang 6Điều này cũn nguy hiểm hơn so với trường hợp giải quyết khụng cú hiệu quả một vấn đề được đặt ra đỳng đắn / “trỳng”
“Chiến lược” như vậy có thể được hiểu theo nghĩa rộng (bao gồm cả mục tiêu, con đường và nguồn lực để thực hiện mục tiêu) hoặc theo nghĩa hẹp, không bao hàm mục tiêu và chỉ giới hạn ở con đường và phương tiện để đạt các mục tiêu đã được xác định và coi như điều kiện biên
Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, việc lựa chọn cách hiểu “chiến lược” theo nghĩa rộng hay hẹp quyết không thể là một hành động tuỳ tiện, chủ quan, duy ý chí Một khi cần thiết phải tiến hành các thao tác phân tích
về học thuật hoặc phục vụ công tác giảng dậy thì người ta có thể tạm thời tách các mục tiêu chiến lược ra khỏi các phương tiện và nguồn lực để xem xét Nhưng khi cần sử dụng “chiến lược” như là một công cụ quản lý, định hướng, hướng dẫn thực tiễn thì việc tách các mục tiêu khỏi phương tiện và nguồn lực để đạt được mục tiêu sẽ khó có thể chấp nhận được mặc dù đây lại chính là tình trạng khá phổ biến trong thực tế khi mà các mục tiêu, ý đồ chiến lược theo kiểu duy ý chí, bộc phát do một nhân vật nào đó có ảnh hưởng đưa ra, “nhất dạ” sinh bá kế” rối chỉ thị các cơ quan điều hành phải tìm mọi cách thực hiện cho bằng được, bất kể nguồn lực và cách thức như thế nào Trong thực tế, chiến lược vẫn được tiến hành thực thi mà không ai có thể “luận cứ”, lý giải cho các ý đồ và mục tiêu chiến lược được đưa ra, ngay cả người đưa ra ý dồ chiến lược Việc luận cứ cho các mục tiêu và ý đồ chiến lược đó bằng các nguồn lực và con đường nhất định một cách tường minh thường bị cho là “mỵ dân” hoặc không nhất thiết phải tiến hành
Thực tiễn làm chiến lược với cách hiểu “chiến lược” theo nghĩa hẹp và “thần bí”, không tường minh như vậy là không thích hợp với đối tượng ở đây là một “chiến lược phát triển KH&CN” ở tầm quốc gia và trong bối cảnh hội nhập
• Thứ nhất, nguồn lực huy động để làm chiến lược quốc gia được lấy từ
tiền thuế đóng góp của người dân và các cộng đồng doanh nghiệp, không thể không chịu sự giám sát về mục đích và hiệu quả sử dụng, sử dụng các nguồn lực đó cho mục tiêu gì, có lợi cho ai và có hại cho ai
• Thứ hai, phải xác định rõ mục tiêu khi xây dựng chiến lược phát triển
KH&CN của quốc gia vì nguồn lực là có hạn cần phải được lý giải và luận cứ sử dụng vào những mục tiêu nào có thiết thực hay không để tránh các xung đột về lợi ích khi phân bổ ngân sách
Trang 7• Thứ ba, bối cảnh hội nhập cho phép các nước “đi sau” có thể “đứng trên vai người khổng lồ” hoặc là “lấy của người làm phúc của ta” và
không nhất thiết phải tự làm lấy và tự cung tự cấp tất cả các điều kiện cần thiết cho một nền KH&CN tự chủ Do vậy, việc đưa các cân nhắc, tính toán về mục tiêu ưu tiên vào trong khái niệm chiến lược, quy trình xây dựng chiến lược và điều chỉnh chiến lược phát triển KH&CN quốc gia trong bối cảnh hiện nay là hết sức cần thiết và xác đáng
III- Mối quan hệ giữa “Chiến lược”, “Quy hoạch”, “Kế hoạch”,
“Chương trình” và “Dự án”
Có thể nói, cho đến nay ở Việt Nam, trong giới quản lý và nghiên cứu, khái niệm chiến lược vẫn chủ yếu được quan niệm một cách tuyến tính và cơ học như là một khâu, một giai đoạn trong chu trình quản lý đi từ các dự báo, đến hoạch định chiến lược, làm quy hoạch, xây dựng kế hoạch, chương trình và các dự án cụ thể Trong đó tầm thời gian cho các chiến lược thường được xác
định ít nhất là 10 năm và trên 10 năm Tính chất tuyến tính và cơ học thể hiện ở quan niệm tuần tự trong chu trình trước tiên phải làm dự báo, dựa trên các dự báo để hoạch định chiến lược Sau khi có chiến lược rồi mới cụ thể hoá thành chiến lược, quy hoạch các chương trình và dự án Hầu như không
có các liên hệ ngược lại nghĩa là thông qua việc thực hiện các quy hoạch các chương trình và dự án để điều chỉnh lại các mục tiêu chiến lược ban đầu
Trong thực tế, hầu như việc xem xét, đánh giá, tổng kết việc thực hiện các chiến lược thường không mấy khi được tiến hành, hoặc nếu có tiến hành thì cũng chỉ diẽn ra vào cuối kỳ chiến lược, thường là sau 10 năm Thực tế cũng chỉ có các kế hoạch 5 năm, kế hoạch hằng năm, các chương trình và dự án cụ thể là được đưa ra xem xét, đánh giá và tổng kết Mối quan hệ giữa dự báo, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án thường không tường minh hoặc không xác lập được Ngay cả khi các kế hoạch 5 năm, kế hoạch hằng năm, các chương trình và dự án cụ thể được đưa ra xem xét, đánh giá và tổng kết thì cũng không liên hệ với chiến lược để điều chỉnh chiến lược đã xác định thông qua việc thực hiện các các kế hoạch 5 năm, kế hoạch hằng
năm, các chương trình và dự án cụ thể Chính vì vậy, sự hiện diện của các chiến lược sau khi được phê duyệt hầu như không được nhận biết và chiến lược một khi đã được phê duyệt là xong, “nằm im bất động” và sẽ chỉ được nhắc đến trong tương lai sau 10, 15 năm năm nữa
Hiện trạng nêu trên mô tả một thực tế là chiến lược sau khi được xây dựng thường có quá ít vai trò, tác dụng trong thực tiễn Trong khi đó, các hoạt
động tác nghiệp trong quản lý thì nổi lên hàng ngày gắn với các hoạt động
Trang 8thường xuyên của các dự án, các chương trình thì lại không thấy có liên quan gì đến chiến lược
Vấn đề đặt ra là nên quan niệm chiến lược như thế nào để nó trở nên thiết thực, không xa vời và gắn chặt với việc thực hiện các quy hoạch các chương trình và dự án và hoạt động tác nghiệp thường xuyên trong quản lý KH&CN cũng như kinh tế-xã hội? Bởi vì chỉ có dựa trên một khái niệm tổng thể đủ rộng và bao quát về chiến lược, đưa các phạm trù có liên quan như quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án vào trong nội hàm của khái niệm chiến lược, thay vì đặt chúng ở bên ngoài chiến lược, bên cạnh chiến lược thì khi đó, quá trình xây dựng chiến lược mới có điều kiện cần thiết để xác lập mối liên hệ hữu cơ và khăng khít, phi tuyến giữa chiến lược với các quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án
Do vậy, theo chúng tôi, để bảo đảm xác lập mối liên hệ qua lại giữa chiến lược với quy hoạch các chương trình và dự án có thể và nên quan niệm chiến lược bao gồm trong nó cả các quy hoạch các chương trình và dự án cụ thể trong sự thống nhất và phù hợp với các mục tiêu chiến lược Nói cách khác,
một “chiến lược” nên được hiểu là cả một “gói” tổng thể bao gồm cả các mục tiêu dài hạn, các phương tiện và các nguồn lực được bố trí sử dụng theo các quy hoạch, kế hoạch trung hạn và ngắn hạn, các chương trình, dự án cụ thể để nhằm đạt được các mục tiêu dài hạn đã xác định
Một quan niệm như vậy về chiến lược sẽ không tách rời chiến lược dài hạn với các quy hoạch, các chương trình và dự án cụ thể ngắn hạn và trung hạn Người ta có thể nhìn vào các quy hoạch, các chương trình và dự án cụ thể ngắn hạn và trung hạn để thấy được các mục tiêu đã đặt ra trong dài hạn là gì Nói cách khác, trong cái ngắn hạn có cái dài hạn và trong cái dài hạn có cái ngắn hạn Trong quy hoạch , kế hoạch, chương trình dự án có sự hiện diện của chiến lược và trong một chiến lược phải thấy được các quy hoạch, các chương trình và dự án cụ thể để đạt tới các mục tiêu chiến lược dài hạn
và thể hiện được các phương tiện và nguồn lực được bố trí để thực thi chiến lược dài hạn Theo quan niệm này, nếu một chiến lược được đề xuất mà không hoặc chưa rõ sẽ được thực hiện thông qua các quy hoạch và kế hoạch, các chương trình và dự án lớn cụ thể như thế nào thì coi như chưa có chiến lược
Điều cần lưu ý ở đây là việc đưa các quy hoạch, các chương trình và dự án cụ thể vào trong nội hàm khái niệm chiến lược không có nghĩa là đồng nhất, hay đánh đồng giữa chiến lược và các quy hoạch, các chương trình và dự án
cụ thể Không thể không đồng ý với quan điểm cho rằng mỗi một trong các
Trang 9công cụ, chiến lược hay các quy hoạch, các chương trình và dự án cụ thể đều
có những chức năng riêng của nó Chúng tôi cũng đồng ý với quan điểm của
tác giả Nguyễn Khánh rằng “nội dung của chiến lược không được trùng với quy hoạch và kế hoạch”2 Chiến lược có sứ mạng riêng của nó nhưng nó cũng không thể tứng riêng rẽ, độc lập và tách rơi với các quy hoạch, kế hoạch, các chương trình và dự án cụ thể Và khi nó độc lập với các hoạch, các chương trình và dự án cụ thể thì nó sẽ không thể có tác dụng thực tiễn nào Việc đưa các quy hoạch, kế hoạch, các chương trình và dự án cụ thể vào trong nội hàm khái niệm chiến lược là nhằm bảo đảm được tác động qua lại lần nhau giữa chiến lược và các các quy hoạch, kế hoạch, các chương trình
và dự án cụ thể được xử lý và thông qua đó làm sống động thêm vai trò và ý nghĩa của các mục tiêu chiến lược dài hạn trong các khoảng thời gian trung hạn, ngắn hạn cũng như là các hoạt động thường ngày tiến hành các hoạt
động thực thi các dự án, các kế họach và quy hoạch
Thật ra, nếu xét một cách khách quan thì việc hình thành các khái niệm về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các chương trình và dự án, cũng như là việc rạch ròi, phân biệt những khái niệm đó với nhau chỉ là sản phẩm chủ quan của con người Các hoạt động phát triển trong thực tiễn là một thực thể không chia cắt diễn ra theo những quy luật nội tại và vốn có của nó Chính vì vậy, đã đến lúc cần đưa các bộ máy khái niệm của con người về càng gần với hiện thực khách quan thì càng tốt, nghĩa là càng khái niệm càng tổng thể bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu, càng bớt chia cắt bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu
Đó cũng chính là lý do tại sao chúng tôi lựa chọn cách hiểu và quan niệm
“chiến lược” theo nghĩa rộng và tổng thể nêu trên để sử dụng cho đề tài này
IV Một số đặc trưng quan trọng của chiến lược
Qua phõn tớch cỏc chiến lược đựơc coi là thành cụng trong thực tiễn ở nhiều lĩnh vực hoạt động khỏc nhau, một số học giả đó chỉ ra một số yờỳ tố quan trọng sau:
• Mục tiờu đề ra phải đơn giản, tương thớch/phự hợp, và dài hạn
• Phải hiẻu thấu đỏo mụi trường bờn ngoài, đặc biệt là mụi trường cạnh tranh
• Phải đỏnh giỏ khỏch quan nguồn lực cú được từ đú để tỡm ra cỏch
phỏt huy cỏc thế mạnh và khắc phục cỏc mặt yếu
2Nguyễn Khánh (2007), Một số ý kiến về Đề cương chiến lược phát ttiển kinh tế-xã hội 10
năm 2011-2020, in trong sách “Bàn về chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam
trong thời kỳ mới”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hà Nội, 2007;
Trang 10• Phải có được cơ chế chỉ đạo thực thi chiến lược thật sự có hiệu quả
Nếu không quan tâm tới khâu chỉ đạo thực thi chiến lược, thì ngay cả một chiến lược được coi là “hay” cũng ít có tác dụng trong thực tiẽn Hơn thế nữa, điều này cũng cần được dự liệu ngay trong quá trình soạn thảo chiến lược, chứ không phải là công việc “hậu chiến lược”
Hay nói cách khác, đây được xem vừa là các yêu cầu /các đòi hỏi cần đặt ra
ngay trong quá trình phân tích, chọn lựa các quyết sách mang tính chiến
lược, và cũng là các tiêu chí để đánh giá mức độ “thành công” của một
chiến lược
Trang 11Theo chúng tôi, ít nhất có bốn yếu tố quan trọng nhất cấu thành nên nội hàm khái niệm “chiến lược KH&CN”: 1) Thế nào là “chiến lược”?; 2) Đối tượng của “chiến lược KH&CN” là gì? Hay nói cách khác, hoạt động “KH&CN” như là đối tượng của chiến lược KH&CN bao gồm những loại hoạt động nào,
có phạm vi như thế nào? 3) Ai là chủ thể, những ai tham gia vào quá trình xây dựng “chiến lược KH&CN”? và 4) Sản phẩm đầu ra của một “chiến lược KH&CN” là gì? Trong Chương I của Báo cáo này, chúng tôi đã lựa chọn và
đưa ra khái niệm “chiến lược” Chương này sẽ lần lượt làm rõ 3 yếu tố còn lại trong khái niệm “chiến lược KH&CN”
I- “Chiến lược KH&CN” theo nghĩa truyền thống
Theo tỏc giả B Benev, “Chiến lược KH&CN được hiểu là sự xỏc định cỏc phương hướng chủ yộu, cỏc con đường phỏt triển, cỏc vấn đề KH&CN ưu tiờn và cỏc nỗ lực hướng đớch của Nhà nước trong lĩnh vực KH&CN ” Theo cỏc tỏc giả Trung Quốc: “Chiến lược phỏt triển KH&CN là những chuẩn tắc quy định những hành vi trong cỏc hoạt động KH&CN, mang tớnh chất toàn diện và lõu dài, hoặc của một nhà nước, hoặc của một khu vực, hướng vào thực hiện cỏc nhiệm vụ phỏt triển kinh tế-xó hội và đỏp ứng nhu cầu phỏt triển của bản thõn KH&CN”
Hai quan niệm nêu trên về “chiến lược KH&CN” có thể nói là điển hình của cách quan niệm truyền thống về chiến lược trong các nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, chỉ huy và quan liêu bao cấp trước đây
3 Nhìn chung, người ta thường sử dụng thuật ngữ được cho là đầy đủ hơn là “Chiến lược phát triển KH&CN” Thật ra, thuật ngữ “chiến lược KH&CN” cũng có căn nguyên riêng của nó Khi ta sử dụng thuật ngữ “chiến lược KH&CN” là nhấn mạnh tính chất và xu thế phát triển khách quan của hoạt động KH&CN Còn thuật ngữ “Chiến lược phát triển KH&CN” thể hiện ý chí của chủ thể trong hành động phát triển KH&CN Cả hai cách diễn đạt đều có ý nghĩa riêng của nó mà bất cứ chỉ riêng một cách diễn đạt nào cũng đều chưa đầy đủ và khiếm khuyết Trong báo cáo này, chúng tôi sử dụng cách diễn đạt “chiến
lược KH&CN” cho gọn và không hề có ý coi nhẹ vai trò của chủ thể phát triển KH&CN
Trang 121- Đối tượng của “chiến lược KH&CN”
Theo cách hiểu truyền thống, đối tượng của chiến lược KH&CN mặc nhiên
được hiểu là các hoạt động KH&CN Hoạt động KH&CN theo mô hình
tuyến tính được hiểu chỉ bao gồm các hoạt động nghiên cứu khoa học (trong
đó bao gồm nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu định hướng ứng dụng) và phát triển công nghệ, tức là các hoạt động diễn ra trước khi tiến hành sản xuất, chế tạo ra các sản phẩm vật chất, haynói cách khác là những hoạt động nằm bên ngoài hoạt động sản xuất và kinh doanh
Trong sơ đồ dưới đây, hoạt động KH&CN chủ yếu chỉ bao gồm các hoạt
động diễn ra trong các khối (1)-nghiên cứu cơ bản và (2)- triển khai công nghệ, không bao gồm các hoạt động sản xuất và thương mại hoá, tức là áp dụng tri thức KH&CN để sản xuấtvà tiêu thụ sản phẩm (khối 3)
Triển khai thực nghiệm
Triển khai hoàn thiện
Sản xuất và thương m ại hoá (3)
Phát triển công nghệ(2)
Từ cách hiểu này, phạm vi điều chỉnh, tác động của chiến lược KH&CN chỉ khuôn hẹp vào trong phạm vi các hoạt động cung cấp đầu vào dưới dạng các phát minh khoa học, các ý tưởng công nghệ và các sáng chế công nghệ cho quá trình sản xuất kinh doanh và không quan tâm, không tác động đến quá trình và kết quả áp dụng những sản phẩm nghiên cứu khoa học và công nghệ vào trong sản xuất kinh doanh như thế nào Nhiệm vụ chủ yếu của Chiến lược KH&CN là lựa chọn hướng nghiên cứu khoa học và công nghệ trọng điểm, lựa chọn các mục tiêu xây dựng tiềm lực KH&CN Việc sử dụng các đầu ra của hoạt động KH&CN cho các hoạt động kinh tế-xã hội, việc gắn kết các mục tiêu chiến lược KH&CN với chiến lược phát triển kinh tế xã hội thường diẽn ra không phải là trong quá trình xây dựng chiến lược KH&CN
mà thường là sau khi xây dựng chiến lược KH&CN Sự gắn kết giữa hai chiến lược chủ yếu thể hiện trên câu chữ trong các văn bản chiến lược và hầu như không thể hiện rõ trong quá trình xây dựng chiến lược và lại càng ít thấy trong quá trình tổ chức thực hiện chiến lược ở từng dự án đầu tư cụ thể
Nhược điểm của cách quan niệm này về đối tượng và phạm vi của chiến lược KH&CN là dễ thấy và hậu quả lớn nhất là chiến lược KH&CN chỉ mang tính
tự thân, không đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng ở những hoạt động
Trang 13phát triển kinh tế-xã hội, sản xuất và kinh doanh gắn với những sản phẩm và dịch vụ mới mà xã hội có thể nhận biết
2- Chủ thể tham gia xây dựng chiến lược KH&CN
Theo cách hiểu về chiến lược KH&CN nêu trên (Benev, và các tác giả Trung Quốc), nhà nước là chủ thể chính đứng ra xây dựng chiến lược KH&CN của
quốc gia và việc xây dựng chiến lược KH&CN thường chỉ do cộng đồng và các cơ quan quản lý KH&CN tiến hành với sự tham góp ý kiến của các cơ quan quản lý thuộc các bộ ngành kinh tế, xã hội Về cơ bản có thể nói đó là chiến lược của giới KH&CN và vì sự phát triển tự thân của KH&CN Chính vì vậy trong thực tế chiến lược KH&CN chỉ là chiến lược của KH&CN và cho KH&CN
3- Sản phẩm đầu ra của “chiến lược KH&CN”
Tuy cỏch diễn đạt về khỏi niệm Chiến lược KH&CN cũn cú sự khỏc biệt, nhưng nếu suy ra từ cỏc văn kiện được cụng bố của một số nước theo cơ chế
kế hoạch hoỏ tập trung, thỡ nội dung cơ bản của Chiến lược KH&CN cũng như là đầu ra của một bản chiến lược KH&CN thường là một văn bản bao gồm:
• Cỏc quan điểm chỉ đạo
• Cỏc mục tiờu cần đạt tới (cú phõn đoạn theo thới gian)
• Cỏc trọng điểm ưu tiờn về KH&CN
• Cỏc con đường/cỏch đi để đạt tới mục tiờu theo cỏc hướng ưu tiờn
biệt với nhau Chiến lược kinh tế là chủ thể, và vỡ vậy chiến lược KH&CN
phải phục tựng chiến lược kinh tế Đú là sự thống nhất của hai loại Chiến lược này” Một mặt, chỳng là cơ sở của nhau, tuỳ thuộc vào nhau, là tiền đề
Trang 14của nhau Mặt khỏc, chỳng cú tớnh độc lập tương đối phự hợp với chức năng
và quy luật phỏt triển riờng vốn cú của mỡnh
II- Chiến lược KH&CN theo nghĩa “đổi mới- Innovation”
1- Đối tượng của chiến lược KH&CN theo nghĩa đổi mới
Từ những năm 80 và nhất là đầu những năm 90 của thế kỷ trước, dưới tác
động của toàn cầu hóa và các công nghệ kết nối và xử lý thông tin toàn cầu qua mạng internet, ranh giới giữa các hoạt động KH&CN mang tính chuyên môn hóa và hoạt động sản xuất kinh doanh đã bị nhanh chóng phá vỡ Nhiều
ý tưởng khoa học và công nghệ mới được hình thành và thực hiện ngay trong các quá trình sản xuất kinh doanh ở nhiều doanh nghiệp mà không nhất thiết chỉ diễn ra trong các phòng thí nghiệm, hay viện nghiên cứu trên thực tế đã ngày càng xoá nhoà ranh giới truyền thống giữa các hoạt động KH&CN với các hoạt động ngoài KH&CN Hiện thực này đã là cơ sở cho sự phổ biến của khái niệm “innovation” trong hầu hết diễn đàn về quản lý KH&CN trên thế giới những năm gần đây
“Innovation” – tạm dịch là đổi mới 4 là thuật ngữ thường gặp trên các sách báo nghiên cứu quản lý và phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) trên thế giới, đặc biệt là tại khối các nước thuộc tổ chức OECD từ những năm
1980 trở lại đây Muộn hơn chút ít, cách đây 1-2 thập kỷ, cách tiếp cận hệ thống đổi mới đã được sử dụng tại nhiều nước thuộc khối các nước NICs và một số nước đang phát triển khác tại Đông Âu, Châu á và Châu Mỹ La tinh Tuy nhiên, trong một cuốn sách được viết từ năm 1912, J.Schumpeter đã là người đầu tiên nêu lên tầm quan trọng của đổi mới và phân biệt những ý
nghĩa mới của khái niệm đổi mới so với khái niệm sáng chế (invention)
Theo đó, sáng chế thường chỉ là một ý tưởng, một mô hình hoặc là một bản
vẽ sơ bộ về một sản phẩm hoặc một quy trình sản xuất sản phẩm mới Sáng chế không phải lúc nào cũng được công nhận để cấp bằng và thường rất ít khi từ đó đưa ra được những sản phẩm/quy trình mới mà thị trường chấp nhận Trong khi đó, đổi mới là khái niệm mô tả quá trình tạo ra sáng chế và tiến hành các hoạt động thử nghiệm, sản xuất để biến sáng chế từ chỗ chỉ là
4
Việc chuyển ngữ “innovation” ra thành “đổi mới” trong tiếng Việt một cách đơn thuần về mặt từ vựng đã
là một trong những nguyên nhân dẫn đến đồng nhất khái niệm “innovation” với khái niệm “đổi mới” trong các nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam Thật ra khái niệm “innovation” ra đời ở các nước Phương Tây xuất phát từ những bất cập của các khái niệm R&D (nghiên cứu và phát triển), là bước phát triển tất yếu của việc gắn kết (thậm chí nhất thể hóa) hoạt động khoa học và công nghệ với sản xuất và kinh doanh Thuật ngữ “innovation” có những đặc điểm mà thuật ngữ “đổi mới” trong tiếng Việt không bao hàm hết Chính vì vậy không thể dịch “innovation” chỉ là đổi mới Vấn đề là cần làm rõ những nội hàm của khái niệm innovation mà các nước sử dụng rồi sâu đó đi tìm từ Việt để thể hiện những nội hàm đó
Trang 15những ý tưởng, bản vẽ trở thành những sản phẩm và dịch vụ mới được mua bán trên thị trường
“Innovation” là quá trình “chuyển ý tưởng thành sản phẩm mới hoặc sản phẩm hoàn thiện đưa ra trên thị trường, thành quy trình đưa vào hoạt động hoặc hoàn thiện trong công nghiệp và thương mại, hoặc đưa ra cách tiếp cận
mới về dịch vụ xã hội” [Nelson, 1993] “Đổi mới là một quá trình biến đổi
bao gồm trong đó các hoạt động phát minh khoa học, nghiên cứu ứng dụng, triển khai công nghệ, đào tạo nhân lực, đầu tư tài chính, tiếp thị và tiêu thụ
sản phẩm.” [Arthur J.Carty, 1998]
Đổi mới là một tổng thể và hệ thống bao gồm nhiều hoạt động cả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, tạo ra các đối tượng sở hữu công nghiệp, thương mại hóa công nghệ, hoạt động sản xuất và phân phối các sản phẩm và dich vụ mới trên thị trường Trong phạm vi của hoạt động đổi mới, ranh giới giữa các loại hoạt động không những không còn mà hơn thế chúng tự liên kết, đan xem, lồng ghép và tích hợp với nhau một cách hữu hiệu để có thể tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới được xã hội và thị trường chấp nhận
Điểm khác biệt về cơ bản giữa hoạt động KH&CN với hoạt động đổi mới là
ở chỗ, đầu ra của các hoạt động KH&CN là các phát minh và sáng chế thì
đầu ra của các hoạt động đổi mới là các sản phẩm và dịch vụ mới được xã hội và thị trường chấp nhận Chính vì vậy việc đòi hỏi các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ phải tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới
đưa lại hiệu quả kinh tế và có lãi sẽ không bao giờ có thể được đáp ứng trừ khi các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đó được đặt trong hệ thống của các hoạt động đổi mới và có cơ chế bảo đảm cho các hoạt động đổi mới diễn ra và phát huy tác dụng
Hoạt động sáng chế sử dụng tài nguyên để tạo ra tri thức Innovation sử dụng tri thức để tạo ra của cải (sản phẩm và dịch vụ)
Sáng chế (invention)
Tài Nguyên
innovation (đổi mới)
Theo quan điểm của (Otto Lin, 1999) “innovation” là quá trình biến đổi hay
là chuyển tri thức có được thông qua hoạt động sáng chế, phát minh trở thành của cải, trong khi sáng chế phát minh là quá trình tiêu tốn các nguồn
Trang 16lực và tài nguyên Như vậy vai trò của “innovation” và của hoạt động phát minh sáng chế là khác nhau Chức năng của “innovation” chính là hoạt
động khai thác, sử dụng có hiệu quả các sáng chế thành các giá trị kinh tế, xã
hội và cả văn hoá nữa Nói cách khác, hoạt động khoa học (phát minh) và công nghệ (sáng chế) dùng tiền của, tài nguyên để tạo ra tri thức mới trong khi “innovation” là hoạt động sử dụng tri thức để làm ra tiền của
Một số nhà nghiên cứu mới đây đã xác định: “innovation” có thể xem là một
sự mở rộng phạm vi và biên giới của khái niệm R&D và KH&CN kiểu truyền thống Nhìn chung, R&D và KH&CN là những hoạt động chuyên môn hoá, tạo ra chỉ một loại phương tiện, cung cấp chỉ một trong những đầu vào cho các quá trình sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế-xã hội Trong khi đó, các hoạt động đổi mới bao gồm cả một hệ thống nhiều loại hoạt động khác nhau như nghiên cứu và phát triển, các hoạt động KH&CN và ngoài KH&CN cùng phối hợp với nhau để tạo ra những sản phẩm mới và dịch vụ mới được chấp nhận trên thị trường và trong xã hội So với các hoạt động R&D chuyên môn hoá theo mô hình tuyến tính, các hoạt động “innovation-
đổi mới” có 8 đặc tính khác biệt: tính tổng thể, tính đa dạng, tính định hướng thị trường, tính hệ thống, tính phức tạp, tính không tuần tự, khả năng tự tiến hoá-tự tổ chức và doanh nghiệp là chủ thể-trung tâm [Nguyễn Mạnh Quân,
2005]
So với các hoạt động R&D chuyên môn hóa, hoạt động đổi mới có những
đặc điểm như sau:
Tính tổng thể: đổi mới được quan niệm là một hoạt động tổng thể bao gồm
nhiều loại hoạt động khác nhau từ nghiên cứu và phát triển đến thiết kế, chế tạo, sản xuất, thương mại hoá, trao đổi và tiêu dùng sản phẩm mới và dịch vụ mới trên thị trường Hoạt động đổi mới không chỉ bó hẹp và kết thúc khi đưa
ra được ý tưởng hoặc các thiết kế công nghệ trong phòng thí nghiệm hoặc các sáng chế công nghệ được đăng ký và cấp bằng Hoạt động đổi mới còn tiếp diễn cho đến khi từ các sáng chế công nghệ đi đến chỗ chế tạo và đưa ra những sản phẩm hoặc dịch vụ mới được thị trường chấp nhận Cần nhấn mạnh một sự khác biệt ở đây là những hoạt động sau R&D này trong quan niệm trước đây được coi là nằm ngoài phạm vi quản lý và đối tượng tác động của các chính sách R&D Tuy nhiên trong hoạt động đổi mới, các hoạt động sau và ngoài R&D (thiết kế, chế tạo, ứng dụng và sử dụng các kết quả R&D, các hoạt động học hỏi, cải tiến tổ chức, quản lý, đào tạo) có liên quan chặt chẽ với hoạt động R&D và thậm chí còn trở nên quan trọng hơn bản thân các hoạt động R&D một khi để tạo ra sản phẩm mới người ta có thể mua sáng chế, thiết kế trên thị trường mà không nhất thiết phải tiến hành nghiên cứu và
Trang 17phát triển công nghệ Ơ đây, các hoạt động R&D truyền thống được đặt trong khuôn khổ rộng hơn bao gồm tòan bộ các hoạt động có liên quan gắn kết với nó trong quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới Thực chất, về phạm vi, đổi mới là khái niệm bao gồm một tổng thể các hoạt động R&D và liên quan với R&D mà không chỉ bao gồm riêng hoạt động R&D Nói ngắn gọn, đổi mới bao gồm các hoạt động R&D và ngoài R&D; hoặc bao gồm đổi mới công nghệ và ngoài công nghệ nếu như lấy công nghệ là trung tâm của hoạt động đổi mới Chính vì thế người ta thường phân biệt hai loại đổi mới chủ yếu là đổi mới công nghệ (phương pháp) và đổi mới ngoài công nghệ (trong đó có đổi mới sản phẩm, đổi mới tổ chức, v.v.)
Tính định hướng thị trường, một ý tưởng hay một dự án chế tạo sản phẩm
hoặc dịch vụ chỉ được xem là đổi mới một khi sản phẩm , dịch vụ hoặc quy trình công nghệ mới được đưa ra thị trường và được thị trường chấp nhận,
được mua-bán và sử dụng trong xã hội Điều này rất khác với các hoạt động R&D truyền thống chỉ kết thúc khi công nghệ mới được cấp bằng, giải pháp mới được công nhận là giải pháp hữu ích và được bảo hộ Thị trường, lợi nhuận vừa là mục đích vừa là động lực chủ yếu, trực tiếp của hoạt động đổi mới
Mặc dự xột trờn quy mụ thế giới, đặc biệt đối với cỏc nước cú tiềm lực kinh
tế và năng lực KH&CN mạnh, hoạt động R&D cú thể đưa lại những thay đổi mang tớnh đột phỏ về cụng nghệ và tạo lợi thế cạnh tranh về kinh tế Tuy nhiờn, muốn khai thỏc cỏc khả năng cụng nghệ mới để tạo ra cỏc lợi ớch kinh
tế đều phải thụng qua khõu ỏp dụng cỏc cụng nghệ đú để đưa ra thị trường cỏc sản phẩm và dịch vụ mới/ hoàn thiện hơn Hay núi cỏch khỏc, chớnh
khõu” ứng dụng cụng nghệ mới “/đổi mới cụng nghệ, mới trực tiếp tạo ra
cỏc giỏ trị gia tăng/ lợi ớch KT-XH Bởi vậy nhiều nhà kinh tế đó nhấn mạnh
tới mệnh đề ” Đổi mới là động lực cho tăng trưởng kinh tế”, thay cho cỏch núi quỏ tổng quỏt “KH&CN là động lực cho phỏt triển kinh tế” vón thường
dựng Cũng với ý nghĩa đú, trong nhiều văn bản chớnh thức của nhiều nước ,
người ta đó xỏc định Cụng nghệ là “ Cụng cụ”/” phương tiện” để giải quýết cỏc mục tiờu KT-XH , chứ khụng phải là “mục tiờu tự thõn”
Tính đa dạng, hoạt động đổi mới so với hoạt động R&D truyền thống,
chuyên môn hóa đa dạng và phong phú hơn, Nó có thể diễn ra ở các tổ chức R&D và ngoài R&D Nó có thể diễn ra ở tất cả các loại doanh nghiệp với quy mô khác nhau từ các tập đoàn đến các công ty vừa và nhỏ Hoạt động
đổi mới cũng có thể diễn ra khắp các vùng, các khu vực từ công nghệ cao
đến các công nghệ truyền thống, không phải chỉ ở trong công nghệ thông tin hay công nghệ sinh học Xét về mức độ mới người ta cũng phân biệt các đổi
Trang 18mới cơ bản về nguyên lý và quy trình công nghệ và đổi mới nhỏ mang tính chất cải tiến hoặc các thay đổi nhỏ trong phạm vi nguyên lý và quy trình công nghệ cũ Sản phẩm của đổi mới cũng hết sức đa dạng có thể là sản phẩm mới, quy trình công nghệ mới, thay thế nguyên liệu mới cho một quy trình cũ, phương pháp tổ chức sản xuất mới, thay đổi chức năng nội bộ, v.v
Về tính không tuần tự, đổi mới là loại hoạt động không diễn ra theo một
trình tự đã định, biết trước nghĩa là bắt đầu từ nghiên cứu tìm ra quy luật, nguyên lý khoa học, rồi trên cơ sở đó phát triển công nghệ sau đó mới đưa công nghệ vào sản xuất đưa ra sản phẩm và dịch vụ mới Đổi mới có thể bắt
đầu từ bất kỳ một công đoạn nào trong chu trình nêu trên Thí dụ có thể được bắt đầu từ ý tưởng mới nảy sinh trong khi người tiêu dùng sử dụng sản phẩm mới, dịch vụ mới và một khía cạnh nào đó của sản phẩm, dịch vụ có thể được cải tiến không nhất thiết phải diễn ra thông qua hoạt động R&D, thậm chí không nhất thiết phải sử dụng công nghệ mới Thí dụ điển hình nhất về tính không tuần tự của hoạt động đổi mới là quy trình chuyển giao công nghệ ngược được phát hiện những năm gần đây về hiện tượng nhiều nước mới công nghiệp hoá đã hầu như đi theo chu trình ngược với các nước công nghiệp phát triển, bắt đầu từ nhập khẩu dây chuyền thiết bị sản xuất toàn bộ kiểu “chìa khoá trao tay”, sau đó cải tiến công nghệ, rồi mới tién hành nghiên cứu triển khai và nghiên cứu cơ bản Cả hai con đường, chu trình xuôi
và ngược (từ gốc đến ngọn và từ ngọn đến gốc) đều đã dẫn đến nâng cao năng lực công nghệ và trình độ sản xuất công nghiệp, dịch vụ, đa dạng hoá
và tăng cường hàm lượng tri thức và công nghệ trong sản phẩm, dịch vụ
Tính hệ thống, với chủ thể là doanh nhân và doanh nghiệp theo đuổi lợi
nhuận, hoạt động đổi mới là loại hoạt động mang tính hệ thống, diễn ra thông qua hệ thống bao gồm nhiều tác nhân tham gia và quan hệ giữa tác nhân với nhau trong quá trình tạo ra tri thức mới, sản phẩm và dịch vụ mới Thành phần các tác nhân tham gia hoạt động đổi mới bao gồm các nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, công nghệ, các cơ quan quản lý nhà nước, các thiết chế thị trường (tổ chức và luật lệ), nhà sản xuất, khách hàng tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ đổi mới Khác với hoạt động R&D chuyên môn hoá có thể xảy ra ở chỉ một tổ chức R&D nhất định, hoạt động đổi mới không bao giờ diễn ra tại một doanh nghiệp riêng rẽ Hoạt động đổi mới luôn diễn ra trong khuôn khổ các hệ thống đan xen lẫn nhau rất phức tạp Các hệ thống
đổi mới có thể tồn tại ở cấp độ quốc gia (hệ thống đổi mới quốc gia), cấp độ ngành, khu vực (hệ thống đổi mới ngành), cấp độvùng (hệ thống đổi mới vùng), cấp độ doanh nghiệp (hệ thống đổi mới doanh nghiệp) và thậm chí có thể nói đến một hệ thống đổi mới toàn cầu đang hình thành song song với quá trình toàn cầu hóa
Trang 19Tính phức tạp, như là hệ quả của các đặc tính tổng thể, tính không tuần tự
và tính hệ thống, hoạt động đổi mới có cấu trúc phức tạp, rất khó đo lường, không thể áp dụng các phương pháp giản quy hoặc các chỉ số thô sơ để đánh giá và dự báo Tính phức tạp của hoạt động đổi mới thể hiện ở số lượng các tác nhân tham gia và sự đan xen cũng như chiều hướng của các tương tác diễn ra trong quá trình đổi mới Trên thực tế hoạt động đổi mới dường như dién ra trong những “hộp đen” với vô số những quá trình phức tạp đan xen trong đó Nhưng quan trọng hơn, tính phức tạp của đổi mới thể hiện ở bản chất rất bất định (uncertain) không thể dự báo, doán trước thời điểm xảy ra, phạm vi ảnh hưởng, tác động của đổi mới đến các lĩnh vực đời sống xã hội, kinh tế, môi trường Theo Hayek: “hầu hết cỏc hiện tượng kinh tế là cỏc hiện tượng phức, và với cỏc hiện tượng thuộc loại này, chỳng ta khụng thể nào đưa ra được cỏc dự đoỏn chớnh xỏc mà chỉ cú thể chỉ ra cỏc nguyờn lý khiến cho hiện tượng xảy ra, từ đú tỡm cỏch ngăn chặn hay đối phú với cỏc khả năng tồi”
Khả năng tự tiến hoá và tự tổ chức, đây là đặc tính quan trọng của hoạt
động đổi mới Tuy có cấu trúc phức tạp nhưng được quan niệm giống như các cơ thể sống, hoạt động đổi mới có khả năng tự tổ chức, tự liên kết, tự tìm
đến những đối tác cần thiết để tạo gắn cung với cầu, gắn công nghệ với sản phẩm hàng hoá, dịch vụ mà không cần có sự can thiệp từ bên ngoài và tự tiến hóa trong các môi trường thể chế xã hội khác nhau Sự can thiệp hành chính, máy móc của các cơ quan quản lý thường cản trở do không nuôi dưỡng và phát huy khả năng tự tổ chức của các hoạt động đổi mới Về cơ bản đổi mới
là loại hoạt động tự diễn ra, tự tổ chức và nhà nước chưa bao giờ là chủ thể của hoạt động đổi mới
Doanh nghiệp là chủ thể của các hoạt động đổi mới, khác với các hoạt động
R&D chuyên môn hoá, chủ thể của hoạt động đổi mới không phải là các nhà khoa học và công nghệ, các tổ chức R&D mà là các doanh nhân và doanh nghiệp Có thể hình dung doanh nhân và doanh nghiệp là “đầu tàu” của hoạt
động đổi mới, là chủ thể đầu tư cho tiến hành hoạt động đổi mới là người đặt
ra nhu cầu và huy động, tổ chức, liên kết các tác nhân liên quan trong đó có các nhà KH&CN tham gia hoạt động đổi mới Sự khác biệt giữa hai chủ thể
ở đây là về bản chất Trong khi các nhà doanh nghiệp tiến hành hoạt động
đổi mới vì mục tiêu lợi nhuận, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới, bán được trên thị trường, thu được lợi nhuận, có thể bù đắp được rủi ro và tái đầu tư duy trì và phát triển hoạt động đổi mới thì các nhà khoa học công nghệ không lấy lợi nhuận làm mục tiêu và sẽ không thể tự duy trì hoạt động nếu không có nguồn tài trợ và nhu cầu đặt hàng từ phía doanh nhân và doanh
Trang 20nghiệp Với chủ thể là các doanh nhân và doanh nghiệp theo đổi lợi nhuận, hoạt động đổi mới là loại hoạt động có động lực tự tại, có khả năng tự duy trì
và phát triển Điều này giải thích lợi ích và sự cần thiết phải chú trọng đầu tư cho hoạt động đổi mới thay vì quá chú trọng đầu tư cho các tổ chức R&D và các nhà khoa học và công nghệ không tự tạo ra sản phẩm, dịch vụ và lợi nhuận
Nguồn: C.K Wang (1999), Quá trình đổi mới, rà soát và dự báo công nghệ, Bài giảng tại
lớp Quản lý công nghệ, NISTPASS-CMIT-HSF, Hà nội, Tháng 5/1999
Đổi mới là hoạt động tìm kiếm và theo đuổi lợi nhuận của các doanh nghiệp
và doanh nhân trên thị trường thông qua quá trình tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới được thị trường chấp nhận Đó là một tổng thể bao gồm nhiều loại hoạt động xã hội rất phức tạp, có liên quan chặt chẽ với nhau như nghiên cứu, triển khai công nghệ, thiết kế chế tạo, tiếp thị và thương mại hoá, giáo dục, đào tạo được tiến hành bởi hàng loạt các tổ chức, tác nhân liên quan như
tổ chức R&D, doanh nghiệp, trường đại học, cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội nghề nghiệp, v.v Hệ thống các tác nhân và quan hệ diễn ra trong hoạt
động đổi mới có cấu trúc phức tạp, diễn tiến không tuần tự nhưng có khả năng tự tổ chức, tự liên kết , tự tiến hóa đòi hỏi những môi trường và thiết chế quản lý thích hợp, những không gian liên kết đủ rộng để có thể diễn ra
Bảng 4: Mạng lưới liên kết trong các hệ thống đổi mới
(Systems Integration and Networking)
Đại học & Lab
Cơ sở hạ tầng S&T
Đối thủ cạnh tranh
Thông tin., Patent
Bạn hàng và đồng minh chiến lược
Đầu tư, tài sản
và mua sắm
t bị
Trang 21ỀInnovationỂ lÌ nh− vẹy lÌ khĨi niơm chừ mét chừnh thố, mét hơ thèng bao gạm nhiồu loÓi tri thục khĨc nhau ợ−îc tÓo ra, phă biỏn vÌ Ĩp dông trong thùc tiÔn, nhiồu yỏu tè, nhiồu tă chục, nhiồu chÝnh sĨch, nhiồu tĨc nhờn cã liởn quan cđn thiỏt trong quĨ trÈnh tÓo ra nhƠng sộn phẻm vÌ dẺch vô ợ−îc xỈ héi vÌ thẺ tr−êng chÊp nhẹn ỀInnovationỂ võa chụa ợùng cĨc yỏu tè kü thuẹt, cỡng nghơ, khoa hảc vÌ kinh tỏ, sộn xuÊt, kinh doanh, lÓi võa thố hiơn cĨc khÝa cÓnh vồ tă chục, vồ vÙn hoĨ vÌ xỈ héi ẽ nhiồu phÓm vi khĨc nhau: quèc gia, quèc tƯ, vĩng, ngÌnh vÌ cĨc cỡng ty ỀInnovationỂ cã thố ợ−îc quan niơm lÌ sĨng tÓo ra mét cĨi gÈ ợã mắi trong nhƠng ợiồu kiơn nhÊt ợẺnh vÌ ợã khỡng phội lÌ hiơn thùc xộy ra ẽ thỏ giắi cĨc n−Ũc phĨt triốn mÌ cßn lÌ hiơn thùc ẽ ngay cộ nhƠng quèc gia chẹm phĨt triốn nhÊt
Nh− vẹy, vắi 8 ợậc ợiốm: tÝnh tăng thố, tÝnh ợa dÓng, tÝnh ợẺnh h−ắng thẺ tr−êng, tÝnh hơ thèng, tÝnh phục tÓp, tÝnh khỡng tuđn tù, khộ nÙng tù tiỏn hoĨ-tù tă chục vÌ doanh nghiơp lÌ chĐ thố-trung tờm, hoÓt ợéng ợăi mắi khi
trẽ thÌnh ợèi t−îng cĐa chiỏn l−îc sỹ lÌm cho kiốu chiỏn l−îc nÌy rÊt khĨc so vắi Ềchiỏn l−îc KH&CNỂ theo nghưa truyồn thèng
2- Ai lÌ chĐ thố cĐa Ềchiỏn l−îc ợăi mắiỂ vÌ tham gia vÌo quĨ trÈnh xờy dùng Ềchiỏn l−îc ợăi mắiỂ?
Tr−ắc hỏt cã thố thÊy, chĐ thố cĐa chiỏn l−îc ợăi mắi sỹ khỡng cßn chừ lÌ NhÌ n−ắc vÌ céng ợạng cĨc nhÌ khoa hảc vÌ cỡng nghơ nh− ợèi vắi chiỏn l−îc KH&CN truyồn thèng
Nếu coi Ềkhâu ứng dụng trong thực tếỂ các công nghệ mới và thông qua ứng
dụng mới đưa lại các lợi ắch kinh tế-xã hội thực sự, thì Ềnhân vật trung tâm
Ề cần hướng tới chắnh là các doanh nghiệp Ố nơi diễn ra quá trình đổi mới công nghệ, chứ không phải là các tổ chức nghiên cứu KH&CN Hay nói cách khác, các kết quả nghiên cứu chỉ là Ềmột đầu vàoỂ, một phương án để các
doanh nghiệp xem xét, cân nhắc, lựa chọn, chứ không phải là phương án duy nhất đáp ứng nhu cầu của họ Và ở đây, nếu trong thiết kế chiỏn l−îc, quá coi trọng ỀKhâu cungỂ công nghệ từ nguồn trong nước, nếu không xuất phát từ Ềnhu cầu thựcỂ của doanh nghiệp (chứ không phải người khác nói
thay họ), nếu không đặt họ vào vị trắ trung tâm, thì rất dễ chạỵ theo các ỀNhu cầu giảỂ, Ề Mục tiêu giảỂ, ỀƯu tiên giảỂ, và nguy cơ lãng phắ nguồn lực
vốn còn quá hạn chế của quốc gia là điều rất dễ xẩy ra
Nh− vẹy sù vai trß trung tờm liởn kỏt cĐa cĨc doanh nghiơp trong hoÓt ợéng
ợăi mắi vÌ cĨc hơ thèng ợăi mắi lÌm cho sù tham gia cĐa hả vÌo trong quĨ trÈnh hoÓch ợẺnh cĨc chiỏn l−îc ợăi mắi trẽ nởn cã ý nghườ quyỏt ợẺnh ChÝnh
Trang 22các doanh nghiệp sẽ là người đưa ra các nhu cầu thật sự cho các ứng dụng kết quả hoạt động KH&CN, và là người khởi đầu và các liên kết giữa hoạt
động KH&CN với sản xuất kinh doanh trong các hệ thống đổi mới
Vai trò của các doanh nghiệp và bộ ngành ngoài KH&CN tham gia vào quá trình hoạch định chiến lược sẽ rất quan trọng để chiến lược KH&CN có thể
được xây dựng theo hướng đổi mới và nhất là phải được đảm bảo về cơ chế,
về đầu tư tài chính, về cơ sở vật chất kỹ thuật, về nhân lực để có thể thực thi
và kiểm tra mức độ và tiến độ thực hiện trong thực tế
3) Sản phẩm đầu ra của các chiến lược đổi mới
Ngoài các mục tiêu về xây dựng tiềm lực KH&CN, chiến lược phát triển KH&CN theo cách tiếp cận hệ thống đổi mới (lấy các hoạt động đổi mới làm đối tượng của chiến lược) phải được cụ thể hóa bằng một số chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng một số ngành và sản phẩm quốc gia với sự tham gia của các bộ ngành, tập đoàn doanh nghiệp và các tổ chức KH&CN
“Chiến lược đổi mới”- Innovation Strategy
Đối tượng Hoạt động R&D và dịch vụ
R&D có liên quan theo quan niệm tuyến tính và không bao gồm các hoạt động ngoài R&D như ứng dụng và phát triển công nghệ, sản xuất, chế tạo và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ xã hội
Hoạt động đổi mới bao gồm cả R&D và ngoài R&D như ứng dụng và phát triển công nghệ, sản xuất, chế tạo và tiêu thụ các sản phẩm, dịch
vụ xã hội
Chủ thể Nhà nước, cộng đồng
KH&CN, các tổ chức KH&CN
Hệ thống đổi mới với doanh nghiệp là trung tâm liên kết các tác nhân đổi mới trong
hệ thống
Sản phẩm đầu ra Bản Chiến lược KH&CN
như là một bộ phận trong Chiến lược kinh tế-xã hội quốc gia
Kế hoạch, quy hoạch, chương trình, dự án gắn với ngành, sản phẩm cụ thể
Trang 23III- Lựa chọn khái niệm chiến lược KH&CN cho Việt Nam
Vấn đề đặt ra là Việt Nam nên lựa chọn đối tượng cho xây dựng chiến lược
phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2010-2020 là “các hoạt động KH&CN” hay “hoạt động đổi mới” ? Và nếu Việt Nam lựa chọn xây dựng
chiến lược KH&CN kiểu theo cách tiếp cận đổi mới (hay có thể gọi là chiến lược đổi mới- innovation strategy như một số nước và các tổ chức quốc tế đã
và đang sử dụng) thì tại sao và đâu là cơ sở cho sự lựa chọn đó?
Thứ nhất, xuất phát từ bài học kinh nghiệm xây dựng chiến lược KH&CN Việt Nam 2000-2010
Nhìn lại quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược KH&CN Việt Nam 2000-2010 có thể thấy bên cạnh những mặt tích cực cũng cho thấy một số nhược điểm trong quan niệm về chiến lược KH&CN không thể lặp lại trong xây dựng chiến lược KH&CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Trước hết, quá trình xây dựng chiến lược vẫn tập trung quỏ nhiều vào “ Hệ
thống KH&CN” ( hiểu theo nghĩa hẹp), quỏ nhiều vào khõu “ cung” cỏc giải phỏp KH&CN, Hay núi cỏch khỏc, đõu đú vẫn cũn phảng phất về mụ hỡnh
“tuyến tớnh” trong phỏt triển KH&CN, và vẫn bị chi phối bởi cỏch tư duy và hành động theo “chức năng” truỳờn thống Vẫn quỏ coi trọng vai trũ của cỏc tổ chức KH&CN, chưa nhận thức đầy đủ vị thế “ Trung tõm”, “Đầu tầu
“ của cỏc doanh nghiệp- người trực tiếp thực hiện cỏc hoạt động đổi mới (
hiểu theo nghĩa rộng ), cả đổi mới cụng nghệ, đổi mới tổ chức quản lý nội bộ , đổi mới cỏc hỡnh thức liờn kết với cỏc đối tỏc bờn ngoài , vừa là đối tượng thụ hưởng , vừa là người chịu tỏc động, cả tớch cực và tiờu cực, của chiến lược KH&CN quốc gia Nếu khụng vỡ họ, nếu khụng xuất phỏt từ “nhu cầu thực” và “khú khăn thực” của họ để thiết kế cỏc giải phỏp chiến lược
KH&CN thỡ “ tớnh hữu dụng” và “tớnh khả thi” sẽ khụng cao
Mặt khác, Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam giai đoạn 2001-2010
được xây dựng (từ 1997 đến 2003) trong bối cảnh đất nước chưa hội nhập chính thức và thật sự vào nền kinh tế thế giới thông qua định chế WTO Tác
động và ảnh hưởng trực tiếp của kinh tế và KH&CN thế giới đến kinh tế Việt Nam còn hạn hẹp và chưa rõ Trong bối cảnh đó, tư duy xây dựng chiến lược chưa có đủ căn cứ thực tiễn để có thể vươn đến tầm tư duy toàn cầu Việc tính toán các mục tiêu và hướng công nghệ trọng điểm và giải pháp trong chiến lược còn hạn hẹp trong phạm vi tư duy chủ quan, duy ý chí, thiếu cơ
sở thực tiễn của phát triển kinh tế và KH&CN toàn thế giới Sức mạnh của
Trang 24thời đại (cụ thể ở đây là tri thức và công nghệ của thời đại) chưa được đưa vào cân đối trong các tính toán chiến lược và lựa chọn ưu tiên một cách thực tiễn
Thứ hai, xuất phát từ xu thế giới và kinh nghiệm nước ngoài
Thực tiễn ở nhiều nước Phương Tây theo kinh tế thị trường, vào những năm
70 và 80, đã cho thấy quan niệm truyền thống một cách tuyến tính về vị trí
và vai trò của hoạt động KH&CN đã không còn giải thích được mối quan hệ phức tạp giữa nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, triển khai công nghệ, sản xuất sản phẩm, các quy trình công nghệ mới và tăng trưởng kinh tế Thực
tế cho thấy, các hoạt động đổi mới đã và đang tạo nên cơ chế gắn kết các tổ chức R&D, doanh nghiệp, đại học, các cơ quan chính phủ với nhau trong
một hệ thống rộng lớn các mối liên hệ (ngang- dọc, trong - ngoài, trên- dưới) Trong các hoạt động này, ranh giới giữa các yếu tố thuộc hệ thống
KH&CN, kinh tế và xã hội trở nên thứ yếu và luôn luôn có thể bị vượt qua
để hướng tới mục tiêu cuối cùng là làm sao tạo ra được nhiều sản phẩm mới, dịch vụ mới được thị trường và xã hội chấp nhận
Chính vì vậy có thể quan sát thấy trong giới nghiên cứu về quản lý KH&CN trên thế giới đã và đang diến ra xu hướng mở rộng các khái niệm về khoa học
và công nghệ như là các lĩnh vực hoạt động mang tính hàn lâm và kỹ thuật chuyên ngành thuần túy sang một khuôn khổ khái niệm mang tính thực tiễn
và tổng thể, đó là khái niệm “ innovation” Xu hướng này thể hiện trong nhiều trường phái nghiên cứu về “innovation” ở Bắc Âu, Hoa Kỳ, Đông á ( Nhật bản, Hàn Quốc và Trung Quốc) Đặc biệt nhiều định chế quốc tế như UNIDO, WB, OECD đã và đang nỗ lực nghiên cứu và chuyển giao tri thức
về nghiên cứu đổi mới cho các nước đang phát triển nhằm tìm kiếm những cách tiếp cận thích hợp, hiệu quả và nhanh chóng hơn trong việc ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ của thời đại để đạt được các mục tiêu phát triển quốc gia Quan niệm mở rộng, tổng thể và phi tuyến về khoa học và công nghệ, vai trò của khoa học và công nghệ trong phát triển kinh tế-xã hội thể hiện qua khái niệm đổi mới đã và đang được tiếp cận, thực thi ở nhiều khuôn khổ quản lý khoa học và công nghệ khác nhau từ thiết kế tầm nhìn, hoạch định chiến lược, xây dựng các lộ trình đến thiết kế tổng thể các cơ chế chính sách phát triển khoa học và công nghệ Trong bối cảnh đó, chiến lược khoa học và công nghệ không còn được quan niệm chỉ là chiến lược thuần túy cho các hoạt động khoa học và công nghệ mà đã trở thành chiến lược đổi mới (a strategy of innovation) với phạm vi tiếp cận tổng thể