1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

nghiên cứu phương pháp suy nghĩ

274 1,1K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Phương Pháp Suy Nghĩ
Trường học Viện Nghiên Cứu, Đào Tạo Kinh Tế - Tài Chính
Chuyên ngành Kinh tế - Tài Chính
Thể loại Nghiên cứu
Định dạng
Số trang 274
Dung lượng 4,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

IỆN NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO KINH TẾ - TÀI CHÍNH NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP SUY NGHĨ - Nghiên cứu : Phương pháp suy nghĩ - Các ứng dụng của nghiên cứu. - Các định nghĩa về nghiên cứu. - Các đặc điểm của công tác nghiên cứu. - Các kiểu nghiên cứu. Nghiên cứu ứng dụng. Nghiên cứu theo mục tiêu. Nghiên cứu theo loại thông tin tìm kiếm. - Các cơ chế của nghiên cứu. - Tóm tắt chương. Nghiên cứu: phương pháp suy nghĩ Nghiên cứu được thực hiện trong hầu hết các chuyên ngành. Không chỉ l

Trang 1

NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP SUY NGHĨ

- Nghiên cứu : Phương pháp suy nghĩ

- Các ứng dụng của nghiên cứu

- Các định nghĩa về nghiên cứu

- Các đặc điểm của công tác nghiên cứu

- Các kiểu nghiên cứu

Nghiên cứu ứng dụng

Nghiên cứu theo mục tiêu

Nghiên cứu theo loại thông tin tìm kiếm

- Các cơ chế của nghiên cứu

- Tóm tắt chương

Nghiên cứu: phương pháp suy nghĩ

Nghiên cứu được thực hiện trong hầu hết các chuyên ngành Không chỉ là tập hợp các kỹ năng, nghiên cứu còn là một cách, một phương pháp suy nghĩ: khảo xét nghiêm túc các khía cạnh khác nhau của chuyên ngành; tìm hiểu và xây dựng các nguyên lý hướng dẫn để các nguyên lý hướng dẫn để vận hành những thủ tục nhất định; phát triển và kiểm thử các lý thuyết mới nhằm mở rộng chuyên ngành Để tạo

ra các thay đổi hướng dẫn việc nâng cao, mở rộng chuyên ngành, cách ứng xử thường gặp là chất vấn, điều tra những gì đã được thực hiện và tìm câu trả lời ở những xem xét thực nghiệm Có thể lấy thí dụ ở vài chuyên ngành

Giả thuyết chúng ta làm việc ở lĩnh vực y tế Dù làm việc ở đâu và với vị trí

và cương vị gì, ta vẫn phải nghĩ đến các câu hỏi sau đây – và danh sách các câu hỏi còn có thể dài hơn nữa:

- Mỗi ngày, ta tiếp xúc với bao nhiêu bệnh nhân?

- Điều kiện hoàn cảnh chung nhất của các bệnh nhân là gì?

- Nguồn gốc của các điều kiện hoàn cảnh nêu trên là những gì?

- Tại sao có một số người có những điều kiện rất đặc thù trong khi những người khác lại không có?

Trang 2

- Nhu cầu y tế của cộng đồng là những gì?

- Tại sao một số người dùng đến dịch vụ y tế còn những người khác lại không?

- Người ta nghĩ gì về dịch vụ y tế?

- Bệnh nhân được thoả mãn ra sao về các dịch vụ y tế?

- Dịch vụ có đáp ứng được mục tiêu hay không?

- Dịch vụ có thể được cải tiến ra sao?

Tuỳ vào vị trí công việc, có những lúc ta có thể bỏ qua những câu hỏi đó, hoặc có những lúc tự ta nỗ lực đi tìm các câu trả lời hoặc có khi ta được yêu cầu - buộc phải tìm ra các câu trả lời - nhằm phục vụ công tác hoạch định và quản lý công việc tốt hơn

Lấy thí dụ ở ngành khác - nghiên cứu kinh doanh – và ta đang làm việc ở bộ phận tiếp thị với các vị trí công tác khác nhau Các câu hỏi có thể ta sẽ gặp phải là:

- Khối lượng cao nhất một sản phẩm bán được hàng tháng là bao nhiêu?

- Kế hoạch chiến lược về nghiên cứu và phát triển ra sao để giành được thị phần sản phẩm lớn hơn?

- Chiến lược tốt nhất để nâng cao khối lượng bán sản phẩm?

- Cần bao nhiêu nhân viên bán hàng?

- Hiệu ứng của bán sản phẩm theo kết quả của chiến dịch tiếp thị tương ứng?

- Người tiêu thụ thoả mãn ra sao với sản phẩm?

- Người tiêu thụ dự trù bỏ ra bao nhiêu tiền để tiêu dùng món hàng?

- Người tiêu dùng có thích sản phẩm hay không?

- Khách hàng thích loại bao bì đóng gói nào hơn?

- Để bán được nhiều hơn, nhân viên cần được huấn luyện những gì?

Trang 3

- Những vấn đề cốt lõi/nền tảng thông dụng nhất của khách hàng là những gì?

- Cơ sở kinh tế - xã hội của khách hàng?

- Tại sao có thể thành công trong một số trường hợp và thất bại trong một số trường hợp khác?

- Để hỗ trợ khách hàng về một nhu cầu nhất định nào đó, có những nguồn lực nào sẵn có trong cộng đồng?

- Những chiến lược can thiệp nào là thích hợp cho vấn đề này?

- Khách hàng thoả mãn ra sao với dịch vụ do mình cung ứng?

Còn trong các bối cảnh quản lý, lại là các câu hỏi sau:

- Bao nhiêu người đã đến đơn vị của mình?

- Những đặc điểm về nhân khẩu – kinh tế - xã hội của các khách hàng?

- Mỗi ngày, một nhân viên có thể xử lý bao nhiêu trường hợp?

- Tại sao một số người dùng dịch vụ tư vấn còn số khác thì không?

- Dịch vụ đạt được kết quả ra sao?

- Nhu cầu thông dụng nhất của khách hàng của đơn vị mình là những gì?

- Điểm mạnh và điểm yếu của dịch vụ?

- Khách hàng thoả mãn với dịch vụ ra sao?

- Có thể cải tiến dịch vụ như thế nào?

Còn ở vai trò một chuyên gia, các câu hỏi mang tính lý thuyết sau đây lại được nêu ra:

- Can thiệp hiệu dụng nhất của một bài toán cụ thể là gì?

- X có nguyên nhân là gì hay Y có kết quả là gì?

- Quan hệ giữa hai hiện tượng là gì?

- Có thể đo lường sự tự đánh giá của khách hàng ra sao?

- Có thể khẳng định tính xác thực của các bảng câu hỏi?

- Mẫu lựa chọn chương trình của cộng dồng có dạng gì?

- Cách tốt nhất để tìm ra thái độ của cộng đồng trước một vấn đề là gì?

- Cách tốt nhất để tìm ra tính kiến hiệu của một giải pháp cụ thể là gì?

Trang 4

- Có thể chọn được một mẫu thống kê không thiên lệch ra sao?

Còn với vị trí của người tiêu thụ, có thể có các câu hỏi dưới đây Lưu ý – trong kỷ niệm của người tiêu thụ, ta không thể bỏ qua yếu tố khách hàng - người tiêu thụ của dịch vụ cung ứng Khách hàng có quyền chất vấn về chất lượng và kết quả của dịch vụ còn người cung cấp dịch vụ phải có trách nhiệm trả lời tương ứng:

- Dịch vụ yêu cầu có kết quả là gì?

- Người mua có được lợi (về tiền bạc) hay không khi mua dịch vụ?

- Các nhà cung cấp được huấn luyện chuyên nghiệp đến mức nào?

Hầu hết các lĩnh vực xã hội – nhân văn đều gặp phải các câu hỏi nêu trên

Các ứng dụng của nghiên cứu

Như chúng ta vừa lướt qua, các câu hỏi đặt ra cho mọi chuyên ngành đều có thể được xem xét từ các góc độ sau:

- Người cung ứng dịch vụ

- Người tiêu thụ dịch vụ

- Người quản lý dịch vụ

- Chuyên gia của ngành

Các quan điểm đó được tổng kết trên hình 1.1 Mặc dù không thể liệt kê hết các vấn đề của mọi lĩnh vực nhưng khung cơ sở trên hình 1.1 có thể dùng được cho hầu hết các ngành và cho hầu hết tình huống của khoa học xã hội và nhân văn

để nhận diện các vấn đề có thể có trong lĩnh vực chuyên biệt của người đọc, theo

cả bốn góc nhìn nêu trên

Trang 5

Hình 1.1 Các ứng dụng của nghiên cứu

Các định nghĩa về nghiên cứu

Có một vài cách trả lời các câu hỏi vừa nêu trên Các phương pháp trả lời thay đổi từ tính tương đối phi hình thức dựa vào các kết quả “lâm sàng” trực tiếp

ỨNG DỤNG CỦA NGHI ÊN CỨU

theo các quan điểm của

Nhà cung cấp

dịch vụ

Nhà hoạch định/quản lý thụ/khách hàngNgười tiêu Chuyên gia ngành

- Cần bao nhiêu nhà cung cấp dịch vụ?

- Nhu cầu huấn luyện nhân viên gồm những gì?

- Trong 1 ngày 1 nhânviên có thể

xử lý bao nhiêu trường hợp?

- Kết quả của nhân viên dược đánh giá ra sao?

- Bằng cách nào

để dịch vụ/sản phẩm có thể phổ dung hơn?

- Có lợi kinh tế nào không?

- Các nhà cung cấp dịch vụ tốt ra sao?

- Hiệu ứng dài hạn của sản

dùng? Bằng chứng ở đâu?

- Can thiệp kiến hiệu nhất cho vấn đề là gì?

- Quan hệ giữa X

và Y là gì?

- Lý thuyết nhất định trong điều kiện hiện tại hợp

lệ như thế nào?

- Cách tốt nhất

để đo lường được thái độ.

- Quá trình qua

đó người ta quyết định chọn chương trình là gì?

Trang 6

đến tính khoa học chặt chẽ gắn với các diễn đạt quy ước của các thủ tục khoa học Nghiên cứu là một trong những phương pháp đó.

Khi nói – đang tiến hành một nghiên cứu để tìm ra trả lời cho một bài toán nào đó, thì ta đang hàm ý quá trình có các đặc điểm sau:

1 Diễn ra trong khuôn khổ của tập hợp các triết niệm

2 Dùng đến các phương pháp, thủ tục và kỹ thuật đã được kiểm nhận về tính xác thực và độ tin cậy

3 Được thiết kế một cách khách quan và không thiên lệch

Ở đây, định hướng mang tính triết lý xuất phát từ một trong hai cơ chế của nghiên cứu - chủ thuyết tích cực và chủ thuyết tự nhiên – và xuất phát từ chuyên ngành đang xét

Khái niệm về tính xác thực được áp dụng vào bất kỳ khía cạnh nào của quá trình nghiên cứu - điều này đảm bảo rằng trong việc nghiên cứu ta đã áp dụng các thủ tục đúng đắn Còn tính tin cậy nói lên chất lượng của thủ tục đo lường Tính khách quan và không thiên lệch nghĩa là ta đã tiến hành các bước nghiên cứu và rút ra các kết luận theo khả năng cao nhất của mình mà không có các lợi ích cá nhân Cần phân biệt giữa tính thiên lệch và tính chủ quan Chủ quan là một cấu thành trong cách suy nghĩ của một người - xuất phát từ căn bản học vấn, ngành nghề, quan niệm, kinh nghiệm và kỹ năng của người đó Trái lại, thiên lệch là một cố gắng rõ rệt để che giấu hay nhấn mạnh môt việc gì Thí dụ, nhà tâm lý xem xét thông tin theo cách hoàn toàn khác với nhà nhân chủng hay nhà sử học

Sở hữu ba đặc tính trên sẽ cho phép quá trình được mang tên là quá trình nghiên cứu Do vậy, khi nói rằng ta đang thực hiện một công việc nghiên cứu, hàm ý rằng phương pháp mà ta chọn phải hội đủ các đặc tính mong đợi vừa nêu.Tuy nhiên, mức độ thoả mãn các đặc tính tiêu chuẩn đó thay đổi theo từng ngành và vì vậy, ý nghĩa của từ “nghiên cứu” cũng thay đổi theo ngành Thí dụ, quá trình nghiên cứu trong khoa học xã hội và khoa học tự nhiên sẽ khác biệt đáng kể Trong khoa học tự nhiên, nỗ lực nghiên cứu được chờ đón là sẽ bị điều

Trang 7

khiển chặt chẽ ở mỗi bước tiến hành, trong khi đó ở khoa học xã hội, sự kiểm soát nghiêm ngặt không thể áp đặt được và đôi khi, cũng không yêu cầu.

Ngay cả trong khoa học xã hội, mức độ yêu cầu kiểm soát cũng thay đổi đáng kể theo từng lĩnh vực vì các nhà khoa học xã hội có yêu cầu khác nhau về quá trình nghiên cứu sở hữu ba đặc tính mong đợi nêu trên Nhưng dù có khác biệt giữa các ngành, tiếp cận chung về công cuộc tìm hiểu vẫn là giống nhau Mô hình nghiên cứu trong sách này sẽ được đặt cơ sở trên quan điểm đó

Người mới làm quen trong lĩnh vực nghiên cứu cần hiểu rằng nghiên cứu không phải là những gì về kỹ thuật, có tính phức tạp, thống kê hay máy tính Một mặt, nghiên cứu có thể chỉ là hoạt động đơn giản để trả lời được các câu hỏi liên đới đến những công việc hàng ngày Mặt khác, nghiên cứu có thể liên quan đến việc xây dựng các lý thuyết hay các quy luật phức tạp - chẳng hạn điều khiển sự sống Như đã nói trên, khác biệt giữa hoạt dộng nghiên cứu và hoạt động không

có tính nghiên cứu là ở cách thức tìm ra câu trả lời – quá trình tương ứng phải đáp ứng được một số yêu cầu nhất định mới được gọi là quá trình nghiên cứu Để nhận diện các yêu cầu này, xin khảo xét vài định nghĩa về nghiên cứu sau đây.Nghiên cứu là một hoạt động điều tra và tìm hiểu lâu dài, có tính hệ thống và

kỹ lưỡng trong một lĩnh vực kiến thức nào đó nhằm thiết lập các sự kiện hay nguyên lý (Grinnell – 1993)

Cách khác, cũng theo Grinnell (1993):

Nghiên cứu là việc chất vấn có cấu trúc dùng phương pháp (luận) khoa học chấp nhận được để giải quyết vấn đề và tạo sinh kiến thức mới có thể áp dụng được một cách tổng quát

Con Lundberg (1942) chỉ ra sự khác biệt giữa quá trình nghiên cứu xã hội - được coi là có tính khoa học - với quá trình ta dùng trong cuộc sống hàng ngày.Các phương pháp khoa học gồm việc quan sát, phân loại và diễn giải dữ liệu một cách có hệ thống Rõ ràng là, giờ đây, quá trình này đã được hầu hết mọi người dùng vào cuộc sống thường nhật Sự khác biệt chính yếu giữa các tổng quát

Trang 8

hoá thường nhật với các kết luận thường được công nhận là có (phương pháp) khoa học nằm ở mức độ hình thức, chặt chẽ, dễ kiểm chứng và xác thực tổng quát.

Burns (1994) định nghĩa - nghiên cứu là cuộc điều tra có tính hệ thống để giải quyết một vấn dề

Theo Kerlinger (1986), nghiên cứu khoa học là việc điều tra nghiêm túc, thực nghiệm có kiểm soát và mang tính hệ thống của các luận đề về các mối quan

hệ được giả định của các hiện tượng khác nhau

Còn Bulmer (1977) cho rằng – nghiên cứu xã hội học, là một nghiên cứu, cơ bản gắn với việc thiết lập những kiến thức hợp lệ, tin cậy và hệ thống về thế giới

xã hội

Các đặc điểm của nghiên cứu

Từ các định nghĩa trên, rõ ràng nghiên cứu là một quá trình thu thập, phân tích và diễn giải thông tin để trả lời các câu hỏi Nhưng để trở nên có tính nghiên cứu, quá trình đó phải có càng nhiều càng tốt một số thuộc tính sau đây; kiểm soát được; chặt chẽ; có tính hệ thống; hợp lệ và dễ kiểm chứng; có tính thực nghiệm và tính tới hạn

Dưới đây ta sẽ khảo xét các đặc điểm này

- Kiểm soát được Trong đời sống có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết cục cuối cùng Một sự kiện nhất định nào đó ít khi là kết quả của một quan hệ một – (đối) - một Một số quan hệ lại phức tạp hơn các quan hệ khác Hầu hết các kết cục đều là hệ quả của sự tương tác lẫn nhau của một số các quan hệ và các yếu tố

có ảnh hưởng khác Trong một nghiên cứu về quan hệ nhân quả, việc có thể liên kết (các) kết quả với (các) nguyên nhân và ngược lại là rất quan trọng Tuy có tầm quan trọng như vậy, nhưng trên thực tế, đặc biệt trong các khoa học xã hội, rất khó hay thậm chí không thể xác định các liên kết như vậy

Khái niệm về sự kiểm soát hàm ý rằng, trong việc tìm hiểu tính nhân quả trong quan hệ giữa hai biến, cần tiến hành nghiên cứu sao cho tối thiểu hoá các

Trang 9

ảnh hưởng của các yếu tố khác lên quan hệ đang xét Đối với các khoa học tự nhiên, do hầu hết nghiên cứu được tiến hành trong phòng thí nghiệm nên điều này

có thể đạt được ở một mức độ lớn Còn ở các khoa học xã hội, vì các nghiên cứu được thực hiện trên các vấn đề có liên quan đến các cá nhân sống trong xã hội, không thể kiểm soát được – nên rất khó thiết lập được các liên kết như vậy Vì thế, ở các khoa học xã hội, do không kiểm soát được các yếu tố bên ngoài, ta cần lượng hoá các tác động của chúng

- Chặt chẽ Phải cực kỳ kỹ lưỡng và toàn diện để đảm bảo rằng các thủ tục được chọn là thích hợp và có thể thuyết minh được Nhắc một lần nữa rằng, mức

độ chặt chẽ thay đổi đáng kể giữa các khoa học tự nhiên và khoa học xã hội và ngay bên trong các khoa học xã hội

- Tính hệ thống Các thủ tục đã chọn phải đi theo một trình tự logic nhất định Không thể thực hiện các bước khác nhau một cách thiếu hoạch định hay thiếu trật tự Cũng vậy, một số thủ tục phải đi tiếp sau một số thủ tục khác

- Hợp lệ và kiểm chứng được Khái niệm này hàm ý rằng bất kỳ kết luận nào rút ra được từ kết quả nghiên cứu đều đúng đắn và có thể được kiểm chứng được

do chính ta hay những người khác

- Thực nghiệm Điều này hàm ý rằng mọi kết luận đã rút ra đều đặt cơ sở trên các chứng cứ rõ ràng tập hợp từ thông tin thu được do kinh nghiệm hay quan sát từ đời sống thực

- Tới hạn Tính toàn diện và kỹ lưỡng ở mức độ cao của các thủ tục và kỹ thuật đem dùng đóng vai trò chủ yếu đối với việc tìm hiểu nghiên cứu Quá trình điều tra phải tin cậy, dễ thực hiện và không có lỗi Quá trình được chọn và các thủ tục áp dụng phải có thể vượt qua được việc xem xét toàn diện và kỹ lưỡng ở mức

độ cao đó

Các kiểu nghiên cứu

Nghiên cứu có thể được phân loại theo ba quan điểm (hình 1.2)

- Ứng dụng của công trình nghiên cứu

Trang 10

- Mục tiêu trong việc thực hiện nghiên cứu.

- Loại thông tin tìm kiếm

Trang 11

Hình 1.2 Các kiểu nghiên cứu

Ba kiểu phân loại này không loại trừ nhau.Thí dụ, một dự án nghiên cứu có thể được xếp loại là nghiên cứu lý thuyết hay nghiên cứu ứng dụng (theo góc nhìn ứng dụng của nghiên cứu), hoặc là nghiên cứu khai phá (theo quan điểm mục tiêu nghiên cứu), hoặc là nghiên cứu định lượng hay nghiên cứu định tính (theo quan điểm loại thông tin tìm kiếm)

Ứng dụng

Từ quan điểm của ứng dụng, có 2 kiểu nghiên cứu - nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu ứng dụng Trong các khoa học xã hội, theo Bailey (1978)

Nghiên cứu lý thuyết liên đới đến việc phát triển và kiểm thử các lý thuyết

và giả thuyết có tính thách thức trí tuệ đối với nhà nghiên cứu nhưng có thể có hoặc không ứng dụng thực tế trong hiện tại hay tương lai Vì thế những công trình như vậy thường liên quan đến việc kiểm thử các giả thuyết chứa những khái niệm rất trừu tượng và rất đặc biệt

CÁC KIỂU NGHIÊN CỨU

theo các quan điểm của

Nghiên cứu giải thích

Nghiên cứu khai phá

Nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định tính

Trang 12

Nghiên cứu lý thuyết cũng liên đới đến việc phát triển, khảo xét, kiểm chứng

và tính chính các phương pháp, thủ tục, kỹ thuật và công cụ nghiên cứu - những yếu tố hình thành nên phương pháp luận nghiên cứu Các thí dụ về nghiên cứu lý thuyết: phát triển một kỹ thuật lấy mẫu có thể dùng được cho một tình huống nhất định; phát triển một phương pháp luận để đánh giá tính hợp lệ của một thủ tục; phát triển một dụng cụ để - chẳng hạn – đo lường mức độ căng thẳng của con người; tìm ra cách tốt nhất để đo lường thái độ của con người Kiến thức thu được

từ nghiên cứu lý thuyết như vậy nhằm để tích lũy thêm vào khối kiến thức hiện có

về các phương pháp nghiên cứu

Hầu hết các nghiên cứu trong khoa học xã hội đều là nghiên cứu áp dụng Nói cách khác, các phương pháp, thủ tục và kỹ thuật nghiên cứu tạo nên phương pháp luận nghiên cứu được ứng dụng vào việc thu thập thông tin về các khía cạnh khác nhau của tình huống, vấn đề, bài toán hay hiện tượng để thông tin tập hợp có thể dùng được bằng các cách khác - như quản lý, xây dựng chính sách và mở rộng hiểu biết về hiện tượng

Mục tiêu

Một nghiên cứu theo quan điểm mục tiêu có thể được phân loại chung thành

- nghiên cứu mô tả, nghiên cứu tương quan, nghiên cứu giải thích và nghiên cứu khai phá

Nghiên cứu mô tả cố gắng mô tả một tình huống, bài toán, hiện tượng, dịch

vụ hay chương trình một cách có hệ thống, hoặc cung cấp thông tin về - chẳng hạn - điều kiện sống của một cộng đồng, hoặc mô tả các thái độ trước một vấn đề Thí dụ, nghiên cứu kiểu này có thể mô tả các loại dịch vụ cung ứng của một tổ chức, cấu trúc quản trị của một tổ chức, các nhu cầu của một cộng đồng, cảm xúc của trẻ em sống trong ngôi nhà có tình trạng bạo lực, hoặc là thái độ của nhân viên đối với nhà quản lý…

Trọng tâm chính của nghiên cứu tương quan là khám phá hay thiết lập sự tồn tại của mối quan hệ/kết hợp/liên thuộc giữa hai hay nhiều hơn khía cạnh của một

Trang 13

tình huống Có thể xem các thí dụ sau - chiến dịch quảng cáo có ảnh hưởng gì lên việc bán sản phẩm? Có quan hệ gì giữa đời sống căng thẳng và chứng đau tim?

Có quan hệ gì giữa tính mắn đẻ và cái chết? Có quan hệ gì của dịch vụ y tế lên việc kiểm soát bệnh tật hoặc là môi trường gia đình lên thành tích học tập?

Nghiên cứu giải thích cố gắng làm sáng tỏ lý do và cách thức của mối quan

hệ giữa khía cạnh của một tình huống hay hiện tượng Kiểu nghiên cứu này cố giải thích, thí dụ, tại sao đời sống căng thẳng gây ra chứng đau tim? tại sao giảm

tỷ lệ sinh đi theo sau giảm tỷ lệ chết? hoặc là môi trường gây ảnh hưởng ra sao lên thành tích học tập của học sinh?

Nghiên cứu khai phá được thực hiện để xem xét khả năng của việc tiến hành một nghiên cứu nhất định nào đó Kiểu này còn được gọi là nghiên cứu khả thi hoặc nghiên cứu thử/nghiên cứu tiền trạm Thường kiểu nghiên cứu này được tiến hành khi nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu những lĩnh vực mà mình có rất ít hay không có kiến thức Một khảo sát quy mô nhỏ sẽ được thực hiện để quyết định xem có đáng giá để thực hiện một khảo cứu chi tiết hay không Trên cơ sở của đánh giá rút ra từ nghiên cứu khai phá, nghiên cứu chính thể/ toàn diện có thể được triển khai Các nghiên cứu khai phá cũng được thực hiện để phát triển, tinh chỉnh và/hay kiểm thử các công cụ và thủ tục đo lường Hình 1.3 cho thấy các kiểu nghiên cứu theo quan điểm mục tiêu

Mặc dù, về lý thuyết, một nghiên cứu có thể được xếp vào một trong các kiểu phân loại vừa xét, nhưng trong thực tế, hầu hết các nước nghiên cứu đều là tổ hợp của ba phạm trù đầu tiên, tức là yếu tố của nghiên cứu mô tả, nghiên cứu tương quan và nghiên cứu giải thích Trong cuốn sách này, phần hướng dẫn viết báo cáo nghiên cứu cổ vũ việc tích hợp các yếu tố này

Trang 14

Hình 1.3 Các kiểu nghiên cứu từ quan điểm mục tiêu

chính

Kiểu nghiên cứu Đặc điểm kinh tế - xã hội của cư dân trong

Thái độ của công nhân và các nhà quản lý

Số lượng người sống trong một cộng đồng

Những vấn đề mà dân mới nhập cư phải

có liên quan đến:

Nhóm người

Cộng đồng

tượng

huống Chương trình

Kết quả

Mô tả những

gì hiện đang phổ biến

Nghiên cứu mô tả

Tác động của một chương trình

Quan hệ giữa điều kiện sống và chứng đau

tim

Ảnh hưởng của công nghệ lên tuyển dụng

Kết quả của dịch vụ tư vấn hôn nhân lên mức

Kết quả của chương trình chủng ngừa để kiểm

soát bệnh truyền nhiễm

Để thiết lập hay tìm hiểu:

Quan hệ Kết hợp Liên thuộc

Khẳng định có mối quan hệ hay không

Nghiên cứu tương quan

Tại sao điều kiện sống gây ra đau tim?

Công nghệ tạo ra chỗ làm hay thất nghiệp ra

sao?

Tại sao một số người phản ứng tích cực trước

một tình huống, còn người khác thì không?

Tại sao một can thiệp nhất chỉ có ảnh hưởng

đến một số người mà thôi?

Tại sao chỉ có một số người dùng sản phẩm?

Tại sao chỉ có một số người di cư đến quốc

Để giải thích tại sao:

Một quan

hệ kết hợp hay liên thuộc tồn tại?

Một sự

Giải thích tại sao quan hệ được hình thành

Nghiên cứu giải thích

Trang 15

gia khác?

Tại sao chỉ có một số người chọn chương

trình này?

kiện nhất định xảy ra?

Các cơ chế của nghiên cứu

Có hai cơ chế chính tạo nên cơ sở của việc nghiên cứu trong các khoa học xã hội Chi tiết của những vấn đề này vượt khỏi phạm vi của cuốn sách này Câu hỏi cốt lõi của việc chia hai cơ chế là liệu phương pháp luận của các khoa học tự nhiên có thể áp dụng vào việc nghiên cứu các hiện tượng xã hội hay không? Cơ chế bắt nguồn từ các khoa học tự nhiên được gọi là tiếp cận hệ thống, tiếp cận khoa học hay tiếp cận tích cực Còn cơ chế ngược lại được gọi là tiếp cận định tính, tiếp cận dân tộc học, tiếp cận sinh thái hay tiếp cận tự nhiên Những người thuộc hai phái trên đã phát triển các giá trị, thuật ngữ, phương pháp và kỹ thuật riêng để tìm hiểu các hiện tượng xã hội.Tuy vậy kể từ giữa những năm 60, điều được thừa nhận tăng dần là - mỗi cơ chế đều có vị thế riêng của nó Mục tiêu nghiên cứu nên xác định phương thức chất vấn vấn đề, từ đó xác định cơ chế tương ứng Áp dụng không phân biệt một tiếp cận vào tất cả các bài toán nghiên cứu có thể dẫn đến sai lầm và không thích hợp

Cơ chế tích cực phù hợp với cả nghiên cứu định lượng lẫn nghiên cứu định tính Có thể tiến hành nghiên cứu định tính trong cơ chế tích cực Tuy nhiên, cần phân biệt giữa một bên là nghiên cứu định tính với bên kia là nghiên cứu tự nhiên

và dân tộc vì chúng đi theo các hệ thống giá trị khác nhau và ở một mức độ nào

đó, các phương pháp luận khác nhau

Không có vấn đề gì về kiểu cơ chế mà nhà nghiên cứu đang làm việc, nhà nghiên cứu chỉ cần gắn với các giá trị nhất định liên đới đến việc kiểm soát sự thiên lệch và sự duy trì tính khách quan qua cả hai điểm - bản thân quá trình nghiên cứu và các kết luận rút ra Việc áp dụng các giá trị này vào quá trình tập hợp thông tin, phân tích và diễn giải thông tin sẽ cho phép nó được gọi là quá trình nghiên cứu

Tóm tắt chương

Có vài cách để thu thập và tìm hiểu thông tin để trả lời các câu hỏi đặt ra – nghiên cứu là một cách trong số đó Sự khác biệt giữa nghiên cứu và các cách trả

Trang 16

lời câu hỏi khác nằm ở chỗ - trong quá trình được gọi là nghiên cứu – công việc được thực hiện trong một khung cơ sở của tập các ý niệm; dùng các phương pháp

đã được kiểm chứng về tính hợp lệ và độ tin cậy và nỗ lực thực hiện công việc không thiên lệch và khách quan

Nghiên cứu có nhiều ứng dụng Một nhà cung cấp dịch vụ, hay một nhà quản lý/hoạch định muốn có kết quả cũng phải có các kỹ năng nghiên cứu Đòi hỏi cũng tương tự như vậy đối với một chuyên gia có trách nhiệm nâng cao kiến thức chuyên môn

Việc phân loại nghiên cứu có thể được làm từ ba góc nhìn - ứng dụng, mục tiêu và loại thông tin tìm kiếm

Từ quan điểm ứng dụng, có các kiểu nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu áp dụng Hầu hết các nghiên cứu tiến hành trong các khoa học xã hội đều là nghiên cứu áp dụng, khảo cứu hoặc là để tìm hiểu hiện tượng/vấn đề hoặc là để thay đổi trong một chương trình/tình huống Các nghiên cứu lý thuyết về bản chất mang tính học thuật và được tiến hành nhằm thu được kiến thức về các hiện tượng có hay không có các ứng dụng trong tương lai gần và cũng nhằm phát triển các thủ tục và kỹ thuật mới tạo nên nội dung của phương pháp luận nghiên cứu Công trình nghiên cứu có thể được thực hiện với bốn mục tiêu - để mô tả một tình huống, hiện tượng, bài toán hoặc vấn đề (nghiên cứu mô tả); để thiết lập hay tìm hiểu mối quan hệ giữa hai hay nhiều biến (nghiên cứu tương quan); để giải thích

lý do các vấn đề xảy ra theo một cách thức nào đó (nghiên cứu giải thích) và để khảo sát tính khả thi của việc tiến hành một nghiên cứu (nghiên cứu khai phá) Từ quan điểm loại thông tin tìm kiếm có hai kiểu nghiên cứu: định lượng và định tính Mục tiêu chính của nghiên cứu định tính là mô tả sự biến đổi trong một hiện tượng, tình huống hay thái độ; trong khi đó nghiên cứu định lượng, còn thêm vào việc lượng hoá sự biến đổi

Có hai cơ chế chính tạo nên cơ sở của nghiên cứu khoa học xã hội – tích cực

và tự nhiên Câu hỏi cốt lõi chia hai cơ chế chính là liệu phương pháp luận nghiên cứu trong các khoa học tự nhiên có thể áp dụng vào nghiên cứu trong các khoa học xã hội hay không

Trang 17

2 TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU

Quá trình nghiên cứu: mô hình 8 bước

Bước 1: thiết lập bài toán nghiên cứuBước 2: quan niệm hoá thiết kế nghiên cứuBước 3: xây dựng dụng cụ thu thập dữ liệuBước 4: chọn mẫu

Bước 5: viết đề xuất nghiên cứuBước 6: thu thập dữ liệu

Bước 7: xử lý dữ liệuBước 8: viết báo cáo nghiên cứuTóm tắt chương

Quá trình nghiên cứu: Mô hình tám bước

Phương pháp luận nghiên cứu được dạy như một môn hỗ trợ dưới hình thức này hoặc khác, ở các mức độ khác nhau trong nhiều ngành học do những người gắn với các cơ chế nghiên cứu khác nhau đảm trách Mặc dù các cơ chế khác nhau

về nội dung, tiếp cận chung về khảo cứu là giống nhau Các ý kiến tương tự như vậy cũng đã được nêu ra bởi Festinger và Katz, trong lời nói đầu của cuốn sách – Các phương pháp nghiên cứu trong các khoa học ứng xử (Research Methods in Behavioral Sciences) - mặc dù logic cơ sở của phương pháp luận khoa học là như nhau trong tất cả các lĩnh vực, các tiếp cận và kỹ thuật cụ thể của chúng lại khác nhau – tùy thuộc vào yếu tố chủ đề (1966) Do vậy, mô hình được phát triển ở đây

có tính tổng quát về bản chất và có thể được áp dụng vào một số các ngành trong khoa học xã hội (hình 2.1) Nó đặt cơ sở trên một tiếp cận từng bước và thực tế đối với việc khảo cứu và mỗi bước đưa ra tập có thể chọn lựa các phương pháp,

mô hình và thủ tục

Các tác vụ chỉ ra trong các mũi tên (hình vẽ) là các bước thao tác cần đi theo

để tiến hành nghiên cứu

Các chủ đề nêu ra trong các hình chữ nhật là các kiến thức lý thuyết cần thiết

để thực hiện các bước thao tác

Trang 18

Các tác vụ ghi trong các hình tròn là các bước trung gian cần phải hoàn tất dể đi

từ bước này sang bước kia Điều quan trọng là người mới bắt đầu nên đi theo các bước đúng trình tự dẫn ra, mặc dù với kinh nghiệm, điều đó thay đổi được

Sách này được tổ chức theo các kiến thức lý thuyết, cần để thực hiện mỗi bước thao tác và đi theo cùng một quy trình tuần tự dể tiến hành nghiên cứu Đối với mỗi bước thao tác, kiến thức lý thuyết cần thiết được tổ chức xa hơn, trong các chương khác nhau (hình 2.2) Nhắc lại một lần nữa, đối với người nhập môn, điều quan trọng là theo sát biểu đồ này để biết được quan hệ giữa kiến thức lý thuyết với bước thao tác tương ứng

Kiểm thử tại hiện trường

Hiệu chỉnh dữ liệu

Mã hoá

Phát triển sách mã

Nội dung

Biến & giả thuyết

Định nghĩa và

phân loại

Xem xét tài liệu

Chương 12 Viết

đề xuất nghiên cứu

Chương 14 Xử lý

dữ liệu Chương 15 Biểu hiện dữ liệu

Trang 19

Hình 2.2

Bước 1 Thiết lập bài toán nghiên cứu

Đây là bước đầu tiên và quan trọng nhất của quá trình nghiên cứu Bài toán nghiên cứu nhận diện mục đích nghiên cứu – ta dự kiến nghiên cứu điều gì? Dự kiến càng rõ ràng và cụ thể thì càng tốt, vì rằng mọi việc tiếp theo của quá trình nghiên cứu - thiết kế nghiên cứu, thủ tục đo lường, chiến lược lấy mẫu, khung phân tích và phong cách viết đề xuất hay báo cáo - đều bị ảnh hưởng của cách thiết lập bài toán nghiên cứu Do vậy, ở đây cần tập trung ý tưởng cẩn thận và xác đáng Chương 4 sẽ xem xét chi tiết các khía cạnh khác nhau của việc thiết lập bài toán nghiên cứu

Điều cực kỳ quan trọng ở đây là cần phải ước lượng bài toán nghiên cứu qua nguồn tài chánh hiện có, qũy thời gian, kiến thức và năng lực chuyên môn trong lĩnh vực nghiên cứu của người tiến hành nghiên cứu và người giám sát việc nghiên cứu Cũng vậy, phải nhận diện được những thiếu hụt về kiến thức hay kỹ năng trong các lĩnh vực liên đới – như thống kê, ứng dụng máy tính … - cần sử dụng hay có kế hoạch sẽ sử dụng đên cho công việc phân tích, xử lý dữ liệu

Bước 2 Quan niệm hoá thiết kế nghiên cứu

Trang 20

Một đặc trưng rất quan trọng của nghiên cứu là sử dụng các phương pháp khoa học Nghiên cứu liên đới việc thiết lập một cách chặt chẽ, hợp lệ, dễ kiểm soát và có tính hệ thống về mối quan hệ và tương tác nhân quả cho phép tiên đoán chính xác các kết quả thu được trong những điều kiện nhất định Nó cũng liên quan đến việc nhận diện các khoảng cách về kiến thức; kiểm chứng những gì đã biết; và chỉ ra những sai sót và hạn chế đã qua Tính xác thực của cái mà ta tìm ra phụ thuộc lớn lao vào cách thức ta đã tìm ra nó Chức năng chính của thiết kế nghiên cứu là giải thích cách thức tìm ra câu trả lời của bài toán Thiết kế nghiên cứu vạch ra logic của các chất vấn của bài toán Thiết kế cần bao gồm những điểm sau: bản thân thiết kế khảo cứu, những chuẩn bị hậu cần cần có, các thủ tục

đo lường, chiến lược lấy mẫu, khung phân tích và thang thời gian Đối với bất kỳ khảo cứu nào, việc chọn thiết kế nghiên cứu thích hợp cũng là cốt lõi để cho phép rút ra được các tìm kiếm, so sánh và kết luận hợp lệ Thiết kế có lõi sẽ gây ra các kết quả sai lạc và vì vậy tiêu tốn tiền bạc và công sức Trong phạm vi khoa học, điểm mạnh của khảo cứu, thực nghiệm phần lớn được ước lượng qua thiết kế nghiên cứu tương ứng Khi chọn một thiết kế nghiên cứu cần đảm bảo rằng nó xác thực, có thể dùng được và dễ quản lý

Có rất nhiều thiết kế nghiên cứu khác nhau và ta cần phải làm quen với một

số thiết kế nghiên cứu thông dụng nhất Chương 7 có chỉ ra một số các thiết kế như vậy Cần chọn hay phát triển lấy thiết kế phù hợp nhất với nghiên cứu của mình Cần phải có những lý do vững chắc trong việc chọn thiết kế; phải có khả năng biện giải cho phép chọn đó và hiểu rõ ràng các điểm mạnh, điểm yếu và hạn chế của thiết kế Ngoài ra, cũng cần phải giải thích được các chi tiết hậu cần hỗ trợ cho việc cài đặt thiết kế

Bước 3 Xây dựng thiết bị để thu thập dữ liệu

Tất cả những phương tiện gì dùng thu thập thông tin cho nghiên cứu đều được gọi là công cụ nghiên cứu hay thiết bị nghiên cứu Thí dụ - đó là biểu mẫu quan sát, bảng câu hỏi phỏng vấn, hướng dẫn phỏng vấn…

Trang 21

Xây dựng công cụ nghiên cứu là bước thực hành đầu tiên trong việc thực hiện nghiên cứu Cần phải quyết định cách thức thu thập dữ liệu và sau đó xây dựng công cụ tương ứng Chương 8 chi tiết hoá các phương pháp thu thập dữ liệu khác nhau cùng với quá trình xây dựng thiết bị nghiên cứu, chương 9 xem xét các phương pháp thu thập dữ liệu bằng thang do ứng xử, còn chương 10 xem xét tính xác thực và tin cậy của thiết bị nghiên cứu.

Nếu tính đến việc thu thập dữ liệu đặc thù cho nghiên cứu đang xét (gọi là

dữ liệu sơ cấp), ta phải xây dựng lấy thiết bị hay chọn thiết bị có sẵn, còn nếu dùng các dữ liệu thứ cấp (thu thập sẵn có rút từ các mục tiêu khác), cần phát triển một biểu mẫu để rút lấy dữ liệu cần thiết

Trong việc xây dựng thiết bị nghiên cứu, việc kiểm thử công cụ tại hiện trường là không thể thiếu được Cần lưu ý, kiểm thử tại hiện trường không nên thực hiện trên tập dữ liệu mẫu của nghiên cứu mà nên tiến hành trên tập dữ liệu đám đông tương tự

Nếu muốn dùng máy tính để phân tích dữ liệu, trên thiết bị nghiên cứu cần dành đủ bộ chứa để lưu trữ dữ liệu

Bước 4 Chọn mẫu

Độ chính xác của các ước lượng phụ thuộc lớn lao và cách chọn mẫu Mục tiêu cơ bản của thiết kế chọn mẫu là tối thiểu hoá – trong khuôn khổ giá phí - khoảng cách giữa các giá trị của mẫu với của tập đám đông

Luận đề cơ sở của việc lấy mẫu là - với việc chọn khoa học một số lượng tương đối nhỏ các đơn vị thì số lượng đó phải phản ánh - với độ tin cậy đủ cao – khá đúng tập đám đông đang được xem xét

Lý thuyết lấy mẫu dựa vào hai nguyên lý:

- Tránh thiên lệch trong việc chọn mẫu

- Thu được độ chính xác tối đa ứng với tài nguyên đã tiêu hao

Có ba kiểu thiết kế chọn mẫu:

- Thiết kế chọn mẫu ngẫu nhiên/xác suất

Trang 22

- Thiết kế chọn mẫu không ngẫu nhiên/xác suất.

- Thiết kế chọn mẫu hỗn hợp

Ứng với hai kiẻu thiết kế đầu, có vài chiến lược lấy mẫu khác nhau Cần phải biết đươc điểm mạnh, điểm yếu của từng chiến lược và các tình huống áp dụng ngõ hầu chọn được thiết kế phù hợp nhất Kiểu chiến lược lấy mẫu cũng giúp xác định khả năng tổng quát hoá từ tập mẫu lên tập đám đông và các kiểu kiểm thử thống kê thực hiện được trên dữ liệu

Bước 5 Viết đề xuất nghiên cứu

Qua các bước trên, đến đây công việc chuẩn bị đã xong Giờ cần phải viết ra

kế hoạch tổng quát cho người giám sát nghiên cứu và các bên liên quan khác nắm được các thông tin về bài toán nghiên cứu, về cách thức khảo cứu Kế hoạch đó được gọi là đề xuất nghiên cứu Nói rộng ra, chức năng chính của đề xuất nghiên cứu là chi tiết hoá kế hoạch vận hành để thu được lời giải cho bài toán nghiên cứu Để có thu được kết quả chính xác và khách quan cũng cần phải chứng minh tính xác thực của phương pháp luận triển khai

Các tổ chức khác nhau có những yêu cầu riêng về văn phong và nội dung của

đề xuất nghiên cứu nhưng hầu hết có thể chấp nhận những điểm dưới đây Chương 12 có các hướng dẫn làm khung cơ sở cho đề xuất nghiên cứu được chấp nhận rộng rãi

- Những gì cần thực hiện

- Kế hoạch thực hiện ra sao

- Tại sao chọn chiến lược triển khai như vậy

Theo trên, đề xuất cũng phải có các thông tin dưới đây (xem chương 11)

- Mục tiêu nghiên cứu

- Các giả thuyết - nếu cần phải kiểm thử chúng

- Thiết kế nghiên cứu dự định

- Bối cảnh nghiên cứu

- Các thiết bị nghiên cứu định sử dụng

Trang 23

- Thiết kế chọn mãu và kích cỡ mẫu.

- Các thủ tục xử lý dữ liệu

- Dàn ý các phần trong báo cáo

- Các vấn đề và hạn chế của nghiên cứu

- Khung thời gian đề xuất

Bước 6 Thu thập dữ liệu

Đến đây, tiến hành thu thập dữ liệu nhằm rút ra các kết luận của nghiên cứu

Có nhiều phương pháp dùng thu thập dữ liệu và trong thiết kế nghiên cứu ta

đã chọn thủ tục tiến hành Thí dụ, ta có thể bắt đầu phỏng vấn, gởi các bảng câu hỏi, tiến hành thảo luận nhóm, quan sát… Các phương pháp này đều có liên đới các khía cạnh đạo đức sẽ được xét ở chương 13

Bước 7 Xử lý dữ liệu

Các phân tích dữ liệu tùy thuộc nhiều vào hai việc:

- Loại thông tin – mô tả, định lượng, định tính, ứng xử

- Cách viết báo cáo

Có hai kiểu báo cáo chính - định lượng và định tính Như đã nêu trên, việc phân biệt mang ý nghĩa học thuật nhiều hơn là ý nghĩa thực tế vì trong hầu hết nghiên cứu, đều cần cả hai dạng kỹ năng này Tuy nhiên, cũng có một số nghiên cứu độc về định lượng hay độc về định tính Chương 14 trình bày các cách phân tích dữ liệu định lượng và chương 15 cho biết chi tiết các phương pháp biểu diễn

dữ liệu đã phân tích

Ngoài cách phân loại trên, cũng rất cần chú ý phân biệt phân tích thủ công

dữ liệu và phân tích nhờ máy tính

Nếu nghiên cứu có tính mô tả thuần túy, báo cáo có thể dựa vào các chú giải tại hiện trường, vào việc phân tích nội dung của các chú giải (phân tích nội dung).Nếu cần phân tích định lượng, phải quyết dịnh loại phân tích yêu cầu (như phân bố tần xuất, so sánh chéo bảng, hay các thủ tục thống kê như phân tích hồi

Trang 24

quy, phân tích yếu tố, phân tích độ lệch) và cách thức trình bày tương ứng Ở đây cũng cần chú ý các biến số thay đổi theo các thủ tục thống kê.

Bước 8 Viết báo cáo nghiên cứu

Viết báo cáo là bước cuối và trong nhiều trường hợp là bước khó nhất của quá trình nghiên cứu Bản báo cáo công bố những gì đã được thực hiện, những gì

đã được phát hiện và những kết luận gì rút ra từ các tìm kiếm Một khi sáng tỏ toàn bộ tiến trình, dễ hình dung được cách viết báo cáo Văn phong của báo cáo cần mang tính học thuật và nên chia thành các chương, các phần riêng biệt dựa theo các luận đề chính của nghiên cứu Chương 16 đề xuất vài cách viết báo cáo nghiên cứu

Tóm tắt chương

Chương này cho thấy quá trình nghiên cứu tổng quát gồm tám bước, chi tiết của mỗi bước sẽ được trình bày ở các hướng tiếp theo Ở mỗi bước có một mô hình tương ứng cung cấp tập các phương pháp, thủ tục và kỹ thuật cho phép ta chọn được yếu tố phù hợp nhất Đối với người mới bắt đầu, điều quan trọng là đi qua tất cả các bước mặc dù có thể không đúng thứ tự đã nêu Khi đã có kinh nghiệm, có thể rút ngắn cá bước một cách phù hợp

Tám bước nêu trên cho thấy toàn bộ nỗ lực nghiên cứu, từ việc thiết lập bài toán nghiên cứu cho đến viết báo cáo nghiên cứu Về bản chất, các bước có tính vận hành, đi theo một trật tự logic và có các chi tiết về các phương pháp và thủ tục theo thể thức từng bước đơn giản

Bước 1: Thiết lập bài toán nghiên cứu

Chương 3: Xem xét tài liệu

Chương 4: Thiết lập đề tài nghiên cứu

Chương 5: Nhận diện các biến

Chương 6: Xây dựng giả thuyết

CHƯƠNG 3: XEM XÉT TÀI LIỆU

Trang 25

- Lý do xem xét tài liệu.

Làm sáng tỏ và tập trung vào bài toán nghiên cứu

Cải tiến phương pháp luận

Mở rộng cơ sở kiến thức về lĩnh vực nghiên cứu

- Thủ tục xem xét tài liệu:

Tìm tài liệu hiện có

Phát triển khung cơ sở lý thuyết

Phát triển khung cơ sở khái niệm,

- Hoàn chỉnh tài liệu đã qua xem xét

- Tóm tắt chung

Các lý do xem xét tài liệu

Một trong những tác vụ sơ khởi cần thiết nhất của quá trình tiến hành nghiên cứu là duyệt xét tất cả tài liệu đang có nhằm trở nên quen thuộc với lượng kiến thức hiện hữu của lĩnh vực nghiên cứu Mặc dù việc duyệt xét này rất tốt thời gian, đôi khi đáng chán và bực mình, nhưng lại không thể bỏ qua được vì nó rất

có ích cho việc triển khai nghiên cứu Việc xem xét tài liệu có ba chức năng:

1 Làm sáng tỏ và tập trung vào đề tài nghiên cứu

2 Cải tiến phương pháp luận

3 Mở rộng nền tảng kiến thức về lĩnh vực xem xét

Làm sáng tỏ và tập trung vào đề tài nghiên cứu

Việc xem xét tài liệu có tính hai mặt Một mặt, không thể nghiên cứu hiệu dụng được nếu như không có những ý kiến về bài toán nghiên cứu Mặt khác, các tài liệu xem xét đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc định dạng đề tài nghiên cứu bởi vì quá trình xem xét tài liệu giúp hiểu rõ lĩnh vực của chủ đề tốt hơn và giúp quan niệm hoá đề tài nghiên cứu rõ ràng và chính xác hơn Đồng thời việc

Trang 26

này cũng giúp xác định được mối quan hệ giữa đề tài nghiên cứu và lượng kiến thức của lĩnh vực tương ứng.

Cải tiến phương pháp luận

Duyệt xét các tài liệu sẽ giúp quen thuộc với các phương pháp luận đã dùng bởi những người khác trong những bài toán tương tự với bài toán đang xét Các tài liệu sẽ cho ta biết các thủ tục và phương pháp nào có ích lợi và những vấn đề kèm theo Từ đó ta có được vị thế tốt hơn để chọn lựa phương pháp luận.Chính điều đó làm tăng sự tin tưởng vào phương pháp luận dự kiến triển khai và giúp lý

lẽ bảo vệ việc chọn phương pháp luận đó

Mở rộng nền tảng kiến thức trong lĩnh vực nghiên cứu

Chức năng quan trọng nhất của việc xem xét tài liệu là đảm bảo được việc đọc sâu rộng về lĩnh vực của chủ đề nghiên cứu Ta cần biết được các nhà nghiên cứu khác đã tìm ra những gì về những bài toán gần hay tương tự, những lý thuyết

gì đã được nêu ra và những khoảng cách nào hiện có trong lượng kiến thức của ngành Khi tiến hành một nghiên cứu, người nghiên cứu được mong đợi sẽ là một chuyên gia trong lĩnh vực đó Việc xem xét tài liệu một cách toàn diện sẽ giúp mong đợi đó có cơ sở Lý do khác nữa ở đây là ta sẽ biết được những kết quả của mình phù hợp ra sao với lượng kiến thức hiện tại của ngành (Martin, 1985)

Thủ tục xem xét tài liệu

Nếu chưa có một bài toán n ghiên cứu cụ thể, nên xem xét tài liệu trong lĩnh vực rộng của ngành để thu hẹp dần đến những gì muốn xác định Sau đó việc xem xét tài liệu sẽ tập trung quanh bài toán nghiên cứu Sẽ nguy hiểm nếu xem xét tài liệu mà không có trước ý tưởng cụ thể hợp lý về điều cần nghiên cứu Nó sẽ ảnh hưởng đáng kể lên suy nghĩ của ta về bài toán nghiên cứu và phương pháp luận đem dùng, làm cho việc chọn lựa bài toán nghiên cứu và phương pháp luận kém hẳn về tính đổi mới Vì vậy, nên có quan niệm hoá bài toán nghiên cứu trước khi thực hiện việc xem xét tài liệu

Trang 27

Xem xét tài liệu là một quá trình liên tục Thường việc này sẽ bắt đầu trước khi thiết lập bài toán nghiên cứu cụ thể và tiếp tục cho đến khi hoàn tất báo cáo nghiên cứu Mặc dù cần phải xem xét xong hầu hết các tài liệu trước khi triển khai nghiên cứu, vẫn cần tiếp tục xem xét tài liệu khi tích hợp kết quả của ta với kết quả của các nghiên cứu, chỉ ra rằng kết quả của ta hỗ trợ hay bài bác các nghiên cứu khác Việc so sánh này là phần không thể thiếu được trong báo cáo nghiên cứu.Xem xét tài liệu là quá trình gồm bốn bước:

1 Tìm kiếm tài liệu của lĩnh vực nghiên cứu

2 Xem xét các tài liệu đã chọn lọc được

3 Phát triển khung cơ sở lý thuyết

4 Phát triển khung cơ sở quan niệm

Các tác vụ nêu trên cần đến các kỹ năng khác nhau và trong đó hai tác vụ phát triển cuối là khó khăn hơn

Về tạp chí, có thể dựa vào:

1 Các chỉ mục tạp chí

2 Tổng thuật các tạp chí

3 Các chỉ mục trích dẫn

Trang 28

Các dịch vụ chỉ mục, tổng thuật và trích dẫn đều được cung cấp dưới dạng thức ấn phẩm, CDROM hay tập tin trên Web-Internet.

Trong hầu hết các thư viện, thông tin về sách, tạp chí, tổng thuật… đều được chứa trong máu tính, vi phim, CDROM… và được phân loại theo chủ đề, tác giả

và tựa đề Khi thông tin chứa trên máy tính, còn có thêm thông tin về các từ khóa – tác giả/từ khoá, tiêu đề/từ khoá, chủ đề/từ khoá hay chỉ là từ khoá

Có một số các cơ sở dữ liệu điện tử được xây dựng cụ thể cho một số các ngành, giúp ta lập nên được thư tịch cần thiết Bảng 3.1 bên dưới cho thấy vài cơ

sở dữ liệu điện tử thông dụng cho hầu hết các thư viện ở Mỹ

Cần chọn các cơ sở dữ liệu nào có những tham chiếu cần thiết cho lĩnh vực nghiên cứu Nên trình bày với người giám sát nghiên cứu và các chuyên gia nếu

có thể để bổ sung các tài liệu cần thiết vào danh sách những gì cần đọc

Bảng 3.1: Một vài cơ sở dữ liệu điện tử thông dụng về lĩnh vực y tế công,

xã hội học, giáo dục và kinh doanh

Cơ sở dữ

Bản in giấy tương đương

và viễn thông

ERIC

ERIC là cơ sở dữ liệu về thông tin giáo dục được tập hợp bởi Trung tâm Thông tin Tài nguyên giáo dục ecủa Bộ Giáo dục Mỹ Chủ đề của nó bao gồm nghiệp nghiệp/giáo dục nghề, giáo dục trẻ em, giáo dục phổ thông, tài nguyên thông tị, giáo dục khoa học xã hội, giáo dục thầy giáo, giáo dục nông thôn.

CIJE Chỉ số hiện tại vào các tạp chí giáo dục

HEAL

THROM

HEAL THROM Chứa các tham chiếu và một số ấn bản toàn văn về môi trường, sức khoẻ, HIV/AIDS, bệnh truyền nhiễm, dinh dưỡng, nghiện rượu và ma túy…

Không có

MEDLINE MADLINE Chứa các tham chiếu đến các khoa học về y tế bao gồm thuốc men, dược học, y tế công, khoa học ứng

dụng…

Index Medicus

Trang 29

Dù là phần trung tâm của mọi thư viện, sách – ngoài những lợi điểm – cũng

có những khuyết điểm Thuận lợi chính là thông tin trong sách thường quan trọng

và có chất lượng và các kết quả được “tích hợp với nghiên cứu khác để tạo nên lượng kiến thức phù hợp” (Martin, 1985) Khuyết điểm của sách là thông tin không được cập nhật hoàn toàn, có thể mất vài năm giữa việc hoàn tất công trình với việc xuất bản cuốn sách

Cách tốt nhất để nhận diện các sách là dùng bộ tổng tập trên máy tính hay tủ phiếu Chọn từ khoá hay chủ đề để tìm ra các sách trong phạm vi quan tâm Kế đó thu hẹp lĩnh vực chủ đề cũng bằng các từ khóa thích hợp Xem xét kỹ lưỡng các tựa đề và nhận diện những sách nào có vẻ phù hợp nhất và ghi nhận tất cả các tựa

đề đó Cần chú ý là đôi khi tựa đề không cung cấp đủ thông tin để quyết định xem sách có dùng được hay không Khi này, phải xem xét trực tiếp nội dung của sách tương ứng

Khi đã chọn được từ 10 đến 15 cuốn sách; hãy xem xét thư tịch của từng cuốn rồi rút ra những cuốn sách nào được tham chiếu chung giữa các thư tịch đó; những cuốn này cần được đưa vào danh sách những tài liệu then chốt Chuẩn bị bản danh sách cuối cùng những cuốn sách cần thiết

Sau khi có được danh sách cần thiết, hãy tìm các sách đã liệt kê trong thư viện hay từ các nguồn khác Xem xét nội dung sách để khẳng định chúng thực sự phù hợp với chủ đề nghiên cứu Khi phát hiện thấy sách nào không phù hợp, hãy loại bỏ nó ra khỏi danh sách tham khảo Còn nếu khi thấy phần nội dung nào của sách phù hợp, hãy làm một thư tịch chú giải Thư tịch chú giải gồm các tổng thuật ngắn về các khía cạnh được trình bày trong sách và chú giải của riêng ta về tính phù hợp của chúng Cần cẩn thận theo dõi danh sách tham khảo bằng cách nên chuẩn bị hệ thống chỉ mục thẻ củ riêng mình hay dùng các chương trình máy tính như Endnotes hay Procite

Trang 30

ra các tài liệu phù hợp bằng các cách sau:

Xem xét các tài liệu đã chọn được

Giờ đây, sau khi đã xác định được các sách và tạp chí có vể có ích, việc cần làm là đọc chúng thật kỹ lưỡng để xác định các luận đề và vấn đề chính của tài liệu Nếu chưa có được khung cơ sở lý thuyết, có thể bắt đầu bằng một tờ giấy cho mỗi bài viết hay cuốn sách Còn nếu đã có một khung cơ sở lý thuyết sơ bộ, chiếu những nội dung đã xem qua vào khung cơ sở, và dùng mỗi tờ giấy riêng cho mỗi đầu để của khung cơ sở bắt gặp trong tài liệu

Trang 31

Trong quá trình đọc tiếp theo, cần làm phép tương ứng giữa thông tin trong tài liệu với đầu đề đã phát triển được.Có thể đưa thêm vào nhiều đầu đề khi cần.Việc đọc tài liệu phải thật kỹ với các chú ý sau:

- Chú thích xem những kiến thức phù hợp với khung cơ sở lý thuyết đa được khẳng định hay chưa

- Chú thích về các lý thuyết đã được đưa ra cùng với các phê bình tương ứng; chú thích về những cơ sở, các phương pháp luận đã chọn (như thiết kế nghiên cứu, kích cỡ mẫu và đặc tính của mẫu, các thủ tục đo lường…) cùng với các phê bình kèm theo

- Khảo xét xem ở mức độ nào, các kết quả có thể tổng quát hoá cho các tình huống khác

- Chú thích về chỗ có sự khác biệt ý kiến giữa các nhà nghiên cứu và cho biết ý kiến riêng về tính xác thực của các khác biệt đó

- Nhận diện các lĩnh vực có rất ít hay không có thông tin – đó là các khoảng trống trong khối lượng kiến thức hiện hữu

Triển khai khung lý thuyết

Kiểm thử tài liệu là việc làm không bao giờ có kết thúc trừ khi ta giới hạn thời gian; quan trọng là phải thiết lập giới hạn bằng cách xem xét các tài liệu tương ứng một số chủ đề chính – thích hợp với đề tài nghiên cứu

Khi bắt đầu xem tài liệu, có thể là ngay lập tức ta sẽ khám phá ra vấn đề mà

ta muốn nghiên cứu – có nguồn gốc từ một số lý thuyết được xây dựng từ các quan điểm khác nhau Thông tin thu được từ các sách báo khác nhau lúc này cần được phân loại theo các chủ đề và lý thuyết chính, làm sáng tỏ sự đồng tình lẫn bất đồng giữa các tác giả và xác định những câu hỏi hay khoảng trống chưa được giải đáp Ta cũng sẽ nhận ra tài liệu đề cập đến một số khía cạnh có liên quan trực tiếp hay gián tiếp với chủ đề nghiên cứu Sử dụng các khía cạnh này như là cơ sở

để triển khai khung lý thuyết Việc xem xét tư liệu sẽ sắp xếp thông tin theo khung cơ sở này, như đã đề cập ở phần trước Nếu không xem xét tư liệu dựa vào

Trang 32

khung sườn này, ta không thể xây dựng được tiêu điểm cho việc tìm kiếm tài liệu – nói cách khác khung lý thuyết sẽ cung cấp hướng dẫn khi ta đọc Điều này đem đến một nghịch lý đã được nói trước đó - đến khi nghiên cứu kỹ tài liệu ta không thể xây dựng khung lý thuyết và đến khi đã xây dựng khung lý thuyết, ta không thể xem xét tài liệu một cách có hiệu quả Giải pháp ở đây là – hãy đọc một số tài liệu, sau đó nỗ lực xây dựng khung sườn, thậm chí là một khung sườn không chặt chẽ, từ đó có thể tổ chức phần tài liệu còn lại Khi đọc được nhiều hơn về lĩnh vực,

có thể thay đổi khung sườn này Còn nếu không có nó, ta sẽ sa lầy vào việc đọc không cần thiết và sẽ ghi chú những điểm không thích ứng cho việc nghiên cứu.Thí dụ, nếu muốn nghiên cứu mối quan hệ giữa tử vong và sinh đẻ, ta nên xem xét các tài liệu về:

- Sinh đẻ - các khuynh hướng, lý thuyết, một số chỉ số so sánh và phê bình

về chúng, các nhân tố ảnh hưởng đến sinh đẻ, phương pháp hạn chế sinh đẻ, các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận các phương pháp tránh thai

- Tử vong – các yếu tố ảnh hưởng đến tử vong, chỉ số tử vong, khuynh hướng tử vong…

- Mối quan hệ giữa sinh đẻ và tử vong – các lý thuyết đã được đưa ra nhằm giải thích mối quan hệ, hàm ý về mố quan hệ đó

Ngoài việc xem xét tài liệu, còn cần phải xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu Về cơ bản, điều này nên xoay quanh các lý thuyết đã được giới thiệu

về mối quán hệ giữa tử vong và sinh đẻ Ta sẽ khám phá ra một số lý thuyết được

đề xướng nhằm giải thích mối quan hệ này Thí dụ mối quan hệ này được giải thích theo các khía cạnh kinh tế, tôn giáo, y học và tâm lý họ Ở mỗi khía cạnh, một số lý thuyết được đưa ra như: “thuyết bảo hiểm”, “lo sợ không sống sót”, “thuyết thay thế”, “thuyết giá cả”, “thuyết thiết thực” và “thuyết rủi ro”

Tài liệu nên được viết theo các đề mục sau, phần lớn liên quan đến việc kiểm nghiệm các mối quan hệ giữa sinh đẻ và tử vong:

Trang 33

Các lý thuyết về sinh đẻ;

Thuyết về chuyển tiếp nhân khẩu;

Các khuynh hướng sinh đẻ (toàn cầu, sau đó giới hạn nó ở cấp độ quốc gia và địa phương).

Các phương pháp tránh thai (sự chấp thuận và tính hiệu quả của chúng).

Các yếu tố ảnh hưởng đến tử vong.

Các khuynh hướng tử vong

Việc xác định các chỉ số tử vong và

Các mối quan hệ giữa sinh đẻ và tử vong (các thuyết khác nhau như được giới thiệu ở trên).

Hình 3.1 Phát triển khung lý thuyết – quan hệ giữa sinh đẻ và tử vong

Tài liệu thích hợp cho bài nghiên cứu có thể đề cập đến hai loại thông tin

Xây dựng khung khái niệm

Khung khái niệm bắt nguồn từ khung lý thuyết và thông thường tập trung vào một phần của khung lý thuyết đó Khung lý thuyết gồm có các lý thuyết hoặc vấn đề mà nghiên cứu của ta bám vào đó, trong khi đó khung khái niệm mô tả các khía cạnh được chọn từ khung lý thuyết để làm cơ sở cho bài nghiên cứu Thí dụ, trong thí dụ được trích dẫn ở hình 3.1, khung lý thuyết bao gồm tất cả các lý thuyết được đề cử nhằm giải thích mối quan hệ giữa sinh đẻ và tử vong Tuy vậy, ngoài những lý thuyết này, ta cần hoạch định để kiểm tra một thuyết duy nhất – thí dụ:

“nỗi lo sợ không tồn tại” Do đó, khung khái niệm phát triển ngoài khung lý thuyết

và liên quan đến đề tài cụ thể, liên quan đến thuyết “nỗi lo sợ không tồn tại”

Hoàn chỉnh tài liệu đã qua xem xét

Lúc này, tất cả công việc tiếp tục được làm là hoàn chỉnh tài liệu mà ta đã xem qua Một số người viết về nó dưới tiêu đề: “việc xem xét tài liệu” hay “tài liệu” Tác giả gợi ý mạnh mẽ rằng – không nên theo truyền thống này Tài liệu

Trang 34

nên được viết xoay quanh các chủ đề xuất hiện từ việc đọc (tài liệu) Các đề mục trình bày các chủ đề phải chính xác, mô tả được nội dung, và nên theo một tiến trình hợp lý Các tài liệu tìm được nên được tổ chức theo các chủ đề này, cung cấp nguồn tham khảo đến các dẫn chứng hoặc phản biện Các lập luận về mặt khái niệm phải rõ ràng, làm sáng tỏ các nguyên nhân thuận và chống, và đề cập đến các tìm tòi/kết quả thu được, khoảng trống và vấn đề chính yếu.

Tóm tắt chương

Xem xét tài liệu là một quá trình liên tục Nó bắt đầu trước khi hoàn tất đề tài nghiên cứu và tiếp tục cho đến khi hoàn thành báo cáo Có một nghịch lý khi xem xét tài liệu là – không thể thực hiện việc xem xét tài liệu có hiệu quả trừ khi ta đã thiết lập đề tài nghiên cứu tuy việc tìm kiếm tài liệu đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giúp ta thiết lập đề tài nghiên cứu Xem xét tài liệu làm cho việc nghiên cứu có được tính rõ ràng và hướng trọng điểm, cải thiện phương pháp luận

và mở rộng kiến thức của chúng ta

Việc xem xét tài liệu bao gồm nhiều bước: tìm kiếm tài liệu hiện có trong lĩnh vực nghiên cứu, luận xét tài liệu đã được lựa chọn, và xây dựng khung khái niệm sẽ là nền tảng của bài nghiên cứu Các nguồn chính để tìm kiếm tài liệu là sách và tạp chí Có vài nguồn cung cấp thông tin về các loại tạp chí khác nhau

CHƯƠNG 4: XÁC LẬP ĐÈ TÀI NGHIÊN CỨU

- Đề tài nghiên cứu

- Tầm quan trọng của việc xác lập một đề tài nghiên cứu

- Nguồn các đề tài nghiên cứu

- Các xem xét khi lựa chọn đề tài nghiên cứu

- Các bước xác lập đề tài nghiên cứu

- Xác định các mục tiêu nghiên cứu

- Xây dựng các định nghĩa vận hành

- Tóm tắt chương

Trang 35

Mục đích cốt lõi của chương này là chi tiết hoá quá trình thành lập đề tài Tuy vậy những nội dung cụ thể của quá trình này lại phụ thuộc vào:

- Khả năng (của ta) về phương pháp luận nghiên cứu

- Kiến thức về lĩnh vực của đề tài

- Hiểu biết về các vấn đề cần được khảo sát, và

- Phạm vi của trọng tâm nghiên cứu được xác định từ trước

Đề tài nghiên cứu

Nói rộng ra, bất kỳ vấn đề nào ta muốn có câu trả lời, bất kỳ phủ định hay khằng định nào ta muốn xác lập đều có thể trở thành một đề tài hay chủ đề nghiên cứu Tuy nhiên, cần nhớ rằng không phải tất cả mọi vấn đề đều có thể chuyển được thành các đề tài nghiên cứu Một số đề tài sẽ rất khó nghiên cứu Theo

Powers (1985): “Những vấn đề nghiên cứu tiềm tàng đều có thể xuất hiện từ các nền tảng thông thường, nhưng quá trình xác lập chúng một cách có ý nghĩa không phải là một việc dễ dàng” Đối với những người mới bắt đầu, việc thiết lập

một đề tài nào đó có lẽ sẽ dễ dàng nhưng thật ra nó đòi hỏi một lượng kiến thức đáng kể về chủ đề lẫn phương pháp luận nghiên cứu Khi xem xét cẩn thận vấn đề thì có lẽ tức khắc ta sẽ nhận ra được tính phức tạp của việc xác lập ý tưởng để

thành đề tài nghiên cứu Theo Yegidis và Weinback (1991): “Việc nhận diện và tiếp đó xác định một đề tài nghiên cứu dường như giống việc thực hiện các tác vụ nghiên cứu vốn có thể được tiến hành một cách nhanh chóng và dễ dàng Thế nhưng, điều đó thường không xảy ra”

Điều cốt lõi ở đây là đề tài đang được xác lập đó phải vượt qua được sự kiện kiểm định khoa học dưới dạng các thủ tục sẽ được yêu cầu thực hiện Vì vậy nên dành nhiều thời gian để suy nghĩ thấu đáo về đề tài

Tầm quan trọng của việc xác lập một đề tài nghiên cứu

Thành lập đề tài nghiên cứu là bước đầu tiên và quan trọng nhất của quá trình nghiên cứu Điều này giống như việc xác định đích đến trước khi bắt đầu một cuộc hành trình Thiếu đích đến, không thể nào tìm ra được đường đi chưa kể

Trang 36

không thể là lộ trình ngắn nhất – còn thiết đề tài nghiên cứu rõ ràng, không thể nào có được một kế hoạch chặt chẽ và kinh tế Đề tài nghiên cứu cũng giống như nền tảng của ngôi nhà Đối với ngôi nhà, kiểu dáng và thiết kế của nó phụ thuộc vào nền tảng - nếu nền tảng vững chắc toà nhà sẽ bền vững Đề tài nghiên cứu được xem như là nền tảng của công trình nghiên cứu Nếu đề tài được xác lập tốt

thì bài nghiên cứu sẽ tốt theo Theo Kerlinger: “Nếu muốn giải quyết một vấn đề thì ta phải biết tổng quát vấn đề đó là gì Có thể nói rằng phần lớn của vấn đề nằm ở chỗ - cần phải biết ta đang và sẽ làm gì”.

Phải có một ý tưởng rõ ràng về điều ta muốn tìm ra chứ không phải là những

gì ta nghĩ là ta phải tìm ra

Đề tài nghiên cứu có thể có nhiều hình thức, từ đơn giản đến phức tạp Cách thiết lập đề tài quyết định hầu hết mọi bước theo sau: kiểu thiết kế nghiên cứu, kiểu chiến lược lấy mẫu, các thiết bị nghiên cứu, kiểu phân tích… Việc xác lập đề tài cũng giống như “đầu vào” của việc nghiên cứu, còn “đầu ra” của việc nghiên cứu là chất lượng của báo cáo nghiên cứu cũng như tính xác thực ủa những quan

hệ hay hệ quả tìm ra - những điều này hoàn toàn phụ thuộc vào việc xác lập đề tài.Lúc khởi đầu thiết lập vấn đề, ta rất có thể bị lẫn lộn nhưng đây là điều bình thường và cũng là dấu hiệu của sự tiến bộ Cần nhớ rằng - nhầm lẫn thường xảy ra nhưng cũng lại là bước đầu tiên hướng đến dự rõ ràng của vấn đề Hãy dành thời gian cho việc thiết lập đề tài vì càng hiểu rõ đề tài nghiên cứu, về sau công việc càng dễ dàng Lưu ý, đây là bước quan trọng nhất

Nguồn đề tài nghiên cứu

Phần này có liên quan đặc biệt nếu chúng ta chưa chọn được chủ đề nghiên cứu và không biết phải bắt đầu từ đâu Còn nếu đã chọn được chủ đề có thể đọc tiếp phần kế tiếp

Hầu hết nghiên cứu về khoa học nhân văn đều xoay quanh bố chữ P - “4P”:

- Con người (people);

- Bản thân các vấn đề (problems);

Trang 37

- Các chương trình (programs); và

- Các hiện tượng (phenomena)

Nhấn mạnh vào yếu tố “P” cụ thể nào đó sẽ tùy vào từng bài nghiên cứu nhưng nói chung, trong thực tiễn đa số các bài nghiên cứu tối thiểu đều dựa vào

sự kết hợp của 2 yếu tố “P” Ta có thể chọn ra một nhóm cá nhân (tập thể hay cộng đồng) hoặc để xem xét sự tồn tại của các vấn đề nào đó nhằm minh định thái

độ trước các khía cạnh khác nhau của cuộc sống hoặc để xác lập tình trạng phổ biến của một hiện tượng nào đó Tiêu điểm của ta có thể là nghiên cứu một vấn

đề, một sự kết hợp hay bản thân một hiện tượng Chẳng hạn mối liên hệ giữa nạn thất nghiệp và tội phạm trên đường phó, giữa hút thuốc và bệnh ung thư, giữa sinh

đẻ và tử vong - được xây dựng trên nền tảng thông tin thu thập tử các cá thể, nhóm, cộng đồng hoặc tổ chức Trọng tâm của các nghiên cứu này là khám phá hay thiết lập các kết hợp hay quan hệ nhân quả Tương tự, có thể nghiên cứu nhiều khía cạnh khác nhau của một chương trình: tính hiệu dụng, cấu trúc, nhu cầu, sự hài lòng của khách hàng về chương trình… Để thực hiện điều này, phải sưu tầm thông tin từ những con người Yếu tố “people” cho ta “tập hợp nghiên

cứu” trong khi đó 3 yếu tố “P” khác cho ta “các lĩnh vực của chủ đề” Tập hợp nghiên cứu – cá thể, nhóm và cộng đồng – là những con người ta sẽ lấy thông tin Lĩnh vực chủ đề là một “vấn đề”, “chương trình” hay “hiện tượng” cần thu thập

thông tin Nghiên cứu kỹ càng hơn về bất kỳ chuyên ngành hay lĩnh vực nghề nghiệp nào đều cho thấy rằng hầu hết các nghiên cứu đều xoay quanh 4 yếu tố

“P” Các nguồn khác nhau của một đề tài nghiên cứu được liệt kê ở bảng 4.1

Bảng 4.1 Các nguồn đề tài nghiên cứu

Khía cạnh nghiên

Tập hợp nghiên

cứu Con người Các cá thể, tổ chức, nhóm, cộng đồng

Vấn đề Bài toán, tình huống, kết hợp, nhu cầu, tập

hợp, lịch sử…

Trang 38

Chương trình

Nội dung, cấu trúc, kết quả, thuộc tính, sự thoả mãn, người tiêu dùng, người cung cấp dịch vụ

Hiện tượng Mối quan hệ nhân quả, nghiên cứu bản

thân hiện tượng…

Nghiên cứu một khía cạnh của một chương trình có thể được tiến hành ở bất

kỳ lĩnh vực chuyên ngành nào Chẳng hạn như ta có thể đo lường tính hiệu dụng của một chương trình nào đó trong lĩnh vực y tế, giáo dục, công tác xã hội, quản

lý công nghiệp, sức khoẻ cộng đồng, chương trình phúc lợi… Tương tự ta cũng có thể đánh giá, đo lường ý kiến của các khách hàng về mọi mặt của chương trình trong các lĩnh vực trên

Hãy xem xét lĩnh vực chuyên ngành của bạn trong bối cảnh 4 “P” nêu trên

để nhận diện những điểm thú vị Đối với một chủ đề nghiên cứu, cần phải xem xét

một số khía cạnh ở cột “Nghiên cứu về” (Bảng 4.1 ở trên) dựa vào vấn đề, chương trình hay hiện tượng Thí dụ là một sinh viên y tế, sẽ có hàng loạt vấn đề, tình huống và kết hợp trong mỗi phân ngành Các vấn đề liên quan đến tốc độ lây

bệnh, chương trình tiêm chủng, tính hiệu dụng của phương pháp điều trị, hay các vấn đề có liên quan đến một chương trình sức khoẻ cụ thể nào đó đều có thể cho bạn một loạt đề tài nghiên cứu Tương tư, trong giáo dục, có một vài vấn đề: sự hài lòng của sinh viên về thầy cô giáo, phẩm chất của giáo viên giỏi, ảnh hưởng của gia đình vào kết quả học tập của học sinh và nhu cầu về cố vấn học tập của sinh viên sau đại học Bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều chia được thành các phân ngành và được xem xét để tìm ra một đề tài nghiên cứu Đa số các lĩnh vực đều có

thể dùng đến các phạm trù như đã liệt kê ở trên mặc dù các vấn đề và chương trình có thể khác biệt rất lớn tùy theo lĩnh vực chuyên ngành.

Những xem xét khi lựa chọn đề tài nghiên cứu

Cần cân nhắc kỹ càng khi lựa chọn đề tài nghiên cứu Điều đó giúp đảm bảo

có thể quản lý được công trình nghiên cứu và ta vẫn còn cảm hứng khi tiến hành

Trang 39

công việc Các xem xét đó là: sự thích thú, quy mô, đo lường các khái niệm, mức

độ hiểu biết, tính liên đới, tính sẵn sàng của dữ liệu và những vấn đề về đạo đức

* Sự thích thú - chọn một chủ đề thật sự cuốn hút: đây là một trong những cân nhắc quan trọng nhất Một công trình nghiên cứu thường tốn nhiều thời gian

và công việc sẽ đầy thử thách và có nhiều vấn đề không dự kiến được Nếu chọn một chủ đề không thực sự cuốn hút sẽ rất khó duy trì cảm hứng và vì vậy ảnh hưởng đến thời gian hoàn thành công việc

* Quy mô – nên có đủ lượng kiến thức về tiến trình nghiên cứu đề tài để có thể hình dung hết công việc có liên quan đến việc hoàn thành bài nghiên cứu dự kiến Giới hạn đề tài ở mức có thể quản lý được, cụ thể và rõ ràng Điều hết sức quan trọng là chọn lựa một chủ đề có thể quản lý được trong khuôn khổ thời gian

và nguồn lực sẵn có

* Đo lường các khái niệm - nếu có dùng đến một khái niệm nào đó trong bài nghiên cứu thì phải biết rõ các chỉ số của khái niệm đó và các phép đo lường tương ứng của nó Thí dụ, nếu muốn đo lường tính hiệu dụng của chương trình tăng cường sức khoẻ, thì phải biết rõ điều gì quyết định tính hữu dụng và nó được

đo lường ra sao Không nên sử dụng những khái niệm trong đề tài nghiên cứu mà không biết chắc cách thức đo lường Điều này không có nghĩa là không thể xây dựng một thủ tục đo lường ngay trong bản thân quá trình nghiên cứu Điều cần thiết là tại bước này bạn phải biết tương đối rõ về việc đo lường các khái niệm mặc dù trong khi hầu hết công việc đo lường sẽ được tiến hành trong suốt bài nghiên cứu

* Mức độ hiểu biết – hãy chắc rằng có được hiểu biết tương đối về các tác vụ mình sẽ làm trong quá trình nghiên cứu Ta có được cơ hội học hỏi và có thể nhận được giúp đỡ từ những người giám sát nghiên cứu và những người khác, nhưng chính ta cần phải làm hầu hết mọi việc

* Tính liên đới - chọn một đề tài có liên hệ với chuyên ngành của mình Đảm bảo rằng bài nghiên cứu của ta sẽ bổ sung thêm vào kho tàng kiến thức hiện có,

Trang 40

lấp khoảng trống hiện thời trong kiến thức của ngành hay hỗ trợ cho việc hoạch định chính sách ngành Điều này sẽ giúp duy trì cảm hứng trong nghiên cứu.

* Tính sẵn sàng của dữ liệu - nếu chủ đề nghiên cứu phải dùng đến các nguồn thông tin thứ cấp (sổ sách văn phòng, sổ sách khách hàng, báo cáo đã được xuất bản…) thì trước khi khẳng định lần cuối đề tài, phải đảm bảo các dữ liệu này sẵn sàng và nằm ở dạng thức mong muốn

* Các vấn đề đạo đức – là một cân nhắc quan trọng khác khi xác lập một đề tài nghiên cứu Khi tiến hành nghiên cứu, tập hợp nghiên cứu có thể bị: ảnh hưởng ngược do một số vấn đề (trực tiếp hay gián tiếp); không cho phép sự can thiệp từ ngoài; phải chia sẻ những thông tin nhạy cảm và riêng tư; hoặc sẽ chỉ đơn giản là những thí nghiệm Các vấn đề đạo đức ảnh hưởng như thế nào lên tập hợp nghiên cứu và được giải quyết ra sao cần được xem xét kỹ lưỡng ở giai đoạn xác lập đề tài nghiên cứu

Các bước xác lập đề tài nghiên cứu

Mặc dù thiết lập đề tài nghiên cứu là phần quan trọng nhất của một công trình nghiên cứu, có rất ít tài liệu mô tả chi tiết về các nguyên tắc hướng dẫn cụ thể Công việc này phần lớn tùy thuộc vào giáo viên môn phương pháp luận nghiên cứu hay chính ở sinh viên Tuy nhiên, có thể đưa ra một số hướng dẫn chung để xác lập một đề tài nghiên cứu nhằm hỗ trợ đáng kể cho những người mới bắt đầu nghiên cứu

Quá trình thiết lập đề tài nghiên cứu gồm một số bước Làm việc xuyên suốt các bước này giả định người nghiên cứu đã có một lượng kiến thức nhất định trong lĩnh vực rộng của công trình nghiên cứu Việc xem xét các tài liệu liên quan sẽ rất

có ích trong việc mở rộng cơ sở kiến thức mà ta phải có trước khi xác lập một đề tài Thiếu những kiến thức như thế có lẽ không thể xác lập rõ ràng đề tài được.Nếu chưa có một chủ đề nghiên cứu cụ thể nào, điều trước tiên là phải xác định lĩnh vực rộng mà ta quan tâm đến Kế tiếp, tự mình tiến hành một phiên động não để phân tích nó thành các lĩnh vực nhỏ hơn: viết ra giấy bất cứ điều gì xuất

Ngày đăng: 24/05/2014, 14:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Các kiểu nghiên cứu - nghiên cứu phương pháp suy nghĩ
Hình 1.2. Các kiểu nghiên cứu (Trang 11)
Hình 4.3. Xác lập một đề tài nghiên cứu: mối quan hệ giữa sinh sản và tử vong - nghiên cứu phương pháp suy nghĩ
Hình 4.3. Xác lập một đề tài nghiên cứu: mối quan hệ giữa sinh sản và tử vong (Trang 45)
Hình 5.5. Các biến số độc lập, phụ thuộc và ngoại lai trong quan hệ nhân quả - nghiên cứu phương pháp suy nghĩ
Hình 5.5. Các biến số độc lập, phụ thuộc và ngoại lai trong quan hệ nhân quả (Trang 56)
Hình 5.10. Các thuộc tính và thí dụ của bốn thang đo - nghiên cứu phương pháp suy nghĩ
Hình 5.10. Các thuộc tính và thí dụ của bốn thang đo (Trang 69)
Hình 7.5. Các nghiên cứu thực nghiệm và không thực nghiệm - nghiên cứu phương pháp suy nghĩ
Hình 7.5. Các nghiên cứu thực nghiệm và không thực nghiệm (Trang 89)
Hình 7.6. Ngẫu nhiên hoá trong các cuộc thí nghiệm - nghiên cứu phương pháp suy nghĩ
Hình 7.6. Ngẫu nhiên hoá trong các cuộc thí nghiệm (Trang 90)
Hình 7.7. Thiết kế sau – duy nhất - nghiên cứu phương pháp suy nghĩ
Hình 7.7. Thiết kế sau – duy nhất (Trang 92)
Hình 7.10. Thiết kế kiểm tra kép - nghiên cứu phương pháp suy nghĩ
Hình 7.10. Thiết kế kiểm tra kép (Trang 95)
Hình 7.12. Thiết kế trấn an - nghiên cứu phương pháp suy nghĩ
Hình 7.12. Thiết kế trấn an (Trang 100)
Bảng câu hỏi  dạng tập hợp - nghiên cứu phương pháp suy nghĩ
Bảng c âu hỏi dạng tập hợp (Trang 105)
Hình 11.2. Các loại lấy mẫu - nghiên cứu phương pháp suy nghĩ
Hình 11.2. Các loại lấy mẫu (Trang 160)
Hình 15.2a: Biểu đồ chữ nhật 2 chiều - nghiên cứu phương pháp suy nghĩ
Hình 15.2a Biểu đồ chữ nhật 2 chiều (Trang 242)
Hình 15.2c: Biểu đồ chữ nhật 2 chiều gồm hai biến số - nghiên cứu phương pháp suy nghĩ
Hình 15.2c Biểu đồ chữ nhật 2 chiều gồm hai biến số (Trang 243)
Hình 15.4: Biểu đồ thanh xếp chồng lên nhau - nghiên cứu phương pháp suy nghĩ
Hình 15.4 Biểu đồ thanh xếp chồng lên nhau (Trang 244)
Hình 15.5: Biểu đồ thanh 100% - nghiên cứu phương pháp suy nghĩ
Hình 15.5 Biểu đồ thanh 100% (Trang 245)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w