ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- LÊ THỊ THỦY VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG QUÁ TRÌNH TƯ VẤN, PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ THỦY
VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG QUÁ TRÌNH TƯ VẤN, PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ (NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG LIÊN HIỆP CÁC
HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.04.12
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Ngọc Dinh
Hà Nội, 2016
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do nghiên cứu: 1
2 Tóm tắt lịch sử nghiên cứu: 1
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu: 3
5 Mẫu khảo sát: 3
6 Câu hỏi nghiên cứu: 4
7 Giả thuyết nghiên cứu: 4
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết: 4
9 Nội dung nghiên cứu: 4
10 Kết cấu luận văn: 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG QUÁ TRÌNH TƯ VẤN, PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 6
1.1 Xã hội dân sự 6
1.1.1 Khái niệm xã hội dân sự 6
1.1.2 Khái niệm tổ chức xã hội dân sự 9
1.1.3 Các loại hình tổ chức xã hội dân sự 11
1.1.4 Tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam 13
1.1.5 Vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong việc hoàn thiện chính sách … 14
1.2 Tư vấn, phản biện 16
1.2.1 Khái niệm tư vấn, phản biện 16
1.2.2 Tính chất, mục đích của hoạt động tư vấn, phản biện 16
1.2.3 Vai trò của tư vấn, phản biện trong việc hoạch định chính sách 17
Trang 31.3 Chính sách khoa học và công nghệ 18
1.3.1 Khái niệm chính sách 18
1.3.2 Khái niệm khoa học và công nghệ 18
1.3.3 Vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển xã hội…… 21
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THAM GIA VÀO QUÁ TRÌNH TƯ VẤN, PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRỰC THUỘC LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM 24
2.1 Vài nét về Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam 24
2.2 Tổng quan về các tổ chức xã hội dân sự trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam 25
2.2.1 Bản chất và sự phát triển 25
2.2.2 Lĩnh vực hoạt động 27
2.2.3 Cơ sở vật chất 28
2.2.4 Nhân lực của các tổ chức XHDS 29
2.3 Hoạt động tư vấn, phản biện chính sách khoa học và công nghệ của các tổ chức xã hội dân sự trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam 32
2.3.1 Nhận thức 32
2.3.2 Lý do tham gia hoạt động tư vấn, phản biện chính sách khoa học và công nghệ 33
2.3.3 Những lĩnh vực tham gia tư vấn, phản biện 34
2.3.4 Loại hình chính sách tham gia tư vấn, phản biện 35
2.3.5 Phương thức thực hiện 36
2.3.6 Khả năng phối hợp với các cơ quan nhà nước 37
2.3.7 Khả năng phối hợp với các tổ chức ngoài nhà nước 40
2.3.8 Khả năng phối hợp, tiếp cận thông tin và truyền tải thông điệp đến các cơ quan có thẩm quyền 44
2.3.9 Năng lực huy động nguồn lực tài chính 47
2.3.10 Công tác truyền thông 54
Trang 4CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIA VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRỰC THUỘC LIÊN HIỆP HỘI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH TƯ
VẤN, PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 58
3.1 Khung đánh giá và những kết quả đánh giá từ cơ quan lập chính sách 58 3.1.1 Quy trình xây dựng chính sách 58
3.1.2 Khung đánh giá vai trò các tổ chức XHDS theo quy trình xây dựng chính sách 59
3.1.3 Đánh giá kết quả đóng góp của các tổ chức XHDS trực thuộc LHHVN trong TV,PB chính sách KH&CN 61
3.2 Những khó khăn cần tháo gỡ 69
3.2.1 Môi trường thể chế, pháp lý 69
3.2.2 Năng lực hạn chế 71
3.2.3 Công tác truyền thông 73
3.3 Các giải pháp huy động sự đóng góp của các tổ chức xã hội dân sự trong quá trình tư vấn, phản biện chính sách khoa học và công nghệ 74
3.3.1 Giải pháp về phía nhà nước 74
3.3.2 Giải pháp về phía Liên hiệp Hội Việt Nam 79
3.3.3 Giải pháp về phía các tổ chức xã hội dân sự 80
3.3.4 Giải pháp truyền thông 82
KẾT LUẬN 83
Trang 5Để có được kết quả này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Đặng Ngọc Dinh - người đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này với sự chỉ bảo nhiệt tình, sâu sát
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo thuộc khoa Khoa học Quản lý - trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội và các thầy, cô giáo trong trường cũng như Ban Giám hiệu nhà trường đã tạo môi trường học tập, nghiên cứu bổ ích, thiết thực cho các học viên, nhiệt tình giúp đỡ các học viên trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Bên cạnh đó, xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các chuyên gia, đồng
nghiệp và bạn bè trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Lê Thị Thủy
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TV,PB: Tư vấn, phản biện
KH&KT: Khoa học và kỹ thuật
KH&CN: Khoa học và công nghệ
LHHVN: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Trang 7DANH MỤC BIỂU
Sơ đồ 1.1.Mối quan hệ của Xã hội dân sự với các chủ thể xã hội khác 9
Biểu 2.1: Sự phát triển của các tổ chức XHDS trực thuộc LHHVN 26
Biểu 2.2: Mức độ hợp tác với cơ quan chủ trì xây dựng chính sách 38
Biểu 2.3: Mức độ hợp tác với các cơ quan dân cử 38
Biểu 2.4: Sự tham gia vào các mạng lưới của các tổ chức XHDS 42
Biểu 2.5: Mức độ hợp tác với các Hội KH&KT của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam 43
Biểu 2.6: Mức độ hợp tác với các Liên hiệp Hội tỉnh/thành phố của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam 43
Biểu 2.7: Mức độ hợp tác của các tổ chức KH&CN trực thuộc với cơ quan trung ương Liên hiệp Hội Việt Nam 44
Biểu 2.8: Nguồn gốc của các dự thảo chính sách KH&CN để các tổ chức XHDS trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam thực hiện TV,PB 45
Biểu 2.9: Số lượng văn bản góp ý, tư vấn 45
Biểu 2.10: Mức độ phản hồi khi nhận được tư vấn, góp ý của các tổ chức XHDS trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam 46
Biểu 2.11: Hình thức truyền tải thông tin khi tiến hành TV,PB chính sách 47
Biểu 2.12: Nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước 48
Biểu 2.13: Nguồn tài chính từ các đa ̣i sứ quán các nước 48
Biểu 2.14: Nguồn tài chính từ các tổ chức hợp tác chính thức 49
Biểu 2.15: Nguồn tài chính từ các tổ chức phi chính phủ nước ngoài 49
Biểu 2.16: Số lượng dự án TVCS và giá trị viện trợ theo lĩnh vực 53
Biểu 2.17: Hình thức truyền thông của các tổ chức XHDS trực thuộc LHHVN 56
trong hoạt động TV,PB chính sách KH&CN 56
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Lĩnh vực hoạt động của các tổ chức XHDS trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam 27 Bảng 2.2: Nhân lực của các tổ chức KH&CN ngoài công lập 29 Bảng 2.3: Trình độ của những người có vai trò quan trọng trong hoạt động TV, PB của mỗi tổ chức 31 Bảng 2.4: Cơ quan công tác của những người có vai trò quan trọng trong hoạt động
TV, PB ngay trước khi về tổ chức 31 Bảng 2.5: Lý do tham gia thực hiện hoạt động TV,PB chính sách KH&CN 33 Bảng 2.6: Các lĩnh vực chính sách có sự tham gia TV, PB của các tổ chức XHDS trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam 34 Bảng 2.7: Loại hình chính sách KH&CN do các tổ chức XHDS trực thuộc 36 Bảng 2.8: Phương thức thực hiện TV,PB chính sách KH&CN của các tổ chức XHDS trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam 37 Bảng 2.9: Số lượng dự án TV,PB chính sách và giá trị viện trợ so với tổng số dự án
và tổng giá trị viện trợ 51 Bảng 2.10: Số lượng dự án Tư vấn chính sách và giá trị viện trợ theo lĩnh vực 52 Bảng 3.1: Tỷ lệ các nguồn thông tin được ĐBQH sử dụng 63 Bảng 3.2: Đánh giá của ĐBQH về mức độ quan trọng của các nguồn thông tin (tỷ lệ
%) 63 Bảng 3.3: Đánh giá của cán bộ Văn phòng Quốc Hội về thông tin của các chủ thể ngoài Nhà nước 64
Trang 9quan tâm đúng mức Chính vì vậy, tác giả lựa chọn vấn đề “Vai trò của các tổ chức
xã hội dân sự trong quá trình tư vấn, phản biện chính sách KH&CN (nghiên cứu hệ thống Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam)” làm đề tài nghiên cứu
cho luận văn của mình, với mục tiêu phân tích thực trạng, đánh giá vai trò của các
tổ chức này và đề xuất các giải pháp khắc phục những bất cập nhằm phát huy vai trò của các tổ chức này trong công tác TV,PB chính sách KH&CN góp phần phát triển KH&CN và kinh tế-xã hội đất nước
2 Tóm tắt lịch sử nghiên cứu:
Xã hội dân sự là một chủ đề rất được quan tâm trong những năm gần đây, đã
có nhiều tác giả đề cập đến vấn đề này như:
- Các tác phẩm, bài viết đã đề cập đến sự hình thành và phát triển, vị trí, vai trò của các tổ chức XHDS đối với sự phát triển của đất nước nói chung bao gồm:
Trang 10+ Đinh Thị Thuý Hằng (2013), Báo cáo nghiên cứu hình ảnh tổ chức xã hội dân sự trên báo chí Việt Nam;
+ Irene Norlund, Đặng Ngọc Dinh và các cộng sự (2005-2006), Đánh giá nhanh Xã hội dân sự ở Việt Nam, dự án nghiên cứu được hỗ trợ bởi UNDP Việt Nam;
+ Ngân hàng phát triển Châu Á ADB (2011), Báo cáo tóm tắt về xã hội dân sự Việt Nam; + Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (2010), Vai trò của các tổ chức xã hội: Đối với phát triển và quản lý xã hội., Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
+ Nguyễn Minh Phương (2006), Vai trò của xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay,
- Các tác phẩm, bài viết đã chỉ ra được mối quan hệ giữa các tổ chức XHDS với
nhà nước ở Việt Nam:
+ Phạm Bích San (2011), Sự hợp tác giữa các tổ chức phi chính phủ và nhà nước ở Việt Nam: những triển vọng tái cơ cấu? Hội nghị thường niên các tổ chức phi chính
phủ Việt Nam
Trang 113
- Các tác phẩm, bài viết đã chỉ ra được hình ảnh chung về các tổ chức XHDS tại
một số nước trên thế giới:
+ Lê Thị Thanh Hương (2009): Xã hội dân sự ở Malayxia và Thái Lan, Nxb Khoa học xã hội;
- Các tác phẩm đề cập đến giải pháp nhằm phát triển các tổ chức XHDS tại Việt Nam:
+ Vũ Đình Thắng (2012), Nghiên cứu chính sách và giải pháp phát triển các tổ chức xã hội dân sự ở nông thôn Việt Nam
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một nghiên cứu chính thức nào về vai trò của các tổ chức XHDS trong một lĩnh vực đặc thù, đó là quá trình TV,PB chính sách KH&CN tại Việt Nam
3 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích và đánh giá vai trò của các tổ chức XHDS, tập trung vào các tổ chức thuộc Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam, trong quá trình TV,PB chính sách KH&CN; đề xuất các giải pháp khắc phục bất cập, phát huy vai trò của các tổ chức này nhằm góp phần hoàn thiện chính sách KH&CN và Kinh tế-xã hội của đất nước
4 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung:
Trong nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
Thực trạng tham gia vào quá trình TV,PB chính sách KH&CN của các tổ chức XHDS tại Việt Nam, chủ yếu tập trung vào các tổ chức thuộc Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam
- Phạm vi thời gian: nghiên cứu trong khoảng thời gian từ khi có Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 22/2002/QĐ-TTg ngày 30/01/2002 về hoạt động TV,PB của Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam đến nay
5 Mẫu khảo sát:
Các tổ chức KH&CN ngoài công lập trực thuộc LHHVN
Trang 124
6 Câu hỏi nghiên cứu:
Các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam (chủ yếu là các tổ chức KH&CN ngoài công lập trực thuộc LHHVN) hiện nay tham gia vào quá trình tư vấn, phản biện
chính sách KH&CN như thế nào? Vai trò thực chất của các tổ chức này?
7 Giả thuyết nghiên cứu:
Các tổ chức XHDS ở Việt Nam hiện nay tham gia vào quá trình TV,PB chính sách KH&CN còn thụ động và hạn chế cả về số lượng và chất lượng, đồng thời còn
gặp những khó khăn, bất cập từ hệ thống chính sách
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết:
- Nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu nêu tại Danh mục tài liệu tham khảo của luận văn này
- Điều tra bằng Phiếu khảo sát vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trong quá trình tư vấn, phản biện
chính sách khoa học và công nghệ; phát ra 100 phiếu, thu về 100 phiếu
9 Nội dung nghiên cứu:
Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào một số nội dung sau:
- Vai trò của các tổ chức XHDS trong quá trình TV,PB chính sách KH&CN
- Thực trạng tham gia vào quá trình TV,PB chính sách KH&CN của các tổ chức XHDS tại Việt Nam (nghiên cứu các tổ chức KH&CN ngoài công lập trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) Những khó khăn, hạn chế từ bản thân các tổ chức này và những bất cập từ hệ thống chính sách
- Các giải pháp huy động sự đóng góp của các tổ chức XHDS thuộc LHHVN trong quá trình TV,PB chính sách KH&CN
10 Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn có kết cấu như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận của việc phân tích, đánh giá vai trò của các tổ chức
xã hội dân sự trong quá trình tư vấn, phản biện chính sách KH&CN
Trang 135
Chương 2 Thực trạng tham gia vào quá trình tư vấn, phản biện chính sách KH&CN của các tổ chức KH&CN tại Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Chương 3 Phân tích, đánh giá vai trò và đề xuất giải pháp thúc đẩy các tổ chức xã hội dân sự thuộc LBHVN trong quá trình tư vấn, phản biện chính sách
KH&CN
Trang 146
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG QUÁ TRÌNH TƯ VẤN, PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1.1 Xã hội dân sự
1.1.1 Khái niệm xã hội dân sự
Xã hội dân sự là thuật ngữ được xem xét và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trong lịch sử tư tưởng, chính trị, pháp lý thế giới, và hiện nay nó được tiếp cận dưới những góc độ và bình diện rất khác nhau (kể cả trên thế giới và ở Việt Nam) Xét nội hàm cơ bản của thuật ngữ, XHDS ở phương Tây có nguồn gốc từ đời sống xã hội ở Hy Lạp cổ đại: các polis Hy Lạp cổ và các đô thị La Mã cổ với những
“công dân tự do” xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử Thuật ngữ XHDS, theo tiếng
Hy Lạp là koinonia politiké (tiếng Pháp: société civile, tiếng Anh: civil society và trong tiếng Nga: grazhdanskoe obchtsestvo, có khi nó được dịch thành xã hội công dân để nhấn mạnh đến vị trí của các công dân trong xã hội)
Khái niệm XHDS xuất hiện khá sớm ở châu Âu Các định nghĩa phổ biến về XHDS hiện nay đều nhấn mạnh tới tinh thần tự nguyện của công dân trong việc tập hợp thành các nhóm, hội, câu lạc bộ, nhằm bảo vệ các quyền lợi hợp pháp và giá trị của mình Khái niệm XHDS xuất hiện sớm nhất ở nước Anh (1594), nó được hiểu là những con người sống trong cộng đồng Sau đó, khái niệm này được tiếp cận dưới hai góc độ khác nhau Trong lý thuyết của các nhà triết học Scottish (thế kỷ XVIII), XHDS có nghĩa là xã hội văn minh với một Nhà nước không độc đoán Hegel mô tả XHDS như là một phần của đời sống đạo đức, bao gồm ba yếu tố: gia đình, xã hội dân sự và Nhà nước Ông thừa nhận rằng, một XHDS tự tổ chức cần phải do Nhà nước cân nhắc và đặt trật tự cho nó, nếu không xã hội đó sẽ trở thành tư lợi và không đóng góp gì cho lợi ích chung.1
1 Lê Thị Hồng Dự, Phát triển các tổ chức xã hội dân sự xã Nghĩa Bình, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An,
website: nghia-dan-tinh-nghe-an.htm , cập nhật ngày 18/4/2013
Trang 15người mới hoàn thành
Ở Việt Nam, cùng với các khái niệm như dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái,
v.v., khái niệm Xã hội dân sự được du nhập từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
trong xu thế giao lưu với văn hoá phương tây Song vì nhiều nguyên nhân khác nhau, khái niệm này chỉ được nghiên cứu và vận dụng một cách phổ biến từ sau đổi mới Nghị quyết số 08-NQ/HNTW Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá VI) năm 1986 khẳng định: “Trong giai đoạn mới, cần thành lập các hội đáp ứng nhu cầu chính đáng về nghề nghiệp và đời sống nhân dân, hoạt động theo hướng ích nước lợi nhà, tương thân tương ái Các tổ chức hội quần chúng được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản và tự trang trải về tài chính trong khuôn khổ pháp luật” Chủ trương này của Đảng đã được triển khai trong thực tế, trước hết là về phương diện nghiên cứu lý luận Nhiều công trình nghiên cứu khoa học, nhiều chuyên khảo, bài viết đã đề cập đến vấn đề XHDS Và thực tế những năm gần đây ở Việt Nam, các tổ chức chính trị- xã hội và đoàn thể xã hội, hội nghề nghiệp, v.v đã được thành lập, có hình thức và chức năng tương ứng phần nào như các tổ chức thuộc XHDS ở phương Tây
Nguyễn Như Phát trong bài Xã hội dân sự và xây dựng xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay, cho rằng, “khái niệm xã hội dân sự được xem xét trên hai bình diện,
bình diện về một khu vực, một môi trường xã hội được thiết kế và vận hành không
có yếu tố nhà nước …đó là khu vực dân sự (nhằm để phân biệt với khu vực quân
Trang 168
sự, tức là khu vực có sự can thiệp của nhà nước)…ở bình diện thứ hai, khái niệm dân sự (civil) được hiểu là khái niệm văn minh”2 Theo logic đó thì không phải tất
cả những tổ chức xã hội nằm ngoài nhà nước đều là văn minh, cho nên đều không
được nhìn nhận như một thành tố của XHDS Theo Nguyễn Như Phát, “XHDS được coi là một trong hai yếu tố của quản trị hiện đại”, một yếu tố thuộc về bộ ba
cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp), một yếu tố thuộc về các tổ chức
do dân thiết lập mà không cần sự can thiệp của nhà nước
Tác giả Phạm Thái Việt cho rằng “một xã hội được gọi là XHDS khi tất cả công dân có khả năng thể hiện công khai thái độ của mình đối với các hoạt động nào đó của các chính quyền, có thể phản đối các quyết định nào đó của các cơ quan nhà nước”.3
Trong phạm vi đề tài này, tác giả sử dụng khái niệm: “XHDS là diễn đàn nằm ngoài khu vực gia đình, nhà nước và thị trường, tại đó mọi người tự nguyện liên kết (bắt tay) với nhau để thúc đẩy quyền lợi chung” Theo mô hình quan hệ mà Liên
minh Thế giới vì Sự tham gia của Công dân (CVICUS) đưa ra trong dự án Đánh giá ban đầu về XHDS tại Việt Nam (2005)4 thì XHDS là một bộ phận của xã hội đang tồn tại, là một không gian độc lập không thuộc nhà nước, không thuộc gia đình, nhưng không hoàn toàn phân biệt rạch ròi mà giữa chúng có mối quan hệ tác động lẫn nhau Các chủ thể xã hội khác đang nói tới ở đây là Nhà nước, Thị trường và
Gia đình Nhà nước là chủ thể có vai trò quan trọng, dẫn dắt và đảm bảo cho sự ổn
định của phát triển kinh tế và để hạn chế những xung đột, mâu thuẫn cần có sự tham gia của khu vực dân sự Cần phải xem XHDS là đối tác bình đẳng mang tính hỗ trợ
Nhà nước mà không phải là “cánh tay nối dài” của nhà nước Thị trường là một chủ
thể quan trọng khác của xã hội bên cạnh Nhà nước, được hiện hữu bởi các tổ chức
là doanh nghiệp thuộc mọi loại hình khác nhau Song hành với thị trường cũng cần
2 Nguyễn Như Phát, Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay,
một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Xã hội dân sự và xây dựng xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay, tr.152
3 Phạm Thái Việt (2008), Vấn đề điều chỉnh chức năng và thể chế của nhà nước dưới tác động của toàn cầu
hoá, Nxb Khoa học xã hội, tr 176
4 Irene Norlund, Đặng Ngọc Dinh và các cộng sự (2005-2006), Đánh giá nhanh Xã hội dân sự ở Việt Nam,
dự án nghiên cứu được hỗ trợ bởi UNDP Việt Nam
Trang 179
có một không gian với nhiệm vụ giúp cân bằng các ưu và nhược điểm của thị
trường để đảm bảo có những tác động hài hòa đối với xã hội Gia đình là một yếu tố
thuộc phạm trù truyền thống và văn hóa của xã hội Cùng với họ hàng - làng xã, gia đình là một nhân tố hình thành nên các mạng lưới xã hội và vốn xã hội Do đó, gia đình
có thể xem như là một nguồn gốc sâu xa của sự hình thành các tổ chức XHDS
kinh tế Trung ương, Tháng 11/2008)
1.1.2 Khái niệm tổ chức xã hội dân sự
Cách hiểu đơn giản nhất là “tổ chức là một nhóm người làm việc chung với nhau” Hiểu rộng hơn thì “tổ chức là nhiều người tập hợp thành một nhóm, ban, hội, đoàn nhằm mục đích điều hành hay quản lý một công việc nào đó”.5
Theo Liên minh Thế giới vì sự tham gia của Công dân (CIVICUS), XHDS là diễn đàn nằm ngoài gia đình, nhà nước và thị trường, nơi mà mọi người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung Theo đó, muốn cải thiện tính hiệu quả của Nhà nước cần phải dựa vào sức mạnh tương đối của thị trường và các tổ chức XHDS, các tổ chức XHDS có thể vừa là cộng sự vừa là đối thủ cạnh tranh trong việc cung
5 Đinh Thảo Linh, Định nghĩa một tổ chức xã hội dân sự , đăng ngày 22/02/2012, website
https://groups.google.com/forum/#!msg/sam-saturday-morning/Mks3SOpCA3Y/JEECj1-UWzwJ
Trang 18TS Irenne Norluand7, có ba cách tiếp cận đối với các tổ chức xã hội là: Thuyết tân
tự do cho rằng các tổ chức xã hội tồn tại một cách độc lập, thuộc “khu vực thứ ba”,
“khu vực tự nguyện”, ở đó các công dân tự tổ chức thành nhóm và giải quyết các vấn đề phát sinh thông qua đối thoại “dân sự” và biện pháp phi bạo lực Vai trò của các tổ chức này là kiểm soát và làm cân bằng mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường Theo mô hình Xã hội tốt lành (Good Society), các tổ chức XHDS là một bộ phận cấu thành xã hội, không hoàn toàn tách biệt với nhà nước, thị trường và gia đình mà nằm ở khu vực giao nhau của ba bộ phận này; ranh giới của nó cũng không rạch ròi, luôn có sự tương tác giữa nhà nước, thị trường và các tổ chức XHDS nhằm đem lại sự đồng thuận tốt lành cho mọi người Mô hình Hậu hiện đại (Postmodern) xem các tổ chức xã hội thuộc khu vực thứ ba và đề cao vai trò chia sẻ, thông cảm và liên kết, hợp tác giữa các bên tham gia đối thoại, thảo luận
Từ góc độ phạm vi, theo Linz và Stepan, các tổ chức XHDS thuộc lĩnh vực trung gian nằm giữa khu vực tư nhân và nhà nước, hay còn gọi là khu vực thứ ba
Từ góc độ chức năng, Anirudh Krishna xác định các tổ chức XHDS thực hiện các chức năng ở ba cấp độ khác nhau là: 1) thể hiện những lợi ích và nhu cầu của công dân; 2) bảo vệ quyền của công dân; 3) cung cấp hàng hóa và dịch vụ trực tiếp không dựa vào các cơ quan nhà nước 8
Từ góc độ mạng lưới, Andrew WellsDang đưa ra khái niệm mạng lưới XHDS
để nhấn mạnh rằng, nó là sự liên kết chặt chẽ giữa các tổ chức XHDS – các nhóm
6 TS Thang Văn Phúc, PGS.TS Nguyễn Minh Phương (2010), Vai trò của các tổ chức xã hội: Đối với phát
triển và quản lý xã hội., Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
7 Viện những vấn đề phát triển (VIDS) (2005), Báo cáo nghiên cứu Dự án Đánh giá nhanh các chỉ số xã hội
dân sự ở Việt Nam
8 Lê Thị Thanh Hương (chủ biên) (2009), Xã hội dân sự ở Malaixia và Thái Lan, Nxb Khoa học xã hội
Trang 19dung, luận văn này không quan tâm nghiên cứu các khía cạnh tiêu cực này của XHDS
1.1.3 Các loại hình tổ chức xã hội dân sự
Có rất nhiều cách phân biệt các loại hình tổ chức XHDS, tuy nhiên, tác giả chọn cách phân biệt loại hình tổ chức của tác giả Phạm Bích San10 và tài liệu nghiên cứu của Ngân hàng phát triển Châu Á ADB năm 2009 về tổ chức XHDS
Tác giả Phạm Bích San cho rằng các loại tổ chức XHDS (hoặc gọi chung là
các tổ chức xã hội) ở Việt Nam gồm ba dạng: Các tổ chức được nhà nước tài trợ hoàn toàn như Công đoàn, Phụ nữ, Thanh niên, Nông dân, Cựu chiến binh; Các tổ chức được nhà nước tài trợ một phần như Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Liên hiệp Văn học Nghệ thuật, Hội Nhà báo; và Các tổ chức xã hội dân
sự như các tổ chức phi chính phủ (ngoài công lập), các quỹ tự trang trải, các tổ chức
cộng đồng
Theo tài liệu của Ngân hàng phát triển Châu Á ADB năm 201111, tổ chức XHDS được chia thành 9 loại như sau:
- Các tổ chức phi chính phủ (NGO): là các tổ chức chuyên môn, trung gian và
phi lợi nhuận cung cấp hoặc hỗ trợ việc cung cấp các dịch vụ liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, nhân quyền, phúc lợi công cộng hoặc cứu trợ khẩn cấp
- Hiệp hội nghề nghiệp: Đây là tổ chức đại diện cho quyền lợi của các thành
viên là những người hoạt động trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định hoặc làm
9 Andrew Wells-Dang (2011), Informal Pathbreakers: Civil Society Networks in China and Vietnam,
University of Birmingham Research Archive, pg.24
10 Phạm Bích San (2011) Hội nghị thường niên các tổ chức phi chính phủ Việt Nam, Sự hợp tác giữa các tổ
chức phi chính phủ và nhà nước ở Việt Nam: những triển vọng tái cơ cấu
11 Ngân hàng phát triển Châu Á ADB, (2011), Báo cáo tóm tắt về xã hội dân sự Việt Nam
Trang 2012
những nghề đặc biệt nào đó Các hiệp hội nghề nghiệp có thể tạo ra những chuẩn mực liên quan đến ngành nghề của các thành viên, ví dụ như Hiệp Hội kiến trúc sư,
kế toán công…
- Các quỹ: Là tổ chức từ thiện được thành lập bởi các cá nhân hay đơn vị nào đó
với tư cách là một thực thể pháp lý (một tập đoàn hoặc một quỹ ủy thác) ủng hộ những sự nghiệp phù hợp với mục tiêu của quỹ Ví dụ: Quỹ Ford (Mỹ), Quỹ Qga Khan (Thụy Sỹ)…
- Các viện nghiên cứu độc lập: Là những tổ chức ngoài công lập (tự trang trải
tài chính) chủ yếu thực hiện các hoạt động nghiên cứu và phân tích liên quan đến các vấn đề chính sách công và truyển bá những kết quả nghiên cứu và khuyến nghị của mình với hy vọng có thể gây ảnh hưởng lên các nhà hoạch định quyết sách và những người xác lập chủ trương
- Các tổ chức cộng đồng (CBO): Các tổ chức này thường giải quyết ngay những
mối quan tâm của các thành viên Đặc tính cơ bản của CBO là chúng có thể huy động các cộng đồng thông qua việc thể hiện các nhu cầu, tổ chức và thực hiện những quá trình có sự tham gia, tiếp cận các dịch vụ phát triển từ bên ngoài, chia sẻ lợi ích giữa các thành viên
- Các tổ chức tín ngưỡng: Những nhóm có cơ sở tôn giáo được thành lập quanh
một khu vực thờ cúng hoặc giáo đoàn, một cơ sở tôn giáo hoặc một cơ sở có hoặc không đăng ký có tôn chỉ tôn giáo
- Các tổ chức nhân dân: Là những tổ chức gồm những tình nguyện bình dân,
nhằm thúc đẩy sự phồn thịnh về kinh tế và xã hội của các thành viên
- Các phong trào xã hội và công đoàn: Là những nhóm phi chính thức có quy
mô lớn, gồm nhiều cá nhân hoặc tổ chức nhằm thay đổi xã hội, thông qua những hành động tập thể có thể chức và lâu dài
Như chúng ta thấy, trong nghiên cứu của Ngân hàng phát triển Châu Á ADB,
tổ chức XHDS được chia thành các dạng, các nhóm theo tính chất hoạt động, còn trong nghiên cứu của tác giả Phạm Bích San, tổ chức XHDS được chia theo các nhóm là đối tượng được nhận hoặc không được nhận tài trợ của nhà nước
Trang 2113
1.1.4 Tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam
Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam năm 1946 và các Hiến pháp 1959, 1980 và
1992, 2013 đều thừa nhận công dân Việt Nam có quyền hội họp, lập hội theo quy định của pháp luật Theo Sắc lệnh số 52-SL ngày 22/4/1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định việc thành lập hội: “Hội là một đoàn thể có tính cách vĩnh cửu gồm hai hoặc nhiều người giao ước hiệp lực mà hành động để đạt mục đích chung, mục đích ấy không phải để chia lợi tức”
Thực tế, các tổ chức xã hội mang tính XHDS ở Việt Nam hoạt động trên cơ sở
tự nguyện của người dân đã tồn tại qua nhiều đời nay Đặc biệt khi có thiên tai, lũ lụt, chiến tranh xảy ra thì các hoạt động của các tổ chức xã hội này lại càng thể hiện
rõ tinh thần tự nguyện cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau của người dân để thoát khỏi hoạn nạn Các tổ chức xã hội nói chung và XHDS ở nước ta đã phát triển rất phong phú và đa dạng với nhiều loại hình và tên gọi khác nhau
Trong lộ trình của EU về cam kết với XHDS tại Việt Nam năm 201412, phái đoàn EU và các nước thành viên EU tại Việt Nam đã đánh giá thực trạng phát triển XHDS tại Việt Nam như sau: Tại Việt Nam, các tổ chức XHDS nói chung được chia thành 5 nhóm: (i) các đoàn thể (6 tổ chức chính trị: Công đoàn; Nông dân; Phụ nữ; Thanh niên; Cựu chiến binh; và Mặt trân Tổ quốc Việt Nam); (ii) các tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp (Liên hiệp Hội KH&KT; Hội Nhà văn; ); (iii) tổ chức phi chính phủ Việt Nam (trong đó cóa các tổ chức KH&CN ngoài công lập trực thuộc Liên hiệp Hội KH&KT Việt Nam); (iv) các tổ chức dựa vào cộng đồng (các nhóm thiện nguyện, từ thiện, ); và (v) các tổ chức phi chính phủ quốc tế (Oxfam, Action Aid, ) Hàng trăm tổ chức ở cấp quốc gia và hàng ngàn tổ chức ở cấp tỉnh thuộc các nhóm này Các tổ chức XHDS được thành lập theo các quy định khác nhau, và thường theo các quy định hoặc của quốc tế, hoặc của Việt Nam
Cơ cấu XHDS ở Việt Nam đang thay đổi do sự xuất hiện của các tổ chức, mạng lưới và các nhóm mới đã định hình các cuộc thảo luận về thực trạng của
12 http://eeas.europa.eu/delegations/vietnam/documents/press_corner/2014/20141110_civil_society_vi.pdf , cập nhập ngày 10/11/2014
Trang 2214
XHDS Mối quan hệ giữa XHDS, Nhà nước và Đảng cũng đã trải qua những thay đổi đáng kể trong ba thập kỷ qua Đổi mới và chính sách của Chính phủ về “xã hội hóa” đã tạo nên một môi trường tốt hơn cho các nhóm công dân Ngoài ra, tầng lớp trung lưu đô thị và sự phát triển trong việc sử dụng internet đã tạo điều kiện gia tăng tiếp cận thông tin và mức độ nhận thức chung, do đó đã tác động tới vai trò chỉ đạo trực tiếp trước đó của Nhà nước đối với các tổ chức XHDS, và các tổ chức này được coi như một phần của hệ thống nhà nước Với sự xuất hiện của các tổ chức XHDS, nhà nước đã xây dựng một khuôn khổ pháp lý quy định việc phê duyệt và quản lý của nhà nước với các tổ chức XHDS
Tranh luận về vai trò của các tổ chức XHDS ở Việt Nam đã dần trở nên cởi
mở hơn Nhà nước ngày càng công nhận sự đóng góp tích cực của các tổ chức XHDS đối với sự phát triển quốc gia Cung cấp dịch vụ xã hội được coi là hình thức tham gia mạnh mẽ nhất của các tổ chức XHDS tại Việt Nam Hỗ trợ cung cấp dịch
vụ công với việc tập trung vào phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo và phát triển cộng đồng vẫn được coi là nhiệm vụ cốt lõi của nhiều tổ chức XHDS Nhìn chung, sự tham gia của các tổ chức XHDS trong quá trình hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật còn hạn chế, cho dù một số tổ chức XHDS đã thiết lập quan hệ với các đối tác chính phủ và đang từng bước tham gia nhiều hơn vào quá trình hoạch định chính sách
Nhận thấy, trong bối cảnh từ sau Đổi mới 1986, Việt Nam đã lấy trọng tâm phát triển kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường và tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và rộng hơn Bên cạnh những thành tựu về tăng trưởng kinh
tế được ghi nhận và được thế giới đánh giá cao, thì những biến chuyển về xã hội, thể chế, cải cách nhà nước cũng đã có thành tựu, đó là một tất yếu khách quan Thực tế chứng minh chính những thay đổi trong quản lý nhà nước, hoạch định chính sách để Việt Nam từ một nước nghèo có mức thu nhập thấp nay đã đạt mức thu nhập trung bình13 cùng tỷ lệ tăng trưởng luôn đạt mức cao và ổn định
1.1.5 Vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong việc hoàn thiện chính sách
13 http://www.worldbank.org/vi/results/2013/04/12/vietnam-achieving-success-as-a-middle-income-country , ngày đăng 12/4/2013
Trang 2315
Trong nhà nước pháp quyền, cần phải đảm bảo tính minh bạch, sự tham gia của công chúng vào các hoạt động của các cơ quan công quyền Một trong những nguyên tắc trong quá trình xây dựng và ban hành chính sách là các cơ quan nhà nước phải tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào quá trình soạn thảo, hoạch định chính sách “Nhân dân” ở đây được hiểu bao gồm và không giới hạn ở các đối tượng: cá nhân công dân, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội dân sự, các nhóm lợi ích (doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp…), các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn và các cơ quan nhà nước… Việc bảo đảm sự tham gia của “nhân dân” trong quy trình soạn thảo, ban hành chính sách không chỉ làm cho các chính sách, các biện pháp đưa ra hợp lý, nâng cao chất lượng của dự thảo, mà còn tăng tính khả thi của văn bản ban hành
Có thể tóm tắt vai trò của các tổ chức XHDS trong việc hoàn thiện chính sách như sau:
Thứ nhất, vai trò giám sát và kiểm soát xã hội Sự phát triển ngày càng nhanh
và phức tạp của xã hội khiến cho nhu cầu kiểm soát, giám sát luôn luôn được đặt ra
Có như vậy xã hội mới được đặt trong một cơ chế hoạt động cân bằng, không thiên lệch Điều đó đặt ra nhiệm vụ giám sát lẫn nhau giữa các lĩnh vực, giữa khu vực dân
sự với Nhà nước Các tổ chức XHDS chính là các tổ chức tự nguyện của người dân, đại diện cho người dân tham gia và thực hiện quá trình đó Thông qua các ý kiến của các tổ chức XHDS, tính chủ quan, độc đoán trong quá trình hoạch định chính sách sẽ được cải thiện đáng kể Các cá nhân đã có cơ hội tham gia với tư cách đại diện cho một nhóm, một tập thể xã hội đối với các vấn đề chính sách; thiên hướng
vì lợi ích cộng đồng, lợi ích của số đông trở nên mạnh mẽ hơn
Thứ hai, vai trò tư vấn và phản biện Các tổ chức XHDS bằng những kinh
nghiệm, kiến thức chuyên môn của mình có thể tham gia góp ý, biện luận, khẳng định và phê phán một vấn đề, quá trình kinh tế xã hội nào đó nhằm hoàn thiện, đạt hiệu quả cao hơn cho sự việc và quá trình đó Gần đây, xã hội đã và đang chú ý đến vai trò TV,PB của các tổ chức XHDS và hoạt động này đã có những đóng góp thiết thực vào chiến lược, kế hoạch, chương trình và dự án quốc gia hoặc địa phương
Trang 2416
Thứ ba, vai trò tạo sự đồng thuận xã hội Xã hội phát triển đan xen rất nhiều
những thách thức, mâu thuẫn, xung đột cần được điều hòa, cân đối Trong điều kiện
đó, các tổ chức XHDS sẽ tìm kiếm những cách thức để điều hòa những vấn đề này nhằm hướng tới một xã hội ổn định và phát triển Trước tiên là giải quyết về mặt lợi ích trong các nhóm, có sự ổn định này mới đem lại sự ổn định cho toàn xã hội nói chung Nhờ tính chuyên môn tương đối mạnh và độc lập, tự chủ trước pháp luật, các
tổ chức XHDS có thể đóng vai trò điều hòa mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường trong quá trình hoạch định và thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội Các
tổ chức XHDS giúp thiết lập và điều hòa các mối quan hệ xã hội, điều tiết mối quan
hệ giữa Nhà nước và xã hội, giữa các nhóm lợi ích, làm giảm mâu thuẫn xã hội Qua đó, các tổ chức XHDS có thể giúp cải thiện chất lượng quản lý của nhà nước, thúc đẩy nhà nước đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của người dân, làm tăng quyền lực của người dân, tạo điều kiện cho phát triển và dân chủ hóa
1.2 Tƣ vấn, phản biện
1.2.1 Khái niệm tư vấn, phản biện
Có nhiều cách định nghĩa về TV,PB; tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này tác giả không đi sâu vào việc xác định khái niệm và so sánh các khái niệm; khái niệm TV, PB được hiểu theo nội dung đã được quy định chính thức theo Quyết định
số 14/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hoạt động TV, PB của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, với định nghĩa như sau:
- Tư vấn là hoạt động cung cấp tri thức, kinh nghiệm, thông tin, tư liệu cùng với
sự phân tích, đánh giá, kiến nghị cho cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền
- Phản biện là hoạt động đưa ra nhận xét, đánh giá, phê bình và các khuyến nghị
về sự phù hợp của nội dung đề án với mục tiêu và các điều kiện đã quy định hoặc thực trạng đặt ra
Như vậy, TV,PB về bản chất đều là hoạt động cung cấp thông tin, tư liệu, đưa
ra các ý kiến phân tích, đánh giá của chuyên gia và kiến nghị chỉnh sửa trong đề xuất, xây dựng, thẩm định, phê duyệt đề án, văn bản chính sách
1.2.2 Tính chất, mục đích của hoạt động tư vấn, phản biện
Trang 2517
Quyết định 14/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã xác định tính chất của hoạt động TV, PB của Liên hiệp Hội Việt Nam (LHHVN) và các đơn vị thành viên là sự thể hiện trách nhiệm của đội ngũ trí thức KH&CN tham gia vào các hoạt động của nhà nước, không phải là hoạt động nghề nghiệp, không vì mục đích lợi nhuận
Mục đích của hoạt động TV, PB của LHHVN là cung cấp các cơ sở, luận cứ khoa học độc lập, khách quan trong việc đề xuất, xây dựng, thẩm định dự án, đề án, chính sách
Với tính chất và mục đích được xác định như trên, có thể thấy ba đặc điểm riêng và nổi bật của hoạt động TV,PB của LHHVN, đó là:
1.2.3 Vai trò của tư vấn, phản biện trong việc hoạch định chính sách
Hoạt động TV,PB có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các quyết sách của Đảng và Nhà nước đối với các dự án phát triển kinh tế -xã hội, an ninh quốc phòng trước khi ban hành Hoạt động này thường bổ sung các luận cứ khoa học, cơ
sở thực tiễn một cách chân thực, khách quan, tạo ra sự đồng thuận xã hội lớn giữa các nhà quản lý và người thực hiện, từ đó tính khả thi được nâng cao, ứng dụng được công nghệ mới, kĩ thuât tiến bộ, tiết kiệm và hiệu quả
Cùng với sự phát triển của xã hội, sẽ kéo theo nhiều vấn đề nẩy sinh trong thực tiễn đòi hỏi có sự tác động của hoạt động quản lý trên các lĩnh vực Hiệu quả của sự tác động phụ thuộc rất lớn vào mức độ đóng góp, chia sẻ của các cơ quan quản lý, nhà khoa học và các tầng lớp khác trong xã hội Chính vì vậy, hoạt động TV,PB có vai trò quan trọng nhằm bổ sung những luận cứ khoa học, cơ sở thực tiễn một cách hiện thực, khách quan, tạo ra sự đồng thuận giữa các cơ quan quản lý, đối tượng quản lý và cộng đồng xã hội, tạo ra tính khả thi, hiệu quả khi áp dụng vào thực tiễn đời sống xã hội
Trang 26Theo tác giả Vũ Cao Đàm thì “chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi cho một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” Theo tác giả thì khái niệm “hệ thống xã hội” được hiểu theo một ý nghĩa khái quát Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường
Cũng có một định nghĩa khác, “chính sách là chuỗi những hoạt động mà chính quyền chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến người dân”
Như vậy, phân tích khái niệm “chính sách” thì thấy:
- Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra;
- Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế;
- Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; chính sách được ban hành đều có sự tính toán và chủ đích rõ ràng
1.3.2 Khái niệm khoa học và công nghệ
1.3.2.1 Khái niệm khoa học
Có rất nhiều cách hiểu về “khoa học” Xuất phát từ mỗi một góc độ tiếp cận sẽ cho ta một khái niệm “khoa học” khác nhau
Trang 2719
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc – UNESCO sử
dụng khái niệm “Khoa học là hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và
sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy” Hệ thống
tri thức được nói ở đây là hệ thống tri thức khoa học – là những hiểu biết được tích lũy một cách hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, được vạch sẵn theo một
kế hoạch, có mục tiêu xác định và được tiến hành dựa trên một hệ thống phương pháp khoa học Khoa học trong trường hợp này được hiểu như một hệ thống tĩnh tại các tri thức, xem khoa học như một sản phẩm trí tuệ được tích lũy từ trong hoạt động tìm tòi, sáng tạo của nhân loại
Theo cách tiếp cận Triết học, “khoa học là một hình thái ý thức xã hội” Với
tư cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học cùng tồn tại bên cạnh các hình thái
ý thức xã hội khác, như một hình thức phản ánh thế giới khách quan và tồn tại ý thức xã hội vào ý thức của con người như một sản phẩm của quá trình hoạt động thực tiễn
Theo cách tiếp cận xã hội học, dựa trên ý tưởng của Price – một nhà nghiên
cứu lịch sử khoa học người Mỹ, “khoa học” được định nghĩa như sau:“khoa học có thể sẽ là một thiết chế xã hội có ý nghĩa nhất trong xã hội hiện đại Thiết chế ấy đang làm biến đổi đời sống và số phận con người trên thế giới này hơn bất kỳ một
sự kiện chính trị hoặc tôn giáo nào” Với tư cách là một thiết chế xã hội, khoa học
đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực hoạt động xã hội và thực hiện những chức năng của một thiết chế xã hội Đó là:
- Định ra một khuôn mẫu hành vi, lấy tính khoa học làm thước đo, chẳng hạn, tác phong làm việc khoa học, tổ chức lao động theo khoa học
- Xây dựng luận cứ khoa học cho các quyết định trong sản xuất, kinh doanh, tổ chức xã hội
- Tăng hàm lượng khoa học trong công nghệ và sản phẩm nhằm tạo thế mạnh cạnh tranh cho sản phẩm
- Khoa học ngày càng trở thành một phương tiện góp phần làm biến đổi tận gốc
rễ mọi mặt của đời sống xã hội
Trang 28- Phát hiện bản chất các sự vật, phát triển nhận thức về thế giới
- Dựa vào quy luật đã nhận biết của sự vật mà dự báo quá trình phát triển của sự vật, lựa chọn hướng đi cho mình để tránh hoặc giảm thiểu các rủi ro
- Sáng tạo các sự vật mới phục vụ những mục tiêu tồn tại và phát triển bản thân con người và xã hội của con người
Hàng loạt khái niệm mới xuất hiện đi liền với ý nghĩa này như: ngành khoa học, tổ chức khoa học, chính sách khoa học, nhà khoa học, cơ quan khoa học…
1.3.2.2 Khái niệm công nghệ
Từ “công nghệ” có gốc Hy Lạp, nó được ghép bởi tekhne có nghĩa là kỹ năng
và logos có nghĩa là sự nghiên cứu Thuật ngữ technology trong tiếng Anh có thể
hiểu là sự nghiên cứu có hệ thống về kỹ thuật
Có nhiều khái niệm về công nghệ:
- Tổ chức PRODEC (1982) đưa ra quan niệm: “Công nghệ là mọi loại kĩ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến
và dịch vụ”
- Ngân hàng thế giới thì định nghĩa (1985): “Công nghệ là phương pháp chuyển hóa các nguồn lực thành sản phẩm, gồm 3 yếu tố: Thông tin về phương pháp; Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để chuyển hóa; Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao”
- F.R.Root cho rằng: “Công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng đươc vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sang tạo ra sản phẩm mới”
- J.R.Dunning cho rằng: “Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng
để nâng cao hiệu quả sản xuất và việc nghiên cứu tiếp cận thị trường cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới”
Trang 2921
- Nawar Sharif đưa ra định nghĩa: “Công nghệ là là một hệ thống tri thức về quá trình chế biến vật chất hoặc/và thông tin, về phương tiện và phương pháp chế biến vật chất hoặc/và thông tin” Công nghệ là một tập hợp phần cứng và phần mềm bao gồm 4 yếu tố: phần kỹ thuật, phần thông tin, phần con người và phần tổ chức
Trong luận văn này tác giả sử dụng định nghĩa về công nghệ do tác giả Trần
Ngọc Ca đưa ra:“Công nghệ có thể được hiểu như là mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép ) và mọi loại hình thiết bi, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi
là phần cứng) và một số tiềm năng khác ( tổ chức, pháp chế, dịch vụ ) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ”
Trong định nghĩa nêu trên, công nghệ là một tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm bốn dạng cơ bản:
- Dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, hệ thống hạ tầng );
- Dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm );
- Dạng ghi chép (bí quyết, quy trình, phương pháp );
- Dạng thiết chế tổ chức (sắp xếp cơ cấu nhân lực, cách thức điều hành, thiết kế,
sắp đặt hệ thống thiết bị…)
1.3.3 Vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển xã hội
Nếu như nói an ninh, quốc phòng, giáo dục, văn hóa - xã hội là những lĩnh vực không thể thiếu cho sự ổn định và phát triển của đất nước thì khoa học - công nghệ là một lĩnh vực vô cùng quan trọng và cần thiết cho sự phát triển của mỗi đất nước chứ không riêng gì đất nước Việt Nam ta, đó là một lĩnh vực mà có mối liên
hệ mật thiết và bổ trợ cho sự phát triển của các lĩnh vực khác
Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, KH&CN đã thực sự thúc đẩy sự gia tăng của cải vật chất, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của con người
KH&CN đã trực tiếp tác động nâng cao năng suất lao động, giảm nhẹ cường
độ lao động, giảm chi phí, giá thành sản xuất, giảm rõ rệt tỷ lệ tiêu hao vật chất, tăng tỷ lệ chất xám trong cấu tạo sản phẩm,… Nhiều sản phẩm mới ra đời phong
Trang 3022
phú, đa dạng, đa năng, mẫu mã đẹp, kích thước nhỏ nhẹ hơn Chu kỳ sản xuất cũng được rút ngắn đáng kể
Theo một số số liệu thống kê đáng tin cậy:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới năm 1990 so 1982 tăng 28,5% - khối lượng thương mại thế giới tăng 57,9% (IMF 10/1990)
- Trong 5 năm đầu thế kỷ XXI, GDP của thế giới tăng 40,5% (44 nghìn tỷ USSD/31,6 nghìn tỷ USD - Niên giám thống kê/ TCTK 2006)
- Thế kỷ XVIII, một nước muốn công nghiệp hóa thường mất 100 năm Đầu thế
kỷ XX, còn khoảng 30 năm Vào thập niên 70 - 80 rút xuống 20 năm Thập niên 90 chỉ còn trên dưới 10 năm
Quãng thời gian cần thiết để tăng gấp đôi GDP (Tổng sản phẩm quốc dân) theo đầu người đã được rút ngắn một cách ổn định Nếu như Anh mất 58 năm (kể từ 1780), Mỹ 47 năm (từ 1839), Nhật 34 năm (kể từ 1880) thì từ sau Đại chiến thứ hai, cuộc cách mạng khoa học và công nghiệp lần thứ ba còn đẩy tốc độ này lên cao hơn như Brazin 18 năm, Indonesia 17 năm, Hàn Quốc 11 năm, Trung Quốc 10 năm
Ở Việt Nam Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, nền khoa học - kỹ thuật Việt Nam mới được hình thành và từng bước phát triển theo hướng hiện đại hóa nhằm đáp ứng yêu cầu của cách mạng phấn đấu đạt đến mục tiêu xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, nhân dân ấm no, hạnh phúc
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm phát triển KH&CN phục vụ đắc lực cuộc cách mạng kỹ thuật thời chiến, giành thắng lợi trong chiến tranh và xây dựng tiềm lực sẵn sàng tiến hành cuộc cách mạng khoa học trên quy mô lớn với trình độ cao sau khi kết thúc chiến tranh Song do xuất phát điểm từ nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nên trình độ khoa học - công nghệ - kỹ thuật tuy có phát triển nhưng vẫn chậm chạp và thua kém so với trình độ chung của các nước trong khu vực
Từ khi chúng ta bắt đầu sự nghiệp đổi mới và mở cửa và đặc biệt là từ khi có Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (1996), nhận thức về vai trò của KH&CN đã
Trang 3123
được nâng cao rõ nét và ngày càng khẳng định vai trò động lực của KH&CN trong phát triển kinh tế Phương châm phát triển kinh tế phải dựa vào KH&CN và KH&CN phải hướng vào xây dựng kinh tế Đặc biệt trong trào lưu hội nhập quốc tế
và khu vực, nhiều doanh nghiệp đã nhận thức là chỉ có đổi mới công nghệ mới đủ sức cạnh tranh và tồn tại được trong nền kinh tế thị trường Chủ trương đó đã thúc đẩy và tạo điều kiện các ngành các cấp, các tầng lớp tri thức, sinh viên, doanh nhân,
kể cả nông dân, nghệ nhân, chủ trang trại,… nghiên cứu ứng dụng tri thức khoa học,
kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ với tinh thần làm giàu cho mình, cho quê hương, cải thiện điều kiện lao động, mới có giá trị cao, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu Doanh nghiệp đã trở thành chủ thể của đổi mới công nghệ, nhân tố quan trọng trong hệ thống đổi mới quốc gia
Trang 322.1 Vài nét về Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam)
là tổ chức chính trị - xã hội của đội ngũ trí thức KH&CN Việt Nam được tổ chức theo hệ thống gồm hai cấp ở Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương14 LHHVN được thành lập theo Quyết định số 121BT ngày 29 tháng 7 năm
1983 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), có trụ sở tại 53 Nguyễn Du, Hà Nội
LHHVN có chức năng tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức KH&CN người Việt Nam ở trong và ngoài nước, điều hòa, phối hợp hoạt động của các hội thành viên; làm cầu nối giữa các hội thành viên với cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức khác nhằm giải quyết những vấn đề chung đối với đội ngũ trí thức của LHHVN; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức thành viên, của trí thức KH&CN Việt Nam
Nhiệm vụ của LHHVN là xây dựng, củng cố và phát triển tổ chức; điều hòa, phối hợp và trợ giúp hoạt động của các hội thành viên; vận động trí thức KH&CN người Việt Nam ở trong và ngoài nước tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc; đề xuất, tham mưu cho Đảng và Nhà nước những vấn đề lớn về đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước, nhất là về KH&CN, giáo dục
và đào tạo, chính sách đối với trí thức; chủ động TV, PB nhằm góp phần xây dựng
cơ sở khoa học cho việc hoạch định và thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các dự luật, chiến lược, quy hoạch, các chương trình,
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các dự án đầu tư quan trọng; nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đẩy mạnh hợp tác chuyển giao các tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất và đời sống, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí
14 Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 16/4/2010 của Bộ Chính trị (Khóa X)
Trang 3325
hậu; phổ biến kiến thức KH&CN trong nhân dân, giáo dục, đào tạo và dạy nghề, góp phần xây dựng xã hội học tập; tổ chức, hướng dẫn và khuyến khích phong trào sáng tạo của quần chúng tiến quân vào KH&CN; tham gia cấp chứng chỉ hành nghề, thực hiện các dịch vụ công theo quy định của pháp luật; tham gia phát triển cộng đồng, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe nhân dân và các hoạt động xã hội khác; tăng cường hợp tác với các hội, các tổ chức phi chính phủ của các nước Trong hơn 30 năm qua, LHHVN đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các mặt công tác Đặc biệt, hoạt động TV,PB của LHHVN ngày càng có vai trò quan trọng, phản ánh trung thực, khách quan ý kiến của đội ngũ trí thức KH&CN,
đã có những đóng góp tích cực vào việc hoạch định đường lối đổi mới của Đảng và các dự án phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Ngoài việc huy động đội ngũ trí thức KH&CN trong nước, LHHVN cũng có nhiều hình thức tổ chức hoạt động để tập hợp, thu hút trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia xây dựng và phát triển đất nước
2.2 Tổng quan về các tổ chức xã hội dân sự trực thuộc Liên hiệp các Hội
Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
2.2.1 Bản chất và sự phát triển
LHHVN là tổ chức tập hợp các hội thành viên, bao gồm cơ quan Liên hiệp Hội Trung ương; Liên hiệp Hội các tỉnh/ thành phố trực thuộc Trung ương; các Hội Khoa học và Kỹ thuật ngành toàn quốc; các tổ chức KH&CN trực thuộc và các quỹ, báo, tạp chí, trang tin điện tử
Xét về bản chất, các tổ chức KH&CN trực thuộc LHHVN là các tổ chức XHDS Đó là các tổ chức KH&CN ngoài công lập được thành lập và hoạt động theo
cơ chế tự nguyện, tự chủ, tự quản và tự trang trải về tài chính Các tổ chức này còn
được gọi vui là loại tổ chức “ba không” (không được cấp kinh phí, không được cấp biên chế, không được cấp trụ sở) Các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam đều do một nhóm thành viên tự nguyện sáng lập, tập hợp nhau để hình thành tổ chức, tự chủ về tài chính, tự tìm kiếm hợp đồng, đối tác, chủ động liên kết
và hợp tác trong nước cũng như ngoài nước triển khai hoạt động Vì vậy, trong
Trang 34mà các cơ chế, chính sách liên quan chưa hoàn thiện
Mười năm sau khi Nghị định số 35/HĐBT ra đời, đã có nhiều nhà khoa học, nhiều cán bộ trí thức mạnh dạn đứng ra thành lập các tổ chức XHDS Năm 2002, số
tổ chức XHDS trực thuộc LHHVN lên tới con số 62 Sự lớn mạnh của các tổ chức dạng này có sự khích lệ rõ hơn khi Luật KH&CN được ban hành (năm 2000) và đi vào cuộc sống Liên hiệp Hội Việt Nam cũng không ngừng củng cố và phát triển các tổ chức XHDS Các tổ chức XHDS trực thuộc LHHVN đã tăng lên con số 182
tổ chức (năm 2007) và con số 340 tổ chức (năm 2012)
Hiện nay, do nhu cầu của xã hội và phương thức quản lý ngày càng cải tiến của Liên hiệp Hội Việt Nam, số tổ chức XHDS trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam vẫn không ngừng tăng lên Tại thời điểm giữa năm 2015, đã có 405 tổ chức XHDS được thành lập bởi Liên hiệp Hội Việt Nam
Biểu 2.1: Sự phát triển của các tổ chức XHDS trực thuộc LHHVN
Trang 3527
2.2.2 Lĩnh vực hoạt động
Các tổ chức XHDS trực thuộc LHHVN có phạm vi hoạt động rất rộng, từ nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo đến các lĩnh vực y tế, tâm lý, bảo vệ môi trường, được mô tả như bảng dưới đây:
Bảng 2.1: Lĩnh vực hoạt động của các tổ chức XHDS trực thuộc
Liên hiệp Hội Việt Nam
3 Chuyển giao công nghệ và sản phẩm KH&CN 44,8
4 Phát triển cộng đồng, xóa đói giảm nghèo 42,5
Nguồn: Ban Tổ chức-Cán bộ, LHHVN, năm 2012
Bảng trên cho thấy các lĩnh vực về giáo dục, môi trường, chuyển giao công nghệ, phát triển cộng đồng là những lĩnh vực được các tổ chức XHDS trực thuộc LHHVN quan tâm triển khai nhiều nhất Bên cạnh những hoạt đông nghiên cứu, các
tổ chức này còn thực hiện nhiều hoạt động mang tính chất dịch vụ hoặc thực hiện
các dự án mang tính chất triển khai
Có thể nhận định rằng, các tổ chức XHDS không chỉ tăng lên về số lƣợng
mà còn đa dạng về hình thức và phong phú về nội dung hoạt động Trong
những năm gần đây, các tổ chức XHDS trực thuộc LHHVN đã hoạt động khá thành công ở rất nhiều mảng, chẳng hạn như nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; Bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu; Phát triển cộng đồng, xóa đói
Trang 3628
giảm nghèo; Tư vấn, phản biện và vận động chính sách; Chăm sóc sức khỏe nhân dân; Truyền thông; Xuất bản; Phát triển kỹ năng…Hoạt động của các tổ chức XHDS gắn liền với cộng đồng và mang lại lợi ích cho cộng đồng và góp phần không nhỏ vào việc phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
2.2.3 Cơ sở vật chất
Cơ sở vật chất của các tổ chức XHDS trực thuộc LHHVN đã được nhiều lần
đề cập đến trong các báo cáo khác nhau, thậm chí hàng năm LHHVN cũng đều có đánh giá Nhìn chung các báo cáo đều cho rằng cơ sở vật chất của các tổ chức XHDS loại hình này là thiếu, chưa thực sự đáp ứng được so với kỳ vọng của những nhà quản lý và của bản thân những cán bộ trong chính các tổ chức này
Về trụ sở, theo báo cáo hàng năm của các đơn vị gửi về LHHVN, chỉ trừ một
số ít đơn vị có trụ sở riêng15, có cơ sở nghiên cứu hoặc xưởng, trại sản xuất16, hầu hết các đơn vị không có trụ sở riêng, thay vào đó là thuê hoặc mượn Có rất nhiều đơn vị thay đổi địa điểm làm việc liên tục gây rất nhiều khó khăn cho công tác cập nhật và trao đổi thông tin Có nhiều đơn vị còn không treo biển hiệu hoặc không đăng ký với bưu điện nên việc trao đổi thư, công văn không thuận tiện, gây lãng phí
và thất lạc thông tin
Về trang thiết bị phục vụ hoạt động, hầu hết các đơn vị có trang thiết bị tối thiểu cho công tác văn phòng, một số đơn vị có phương tiện làm việc khá tốt và hiện đại17, một số đơn vị có số lượng máy tính cá nhân gần như một bộ môn, một khoa của một viên nghiên cứu hoặc trường đại học18 Tuy nhiên cũng vẫn còn một
số tổ chức XHDS trực thuộc LHHVN còn chưa có cả máy tính được nối mạng dẫn đến việc trao đổi thông tin qua mạng rất hạn chế
15 Trung tâm CIRD đóng địa điểm ở huyện Tuyên Hoá,tỉnh Quảng Bình có trụ sở khoảng 100m 2 trên tổng diện tích đất khoảng 15 ha Viện khoa học nghiên cứu nhân tài-nhân lực có trụ sở riêng trên diện tích đất 170m 2
16 Trung tâm nghiên cứu Hoá-Sinh ứng dụng
17 Viện quản lý phát triển Châu Á (AMDI); trung tâm SRD, trung tâm COHED…
18 Trung tâm đào tạo nghiên cứu khoa học tổ chức và quản lý (15 máy tính cá nhân); Viện khoa học nghiên cứu nhân tài nhân lực (20 máy); Liên hiệp khoa học du lịch bền vững (16 máy); Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường (30 máy)
Trang 3729
2.2.4 Nhân lực của các tổ chức XHDS
Các tổ chức XHDS khác nhau có tính chất công việc và quy mô tổ chức rất khác nhau, vì vậy số lượng cán bộ làm chính nhiệm rất khác nhau Một số đơn vị chỉ có 2-3 cán bộ chính nhiệm, trong khi đó nhiều đơn vị có số lượng cán bộ chính nhiệm tương đối lớn Số liệu tham khảo từ kết quả khảo sát nhân lực của các tổ chức KH&CN ngoài công lập (cách gọi khác của tổ chức XHDS) năm 2004 của Bộ KH&CN 19 được mô tả trong bảng dưới đây
Bảng 2.2: Nhân lực của các tổ chức KH&CN ngoài công lập
Trình độ
đào tạo
Số lƣợng trung bình trong 1 tổ chức
Số lƣợng nhiều nhất trong 1 tổ chức
Số lƣợng trung bình làm việc chính nhiệm trong 1 tổ chức
Số lƣợng lớn nhất làm việc chính nhiệm trong 1 tổ chức
Nguồn: Ban Tổ chức-Cán bộ, LHHVN, năm 2012
Theo số liệu Ban Tổ chức-Cán bộ của LHHVN điều tra 300 tổ chức XHDS trực thuộc năm 2012, số lượng cán bộ chính nhiệm nhiều nhất của một tổ chức là 45 người Có đơn vị có số lượng cán bộ trình độ tiến sỹ làm chính nhiệm là 16 người, làm kiêm nhiệm nhiều nhất là 35 cán bộ có trình độ tiến sỹ, số lượng tiến sỹ của tổ chức này gần bằng với số lượng lao động có trình độ tiến sỹ đang công tác tại các
19 Thông tin từ phiếu thu thập thông tin tiềm lực KH&CN năm 2014 của Bộ KH&CN: Viện Khoa học Kỹ thuật giao thông-đô thị (18 người); Trung tâm nghiên cứu ứng dụng phát triển thương hiệu Việt (16 người); Viện phát triển sức khoẻ cộng đồng Ánh Sáng (26 người); Viện khoa học nghiên cứu nhân tài-nhân lực (23 người); Trung tâm nghiên cứu ứng dụng công nghệ và môi trường (16 người); Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ công nghệ chăn nuôi Thái Sinh (21 người)…
Trang 38Về cơ cấu tuổi đời: Số tiến sỹ có tuổi đời trên 60 chiếm khá đông tới gần 50% trong tổng số tiến sỹ tham gia vào đội ngũ nhân lực của các tổ chức XHDS được điều tra; còn số thạc sỹ dưới 45 tuổi cũng chiếm gần 50% trong tổng số thạc sỹ tham gia hoạt động trong các tổ chức được điều tra22
Vấn đề nhân lực quyết định chất lượng của một hoạt động, đặc biệt là hoạt động TV,PB lại càng cần có những con người có kinh nghiệm tổ chức hoặc có kiến thức rộng
Vai trò cá nhân trong mỗi tổ chức cũng có ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động TV,PB Do đặc trưng của hoạt động TV,PB của LHHVN là hoạt động mang tính chất “xã hội” và “phi lợi nhuận” nên tỷ lệ những người có vai trò quan trọng nhất đối với hoạt động này trong một tổ chức có độ tuổi dưới 60 là rất thấp (18,2%)
115 người; Viện Vật lý địa cầu: 99 người; Viện khoa học năng lượng: 102 người…
22 Báo cáo tổng kết đề tài “Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động các tổ chức KH&CN hoạt động theo Nghị định 81 giai đoạn 2010-2012”, Ban Tổ chức-Cán bộ - LHHVN
Trang 39Nguồn: Dự án Rosa-Vusta, Ban Hợp tác quốc tế - LHHVN, 2014
Bảng trên cho thấy có 60,5% những người có vai trò quan trọng nhất trong một tổ chức về hoạt động TV,PB có trình độ từ tiến sỹ trở lên, điều này có ảnh hưởng rất lớn đến những định hướng cho hoạt động này của một tổ chức
Bảng 2.4: Cơ quan công tác của những người có vai trò quan trọng trong
hoạt động TV, PB ngay trước khi về tổ chức
(TW/ĐP)
Chính phủ (TW/ĐP)
Quốc hội/
HĐND
Cơ quan khoa học
Doanh nghiệp/Khá
c
Nguồn: Dự án Rosa-Vusta, Ban Hợp tác quốc tế, LHHVN 2014
Cơ quan công tác của những người có vai trò quan trọng trong hoạt động TV,PB của một tổ chức trước khi về tham gia vào các hoạt động trong hệ thống LHHVN cũng có ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả TV,PB Với tỷ lệ các cán bộ xuất thân từ các cơ quan của Chính phủ cả ở cấp Trung ương lẫn địa phương cũng như từ cơ quan khoa học là khá cao (tương ứng là khoảng 40% và 30%) vì vậy các hoạt động TV ,PB nói chung và TV ,PB chính sách KH &CN nói riêng ở hệ thống
Trang 4032
LHHVN trong thời gian qua chủ yếu tập trung vào các dự thảo luâ ̣ t, dự án, chương trình và các chính sách của chính phủ liên quan đến KH&CN
2.3 Hoạt động tƣ vấn, phản biện chính sách khoa học và công nghệ của các tổ
chức xã hội dân sự trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam
2.3.1 Nhận thức
Sự hiểu biết về hoạt động TV, PB của các tổ chức XHDS trực thuộc LHHVN đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn phương pháp tiếp cận cũng như hiệu quả của hoạt động TV, PB chính sách KH&CN
Qua khảo sát, có 66% số tổ chức được hỏi về câu “hiểu thế nào là TV, PB chính sách KH&CN” đã lựa chọn phương án trả lời “Là cách thức tác động đến các
cơ quan ban hành chính sách KH&CN trong quá trình xây dựng hoặc sửa đổi chính sách” Đây là một tỷ lệ tương đối cao trong bối cảnh tác giả lựa chọn ngẫu nhiên
100 đơn vị/tổ chức trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam để khảo sát, điều này thể hiện mặc dù số lượng các tổ chức XHDS tham gia TV,PB chính sách KH&CN trong hệ thống Liên hiệp Hội Việt Nam không quá lớn nhưng nhận thức về hoạt động này cũng ở mức độ tương đối rõ
Ngoài ra, tác giả cũng phát hiện rằng các tổ chức XHDS trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam không đánh giá cao các ý kiến, kiến nghị mang tính chất cá nhân, quan điểm của cá nhân đối với các chính sách KH&CN của nhà nước, đặc biệt là những quan điểm, nhận xét được chia sẻ, bàn luận trên các diễn đàn, viết trên mạng
cá nhân
Tác giả cũng đã tiến hành khảo sát để biết được mức độ quan tâm của các tổ chức XHDS trực thuộc LHHVN đối với hoạt động TV, PB chính sách KH&CN Kết quả cho thấy có tới 52% số tổ chức được hỏi đã trả lời là “Rất quan tâm” và 46% trả lời là “Quan tâm” đến hoạt động TV, PB chính sách KH&CN Điều này cho thấy hoạt động TV, PB chính sách KH&CN có một sức hút lớn đối với hoạt động của các tổ chức XHDS trực thuộc LHHVN, đây cũng là cơ hội tốt để LHHVN kêu gọi và phát huy sức mạnh của các tổ chức khoa học ngoài công lập tham gia vào tư vấn chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước