Luận văn Nghiên cứu phương pháp trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm soạn thảo hệ thống câu hỏi để kiểm tra đánh giá kiến thức phần giao thoa tán sắc ánh sáng của sinh viên Vật lý Cao đẳng Sư phạm đưa ra quy trình soạn thảo hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn, hệ thống các tiêu chuẩn ĐG đó là các tiêu chí về độ khó, độ phân cách, hệ số tin cậy,... để đánh giá bài trắc nghiệm. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trần Đăng Khoa
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN NHẰM SOẠN THẢO HỆ THỐNG CÂU HỎI ĐẺ KIỀM TRA ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC PHẦN "GIAO THOA - TÁN SẮC ÁNH SÁNG CỦA SINH VIÊN VẬT LÝ CAO ĐẲNG SƯ PHẠM
CHUYÊN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VẬT LÝ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS ĐỖ HƯƠNG TRÀ
TP HỒ CHÍ MINH – 2003
Trang 3đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô, bạn bè đồng nghiệp, sinh viên của trường Cao đẳng Sư phạm Tiền Giang và trường Cao đẳng Sư phạm Long An đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
TỔNG QUAN 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ 7
1.1 Quan niệm về kiểm tra đánh giá 7
1.2 Chức năng của kiểm tra đánh giá 8
1.3 Khái quát về các phương pháp KTĐG trong giáo dục 9
1.3.1 Các phương pháp đo lường và ĐG trong giáo dục hiện nay 9
1.3.2 Những ưu, nhược điểm của phương pháp TNKQ và TNTL 12
1.4 Trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn 14
1.4.1 Thế nào là trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn (MCQ) 14
1.4.2 Các bước cần làm khi soạn thảo một bài TNKQNLC 15
1.4.3 Cách trình bày và chấm một bài TNKQNLC 20
1.4.3.1 Các yêu cầu khi viết các câu hỏi TNKQNLC 20
1.4.3.2 Cách trình bày bài TNKQNLC 21
1.4.4 Đánh giá kết quả của một bài TNKQNLC 22
1.4.4.1 Các loại điểm của bài TN 22
1.4.4.2 Đánh giá kết quả bài TN theo phương pháp thống kê 23
1.4.4.3 Các chỉ số thống kê khi ĐG một bài TNKQNLC 24
Kết luận chương 1 27
Trang 5CHƯƠNG 2: SOẠN THẢO CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN ĐỂ KIỂM TRA KIẾN THỨC PHẦN GIAO THOA VÀ TÁN SẮC ÁNH
SÁNG 28
2.1 Nội dung kiến thức phần giao thoa và tán sắc ánh sáng 28
2.2 Cấu trúc nội dung phần giao thoa - tán sắc ánh sáng 31
2.3 Kiến thức phân giao thoa và tán sắc ánh sáng trong chương trình vật lý phổ thông 31
2.4 Những khó khăn và sai lầm của SV 34
2.5 Nội dung kiến thức và kỹ năng cần KTĐG 35
2.6 Soạn thảo hệ thông câu hỏi TNKQNLC phân giao thoa và tán sắc ánh sáng 41
Kết luận chương 2 46
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 48
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 48
3.2 Đối tượng thực nghiệm 48
3.3 Phương pháp thực nghiệm 48
3.4 Kết quả thực nghiệm 52
3.4.1 Đánh giá kết quả bài TN và mục tiêu bài TN 52
3.4.2 Đánh giá câu TN qua chỉ số độ khó và độ phân cách 58
3.4.3 Phân tích các câu TN theo chỉ số thống kê 65
3.4.4 Đánh giá tổng quát về bài TN 101
Kết luận chương 3 105
Trang 6KẾT LUẬN CHUNG 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 1: Bộ câu hỏi của bài trắc nghiệm 116
PHỤ LỤC 2: Bảng phân tích các tần số lựa chọn từng câu 139
PHỤ LỤC 3: Kết quả phân tích bài trắc nghiệm 145
PHỤ LỤC 4: Điểm từng câu và tổng điểm bài làm của sinh viên (điểm thô) 148
PHỤ LỤC 5: Câu trả lời tương ứng với 40 câu hỏi trên bài làm của sinh viên 150
Trang 7DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
4 TNKQNLC trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Kiểm tra đánh giá (KTĐG) giữ một vai trò quyết định đối với chất lượng đào tạo, đó
là khâu không thể tách rời mọi quá trình dạy học KTĐG tốt sẽ phản ánh đầy đủ việc dạy của thầy và việc học của trò, tạo thông tin phản hồi giúp giáo viên (GV) kịp thời điều chỉnh và hoàn thiện quá trình dạy học, đồng thời giúp người học tự đánh giá lại bản thân, nhìn nhận
bổ khuyết những thiếu sót của mình về môn học, giúp các cấp quản lý có cái nhìn khách quan hơn về chương trình, cách tổ chức đào tạo Chính vì KTĐG đóng vai trò quan trọng như vậy nên từ lâu việc nghiên cứu các phương pháp ĐG trong hệ thống giáo dục luôn được
sự quan tâm của các cấp quản lý, của thầy và trò
Các phương pháp dùng để KTĐG hiện tại còn bộc lộ một số yếu điểm như chưa bảo đảm được tính khách quan, chưa bao quát được chương trình và nhiều lí do chủ quan khác dẫn đến việc KTĐG ở các trường học nói chung và trường ĐH, CĐ nói riêng vẫn chưa đạt mục đích mong muốn Thí dụ như: tình trạng học tủ một số chương, một số phần trong thời gian ngắn trước ngày thi, thậm chí quay cóp nhằm đối phó với thi cử, điều này làm cho kết quả KTĐG không phản ánh trung thực kết quả dạy và học
Việc đổi mới phương pháp dạy học không thể tách rời với việc xem xét lại một cách toàn diện nhằm bổ sung, hoàn thiện các phương pháp KTĐG truyền thống, đồng thời nghiên cứu sử dụng phương pháp KTĐG của các nước trên thế giới để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường ĐH, CĐ [1]
Cũng như các bộ môn khác, việc KTĐG kết quả học tập của sv ở bộ môn vật lý Cao đẳng Sư phạm (CĐSP) từ trước tới nay thường thực hiện qua bài tự luận hay vấn đáp Những phương pháp này có ưu điểm như biết được khả năng suy luận của HS, nhưng nó cũng bộc lộ các nhược điểm là không bao quát được chương trình tốn nhiều thời gian làm bài và chấm bài không khách quan Trong khi đó phương
Trang 9pháp TNKQNLC với những ưu điểm của nó mà các phương pháp khác không có như: bao quát được chương trình, được chấm một cách khách quan, nhanh chóng Vì thế, những năm gần đây, xu hướng KTĐG bằng TNKQ, đặc biệt là phương pháp TNKQNLC đã được nghiên cứu và đề nghị sử dụng ngày càng rộng rãi vào nhiều lĩnh vực như tuyển sinh, thi học kỳ
Để góp phần nâng cao chất lượng KTĐG kết quả học tập bộ môn vật lý ở CĐSP, bên cạnh việc coi trọng các phương pháp KTĐG quen thuộc, truyền thống chúng tôi chọn đề tài:
"Nghiên cứu phương pháp TNKQNLC nhằm soạn thảo hệ thống câu hỏi để KTĐG kiến thức phần "giao thoa - tán sắc ánh sáng" của SV vật lý CĐSP"
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp TNKQNLC để soạn thảo hệ thống câu hỏi nhằm
KTĐG kết quả học tập các kiến thức phần giao thoa và tán sắc ánh sáng của SV vật lý
CĐSP Từ kết quả thực nghiệm, đánh giá tính giá trị và độ tin cậy của hệ thống câu hỏi và
chất lượng đào tạo SV vật lý về phần này
3 Giả thuyết khoa học
Nếu có một hệ thống câu hỏi được soạn thảo một cách khoa học theo phương pháp TNKQNLC phù hợp với mục tiêu dạy học và nội dung kiến thức phần giao thoa và tán sắc ánh sáng trong chương trình vật lý CĐSP thì có thể ĐG chính xác và khách quan kết quả học
tập của SV, góp phân nâng cao chất lượng dạy và học vật lý
4 Đối tượng nghiên cứu
Việc KTĐG kết quả học tập phần "giao thoa và tán sắc ánh sáng" của SV thông
qua hệ thống câu hỏi TNKQNLC
5 Giới hạn vấn đề nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu phương pháp TNKQNLC để soạn thảo hệ thống câu hỏi nhằm
KTĐG chất lượng học tập của SV khoa vật lý phần kiến thức giao thoa và tán sắc ánh sáng trong chương trình CĐSP của SV vật lý CĐSP Tiền Giang (Khóa 25
Trang 10và 26) và sv vật lý CĐSP Long An ( khóa 26)
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích đề tài, chúng tôi xác định các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về KTĐG nói chung và những cơ sở lí luận của phương pháp TNKQNLC
- Phân tích chương trình, nội dung kiến thức và kỹ năng cần đạt được thuộc phần giao thoa và tán sắc ánh sáng
- Vận dụng cơ sở lí luận, soạn thảo hệ thống câu hỏi TNKQNLC phần giao thoa và tán sắc ánh sáng trong chương trình vật lý CĐSP
- Thực nghiệm sư phạm để ĐG hệ thống câu hỏi đã soạn và ĐG việc học tập của sv
nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Nghiên cứu lí luận: Đọc và xử lí thông tin từ sách, báo, tạp chí về các vấn đề liên quan đến đề tài, đặc biệt là vấn đề KTĐG, đồng thời nghiên cứu nội dung, chương trình phần giao thoa và tán sắc ánh sáng ở CĐSP
- Thực nghiệm sư phạm: Để ĐG tính giá trị của hệ thống câu hỏi, hiệu quả của việc
sử dụng phương pháp TNKQNLC trong KTĐG kết quả học tập, phân tích mức độ nắm vững
kiến thức của SV
- Phương pháp thống kê toán học để xử lí, thống kê, ĐG kết quả thực nghiệm sư phạm
8 Đóng góp của đề tài
* Đóng góp về mặt khoa học: Đề tài nghiên cứu hệ thống lại các phương pháp KTĐG
và cách thức sử dụng phương pháp TNKQNLC để KTĐG kết quả học tập phần giao thoa và tán sắc ánh sáng trong một công trình nghiên cứu chuyên biệt
* Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Góp phần khẳng định tính ưu việt của phương pháp TNKQNLC trong
Trang 11KTĐG
- Góp thêm một công trình nghiên cứu hữu dụng về phương pháp ĐG
- Làm tài liệu tham khảo về KTĐG cho các bộ môn vật lý ở ĐH và CĐ
- Phục vụ cho nhu câu tìm hiểu vê phương pháp ĐG băng TNKQNLC
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về KTĐG
Chương 2: Soạn thảo câu hỏi TNKQNLC để KT kiến thức phần giao thoa và tán sắc ánh sáng
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Ngoài ra luận văn còn có 18 bảng, 24 hình , 5 phụ lục
Trang 12TỔNG QUAN
Dựa vào các tài liệu nghiên cứu, thi trên thế giới, các nước như Hoa Kỳ, Canada, Australia, Nhật Bản, Triều Tiên, Thái Lan đã nghiên cứu và tổ chức các hình thức thi TNKQ để xét tuyển vào đại học, cao học Ở miền Bắc nước ta, TNKQ đã được biết đến vào những năm 1960 thông qua những tài liệu nghiên cứu của Liên Xô Ở miền Nam, từ những năm 1964 đã có một số tài liệu hướng dẫn về soạn thảo TNKQ Từ năm 1971, ở miền Nam, trong kỳ thi tú tài, các môn Sử, Địa, Công dân có đề thi theo hình thức TNKQNLC Năm
1974, ở miền Nam thi tú tài bằng hình thức TNKQ cho tất cả các môn thi [61] Thời kỳ này tài liệu về TNKQ bằng tiếng Việt hầu như chưa có
Sau năm 1975, hình thức thi TNKQ bị lãng quên ngoại trừ một số môn như ngoại ngữ
Từ năm 1993, Bộ GD-ĐT đã tổ chức những hoạt động cụ thể như tổ chức nhiều cuộc hội thảo, seminer, mời các chuyên gia nước ngoài phối hợp tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Hà Nội nhằm nghiên cứu tìm hiểu phương pháp thi TNKQ, trong đó có phương pháp TNKQNLC, từ đó có nhiều bài báo, tài liệu nghiên cứu bàn luận về KTĐG và cũng đã
có những nghiên cứu đi sâu về vấn đề này
Đã có nhiều tài liệu và bài báo bàn về các định hướng KTĐG, làm rõ các khái niệm, các phương pháp TN cụ thể như: Vũ Trường Giang bàn về xây dựng và sử dụng câu hỏi TN tiêu chuẩn hóa đo kết quả học tập HS [4]; Lê Thị Mỹ Hà đã bổ sung làm rõ những khái niệm
về KTĐG [5]; Vũ Thị Huê bàn về việc sử dụng câu hỏi TN giáo dục [6]; Trân Minh Hằng với những đề nghị về cải tiên việc KTĐG nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở trường sư phạm [9]; Nguyễn Vũ Bích Hiền đề xuất về phương pháp ĐG kết quả học tập của HS bằng TNKQ [10]; Lê Phước Lượng [26] tìm hiểu năng lực học tập vật lý của SV nhờ TN tiêu chí theo mô hình Rasch với chương trình Quest; Nguyễn Ngọc Hợi - Phạm Minh Hùng [15] và
Trang 13Nguyễn Xuân Huỳnh [18] có những đề xuất phối hợp các phương pháp KTĐG, tăng cường TNKQ, xây dựng ngân hàng đề thi; Trần Kiều bàn về những yêu cầu cấp thiết và định hướng
về ĐG trong giáo dục [19]; Nguyễn Công Khanh đề xuất các phương pháp ĐG độ tin cậy của công cụ đo lường [20]; Nguyễn Văn Khải đề xuất về KTĐG môn vật lý ở phổ thông [21]; Nguyễn Văn Khải - Phạm Thị Ngọc Dung [22] và Cao Thị Thặng [37] đề xuất các hình thức sử dụng TNKQ sử dụng để KTĐG học tập vật lý và hóa học của HS phổ thông
Ở bậc ĐH, CĐ, Vũ Văn Hiền đã vận dụng phương pháp TNKQ vào KTĐG môn thổ nhưỡng- nông hóa [16]; Vũ Đình Luận đã xây dựng câu hỏi nhiều lựa chọn trong môn di truyền học ở CĐSP [25]
Với môn vật lý ở ĐH cũng có nhiều bài báo, công trình nghiên cứu như dùng phương pháp TNKQ để ĐG kết quả dạy học chương "Hiện tượng cảm ứng điện từ" của Nguyễn Quang Lạc - Nguyễn Bảo Hoàng Thanh [24]; ở ĐH Đà Nang đã thử nghiệm hệ thống câu hỏi TNKQNLC ở các phần cơ, nhiệt, điện, quang - vật lý lượng tử để đánh giá SV cuối học
kỳ [35]; Nguyễn Bảo Hoàng Thanh đã so sánh giữa TNKQ và TNTL trong KTĐG dạy học vật lý [36] và tìm hiểu mối quan hệ giữa KTĐG định kỳ với kết quả học tập môn vật lý [38] Luận án Tiến sĩ Lê Phước Lượng về xây dựng mô hình dự báo kết quả học tập vật lý đại cương A1 để đánh giá hiệu quả dạy học [56]
Với những ưu điểm của TNKQNLC như: bao quát toàn bộ chương trình, được chấm một cách khách quan, nhanh chóng thi việc nghiên cứu nó để đưa vào KTĐG không riêng gì trường phổ thông mà ở các trường CĐ và ĐH là việc làm cần thiết Tuy nhiên, việc nghiên cứu phương pháp TNKQ để xây dựng hệ thống câu hỏi về phần quang học sóng ở bậc CĐSP còn chưa được đề cập
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
1.1 Quan niệm về kiểm tra đánh giá
KTĐG được hiểu là sự theo dõi, tác động của người KT đối với người học nhằm thu được những thông tin cần thiết để ĐG ĐG có nghĩa là xem xét mức độ phù hợp của một tập hợp các thông tin thu được với một tập hợp các tiêu chí thích hợp với mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra quyết định theo một mục đích nào đó
KT nhằm cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ sở cho việc ĐG còn ĐG là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc
Trong dạy học và giáo dục, KTĐG là một bộ phận hợp thành không thể thiếu của quá trình giáo dục, nó bao gồm các yếu tố: xác định mục tiêu giáo dục, soạn thảo và thực hiện chương trình, KTĐG là một chỉnh thể tạo thành một chu trình kín
Có nhiều cách định nghĩa về ĐG nhưng đều thống nhất rằng: "ĐG trong giáo dục là
quá trình thu thập và xử lí kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo" [5]
Như vậy ĐG là một quá trinh, nó được thực hiện bởi hệ thống phương pháp và hình thức nhất định
Khi phân tích quá trình ĐG người ta còn đề cập tới các khái niệm Đo - Lượng giá -
ĐG
* Đo: theo nghĩa rộng là dùng phương tiện để thu thập dữ liệu về đặc tính hành vi của
con người một cách có hệ thống, là khái niệm dùng chỉ sự so sánh một vật hay một hiện tượng với một thước đo hoặc chuẩn mực, có khả năng trình bày
Trang 15kết quả về mặt định lượng Trong dạy học đó là việc GV gắn các điểm số cho sản phẩm của
HS thể hiện kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà HS đạt được Trong giáo dục, phép đo có đặc tính
là các phép đo chỉ được thực hiện một cách gián tiếp qua hành động, qua kết quả hoàn thành nhiệm vụ, các bài tập; các phép đo bao gồm cả mặt định tính và định lượng đồng thời các biến số cần đo luôn thay đổi và đôi khi khó kiểm soát Tuy nhiên việc đo liên quan đến dụng
- Độ nhạy: là khả năng có thể phân biệt hai đại lượng chỉ khác nhau rất ít
* Lượng giá là việc giải thích các thông tin thu được về kiến thức, kỹ năng của HS,
thấy được trình độ tương đối của một HS so với thành tích chung của tập thể HS (lượng giá theo chuẩn); hay so với yêu cầu của chương trình (lượng giá theo tiêu chí) Lượng giá không
nhất thiết dựa vào TN đo lường, điểm số, xếp loại
* ĐG là khâu tiếp sau khâu lượng giá, là việc đưa ra những kết luận, nhận định, phán
đoán về thực chất trình độ người học xét ương mối quan hệ với quyết định cần đưa ra theo
mục đích đã định của KTĐG
Trong dạy học vật lý, việc KTĐG phải hướng vào việc xác định trình độ kiến thức,
kỹ năng vật lý cơ bản, sự phát triển trí tuệ và niềm tin của HS Việc KTĐG phải căn cứ vào mục đích, nội dung và phương pháp dạy học vật lý và trình độ HS ở từng giai đoạn bài học vật lý, của chương và môn vật lý Việc KTĐG phải căn cứ vào nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của từng nội dung vật lý để lựa chọn nội dung và hình thức KTĐG phù hợp
1.2 Chức năng của kiểm tra đánh giá
Tùy theo mục đích KTĐG người ta có thể phân biệt các chức năng khác nhau của KTĐG GS Trần Bá Hoành đề cập đến ba chức năng của KTĐG [50]:
Trang 16* Chức năng sư phạm: làm sáng tỏ thực trạng, định hướng điều chỉnh hoạt động dạy
và học
* Chức năng xã hội: công khai hóa kết quả học tập của HS
* Chức năng khoa học: nhận định chính xác về một mặt nào đó trong thực trạng dạy
và học, về hiệu quả thực nghiệm một sáng kiến nào đó trong dạy học
Trong phạm vi nghiên cứu của mình, chúng tôi chủ yếu quan tâm đến chức năng sư phạm của KTĐG đó là làm sáng tỏ thực trạng của việc dạy học đưa đến những định hướng điều chỉnh hoạt động dạy và học
Nếu chỉ quan tâm đến chức năng sư phạm của KTĐG có thể kể đến 3 chức năng chính như sau:
- Chức năng chẩn đoán (ĐG tiên nghiệm): Các bài KT được sử dụng như phương
tiện thu lượm thông tin cần thiết xác định nội dung, mục tiêu và phương pháp dạy học tiếp theo cho phù hợp Đồng thời cho phép đề xuất, bổ khuyết những sai sót, phát huy những cải
tiến trong hoạt động dạy học
- Chức năng chỉ đạo định hướng hoạt động dạy học (ĐG quá trình): Các bài KT được
sử dụng như phương tiện, phương pháp dạy học (dạy bằng cách KTĐG) Đối với người dạy, căn cứ vào tiêu chí ĐG, mục tiêu dạy học cụ thể để đề ra những câu hỏi KT có tác dụng như biện pháp tích cực để chỉ đạo hoạt động dạy học Với người học, các câu hỏi được sử dụng như một biện pháp tích cực để chỉ đạo hoạt động học, có tác dụng định hướng hoạt động học
tập tích cực tự chủ của người học
- Chức năng xác nhận thành tích học tập, hiệu quả dạy học (ĐG tổng kết): Các bài
KT được sử dụng để ĐG thành tích học tập, xác nhận trình độ và kiến thức kỹ năng của
người học Dựa vào đó có thể xếp loại, chọn lọc học viên, xét lên lớp v.v
1.3 Khái quát về các phương pháp KTĐG trong giáo dục
1.3.1 Các phương pháp đo lường và ĐG trong giáo dục hiện nay
"Ở đâu có đo lường ở đó bắt đầu có khoa học"(Mendeleep) Trong cuộc sống
Trang 17hằng ngày, từ ngàn xưa người ta đã biết đến những phương pháp thẩm định và đo lường Trong giáo dục, để đo lường thành quả học tập của HS, người ta cũng định ra các phương pháp đo lường ngày càng chính xác, các kỹ thuật thẩm định trong giáo dục cũng được hoàn thiện Tuy nhiên việc đo lường trong giáo dục cần coi trọng cả mặt định tính lẫn định lượng Nhờ các phương pháp định lượng phát triển, nhiều tiến bộ quan trọng trong giáo dục đã được thực hiện trong thế kỷ qua
Các phương pháp dùng để thẩm định đo lường liên quan đến ĐG trong giáo dục có thể chia thành 2 loại: (1) phương pháp TN và (2) phương pháp quan sát hành vi có được trong hoạt động học tập Mặc dù vậy, trong việc KTĐG ở nhà trường phương pháp TN là phương pháp được sử dụng nhiều hơn cả
Hình 1.1: Sơ đồ các phương pháp KTĐG trong giáo dục
* Phương pháp quan sát sư phạm, sử dụng trong trường hợp cần ghi lại những nét độc
đáo về tính cách, thái độ, hành vi, tình huống xẩy ra trong dạy học, chúng
Trang 18thường không có tiêu chuẩn đồng nhất khi ĐG nên thường dùng cho việc ĐG HS nhỏ tuổi, hoặc có hứng thú đặc biệt Ngược lại, trong trường hợp để ĐG kỹ năng thực hành của HS khi thực hiện các công tác như nhau, ví dụ như ĐG kỹ năng thí nghiệm thực hành môn vật lý thì cần có các tiêu chuẩn đồng nhất
Trong phương pháp TN, người ta có thể chia thành các phương pháp nhỏ sau: (1) Phương pháp vấn đáp, (2) Phương pháp viết
*Phương pháp vấn đáp là người dạy và người học đối thoại trực tiếp với nhau, chính
vì vậy mà người dạy có thể KTĐG được người học về mức độ thu nhận kiến thức, biết được khả năng tư duy của người học Nhược điểm của phương pháp này là kết quả ĐG theo chủ quan của người thầy, tốn nhiều thời gian, không thể KT một lúc hết các nội dung kiến thức
* TNTL là hình thức KTĐG trong đó người học tự viết ra để trả lời yêu cầu của người
dạy dưới dạng một bài luận hay tiểu luận nó bao gồm cả các hình thức thi cử như gồm câu hỏi lí thuyết và bài toán mà HS phải trả lời dưới dạng một bài viết trong một khoảng thời
gian đã định trước Đây là phương pháp thông dụng nhất hiện nay
* TNKQ là phương pháp ĐG kết quả học tập của HS bằng các câu hỏi TNKQ Thuật
ngữ "khách quan" để chỉ tính chất khách quan khi chấm bài không như TNTL, bởi vì kết quả
chấm điểm ở 1 bài làm sẽ như nhau, không phụ thuộc vào việc ai chấm bài Tuy nhiên về nội
dung, cấu trúc, đặc điểm các câu hỏi có bị ảnh hưởng bởi tính chất chủ quan của người soạn câu hỏi
Trong loại TNKQ dựa vào hình thức đặt câu hỏi người ta có thể kể đến các loại thông dụng sau:
* TN đúng - sai: chỉ gồm hai lựa chọn (đúng hoặc sai), đó là loại TN đơn giản nhất có
khả năng sử dụng rộng rãi nhưng khả năng phân biệt rất thấp và tính chính xác bị ảnh hưởng
khi ĐG
* TN loại câu điền khuyết là loại TN có những khoảng trống để người học điền vào
thường là một hay hai từ Câu hỏi rõ ràng chính xác và chỉ dẫn đến một câu trả
Trang 19lời đúng
* TN đối chiếu cặp đôi là loại TN có hai cột, mỗi cột có số danh từ, câu xác định
HS phải ghép những câu hay từ nào của bên cột này tương ứng với câu hay từ nào của cột kia
* TN câu hỏi và trả lời ngắn, câu hỏi loại này phải ngắn gọn để chỉ trả lời bằng một
từ hay một câu ngắn Câu hỏi phải rõ ràng chính xác và chỉ dẫn đến một câu trả lời đúng
* TNKQNLC (MCQ) là loại câu hỏi TN gồm một câu phát biểu căn bản về nội dung
câu hỏi gọi là câu dẫn cùng các câu trả lời cho sẵn gọi là câu chọn (thông thường từ 4 đến 5
câu chọn) Nhiệm vụ HS phải chọn câu trả lời đúng nhất, các câu còn lại là câu mồi
1.3.2 Những ưu, nhược điểm của phương pháp TNKQ và TNTL
TNKQ và TNTL đều có thể đo được trình độ lập luận, tuy nhiên, phần lớn TNKQ chỉ đòi hỏi nhận biết câu trả lời đúng nhất trong các câu cho sẵn hoặc trả lời ngắn, còn TNTL ngoài sự nhận biết còn phải hiểu và diễn đạt bằng ngôn ngữ của chính mình (trả lời dài)
Bài TNKQ gồm nhiều câu hỏi bao trùm kiến thức trong khi bài TNTL ít câu hỏi nhưng kiến thức hẹp rất sâu
Bài TNKQ học sinh dành nhiều thời gian để đọc và suy nghĩ, trong bài TNTL học sinh dành phần lớn thời gian suy nghĩ và viết
Chất lượng của bài TNKQ xác định phần lớn phụ thuộc kỹ năng soạn thảo bài TN trong khi chất lượng bài TNTL phụ thuộc chủ yếu vào kỹ năng người chấm
Bài thi TNLT tương đối dễ soạn nhưng khó chấm, khó cho điểm chính xác trong khi bài thi TNKQ khó soạn nhưng việc chấm cho điểm tương đối dễ và chính xác hơn
Bài thi TNKQ đôi khi dễ tạo sự "đoán mò", ngược lại bài TNTL lại dễ tạo ra Sự "lừa phỉnh" che lấp những điều HS không biết rõ
Sự phân bố điểm số của người học trong bài thi TNTL do người chấm ấn định
Trang 20(điểm tối đa, tối thiểu) trong khi bài TNKQ sự phân bố điểm số của người học được quyết định hoàn toàn do bài TN
Bài TNTL đòi hỏi HS phải sắp xếp cách trả lời còn bài TNKQ ít quan tâm đến việc sắp xếp ấy mà quan tâm đến xây dựng nền tảng kiến thức kỹ năng
Việc soạn câu hỏi TNKQ tốn công sức, mất nhiều thời gian trong khi soạn câu hỏi TNTL lại ít tốn công sức
Việc chấm bài TNTL là công việc khó khăn, mất nhiều thời gian nhưng việc chấm đó tạo cơ sở cho GV đánh giá tư duy của HS TNKQ thi đơn giản, ai cũng có thể chấm và cho kết quả như nhau
Từ những khác biệt của TNTL và TNKQ ta có thể nhận định về ưu thế của TNTL và TNKQ theo bảng 1.1
Trong xu thế phát triển của khoa học giáo dục và lí luận dạy học, vấn đề KTĐG cần được đổi mới và nghiên cứu hoàn thiện Hiện tượng vi phạm tính khách quan trong KTĐG hiện nay còn khá phổ biến Để khắc phục tình trạng đó, một trong những hướng đổi mới cách KTĐG là kết hợp nhiều hình thức, đặc biệt là kết hợp giữa TNTL với TNKQ
Trang 21Với hình thức tự luận, cần phải xác định tiêu chuẩn để ĐG, đây là vấn đề phức tạp và trừu tượng, có thể hiểu đó là một đơn vị để "cân, đong, đo, đếm" các "đơn vị kiến thức" theo mức độ từ nội dung khái quát đến nội dung chi tiết Việc KTĐG với những đề thi TNTL thường bộc lộ nhược điểm như không thể phản ánh toàn bộ nội dung chương trình, gây tâm
lý học tủ, dạy tủ, GV còn mang nặng tính chủ quan khi ĐG cho điểm
Để nâng cao tính khách quan khi KTĐG, nhiều tác giả cho rằng nên sử dụng TNKQ, nếu xây dựng và sử dụng có hiệu quả ngân hàng câu hỏi thi trong chừng mực nhất định có thể khắc phục hạn chế của hình thức TNTL
Việc kết hợp hình thức thi TNTL với hình thức thi TNKQ chẳng những nâng cao tính khách quan trong KTĐG mà còn tiết kiệm thời gian, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục và đào tạo, mỗi loại hình có ưu, nhược điểm, chúng bổ trợ và không thể dùng hình thức KT này thay thế hoàn toàn hình thức KT khác
1.4 Trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
1.4.1 Thế nào là trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn (MCQ)
TNKQNLC là một bài TNKQ trong đó có nhiều câu trả lời cho một câu hỏi của bài
TN nhưng chỉ có một câu trả lời là đúng nhất Câu phát biểu căn bản về nội dung câu hỏi gọi
là câu dẫn, các câu trả lời cho sẵn gọi là câu chọn (thông thường từ 4 đến 5 câu chọn) Nhiệm
vụ HS phải chọn câu trả lời đúng nhất Có thể xem câu hỏi MCQ gồm có bốn bộ phận chính:
+ Phần gốc thường là một câu hỏi hay câu khuyết bao hàm ý nghĩa một câu hỏi + Phần lựa chọn có bốn đến năm câu trả lời cho trước, nếu không suy nghĩ, phân tích thì không phát hiện được câu sai
+ Câu đúng là câu trả lời đúng nhất
+ Câu mồi (câu nhiễu) là các câu còn lại, thường có vẻ là câu trả lời đúng, nếu không suy nghĩ và cân nhắc thì sẽ chọn sai
Trang 22Điểm cho mỗi câu TN khi trả lời đúng là 1, trả lời sai là 0 Bài TN được chấm điểm bằng cách đếm tổng số câu trả lời đúng trong tổng số câu của toàn bài TNKQNLC có những
ưu, nhược điểm sau:
+ Chấm bài nhanh, khách quan
+ Khuyến khích HS tích lũy kiến thức
+ Hạn chế quay cóp khi thi, HS tự giác học tập tránh học tủ, đối phó
Nhược điểm:
+ Khó ĐG được khả năng diễn đạt, tư duy sáng tạo
+ Do mỗi câu hỏi cần có nhiều câu trả lời kèm theo trong đó chỉ có một câu đúng nhất còn các câu khác có độ hấp dẫn như nhau nên việc ra đề khó khăn và tốn nhiều thời gian, người ra đề phải có nhiều kinh nghiệm và hiểu sâu sắc kiến thức
+ Khó KT được các kỹ năng thực hành, thí nghiệm
Ngày nay, xã hội đang yêu cầu cải tiến việc thi cử, ĐG khách quan, công bằng, tiết kiệm thời gian và công sức nên việc nghiên cứu phương pháp ĐG này để đưa vào sử dụng là việc làm rất cần thiết
1.4.2 Các bước cần làm khi soạn thảo một bài TNKQNLC
* Xác định mục tiêu chung cần đạt được trong quá trình dạy học
Dù TN sử dụng cho mục đích nào thì việc đo lường thành quả học tập cần được hiểu
là đo lường mức độ đạt đến mục tiêu dạy học, vì vậy nội dung và cấu trúc bài TN phải được đặt trên cơ sở các mục tiêu dạy học Tuy nhiên một bài TN không thể đo lường hết mọi mục tiêu, ở đây chỉ nói đến những mục tiêu có thể đo được
Trang 23* Phân tích nội dung kiến thức để xác định mức độ kiến thức và kỹ năng cần KTĐG
Dựa trên việc nghiên cứu nội dung kiến thức, phát biểu thành những ý tưởng cốt lõi, những vấn đề khái quát, những mối liên hệ, những nguyên lí để lựa chọn nội dung cần KTĐG, việc này cần tiến hành theo các bước:
- Đọc sách giáo khoa để nắm toàn bộ nội dung kiến thức trình bày trong phần nghiên cứu, từ đó xác định loại kiến thức và các kiến thức chủ yếu
- Xác định cấu trúc logic giữa các yếu tố cơ bản hình thành nên kiến thức
- Xác định mức độ kiến thức, kỹ năng cần đạt được
Để giải nghĩa được ý tưởng cốt lõi, cần phải lựa chọn các khái niệm và các mối liên
hệ giữa các khái niệm, định luật cần nắm vững để đạt được mục tiêu dạy học
* Xác định những kiến thức sai lầm mà HS có thể gặp phải
Với mục đích KTĐG kết quả học tập của HS, việc xác định các kiến thức HS dễ mắc sai lầm để soạn thảo câu hỏi sao cho tạo cơ hội phát hiện ở người học các sai lầm có thể mắc phải nếu họ nắm chưa kỹ các phần kiến thức đó Đây là điều rất quan trọng vì quá trình học tập là quá trình vượt qua những trở ngại và sai lầm
Theo TS Dương Thiệu Tống [61], để đo lường được cần đạt 6 yêu cầu khi phát biểu mục tiêu đó là: (1) phải rõ ràng, cụ thể; (2) phải đạt tới được trong khóa học hay đơn vị học tập; (3) phải bao gồm nội dung học tập thiết yếu của môn học (4) kết quả học tập và mục tiêu phải được xác định bằng các động từ; (5) phải đo
Trang 24lường được; (6) phải chỉ rõ những gì người học có thể làm được vào cuối giai đoạn học tập (hay nói cách khác, mục tiêu phải được phát biểu đối với người học)
Dựa vào các lĩnh vực khác nhau của hoạt động học người ta chia thành 3 lĩnh vực của học tập:
- Lĩnh vực nhận thức: Kiến thức, hiểu biết, vận dụng
- Lĩnh vực cảm xúc (tình cảm): Phản ứng, thu nhận, coi trọng
- Lĩnh vực kỹ năng: Khả năng, hành động, thực thi
Mục tiêu có thể được xây dựng cho từng lĩnh vực học tập, bên trong chúng có thể chia thành các thứ hạng, cấp bậc khác nhau từ thấp đến cao
Trong khuôn khổ sử dụng để soạn thảo bài TNKQNLC, ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến lĩnh vực nhận thức Ở lĩnh vực này, B.S.Bloom và các đồng sự [44],[45] đã căn cứ trên các chức năng trí tuệ cơ bản từ thấp đến cao để chia thành quả học tập lĩnh vực nhận thức của các mục tiêu dạy học thành 6 bậc như sau:
+ Nhận biết: Ghi nhớ được các khái niệm, sự việc, phương pháp, nguyên lí tức là các
thông tin có tính chất chuyên biệt mà một HS có thể nhớ hay nhận ra và có khả năng xác định, mô tả, tái hiện lại
+ Thông hiểu: Bao gồm cả ghi nhớ nhưng ở mức cao hơn ghi nhớ; nó liên quan đến
khái niệm, ý nghĩa và các mối liên hệ của những gì HS đã biết, đã học, phải giải thích được, minh họa được, tóm tắt và viết lại được những nguyên lý, sự việc theo ngôn ngữ riêng của mình
+ Vận dụng: Người học phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp,
nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó Khả năng này được đo khi tình huống đặt ra và người học phải quyết định sử dụng nguyên lý nào và áp dụng như thế nào với tình huống như vậy
+ Phân tích: Phân chia các vấn đề trong một mối liên kết đã có thành các phần nhỏ,
để phân biệt, nhận biết, chọn lọc
Trang 25+ Tổng hợp: Có khả năng sắp xếp các bộ phận lại thành một tổng thể mới, viết được
một chủ đề với bố cục hợp lý, đề xuất được một kế hoạch, giải quyết được những vấn đề phức tạp
+ Đánh giá: Phán xét giá trị của các tư liệu với một chủ đề mục đích xác định, ĐG
được giá trị của vấn đề, sự việc, kết luận, so sánh, phê phán, giải thích được hiện tượng, sự việc, nguyên lý
Cách phân loại của B S Bloom là lối phân loại phổ biến trên thế giới hiện nay và không ngừng được cải tiến và khai triển
Trong đề tài này chúng tôi chú trọng đến ba cấp độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng
* Lập bảng phân bố các câu hỏi và lựa chọn câu hỏi
Sau khi xác định được mục tiêu và nội dung từng phần, cần phải xác định số lượng câu hỏi Một bài TN cần có bao nhiêu câu hỏi mới đủ ? Nhìn chung, càng có nhiều câu hỏi, thì các điểm số từ bài TN càng đáng tin cậy, tuy nhiên có 2 yếu tố chi phối số lượng câu hỏi của một bài TN đó là: thời gian dành cho làm bài và loại câu TN sử dụng, nghĩa là mức độ phức tạp của quá trình tư duy để trả lời câu hỏi và thói quen làm việc của HS Cách tốt nhất
là rút kinh nghiệm từ những bài TN tương tự với lớp học khác Trường hợp không có những lớp như vậy ta có thể giả định về thời gian cần thiết để làm xong một câu hỏi
Thông thường thời gian ấn định cho một bài TN là 1 đến 2 giờ, có thể kéo dài hơn nhưng không quá 3 giờ để tránh sự mệt mỏi của HS Có 2 loại TN:
- TN tốc định: với loại này HS phải làm nhanh và đúng, bài TN loại này thường có rất nhiều câu hỏi, người ta không có hy vọng làm hết các câu nhưng điều cần thiết là làm càng nhiều càng tốt
- TN khả lực: bài TN phải soạn sao cho HS đủ thời gian đọc và trả lời câu hỏi theo tốc độ bình thường Tốc độ làm nhanh không phải là mục tiêu chính của việc
Trang 26giảng dạy và ĐG mà ngược lại, chính do tốc độ đòi hỏi sẽ tạo nên một áp lực tâm lý khiến
HS lo lắng, mất bình tĩnh dẫn đến kết quả đo lường không phản ánh đúng cái cần đo
Vấn đề quan trọng là làm sao cho số câu hỏi trong bài TN phải tiêu biểu cho toàn bộ kiến thức mà ta đòi hỏi ở HS qua môn học hay bài học Số câu hỏi trong một bài TN dù nhiều bao nhiêu cũng chỉ là một "mẫu" trong toàn thể "dân số" các câu hỏi thích hợp với nội dung và mục tiêu muốn khảo sát Cho nên một bài TN có rất nhiều câu hỏi chưa hẳn là bài
TN có giá trị Để giải quyết vấn đề này ta sử dụng bảng phân bố câu hỏi (ma trận hai chiều)
Bảng phân bố câu hỏi (ma trận hai chiều) là công cụ hữu ích giúp người soạn thảo chuẩn bị số lượng câu hỏi phù hợp với mục tiêu dạy học Trong bảng này, một chiều biểu thị cho nội dung và chiều kia là mục tiêu biểu thị cho quá trình tư duy được chứa đựng trong hành vi mà bài TN muốn khảo sát Bảng này phải được chuẩn bị xong trước khi viết các câu hỏi Ví dụ để khảo sát kết quả của một môn học, hình thức của ma trận hai chiều có thể như bảng 1.2
Tùy thuộc vào tính chất quan trọng của từng nội dung và mục tiêu mà quy định số lượng câu hỏi nhiều hay ít cho từng phần, tầm quan trọng được biểu thị bằng số câu hỏi được phân bố, ma trận này cho ta một hệ thống chi tiết hợp lí để phân loại câu hỏi theo một thứ bậc các mục tiêu trong dạy học, nhờ đó nâng cao được độ giá trị và độ tin cậy cho bài TN
Tùy theo nội dung giảng dạy và yêu cầu KTĐG mà lựa chọn câu hỏi định tính hay định lượng, câu hỏi có nội dung phân tích, tổng hợp, so sánh, áp dụng Các câu hỏi cũng phải thoa mãn độ khó, phù hợp với yêu cầu mục tiêu môn học và phù hợp với trình độ nhận thức của HS
Trang 27Bảng 1.2: Bảng phân bố câu hỏi
Tổng hợp
Đánh giá
Tổng cộng Nội dung
1.4.3.1 Các yêu cầu khi viết các câu hỏi TNKQNLC
Khi viết câu hỏi TNKQNLC cân lưu ý các yêu câu:
- Thỏa đáng về nội dung: Nội dung câu hỏi cần sát hợp với các mục tiêu, mỗi câu hỏi
nên gắn với một mục tiêu nhất định, có như vậy chúng ta mới hy vọng đo được cái cần đo
- Sáng sủa về hình thức diễn đạt: các câu hỏi phải được diễn đạt một cách sáng sủa,
đúng từ ngữ và rõ ràng về ngữ nghĩa cả câu đúng, câu sai (câu mồi) cũng phải rõ nghĩa
Tránh những cụm từ có nghĩa chung chung hay mơ hồ như: "có lẽ", "có thể", "đôi khi" làm
HS có thể đoán cách trả lời Mặt khác câu hỏi phải tự mang đầy đủ ý nghĩa chứ không tuy
thuộc cách kết hợp với nội dung trả lời mới đầy đủ ý nghĩa
- Tránh các yếu tố quyết định cụ thể: tránh các đầu mối dẫn tới câu trả lời sẵn có
trong câu hỏi nhưng không thích hợp với mục đích câu hỏi Hoặc cách đặt câu hỏi lại chỉ ra
câu trả lời
- Cần rà soát lại câu hỏi: việc này giúp ta tìm ra những thiếu sót, sai lầm, có thể nhờ
các chuyên gia, đồng nghiệp để phát hiện ra những từ ngữ mà có thể làm nội dung câu được hiểu khác đi
Trang 281.4.3.2 Cách trình bày bài TNKQNLC
Có nhiều cách trình bày:
- Viết bài TN lên phim rồi dùng máy chiếu chiếu lên màn ảnh từng phần hay từng câu
trong những khoảng thời gian ấn định đủ cho HS trả lời
- In bài TN ra thành nhiều bản, với những câu hỏi giống nhau nhưng thứ tự các câu
hỏi ấy bị đảo lộn, hoặc không đảo lộn, mỗi người dự thi có 1 bản, tránh thất thoát bài thi,
tránh những lỗi in sai, trình bày sao cho dễ đọc
Có 2 loại bài TN:
- Bài TN có phần trả lời ngay trên đề thi, thường ở phía bên phải hoặc bên trái đề thi, loại này có ưu và nhược điểm sau:
Ưu điểm:
+ HS không thể đánh nhầm câu này qua câu khác
+ GV có thể dùng bài TN để giải thích những sai sót cho từng HS
Nhược điểm:
+ Bài TN này chỉ sử dụng được một lần (vì HS đã viết lên bài)
+ Phải lật từng trang mất nhiều thời gian
+ Không thể dùng máy để chấm
- Bài TN có bảng trả lời riêng biệt Mỗi HS được phát một phiếu trả lời riêng biệt vào câu với câu hỏi tương ứng trên bài TN Phương pháp này khá thông dụng và tiện lợi có thể
sử dụng lại bài TN nhiều lần, bài làm có thể chấm nhanh bằng máy hay bằng tay
Đối với bài TNKQNLC muốn đếm câu đúng nhanh và chính xác người chấm phải soạn phiếu chấm bằng bìa cứng, đục lỗ ở những vị trí câu đúng
Trước khi đặt bìa cứng đục lỗ áp lên bảng trả lời của HS đếm số gạch chéo hiện ra trên lỗ đục và ghi điểm cần chú ý loại bỏ các câu mà HS đánh dấu 2 lựa chọn trở lên
Trang 29Sử dụng phần mềm thống kê như Test, Mystat, SPSS nhập đáp án sau đó tương ứng nhập vị trí câu trả lời mà HS đã chọn Máy sẽ tự động đếm số câu trả lời đúng theo một bảng riêng biệt Trong đề tài này chúng tôi sử dụng phần mềm Test [40] để chấm bài
1.4.4 Đánh giá kết quả của một bài TNKQNLC
1.4.4.1 Các loại điểm của bài TN
* Điểm thô: bước đầu tiên là xác định câu trả lời cho từng câu hỏi là đúng hay sai,
thông thường câu trả lời đúng được tính 1 điểm, trả lời sai tính 0 điểm, tổng cộng điểm tất cả các câu là điểm thô của toàn bài Có nhiều khó khăn khi sử dụng điểm này để ĐG kết quả học tập, nên thông thường biến đổi về các loại điểm sau:
* Điểm chuẩn: điểm chuẩn rất có lợi khi cần so sánh kết quả 2 bài TN khi các phân
bố có kết quả tương tự nhau Loại này có nhược điểm không sử dụng được khi phân bố điểm
bị lệch và có cả điểm âm nên khó sử dụng
Công thức tính: Z = ̅
Trong đó: X là một điểm thô nào đó
̅ là điểm thô trung bình của một nhóm làm TN
s là độ lệch tiêu chuẩn của nhóm ấy
* Điểm chuẩn biến đổi: Để loại trừ các điểm âm đồng thời phù hợp với hệ thống
điểm Việt Nam, người ta đưa ra điểm chuẩn V cũng giống như điểm chuẩn z nhưng nó được quy về phân bố bình thường
Công thức tính điểm chuẩn biến đổi:
ZB = ̅ + sz Z
Trong đó: ZB là điểm chuẩn biến đổi, Z là điểm chuẩn
̅ là giá trị trung bình; sZ là độ lệch tiêu chuẩn của phân bố biến đổi
Trong đề tài sử dụng điểm chuẩn 11 bậc, ứng với độ lệch chuẩn bằng 2, điểm trung bình bằng 5 Do vậy điểm ZB = 2 Z + 5 Ví dụ một sv có điểm thô X = 15, bài
Trang 30TN có độ lệch tiêu chuẩn 5.713, điểm thô trung bình bài TN là 15.176 thì điểm z = (15.000 - 15.176)/5.713 Vậy điểm chuẩn 11 bậc là: ZB = 2.Z + 5 = 4.93 lấy tròn bằng 5
Hạn chế của việc dùng điểm chuẩn khi so sánh điểm SV trên hai bài trắc nghiệm là dạng hai đường phân bố điểm phải gần giống nhau cũng như cùng có trị trung bình và độ lệch chuẩn
1.4.4.2 Đánh giá kết quả bài TN theo phương pháp thống kê
Để ĐG một bài TN người ta dựa vào tính chất cơ bản là độ giá trị và độ tin cậy
Độ giá trị biểu thị mức độ đo đúng điều chúng ta cần đo, muốn ước lượng mức độ giá trị, chúng ta viết bài TN nhằm đo tính chất nào đó điều này do mục đích người viết Nó có thể là giá trị tiên đoán; có thể là giá trị so với các tiêu chí đang có sẵn; có thể là giá trị về nội dung Xét đoán giá trị nội dung của một bài TN chính là xét tính chất tiêu biểu của nội dung câu hỏi trên cơ sở tổng thể nội dung kiến thức cần thẩm định vì vậy cần cân nhắc đến điều này khi loại bỏ các câu hỏi có tương quan thấp
Độ tin cậy của bài TN là số đo sự sai khác giữa điểm số bài TN với điểm số thực của
HS nếu không có sai sót trong việc đo lường
Có nhiều phương pháp để ước lượng độ tin cậy như: phương pháp thi hai lần của một nhóm với một bài TN Phương pháp dùng bài TN tương đương nhau Phương pháp phân đôi bài TN ra thành hai nửa tương đương nhau về nội dung, tính chất, độ khó của câu hỏi từ đó
độ tin cậy được xác định nhờ hệ số tương quan giữa điểm số trên hai nửa bài TN do cùng nhóm thí sinh làm
Trong thực hành để ước lượng độ tin cậy bằng phương pháp này, người ta dùng công thức Rulon - Guttman, công thức Spearman - Brown, công thức Kuder -Richardson cơ bản, Kuder - Richardson 20, Kuder - Richardson 21 mà kết quả là cho độ tin cậy cho toàn bài TN [61]
Trang 311.4.4.3 Các chỉ số thống kê khi ĐG một bài TNKQNLC
Để đánh giá Độ giá trị và Độ tin cậy của bài TN người ta có thể xem xét nó qua các
chỉ số: Số yếu vị - Số trung vị - Số trung bình cộng - Độ lệch tiêu chuẩn - Hệ số tương quan -
Hệ số tin cậy - Sai số tiêu chuẩn đo lường - Độ khó của câu, của bài - Độ phân cách của câu Trong điều kiện của đề tài, ngoài việc sử dụng chỉ số trung bình cộng, chúng tôi chỉ quan tâm đến một số chỉ số có tính chất tiêu biểu để đánh giá về mặt thống kê đối với bài TN như: Độ khó câu TN - Độ khó vừa phải câu TN- Độ khó bài TN - Độ khó vừa phải bài TN-
Độ phân cách câu TN- Sai số tiêu chuẩn đo lường- Hệ số tin cậy của bài TN- được sử dụng trong phần mềm MYSTAS, và TEST thông dụng hiện nay như:
* Độ khó của câu TN: Độ khó của câu TN là tỉ lệ người làm đúng câu này trên tổng
số người làm bài Độ khó này thay đổi theo trình độ từng lớp học
Độ khó câu TN i = Tổng số người làm đúng câu i
Tổng số người làm bài
* Độ khó vừa phải: Quá trình làm TN phải tính đến độ may rủi kỳ vọng, nên độ khó vừa phải của câu là trung bình cộng của 100% và tì lệ may rủi Đây là độ khó xét về lí thuyết Với bài TN 5 lựa chọn, công thức tính độ khó vừa phải (ĐKVP) là:
DKVP =
= 60%
Hoặc 0.60
* Độ khó của bài TN: là tỉ số giữa điểm trung bình của bài TN với tổng số câu TN
(mỗi câu được tính 1 điểm)
Độ khó của bài TN = ̅ x 100%
̅ : Điểm trung bình của bài TN
Trang 32K: Tổng số câu TN
Chỉ số về độ khó có giá trị càng nhỏ thì mức khó của bài càng cao và ngược lại Cũng như độ khó câu, độ khó bài tùy thuộc trình độ HS
* Độ khó vừa phải của bài TN: là tỉ số giữa điểm trung bình lí tưởng (TBLT) với
điểm tối đa của bài TN Trong đó điểm TBLT là trung bình cộng điểm tối đa có thể có được
với điểm may rủi Công thức tính độ khó vừa phải cho toàn bài là:
Độ khó vừa phải bài = (K + M)/2
K 100%
Trong đó: K là số câu TN
M là điểm may rủi
* Độ phân cách của câu TN: Là mức độ phân biệt giữa HS giỏi và HS kém, nó tạo
nên giá trị sử dụng của bài TN Nếu một câu TN nào đó mà mọi HS làm đúng hết thì câu TN
ấy không có độ phân cách
Có nhiều cách tính độ phân cách của một câu TN Một phương pháp tiện lợi để tính
độ phân cách thích hợp cho nhóm ít HS trên dưới 100 em là:
D ( độ phân cách) = C - T
n Trong đó : D là độ phân cách
C : số học sinh trong nhóm giỏi (27% học sinh có điểm cao nhất) làm đúng câu TN T: Số học sinh trong nhóm thấp ( 27% học sinh có điểm thấp nhất) làm đúng câu TN
n : là hiệu số cực đại giữa số HS nhóm cao và nhóm thấp có thể có Trong đề tài, khi tính độ phân cách đã sử dụng hệ số tương quan điểm - nhị phân (R.point - biserial correlation, viết tắt là Rpbis) như là hệ số tương quan cặp
Trang 33Pearson giữa điểm câu TN và tổng điểm trên bài TN, đây là phương pháp tính chỉ số phân cách phổ biến nhất hiện nay với máy vi tính [61]
Rpbis =
√
Mp: trung bình tổng điểm các bài TN làm đúng câu i Mq: trung bình tổng điểm các bài TN làm sai câu i p: tỉ lệ học sinh làm đúng câu i
q : tỉ lệ học sinh làm sai câu i σt: độ lệch tiêu chuẩn của bài TN
* Sai số tiêu chuẩn đo lường: Bất cứ phép đo nào cũng có sai số, sai số tiêu chuẩn đo
lường là loại sai số có liên quan chặt chẽ với hệ số tin cậy của bài TN Nó cho biết mức độ biến thiên mà ta có thể kỳ vọng ở một điểm số TN của một người nào đó, nếu người ấy được khảo sát nhiều lần với cùng một bài TN Sai số tiêu chuẩn đo lường là một cách biểu thị độ tin cậy theo ý nghĩa tuyệt đối, mức độ chính xác của nó có thể ước tính được qua điểm số thực Công thức tính là:
SEm = σt √
Trong đó: SEm: sai số tiêu chuân đo lường
σt: độ lệch tiêu chuẩn của bài TN
rtc: hệ số tin cậy của bài TN
* Hệ số tin cậy của bài TN: Hệ số tin cậy của một tập hợp điểm số lấy từ một nhóm
thí sinh là hệ số tương quan giữa tập hợp điểm số ấy và tập hợp điểm số khác về một bài TN tương đương được lấy ra một cách độc lập từ nhóm HS ấy Trong trường hợp chỉ có một bài
TN duy nhất được phân thành hai nửa tương đương, hai nửa này được xem như hai bài TN phụ và các điểm số của chúng là những biến số độc lập cần thiết để phỏng định hệ số tin cậy, nhưng đó là hệ số tương quan giữa hai bài TN được rút ngắn Công thức Spearman - Brovm
sử dụng để điều chỉnh thành hệ số tương quan bài TN dài như cũ
Trang 34Hiện nay phương pháp để phỏng định hệ số tín cậy là dùng công thức Kuder - Richardson cơ bản:
r = ∑
trong đó k = số câu TN
σi2 = Biến lượng (độ lệch chuẩn bình phương) của mỗi câu TN
σ2
= Biến lượng của bài TN
Hoặc tính bằng công thức Kuder-Richardson 20; Kuder- Richardson 21, trong trường hợp các câu hỏi có độ khó gần nhau Đề tài sử dụng phần mềm Test tính hệ số tin cậy theo công thức Kuder - Richardson cơ bản
Kết luận chương 1
Trên đây chúng tôi đã trình bày cơ sở lý luận về KTĐG trong đó chú trọng đến sử dụng phương pháp TNKQNLC để KTĐG kết quả học tập của người học Trong chương này chúng tôi nhấn mạnh những vấn đề sau:
KTĐG đóng một vai trò quan trọng trong quá trình dạy học do đó hiện nay trong dạy học người ta cần lựa chọn các phương pháp KTĐG thích hợp
Phương pháp TNKQNLC là một trong những phương pháp có tính ưu việt có thể áp dụng trong điều kiện hiện nay
Các cách thức tiến hành soạn thảo câu hỏi, chấm bài, cách xử lí điểm, đánh giá kết quả và đánh giá bài TN đã soạn
Các chỉ số thống kê để đánh giá độ giá trị và độ tin cậy một bài TN như: độ khó của câu TN, độ khó vừa phải, độ khó bài TN, độ khó vừa phải bài TN, độ phân cách của câu TN, sai số tiêu chuẩn đo lường, hệ số tin cậy bài TN
Những ưu điểm và hạn chế của phương pháp TNKQNLC
Tất cả các điều trên sẽ được vận dụng để soạn thảo hệ thống câu hỏi trong chương 2
Trang 35CHƯƠNG 2: SOẠN THẢO CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN ĐỂ KIỂM TRA KIẾN THỨC PHẦN GIAO THOA VÀ TÁN SẮC ÁNH SÁNG
2.1 Nội dung kiến thức phần giao thoa và tán sắc ánh sáng
Sóng vô tuyến, tia hồng ngoại, tia tử ngoại, tia Rơnghen là các sóng điện từ Theo thuyết điện từ thì ánh sáng cũng là một loại sóng điện từ, nghĩa là một từ trường ⃗ biến thiên
và một điện trường ⃗ biến thiên cùng truyền đi trong không gian, trong đó thành phần điện
trường của sóng ánh sáng khi tác dụng vào mắt (võng mạc của mắt) gây ra cảm giác sáng
Do đó khi nghiên cứu các tính chất sóng của ánh sáng người ta quan tâm đến vec tơ điện trường ⃗ và nó được gọi là vec tơ dao động sáng Sóng điện từ (và do đó là sóng ánh sáng) cũng có tính chất như sóng cơ học: chúng có thể phản xạ, giao thoa, tạo ra sóng dừng
Mỗi sóng điện từ được đặc trưng bởi tần số f hoặc ω, bước sóng λ và vận tốc lan
truyền v, chúng liên hệ với nhau bằng hệ thức:
v = f λ hay λ = v.T, trong chân không thì v = c ,
Trang 36Mỗi sóng ánh sáng (trong chân không) có một bước sóng λxác định (có một tần số f, hay chu kỳ T xác định) và được đặc trưng bởi một màu xác định là màu của ánh sáng đó (ánh sáng đơn sắc) Màu của ánh sáng phụ thuộc tần số của ánh sáng đó, vì vậy khi ánh sáng truyền đi qua các môi trường khác nhau tuy bước sóng thay đổi nhưng màu của ánh sáng vẫn không thay đổi
Sóng ánh sáng do các nguyên tử phát
ra, thời gian phát sóng của một nguyên tử vào
khoảng 10-8giây một đoàn sóng dài xấp xỉ
khoảng 3 mét (như ánh sáng màu vàng), trong
khi ở máy phát lượng tử (ánh sáng lade), thời
gian mỗi đợt phát sáng của các nguyên tố từ
10-3 giây đến 1 giây, do đó đoàn sóng dài hàng
nghìn kilômet Các sóng trong đoàn này là tập
hợp của vô số sóng phẳng đơn sắc khác nhau
Trong môi trường tán sắc mỗi sóng phẳng đơn
sắc được truyền đi với một vận tốc pha vυ
không đổi và bằng vận tốc vtrong phương trình
sóng của sóng phẳng đơn sắc
Hình 2.1: Thang sóng điện từ [47]
Trong chân không, các sóng ánh sáng có bước sóng λ khác nhau truyền đi với cùng
một vận tốc c Khi qua môi trường tán sắc, do tương tác của sóng điện từ với các electron của chất, các hạt mang điện của môi trường sẽ dao động cưỡng bức với tần số sóng tới và phát ra sóng điện từ, các sóng này hợp với sóng ban đầu tạo nên sóng tổng hợp có pha và biên độ biến đổi so với sóng ban đầu Chính sự thay đổi vận tốc pha khi ánh sáng truyền từ môi trường trong suốt này vào môi trường trong suốt khác là nguyên nhân tạo nên hiện tượng tán sắc quan sát thấy được, cầu vồng là một trong những hiện tượng tán sắc mà chúng
ta thường quan sát thấy (Hình 2.2)
Trang 37Như vậy tán sắc là sự phụ thuộc vận tốc pha của sóng ánh sáng vào tần số (hay bước sóng)
V =f(f) khi ánh sáng truyền đi trong môi
trường hay nói cách khác chiết suất của một môi
trường với các ánh sáng có bước sóng khác nhau là
khác nhau n = f (λ ) Từ đó có các hiện tượng tán
sắc thường, tán sắc dị thường hay không có tán sắc
như trong chân không
Trong môi trường tán sắc, các sóng đơn sắc
có tần số khác nhau nên có vận tốc pha khác nhau
Thực tế không tồn tại sóng đơn sắc, các nguồn
sáng thực bao giờ cũng phát ra các xung sáng
Xung sáng có thể được coi là tổng hợp của vô số
sóng đơn sắc có tần số rất gần nhau và thường gọi
là nhóm sóng Tổng hợp của các sóng có tần số
gần nhau này là một sóng có biên độ biến đổi tuần
hoàn Vận tốc nhóm chính là vận tốc truyền biên
độ không đổi
Hình 2.2: Hiện tượng cầu vồng [52] Tại một điểm trong không gian cùng một lúc có nhiều sóng truyền tới, theo nguyên lý chồng chất, tại đó có một sóng tổng hợp Chính sóng tổng hợp này đóng vai trò quan trọng
tạo nên hiện tượng kỳ lạ ( ánh sáng + ánh sáng = bóng tối) đó là hiện tượng giao thoa mà
nếu không thừa nhận ánh sáng có tính chất sóng thì không thể nào hiểu nổi
Nguyên tử phát ra các xung sáng riêng lẻ không phù hợp pha với nhau, ngoài
Trang 38ra chúng có thể khác nhau về tần số, nên hình ảnh tăng cường lẫn nhau xuất hiện tại một miền không gian nào đó sau một phần tỉ giây được thay thế bằng hình ảnh suy yếu lẫn nhau
Sự thay đổi chớp nhoáng hình ảnh này không được mắt hấp thụ, nhưng gây cảm giác về quang thông đều không đổi theo thời gian Để có hình ảnh giao thoa ổn định theo thời gian, các sóng truyền đèn phải có cùng tần số, hiệu pha không đổi đó là sóng kết hợp và dao động của chúng phải thực hiện cùng phương, các sóng này phải do cùng một đoàn sóng của nguyên tử phát ra vì thế hiệu quang trình không vượt quá giới hạn về độ dài gọi là độ dài kết hợp Điều đó giải thích rằng nhiều trường hợp các sóng có chồng chất lên nhau nhưng chỉ có một số trường hợp xẩy ra hiện tượng giao thoa
Hiện tượng giao thoa có thể quan sát được dễ dàng như màng xà phòng, váng dầu nhưng có trường hợp phải làm thí nghiệm với điều kiện đặc biệt của các dụng cụ như khe Yâng, gương Frêxnen, lưỡng thấu kính Biê, gương Lôi, nêm không khí vv Bằng hiện tượng giao thoa người ta thiết lập được các công thức tính khoảng vân, toa độ vân, trên cơ sở
đó cho phép đo bước sóng ánh sáng và các đại lượng có liên quan đồng thời lí giải các hiện tượng xẩy ra ứong thực tế
2.2 Cấu trúc nội dung phần giao thoa - tán sắc ánh sáng
Theo sự vận động phát triển của tri thức, có thể biểu đạt nội dung tri thức phần này
và mối quan hệ giữa các yếu tố kiến thức bằng sơ đồ ở hình 2.3
2.3 Kiến thức phân giao thoa và tán sắc ánh sáng trong chương trình vật
lý phổ thông
* Chương trình quang học ở bậc CĐSP, được học vào năm thứ 2 và năm thứ 3, trong
đó phần Quang học 1 (30 tiết) gồm có các phần: Thuyết điện từ ánh sáng (3 tiết) - Quang hình học (15 tiết) - Sự giao thoa ánh sáng (12 tiết) Quang học 2 (45 tiết) gồm có các phần:
Sự nhiễu xạ ánh sáng (12 tiết)- Sự phân cực ánh sáng (6 tiết) - Sự tán sắc, tán xạ và hấp thụ
ánh sáng ( 6 tiết) - Bức xạ nhiệt (8 tiết) - Tính chất lượng tử của ánh sáng (10 tiết) - Sơ lược
về lade và quang học phi tuyến (3 tiết)
Trang 39Nhƣ vậy phần quang học sóng chiếm tỉ lệ khá lớn so với quang hình, trong đó riêng phần giao thoa - tán sắc ánh sáng đã chiếm gần 18 tiết so với phần quang hình chiếm 15 tiết
Hình 2.3: Sơ đồ cấu trúc nội dung phần giao thoa - tán sắc ánh sáng
Trong phần giao thoa và tán sắc ánh sáng, ngoài việc xây dựng các công thức tính khoảng vân của ánh sáng đơn sắc, trên cơ sở lí thuyết về sóng điện từ, nguyên
Trang 40lý chồng chất Huyghen và các công cụ toán học cho phép tìm hiểu sâu về bản chất ánh sáng thể hiện ở điều kiện để có hiện tượng giao thoa, bản chất của hiện tượng tán sắc, từ thí nghiệm giao thoa của ánh sáng đơn sắc, cho phép xác định bước sóng ánh sáng Ngoài ra phần quang học sóng trong chương trình còn đề cập đến hàng loạt các hiện tượng vật lý khác
có liên quan đến tính chất sóng như: nhiễu xạ, quang phổ Điều này cho thấy tầm quan trọng của phần quang học sóng trong đó có phần giao thoa và tán sắc trong hệ thống kiến thức phần quang học Nếu chỉ đề cập đến quang hình thì một loạt các hiện tượng vật lý liên quan đến ánh sáng không thể giải thích được cũng như việc mô hình hóa toán học các hiện tượng vật lý sẽ làm lu mờ bản chất vật lý, người học không hiểu được rõ bản chất ánh sáng
* Chương trình vật lý trung học phổ thông nói chung đề cập tới hai nội dung cơ bản
của quang học bao gồm: quang hình học (khúc xạ, phản xạ, các dụng cụ quang học mà thực chất là các ứng dụng của quang hình trong kỹ thuật và đời sống) và quang học sóng trong đó
có phần tán sắc và giao thoa ánh sáng, đó là hai mặt của một quá trình ánh sáng Đây là hai phần quan trọng giúp HS có cái nhìn tương đối đầy đủ về bản chất ánh sáng
Hiện tượng tán sắc và hiện tượng giao thoa ánh sáng là hai hiện tượng có thể khảo sát bằng thực nghiệm (như thí nghiệm phân tích ánh sáng trắng, tổng hợp ánh sáng trắng ), đồng thời hình thành khái niệm ánh sáng trắng, ánh sáng đơn sắc, hiện tượng tán sắc ánh sáng, từ đó có thể thiết lập mối quan hệ giữa chiết suất môi trường, màu sắc ánh sáng và bước sóng ánh sáng Tuy nhiên, việc giảng dạy các kiến thức thuộc phần tán sắc và giao thoa ánh sáng được trình bày nặng về mô tả hiện tượng, thông báo kiến thức mà không đi sâu vào bản chất hiện tượng trên cơ sở của thuyết điện từ ánh sáng, nguyên lý Huyghen về mặt đầu sóng
*Theo dự án phát triển giáo dục THCS thì các kiến thức phần Quang học ở THCS
chủ yếu là quang hình Mục tiêu của chương trình Quang học ở THCS nhằm cung cấp cho
HS những kiến thức về các hiện tượng quang học thường gặp nhất trong đời sống hằng ngày Các khái niệm cơ sở của quang học như: điều kiện nhìn