o vậy, việc quản lý và xử lý chất thải không an toàn, nhất là đối với TNH, TRSH đã để lại những hậu quả nặng nề về môi trường; gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng như các điểm
Trang 1L i m o n
Tôi xin cam đoan các nội dung đƣợc trình bày trong luận văn tốt nghiệp
“Nghiên cứu xử lý chất thải rắn nguy hại trong lò đốt không dùng nhiên liệu dạng cột” là nghiên cứu của cá nhân tôi, trên cơ sở một số dữ liệu, số liệu
đƣợc tham khảo Những tài liệu đƣợc sử dụng tham khảo trong luận văn đã đƣợc nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo ác số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực, nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
và chịu mọi kỷ luật của Học viện Khoa học và ông nghệ đề ra
Hà Nội, tháng 01 năm 2021
Học viên
Phạm Hữu Tùng
Trang 2L i ảm n
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành gửi lời cám ơn đến Ban lãnh đạo Học viện Khoa học và ông nghệ, Viện ông nghệ Môi trường đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi hoàn thành các chương trình học tại Học viện
Luận văn tốt nghiệp được thực hiện theo đề tài “Nghi n ứu xử lý hất thải rắn ngu hại trong lò t kh ng dùng nhi n liệu dạng ột NFIC”, mã
số: VAST07.01/17-18 o đó, tôi được tạo điều kiện học tập, nghiên cứu cùng các chuyên gia của Viện khi triển khai thực hiện đề tài Đây là cơ sở để thực hiện các nội dung nghiên cứu của cá nhân tôi
Em xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến GS.TS Trịnh Văn Tuyên, Viện trưởng Viện ông nghệ Môi trường đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình học tập và làm khóa luận
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Học viện nói chung, các thầy cô trong khoa ông nghệ môi trường nói riêng đã truyền đạt nhiều kiến thức bổ ích chuyên ngành, giúp em nắm bắt được cơ sở lý thuyết và tạo điều kiện giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
uối cùng, em xin chúc Ban lãnh đạo Học viện Khoa học và ông nghệ, Viện ông nghệ Môi trường và các thầy cô giáo sức khỏe, thành công
Họ viên
Phạm Hữu Tùng
Trang 3MỤC LỤC
NH MỤ HỮ VIẾT TẮT v
NH MỤ HÌNH vi
NH MỤ BẢNG vii
MỞ ĐẦU……… …….1
HƯƠNG 1: TỔNG QU N VỀ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ HẤT THẢI RẮN NGUY H I 3
1.1 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ HẤT THẢI RẮN VÀ XỬ LÝ HẤT THẢI RẮN NGUY 3
1.1.1 Trên thế giới 3
1.1.2 Tại Việt Nam 5
1.2 Á PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ HẤT THẢI RẮN NGUY 9
1.2.1 Phương pháp chôn lấp 9
1.2.2 Phương pháp ủ sinh học 10
1.2.3 Phương pháp tái chế 10
1.2.4 Phương pháp thiêu đốt 12
1.3 MỘT SỐ NG NGHỆ ĐỐT HẤT THẢI 14
1.3.1 Kỹ thuật đốt thủ công dạng hở 14
1.3.2 Phương pháp thiêu đốt có kiểm soát không khí cấp vào lò 14
1.3.3 Kỹ thuật đốt trong lò quay 15
1.3.4 Kỹ thuật đốt trong lò đốt tầng sôi 16
1.3.5 ông nghệ đốt chất thải rắn có thu hồi năng lượng 17
1.3.6 ông nghệ đốt tạo nhiên liệu (công nghệ R F) 18
1.3.7 ông nghệ thiêu đốt plasma 19
1.4 TỔNG QU N NG NGHỆ XỬ LÝ HẤT THẢI RẮN NGUY H I BẰNG PHƯƠNG PHÁP THIÊU ĐỐT (LÒ ĐỐT) 19
1.4.1 Lò đốt chất thải rắn nguy hại trên Thế giới 19
1.4.2 Lò đốt chất thải rắn nguy hại tại Việt Nam 23
HƯƠNG 2: NỘI UNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN ỨU 29
Trang 42.1 NỘI UNG NGHIÊN ỨU 29
2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN ỨU 29
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN ỨU 29
2.3.1 Phương pháp thực nghiệm 29
2.3.2 Phương pháp tính toán thiết kế lò đốt 32
HƯƠNG III: KẾT QUẢ THỰ HIỆN 35
3.1 KẾT QUẢ THỰ NGHIỆM TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM 35
3.1 1.Thực nghiệm xác định yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sấy 35
3.1.2 Nghiên cứu thực nghiệm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình khí hóa, cacbon hóa chất thải rắn 39
3.1.3 ác yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình cháy rác 43
3.2 TÍNH TOÁN THIẾT KẾ LÒ ĐỐT CTR CÔNG SUẤT 50 KG/NGÀY 47
3.2.1 Xác định thể tích khoang tiếp nhận TR (I) 47
3.2.2 Xác định thể tích khoang sấy (II) 48
3.2.3 Xác định thể tích khoang cháy (IV) 48
3.2.4 Tính toán thể tích khoang cacbon hóa (III) 49
3.2.5 Tính toán thể tích bếp đốt (V) 50
3.2.6 ấu tạo và quy trình vận hành của lò NFI 50 50
3.2.7 Nguyên lý hoạt động của mô hình thực nghiệm 51
3.3 THỰC HIỆN NGHIỆM THU TRÊN LÒ ĐỐT NFIC50 54
3.3.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm rác đến quá trình cháy rác 54 3.3.2 Kết quả nghiên cứu nhiệt độ từng khoang cháy trong lò đốt 57
3.3.3 Kết quả độ tro sau khi quá trình đốt kết thúc 61
3.3.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của lưu lượng khí đến quá trình đốt 63
3.4 HIỆU QUẢ M I TRƯỜNG 64
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU TH M KHẢO 72
PHỤ LỤ 73
Trang 5CTRSH
hất thải rắn công nghiệp hất thải rắn sinh hoạt CTRYT hất thải rắn y tế
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1 1 Lò đốt rác thải dạng quay 16
Hình 1 2 Lò đốt rác thải tầng sôi 17
Hình 1 3 Lò đốt rác thải phát điện 18
Hình 1 4 Sơ đồ công nghệ Plasma 19
Hình 1 5 Lò đốt chất thải nguy hại ChuwaStar 23
Hình 1 6 Lò đốt VHI-18B 24
Hình 1 7 Lò đốt rác thải sinh hoạt BD-Alpha 27
Hình 2 1 Dụng cụ, thiết bị của quá trình thí nghiệm 30
Hình 2 2 Mô hình Pilot hệ thống thiêu đốt NFIC 50 31
Hình 3 1 Đồ thị biểu diễn tỷ lệ bay hơi nước của nhựa theo thời gian 36
Hình 3 2 Biểu đồ biểu diễn nhiệt độ của lò cacbon hóa 40
Hình 3 3 Ảnh chụp sản phẩm biochar từ nhựa thải 42
Hình 3 4 Mô hình NFIC50 51
Hình 3 5 So sánh thời gian đốt rác của mẫu đã sấy và mẫu chưa sấy 57
Hình 3 6 Ảnh tro sau quá trình thiêu đốt 61
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 1 Thống kê công nghệ xử lý chất thải nguy hại ở Việt Nam 8
Bảng 1 2 Một số loại lò thiêu đốt rác trên thế giới 14
Bảng 3 1 Tỷ lệ nước bay hơi khi sấy thành phần nhựa, T = 105oC 35
Bảng 3 2 Nhiệt độ đạt được tại các khoang chức năng trong thời gian đốt 36
Bảng 3 3 Các thông số và thời gian đốt của các mẫu rác thí nghiệm 38
Bảng 3 4 Sự thay đổi nhiệt độ trong buồng cacbon hóa 39
Hình 3 2 Biểu đồ biểu diễn nhiệt độ của lò cacbon hóa 40
Bảng 3 5 Cacbon hóa nhựa, T = 300oC 41
Bảng 3 6 Cacbon hóa nhựa, T = 4000C 41
Bảng 3 7 Cacbon hóa nhựa, T = 5000C 42
Bảng 3 8 Kết quả độ ẩm của mẫu rác thí nghiệm 54
Bảng 3 9 Thời gian đốt rác của mẫu rác đã được sấy 55
Bảng 3 10 Thời gian đốt rác của mẫu rác chưa được sấy vẫn còn độ ẩm 56
Bảng 3 11 Bảng lượng nhiệt trung bình ở vùng cháy tại các thời điểm khác nhau khi đốt 2kg rác 58
Bảng 3 12 Bảng lượng nhiệt trung bình ở vùng cacbon hóa tại các thời điểm khác nhau khi đốt 2kg rác 58
Bảng 3 13 Bảng lượng nhiệt trung bình ở vùng sấy tại các thời điểm khác nhau khi đốt 2kg rác 59
Bảng 3 14 Bảng lượng nhiệt trung bình ở ống khói tại các thời điểm khác nhau khi đốt 2kg rác 60
Hình 3 6 Ảnh tro sau quá trình thiêu đốt 61
Bảng 3 15 Bảng xác định độ tro sau khi đốt các mẫu thực nghiệm 61
Bảng 3 16 Bảng xác định độ cháy sau khi đốt các mẫu thực nghiệm 62
Bảng 3 17 Bảng xác đinh sự chênh lệnh thời gian đốt với 2 vận tốc gió khác nhau 63
Bảng 3 18 Kết quả phân tích mẫu khí thải 70
Trang 8MỞ ĐẦU
Theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2017, khối lượng TNH phát sinh từ 600.000 – 800.000 tấn/năm ( TNH này được thống kê dựa trên số lượng chất thải nguy hại tối đa dự kiến phát sinh từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và không bao gồm chất thải nguy hại phát sinh từ các hộ gia đình) Trong khi đó, hiện cả nước có 83 doanh nghiệp, với 56 đại
lý thu gom rác có địa bàn hoạt động từ hai tỉnh trở lên được Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT) cấp phép; khoảng 130 đơn vị do các địa phương cấp phép hoạt động Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trước sự gia tăng nhanh chóng của chất thải, công tác quản lý, xử lý trong thời gian qua ở nước ta vẫn chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường o vậy, việc quản lý
và xử lý chất thải không an toàn, nhất là đối với TNH, TRSH đã để lại những hậu quả nặng nề về môi trường; gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng như các điểm tồn lưu hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, các bãi rác không hợp vệ sinh, lò đốt chất thải rắn, các bãi đổ chất thải của các nhà máy sản xuất…, nhất là hiện nay chưa có công nghệ xử lý chất thải rắn hoàn thiện, đạt được các tiêu chí về kỹ thuật, kinh tế - xã hội và môi trường phù hợp với điều kiện của Việt Nam…
Tại Việt Nam, hiện đang áp dụng một số công nghệ xử lý TRSH và TNH như nhóm công nghệ lò đốt tĩnh hai cấp và lò quay; công nghệ đồng
xử lý trong lò nung xi-măng; công nghệ chôn lấp để xử lý chất thải; công nghệ tái chế chất thải Trong đó, nhóm công nghệ lò đốt hai cấp (lò tĩnh, hoặc lò quay) là loại công nghệ được sử dụng phổ biến nhất để tiêu hủy các loại chất thải phát sinh hiện nay đối với cả TNH và TRSH Tính đến tháng 7-2015, Tổng cục Môi trường (Bộ TN&MT) đã cấp phép cho 50 cơ sở xử lý CTNH có áp dụng công nghệ, với số lượng là 69 lò đốt tĩnh, có công suất từ
100 - 200 kg/giờ
Nhược điểm của công nghệ lò đốt tĩnh hai cấp là quy trình kiểm soát, vận hành còn thủ công, trong quá trình sấy rác thải trước khi đốt phát sinh mùi, nhất là rác thải y tế chủ yếu chứa các chất thải dễ lây nhiễm
Trang 9Vì vậy, trên cơ sở đó trong phạm vi luận văn tốt nghiệp, tác giả đề xuất
đề tài “Nghiên cứu xử lý chất thải rắn nguy hại trong lò đốt không dùng
nhiên liệu dạng cột” Thông qua kết quả nghiên cứu, sẽ tìm ra được công
nghệ mới trong xử lý chất thải rắn nguy hại khắc phục được những nhược điểm tồn tại của các công nghệ trước đây
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ
CHẤT THẢI RẮN NGUY HẠI 1.1 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN NGUY H I
1.1.1 Trên thế giới
Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt trung bình toàn cầu khoảng 0,74 kg/người/ngày, trong đó ở quốc gia thấp nhất là 0,11 kg/người/ngày, cao nhất là 4,54 kg/người/ngày Tổng khối lượng CTR đô thị phát sinh trên toàn cầu vào khoảng 2 tỷ tấn năm 2016, trong đó nhiều nhất là ở khu vực Đông Á-Thái Bình Dương với 468 triệu tấn (~23%)
và thấp nhất là Trung Đông và Bắc Phi với 129 triệu tấn (~6%) Ước tính tổng khối lượng các loại CTR có thể vào khoảng 7-10 tỷ tấn/năm 2016 Dự báo CTR đô thị sẽ tăng lên 2,59 tỷ tấn năm 2030 và 3,4 tỷ tấn năm 2050, trong đó tốc độ tăng nhanh nhất ở các khu vực châu Phi cận Sahara, Nam Á và Trung Đông (Silpa K et al, 2018)
Chất thải nhựa đang nổi lên như là vấn đề môi trường bức xúc, được sự quan tâm của cả thế giới do những tác động đến môi trường Ước tính tổng lượng chất thải nhựa phát sinh khoảng 242 triệu tấn, chiếm 12% lượng CTR
đô thị toàn cầu (Silpa K et al, 2018) Ở nhiều nước, chất thải nhựa không được quản lý tốt, đã và đang được xả thải ra các đại dương, gây nhiều tác động xấu đối với môi trường và hệ sinh thái biển Năm 2015, Jambeck và cộng sự đã nghiên cứu CTR tại 192 quốc gia ven biển và đưa ra ước tính hàng năm, khoảng 4,8-12,7 triệu tấn chất thải nhựa được thải ra đại dương Trong
đó, Việt Nam được xếp thứ 4 trên thế giới về lượng chất thải nhựa trên biển (chỉ sau Trung Quốc, Indonesia và Phillipines) với ước tính khoảng 0,28-0,73 tấn/năm (Jambeck et al, 2015)
Một loại chất thải đặc thù khác là chất thải điện tử với ước tính lượng phát sinh trên toàn cầu khoảng 41,8 triệu tấn năm 2014, tăng lên 45 triệu tấn năm 2016, và khoảng 48 triệu tấn năm 2018 Ở Việt Nam, lượng chất thải
Trang 11điện tử phát sinh ước khoảng 116.000 tấn năm 2014 và 141.000 tấn năm 2016
và sẽ tiếp tục gia tăng (Balde et al 2015, 2017)
Về thành phần CTR sinh hoạt, thành phần chất thải rắn khác nhau ở các nhóm nước Theo đó các nước có thu nhập cao có hàm lượng chất thải hữu cơ thấp hơn, với khoảng 32%, trong khi các nước có thu nhập thấp và trung bình
có hàm lượng hữu cơ cao hơn, khoảng 53-56% Ngược lại, các thành phần CTR có thể tái chế (như giấy, nhựa, kim loại, thủy tinh…) là cao hơn ở các nước có thu nhập cao, khoảng 50% và thấp hơn, chỉ khoảng 16% ở các nước thu nhập thấp (Silpa K et al, 2018)
Nhật Bản đã từng phải đối mặt với những vấn đề môi trường, nguồn nước nghiêm trọng do CTR gây ra trong nhiều thập kỉ của thế kỉ XX, đến nay, Nhật Bản đã trở thành một trong những đất nước sạch sẽ nhất thế giới Đóng góp vào thành công trong hệ thống quản lý, xử lý CTR của Nhật Bản phải kể đến chính sách phân loại rác ngay từ đầu và áp dụng công nghệ xử lý, tái chế rác hiện đại Với mục tiêu “không rác thải” vào năm 2020, người dân tại Kamikatsu của Nhật Bản đã nỗ lực để phân loại rác thành 45 loại và chuyển đến một cơ sở của địa phương Người dân tại thị trấn này chia ra tới 45 loại rác khác nhau trước khi mang đi xử lý Thậm chí thị trấn này còn không có điểm tập kết rác Theo đó, 1.500 người dân của thị trấn ở miền Tây Nhật Bản
đã tự vận chuyển rác thải của họ tới một cơ sở xử lý rác của địa phương Theo thống kê những năm gần đây, bình quân mỗi năm nước Nhật xả ra trên 45 tỷ tấn rác, xếp thứ 8 thế giới Nhưng đến nay đã có hơn 70% CTR của Nhật Bản được đốt để sản xuất điện, phần còn lại để tái chế và chỉ một lượng nhỏ CTR
ở đô thị được đưa đến các bãi rác Nhật Bản cũng tìm cách tận dụng các bãi rác một cách hiệu quả bằng cách tập kết CTR vào những bãi rác khép kín trên vịnh Tokyo, dần dần, các bãi rác này biến thành các cụm đảo nhân tạo, có tác dụng như “máy điều hòa nhiệt độ thiên nhiên” khổng lồ làm mát không khí biển thổi vào Tokyo
Cũng giống như Nhật Bản, Chính phủ Hàn Quốc có một hệ thống quản
lý CTR rất khoa học và tiên tiến, yêu cầu khắt khe với vấn đề phân loại CTR tái chế, đồng thời ý thức đổ rác của người dân rất cao Người dân Hàn Quốc
Trang 12phải trả phí cho việc xử lý những loại CTR cồng kềnh như: Đồ nội thất, đồ dùng thiết bị điện, những thứ không đựng vừa túi ni-lông , các loại túi ni lông dùng để đựng CTR cũng được phân loại theo địa phương và mục đích
Về xử lý, rác hữu cơ nhà bếp một phần được sử dụng làm giá thể nuôi trồng nấm thực phẩm, phần lớn hơn được chôn lấp theo công nghệ hiện đại, liên hoàn khép kín để thu hồi khí bioga cung cấp cho phát điện Không chỉ dừng lại đó, Chính phủ Hàn Quốc còn tiếp tục xây dựng công viên với chủ đề môi trường trên chính bãi rác này nhằm sử dụng hiệu quả quỹ đất trống bằng cách xây dựng khu vực vui chơi giải trí, thể thao, khu sinh thái, khu hoạt động môi trường phục vụ sinh hoạt cho cộng đồng
Đối với Đài Loan, trước năm 1984, chính quyền và người dân chưa thực hiện quản lý CTR đô thị, hầu hết người dân đổ rác vào những địa điểm gần khu vực sinh sống Đầu năm 1984, để quản lý hiệu quả việc xử lý chất thải, Chính phủ Đài Loan đã đưa ra “Kế hoạch quản lý và xử lý chất thải ở các đô thị”, đầu năm 1998, nước này mới thực hiện Chương trình “Kế hoạch tái chế tại nguồn 4 trong 1 bao gồm: Thực hiện tái chế bằng cách tích hợp các yếu tố cộng đồng dân cư, thiết lập các tổ chức tái chế dựa vào cộng đồng dân cư; Các công ty tái chế thu gom và tái chế các loại rác thải; Chính quyền địa phương phân chia và hướng dẫn loại rác thải tái chế, sau đó, thu thập và gửi tới công ty tái chế; Quỹ tái chế nhằm thực hiện tái chế và giảm thiểu rác thải Chương trình thực hiện đã tăng được tỷ lệ tái chế chất thải trên toàn lãnh thổ Không dừng lại ở đó, năm 2001, Chính phủ Đài Loan quyết định thực hiện Chương trình khuyến khích tái chế rác thải nhà bếp Rác thải nhà bếp được thực hiện phân thành 2 nguồn: Rác thải có thể sử dụng làm thức ăn cho gia súc; Rác thải được thu gom để sản xuất phân vi sinh Giai đoạn đầu của Chương trình được thực hiện tại 7 thành phố và 10 tỉnh
1.1.2 Tại Việt Nam
1.1.2.1 Hiện trạng phát sinh chất thải nguy hại tại Việt Nam
Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, lượng chất thải nguy hại phát sinh trên toàn quốc
Trang 13trên số lượng chất thải nguy hại tối đa dự kiến phát sinh từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (do các chủ cơ sở này đăng ký) và không bao gồm lượng chất thải nguy hại phát sinh từ các cá nhân, hộ gia đình nên có độ chính xác chưa cao
Hiện nay, đa phần các chủ nguồn thải có phát sinh lượng chất thải nguy hại lớn hàng năm đều đã đăng ký và được cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại Lượng chất thải nguy hại phát sinh từ các chủ nguồn thải này đều đã được thu gom và đưa đến các cơ sở đã cấp phép để xử lý Một phần lượng chất thải nguy hại phát sinh từ các nguồn thải khác được xử lý bởi chính các chủ nguồn thải (bằng các công trình bảo vệ môi trường tại cơ sở), bởi các cơ sở xử lý do địa phương cấp phép hoặc được xuất khẩu ra nước ngoài để xử lý, tái chế Một số chất thải nguy hại đặc thù (ví dụ như chất thải
có chứa PCB) do chưa có công nghệ xử lý phù hợp thì hiện đang được lưu giữ tại nơi phát sinh Với tình hình như vậy, nhìn chung lượng chất thải nguy hại phát sinh tại hầu hết các chủ nguồn thải lớn đều đã được quản lý đúng theo các quy định hiện hành Lượng chất thải nguy hại phát sinh tại các chủ nguồn thải nhỏ hoặc tại các vùng sâu, vùng xa chỉ phần nhỏ được thu gom, xử lý; số còn lại được các làng nghề thu gom, tái chế chưa đảm bảo yêu cầu về môi trường hoặc thậm chí bị đổ lẫn vào chất thải sinh hoạt và chôn lấp chung tại bãi chôn lấp chất thải sinh hoạt, gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và sức khỏe cộng đồng
Đến tháng 6 năm 2015, trên toàn quốc có 83 doanh nghiệp với 56 đại lý
có địa bàn hoạt động từ hai tỉnh trở lên đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép và khoảng 130 đơn vị (chủ yếu là đơn vị vận chuyển chất thải nguy hại) do các địa phương cấp phép đang hoạt động Riêng công suất xử lý chất thải nguy hại của các cơ sở được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép là khoảng 1.300 nghìn tấn/năm Với số lượng và công suất xử lý như vậy, các cơ
sở này trong thời gian qua đã đóng vai trò chính trong việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại (bao gồm cả chất thải điện tử) đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành Tổng số lượng chất thải nguy hại mà các đơn vị này thu gom, xử lý được trong năm 2012 là 165.624 tấn;
Trang 14năm 2013 là 186.657 tấn; năm 2014 là 320.275 tấn Căn cứ vào khối lượng chất thải phát sinh này, tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải nguy hại hiện nay chiếm khoảng gần 40% tổng lượng chất thải nguy hại phát sinh trên toàn quốc
1.1.2.2 Các công nghệ xử lý chất thải rắn nguy hại tại Việt Nam
Phương pháp xử lý chất thải rắn nguy hại ở Việt Nam hiện nay chủ yếu
là những phương pháp truyền thống, thô xơ như chôn lấp, hóa rắn, chôn trong
bể đóng kín Những phương pháp này không những không xử lý được triệt
để các chất ô nhiễm có trong chất thải mà còn tốn diện tích, dễ gây phát tán dịch bệnh ra ngoài môi trường Hiện nay, ở một số tỉnh đã áp dụng công nghệ thiêu đốt trong xử lý chất thải rắn nguy hại nhưng không nhiều và chủ yếu vẫn là những công nghệ chưa tiên tiến
Thiêu đốt là quá trình xử lý chất thải ở nhiệt độ cao Đây là phương pháp xử lý triệt để nhất đảm bảo loại trừ các tính độc của chất thải, có thể giảm thiểu thể tích chất thải rắn đến 90-95% và tiêu diệt hoàn toàn vi khuẩn gây bệnh Phương pháp này cho phép đáp ứng tất cả các tiêu chí về tiêu hủy
an toàn Chính vì vậy, đây là phương pháp thường được lựa chọn để xử lý chất thải rắn nguy hại
Thiêu đốt là giai đoạn oxy hoá ở nhiệt độ cao với sự có mặt của oxy trong không khí, các thành phần cháy được trong chất thải rắn được chuyển hoá thành khí và các thành phần không cháy được tạo thành tro, xỉ Phương pháp này khá phổ biến trên thế giới hiện nay để xử lý chất thải rắn nói chung
và đặc biệt là đối với chất thải nguy hại công nghiệp, chất thải nguy hại y tế nói riêng
Phương pháp thiêu đốt có những ưu điểm như sau:
- Khả năng tận dụng nhiệt cho lò hơi, lò sưởi hoặc các lò công nghiệp
và phát điện;
- Phương pháp này không cần nhiều diện tích đất sử dụng so với các phương pháp khác;
Trang 15- Xử lý triệt để các thành phần ô nhiễm, giảm tối đa thể tích của chất thải rắn;
- Tro xỉ hoàn toàn không nguy hại, có thể sử dụng để biến thành những
vật liệu tái chế hoặc làm vật liệu xây dựng
Về công nghệ xử lý chất thải nguy hại đang được sử dụng ở nước ta hiện nay có thể được hình dung sơ bộ theo các thống kê tại bảng 1.1:
Bảng 1 1.Thống kê công nghệ xử lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
6 Xử lý, tái chế dầu thải 23 24 3-20 tấn/ngày
Trang 16Nhìn chung, công nghệ xử lý chất thải nguy hại của Việt Nam trong những năm vừa qua đã có những bước phát triển đáng kể, tuy nhiên, về cơ bản, các công nghệ hiện có của Việt Nam còn chưa ở mức tiên tiến, phần lớn
sử dụng các công nghệ có thể áp dụng để xử lý cho nhiều loại chất thải nguy hại và thường ở quy mô nhỏ, vì vậy hiện nay chỉ đáp ứng được phần nào nhu cầu xử lý chất thải nguy hại của Việt Nam Để thực sự đảm bảo công tác quản
lý chất thải nguy hại đạt yêu cầu nhất thiết cần phát triển công nghệ xử lý chất thải nguy hại tại Việt Nam cả về chất lượng và số lượng Ngoài ra, cần tiến hành nghiên cứu chuyên biệt hoá các công nghệ để xử lý các loại chất thải nguy hại đặc thù góp phần đáp ứng những yêu cầu phát triển trong lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại trong tương lai gần
1.2 Á PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN NGUY H I
1.2.1 Ph ng pháp h n lấp
Trong các phương pháp xử lý và tiêu huỷ chất thải rắn trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, chôn lấp là phương pháp phổ biến và đơn giản nhất
Phương pháp này đã được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên thế giới Về thực chất, chôn lấp là phương pháp lưu giữ chất thải trong một khu vực và có phủ đất lên trên Phương pháp chôn lấp thường áp dụng cho đối tượng chất thải rắn là rác thải đô thị không được sử dụng để tái chế, tro xỉ của các lò đốt, chất thải công nghiệp Phương pháp chôn lấp cũng thường áp dụng
để chôn lấp chất thải nguy hại, chất thải phóng xạ ở các bãi chôn lấp có thiết
kế đặc biệt cho rác thải nguy hại
hôn lấp hợp vệ sinh là một phương pháp kiểm soát sự phân huỷ của các chất rắn khi chúng được chôn nén và phủ lấp bề mặt hất thải rắn trong bãi chôn lấp sẽ bị tan rữa nhờ quá trình phân huỷ sinh học bên trong để tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàu dinh dưỡng như axit hữu cơ, nitơ, các hợp chất amon và một số khí như CO2, CH4
Trang 17Đối với qui mô nhỏ (ví dụ như trang trại chăn nuôi), rác hữu cơ có thể
áp dụng công nghệ ủ sinh học theo đống Đối với qui mô lớn có thể áp dụng công nghệ ủ sinh học theo qui mô công nghiệp Nhiệt độ, độ ẩm và độ thông khí được kiểm soát chặt chẽ để quá trình ủ là tối ưu
Tại Việt Nam, Nhà máy chế biến phế thải ầu iễn thuộc ông ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước Một thành viên Môi trường Đô thị Hà Nội (UREN O) là một trong những nhà máy đi đầu Việt Nam trong lĩnh vực ủ sinh học rác thải hữu cơ để chế biến phân compost
Ngoài ra, tại phía Bắc còn có nhà máy chế biến phế thải Việt Trì, nay đổi tên và phát triển thành ông ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước Một thành viên xử lý và chế biến chất thải Phú Thọ cũng có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực ủ sinh học
1.2.3 Ph ng pháp tái hế
Hoạt động tái chế đã có từ lâu ở Việt Nam ác loại chất thải có thể tái chế như kim loại, đồ nhựa và giấy được các hộ gia đình bán cho những người thu mua đồng nát, sau đó chuyển về các làng nghề ông nghệ tái chế chất thải tại các làng nghề hầu hết là cũ và lạc hậu, cơ sở hạ tầng yếu kém, quy mô sản xuất nhỏ dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở một số nơi Một số làng nghề tái chế hiện nay đang gặp nhiều vấn đề môi trường bức xúc như xã hỉ Đạo (Hưng Yên), xã Minh Khai (Hưng Yên), làng nghề sản xuất giấy xã ương Ổ (Bắc Ninh) Nhìn chung, hoạt động tái chế ở Việt Nam không được quản lý một cách có hệ thống mà chủ yếu do các cơ sở tư nhân thực hiện một cách tự phát
Trang 18Rác thải điện tử là một trong những loại rác được tái chế khá nhiều ở Việt Nam ác máy tính, tivi, đầu máy hỏng thường được bán cho đội ngũ thu gom phế thải (đồng nát, ve chai) ác sản phẩm thải ra này thường được tách
ra để thu gom linh kiện, hoặc lấy kim loại và vỏ máy đem bán lại cho các cơ
sở tái chế
Tuy nhiên, điều đáng nói là công nghệ tái chế tại các cơ sở này còn quá lạc hậu Sau khi các kim loại và linh kiện điện tử còn dùng được được bóc tách và đem bán hoặc sửa chữa, phần còn lại chủ yếu được đốt hoặc nghiền rồi pha thêm hóa chất để tạo ra sản phẩm mới, vốn là các sản phẩm đơn giản như chai lọ, túi nylon với số lượng còn hạn chế
Tái chế nhựa cũng là một ngành tiềm năng ở nước ta Hiện nay, Việt Nam có hơn 2.200 doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm nhựa, khoảng 80-90% nguồn nguyên liệu đều phải nhập khẩu trong khi tốc độ phát triển của ngành này là từ 15 đến 20% mỗi năm Tuy nhiên, hiện nay, việc tái chế nhựa
ở qui mô công nghiệpchưa được thực sự quan tâm phát triển ác cơ sở tái chế nhựa chủ yếu là cơ sở qui mô hộ gia đình, tập trung ở các làng nghề với công nghệ thủ công, lạc hậu nên gây ô nhiêm môi trường nghiêm trọng như làng nghề Đông Mẫu, xã Yên Đồng, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc ả làng
có hơn 40 cơ sở tái chế nhựa và hàng chục hộ thu mua phế thải nhựa cung cấp cho các cơ sở tái chế Mỗi tháng, làng tái chế khoảng 150-200 tấn nhựa
Ngoài ra, giấy cũng là vật liệu có thể tái chế nhưng ở Việt Nam, tỉ lệ giấy đã sử dụng thu hồi được so với tổng lượng giấy tiêu dùng chỉ ở mức khoảng 25%, rất thấp so với các nước trong khu vực vì nhiều lý do: công nghệ, chi phí, cách hợp thức hóa trong chi phí sản xuất đối với việc mua giấy loại thu gom trong nước phức tạp, khiến công tác thu hồi giấy trong nước không có tiến triển
Giấy đã qua sử dụng sau khi thu hồi chuyển về nhà máy có thể tái chế thành giấy khăn giấy làm bao bì, giấy tissue, giấy in báo ác cơ sở sản xuất quy mô nhỏ chủ yếu sử dụng giấy loại thu gom trong nước để sản xuất các sản phẩm cấp thấp Ngược lại, các cơ sở quy mô trung bình và lớn chủ yếu sử
Trang 19dụng giấy đã dùng nhập khẩu từ nước ngoài để tái chế giấy phục vụ cho các sản phẩm cao cấp hơn
Từ năm 2000 đến nay, nhiều dây chuyền hiện đại, đồng bộ sản xuất bột
từ giấy thu hồi đã được lắp đặt ở Việt Nam Năm 2009, Việt Nam đưa vào sản xuất một số dây chuyền sản xuất mới với tổng công suất 190.000 tấn/năm Bên cạnh đó, những dây chuyền cũ được nâng cấp các khâu nghiền, sàng bột
và tách xơ sợi nhằm đem lại hiệu suất bột cao hơn và chất lượng bột tốt hơn ông nghệ sử dụng giấy đã qua sử dụng ở Việt Nam đang có những chuyển biến tích cực, góp phần kích thích sự phát triển của hoạt động thu gom giấy thải và phát triển ngành công nghiệp giấy trong nước
1.2.4 Ph ng pháp thiêu t
Thiêu đốt là phương pháp phổ biến hiện nay trên thế giới để xử lý chất thải rắn nói chung, đặc biệt là đối với chất thải rắn độc hại công nghiệp, chất thải nguy hại y tế nói riêng Xử lý khói thải sinh ra từ quá trình thiêu đốt là một vấn đề cần đặc biệt quan tâm Phụ thuộc vào thành phần khí thải, các phương pháp xử lý phù hợp có thể được áp dụng như phương pháp hoá học (kết tủa, trung hoà, ôxy hoá ), phương pháp hoá lý (hấp thụ, hấp phụ, điện ly), phương pháp cơ học (lọc, lắng)
Thiêu đốt chất thải rắn là giai đoạn xử lý cuối cùng được áp dụng cho một số loại chất thải nhất định không thể xử lý bằng các biện pháp khác Đây
là giai đoạn ôxy hoá nhiệt độ cao với sự có mặt của ôxy trong không khí, trong đó có rác độc hại được chuyển hoá thành khí và các thành phần không cháy được Khí thải sinh ra trong quá trình thiêu đốt được làm sạch thoát ra ngoài môi trường không khí Tro xỉ được chôn lấp
Phương pháp thiêu đốt được sử dụng rộng rãi ở một số nước như Nhật Bản, Đức,Thuỵ Sĩ, Hà Lan, Đan Mạch là những nước có số lượng đất cho các khu thải rác bị hạn chế
Xử lý chất thải bằng phương pháp thiêu đốt có ý nghĩa quan trọng là làm giảm bớt tới mức nhỏ nhất chất thải cho khâu xử lý cuối cùng là chôn lấp tro, xỉ Mặt khác, năng lượng phát sinh trong quá trình thiêu đốt có thể tận
Trang 20dụng cho các lò hơi, lò sưởi hoặc các nghành công nghiệp cần nhiệt và phát điện Mỗi lò đốt cần phải được trang bị một hệ thống xử lý khí thải, nhằm khống chế ô nhiễm không khí do quá trình đốt có thể gây ra
Mặc dù phương pháp xử lý bằng thiêu đốt đòi hỏi chi phí xử lý cao nhưng vẫn thường áp dụng để xử lý rác thải độc hại như rác thải y tế và công nghiệp vì các phương pháp này xử lý tương đối triệt để chất gây ô nhiễm
Quá trình thiêu đốt rác thải thường được thực hiện trong các lò đốt rác chuyên dụng ở nhiệt độ cao, thường từ 850 đến 1100o Bản chất của quá trình là tiến hành phản ứng cháy, tức phản ứng ôxy hoá rác thải bằng nhiệt và ôxy của không khí Nhiệt độ phản ứng được duy trì bằng cách bổ sung năng lượng như năng lượng điện hay nhiệt toả ra khi đốt cháy nhiên liệu như gas, dầu diezen
Hiện tại, ở Việt Nam xử lý chất thải rắn nguy hại y tế chủ yếu bằng lò đốt công suất nhỏ được trang bị cho từng bệnh viện Tuy nhiên, các bệnh viện lớn tuyến trung ương trực thuộc Bộ Y tế có công tác thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý chất thải y tế được thực hiện tốt ác bệnh viện tuyến tỉnh, huyện, việc xử lý chất thải y tế phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế từng tỉnh Số bệnh viện tuyến huyện được trang bị lò đốt đạt tiêu chuẩn rất ít Vì vậy, chất thải y tế thường được đốt bằng lò đốt thủ công hoặc chôn lấp trong khu đất của bệnh viện
Đối với rác thải nguy hại công nghiệp được xử lý bằng phương pháp đốt thì gần như tuân theo nguyên lý đốt của chất thải y tế nhưng công suất lò lớn hơn Hiện tại, các khu công nghiệp có đầu tư khu xử lý chất thải rắn nguy hại tập trung không nhiều ác chất thải rắn nguy hại thường được doanh nghiệp hợp đồng với công ty, đơn vị có chức năng, được cấp giấy phép vận chuyển và xử lý chất thải rắn nguy hại xử lý Tại Việt Nam, các công ty môi trường đô thị (viết tắt là UREN O) vẫn là những đơn vị hang đầu trong xử lý chất thải rắn nguy hại ông ty nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các lò đốt chất thải rắn công suất lớn đặt tại một số địa điểm, phục vụ nhu cầu xử lý chất thải khu vực xung quanh
Trang 211.3 MỘT SỐ CÔNG NGHỆ THIÊU ĐỐT
Tùy thuộc vào loại hình chất thải rắn, quy mô công suất cũng như điều kiện về kinh tế - kỹ thuật mà người ta sử dụng các kỹ thuật thiêu đốt khác nhau Các kỹ thuật thiêu đốt cơ bản như sau:
1.3.1 K thu t t thủ công dạng hở
Trước những năm 1955, trên thế giới vẫn áp dụng công nghệ đốt hở
để đốt rác thải Chất thải được đổ đống trên mặt đất rồi đốt, không có các thiết
bị hỗ trợ Hạn chế của phương pháp này là không an toàn, đốt không triệt để, khói thải gây ô nhiễm môi trường
Bảng 1 2 Một số loại lò thiêu đốt rác trên thế giới
Tên lò Nước sản
xuất
Thời gian làm trong ngày (h)
ông suất, tấn/ngày Loại lò Những lò công suất lớn
GG 14 BS 31
SH 220
HOS 8000
Thụy sỹ Pháp Nhật
10
14
10
2,2 2,6 0,13
Lò tĩnh
Lò tĩnh
Lò tĩnh
1.3.2 Ph ng pháp thi u t có kiểm soát không khí cấp vào lò
Từ đầu những năm 1960, ở Mỹ và các nước hâu Âu đã nghiên cứu và
áp dụng một công nghệ thiêu đốt chất thải mới đó là phương pháp thiêu đốt có
Trang 22kiểm soát không khí cấp vào lò Giai đoạn đầu các sản phẩm đem đốt được hóa hơi, phân hủy trong điều kiện thiếu khí (quá trình cacbon hóa) và giai đoạn sau là quá trình đốt cháy Ở quá trình cacbon hóa khí tổng hợp (syngas) được sinh ra và than cacbon được hình thành Giai đoạn tiếp theo là quá trình cháy Ở giai đoạn này là quá trình tự cháy không cần tiếp nhiên liệu Sự hóa hơi có sử dụng nhiệt lượng trong điều kiện thiếu oxy giống như quá trình sản xuất than củi và quá trình khí hóa than đá, than bùn, gỗ,… nên gọi là quá trình
nhiệt phân
Ngày nay, các quá trình thiêu đốt chất thải đều được tiến hành ở các hệ thống có kiểm soát cả khí cung cấp vào lò và xử lý khí thải ở đầu ra Ngay cả quá trình nhiệt phân cũng được tiến hành ở các buồng đốt 2 cấp Lò đốt được thiết kế với hai buồng đốt: buồng đốt sơ cấp và buồng đốt thứ cấp hoạt động với hệ thống cung cấp không khí được kiểm soát Buồng đốt sơ cấp làm nhiệm vụ bốc hơi, phân hủy các chất thải rắn thành hơi, các khí của hợp chất hữu cơ và khí cháy Sản phẩm cuối cùng của quá trình này là than cacbon nên gọi là quá trình cacbon hóa Quá trình cacbon hóa bắt đầu xảy ra khi nhiệt độ
lò đạt 250o
C Nhiệt độ trong lò từ từ được nâng lên trong suốt quá trình cacbon hóa, sau quá trình này là quá trình đốt cháy cacbon, nhiệt độ buồng cháy có thể lên tới 950-1050oC
Trong buồng đốt thứ cấp, khí syngas sinh ra ở buồng sơ cấp được phối trộn với không khí cấp bổ sung vào lò để đốt cháy chúng Khí syngas thực chất là các nhiên liệu khí nên việc đốt sẽ diễn ra một cách dễ dàng Lượng khí tối ưu cho quá trình phối trộn và cháy được kiểm soát và điều chỉnh bởi van khí Nhiệt độ cháy trong buồng thứ cấp có thể đạt trên 1200oC và thời gian cháy kéo dài khoảng 2 giây Điều kiện này nhằm đảm bảo xử lý triệt để các chất dioxin và hợp chất P Bs (theo quy định của Châu Âu và Mỹ)
1.3.3 K thu t t trong lò quay
Lò đốt dạng quay (xem Hình 1.1) là loại lò đốt chất thải tiên tiến có nhiều ưu điểm bởi quá trình đảo trộn chất thải tốt, đạt hiệu quả cao được sử dụng phổ biến ở các nước phát triển
Trang 23Lò đốt thùng quay với tốc độ điều chỉnh được có nhiệm vụ đảo trộn chất thải rắn trong quá trình cháy Lò đốt được đặt hơi dốc với độ nghiêng từ 1 – 5%, nhằm tăng thời gian cháy của chất thải và vận chuyển tự động tro ra khỏi
lò đốt Phần đầu của lò đốt có lắp một béc phun dầu hoặc gas kèm quạt cung cấp cho quá trình đốt nhiên liệu nhằm đốt nóng cho hệ thống lò đốt Khi nhiệt
độ lò đạt trên 800o , thì chất thải rắn mới được đưa vào để đốt Ở phần cháy chất thải, nhiệt độ lò quay khống chế từ 800 – 900o , nếu chất thải cháy tạo
đủ năng lượng giữ nhiệt độ này thì bộ đốt phun dầu, gas tự động ngắt Khi nhiệt độ thấp hơn 800o thì bộ đốt tự động làm việc trở lại
Hình 1.1 Lò đốt rác thải dạng quay
1.3.4 K thu t t trong lò t tầng sôi
Lò đốt tầng sôi (xem Hình 1.2) là loại lò đốt tĩnh được lát một lớp gạch chịu lửa bên trong để làm việc với nhiệt độ cao, có đặc điểm là luôn chứa một lớp cát dày khoảng 40 – 50cm Lớp cát này có tác dụng: nhận và giữ nhiệt cho
lò đốt, bổ sung nhiệt cho chất thải có độ ẩm cao
Lò đốt tầng sôi còn có thể đốt chất thải lỏng hất thải lỏng khi bơm vào
lò sẽ dính bám lên mặt các hạt cát nóng đang bị xáo động nên sẽ bị đốt cháy, nước sẽ bị bay hơi hết
Trang 24Hình 1.2 Lò đốt rác thải tầng sôi
Quá trình đốt tầng sôi: không khí đưa vào từ dưới lớp vỉ đỡ có lỗ nên không khí sẽ phân bố đều dưới đáy tháp làm lớp đệm cát cùng các phế liệu rắn, nhão đều được thổi tơi, tạo điều kiện cháy triệt để Khoang phía dưới tháp (trên vỉ phân bố gió), là khu vực cháy sơ cấp nhiệt độ buồng đốt từ 850 –
920oC, còn khoang phía trên phình to hơn là khu vực cháy thứ cấp có nhiệt độ cháy cao hơn (990 – 1100o ) để đốt cháy hoàn toàn chất thải Trong tháp tầng sôi cần duy trì một lượng cát nhất định tạo một lớp đệm giữ nhiệt ổn định và
hỗ trợ cho quá trình sôi của lớp chất thải đưa vào đốt Khí thải sau đó được làm nguội và qua hệ thống trước khi qua ống khói thải ra môi trường
1.3.5 Công nghệ t chất thải rắn có thu hồi năng l ợng
Lò đốt rác thải phát điện (xem Hình 1.3) thường được thiết kế sao cho nhiệt độ khi đốt đạt khoảng 900-1100o Lựa chọn nhiệt độ này sẽ đảm bảo được quá trình đốt tối ưu, hoàn toàn không tạo ra các khí có mùi Để quá trình thiêu đốt đạt hiệu quả cao, lượng không khí cấp cho lò đốt phải phù hợp tùy thuộc vào độ ẩm của rác, thành phần của rác và nhiệt trị của rác thải Ngoài ra thời gian lưu tối ưu để đảm bảo lò đốt hoạt động hiệu quả và quá trình cháy hoàn toàn tối thiểu phải là 2 giây
Trang 25đi từ không đến có, đồng thời đạt đƣợc sự phát triển nhanh chóng Hiện tại, số lƣợng hệ thống thiêu đốt rác thải mới xây tại Trung Quốc đã chiếm hơn một nửa của thế giới Đến năm 2015, khả năng thiêu đốt rác thải phát điện trên toàn Trung Quốc có thể đạt 310 nghìn tấn/ngày Trong đó, ông ty Năng lƣợng xanh Trung Quốc (tập đoàn Tấn Giang) sở hữu hơn 30 nhà máy điện đốt rác và nhà máy điện thông qua việc ứng dụng rộng rãi các nguồn lực trong các tỉnh, các đô thị ở Trung Quốc
1.3.6 Công nghệ t tạo nhiên liệu (công nghệ RDF)
Hệ thống R F (Refuse erived Fuel) là quá trình đốt có giai đoạn tiền
xử lý rác, phân loại thành các thành phần cháy đƣợc và không cháy đƣợc và biến phần cháy đƣợc thành dạng chất đốt có hiệu quả để sử dụng Sản phẩm chất lƣợng cao của quá trình R F có thể thay thế nhiên liệu cho các nhà máy sản xuất nhiệt điện, điện than hay dùng đốt cho những nồi hơi công nghiệp
Trang 261.3.7 Công nghệ thi u t plasma
Hiện nay phương pháp xử lý bằng công nghệ plasma (xem Hình 1.4) đang ngày càng được sử dụng nhiều nơi trên thế giới vò công nghệ này được coi là một công nghệ xanh Đến nay trên thế giới đã có 445 sáng chế về xử lý rác bằng khí hóa plasma với số lượng sáng chế nhiều nhất thuộc về công ty Plasco Energry (40 sáng chế) Trong những năm gần đây số lượng sáng chế
về công nghệ này tăng mạnh như năm 2006 có 60 sáng chế, năm 2007 có 58 sáng chế Nhật Bản và Pháp đã sử dụng công nghệ plasma để xử lý chất thải rắn từ nhiều năm nay và cho đến nay tại hai quốc gia này vẫn chưa ghi nhận
có vấn đề trong quá trình vận hành những nhà máy xử lý này Ngoài ra, các vấn đề môi trường và sức khỏe vẫn được đảm bảo mặc dù những nhà máy này
xử lý chất thải độc hại như thuộc da, chất thải y tế, chất thải đạn dược Nhà máy Utashinai tại Nhật đã vận hành từ năm 2002 với công suất lớn 300 tấn/ngày nhưng chưa gặp phải các vấn đề về môi trường và sức khỏe
Hình 1.4.Sơ đồ công nghệ Plasma1.4 TỔNG QUAN CÔNG NGHỆ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN NGUY H I BẰNG PHƯƠNG PHÁP THIÊU ĐỐT (LÒ ĐỐT)
1.4.1 Lò t chất thải rắn nguy hại trên thế giới
Một số công nghệ lò đốt rác đang được sử dụng trên thế giới:
Lò đốt Del Monego 200 (sản xuất tại Ý):
Trang 27Là loại lò đốt phân tầng có nhiều vùng cháy: ó hai tầng đốt (tầng đốt
sơ cấp và tầng đốt thứ cấp) chuyên dùng để đốt chất thải rắn bệnh viện, bệnh phẩm, xác động vật, chất hữu cơ có độ ẩm cao Nhiệt trị trung bình khoảng 3.300 kcal/kg, tỷ trọng chất thải rắn bình quân là 200kg/m3, độ ẩm của rác là 35% ông suất đốt rác là 200kg/giờ Khả năng nạp rác tự động theo chu kỳ băng tải hoặc thiết bị nâng kết hợp bộ đẩy thủy lực rác được nạp luân phiên theo từng mẻ một Thiết bị nạp rác này làm hạn chế đến mức thấp nhất khả năng thất thoát nhiệt ở buồng đốt, tăng hiệu suất tiêu hủy Nhiệt độ lò đốt ở buồng sơ cấp là 1.000o , năng suất mỏ đốt 500.000 kcal/h Thể tích buồng cháy 6 m3, có lớp chịu nhiệt, cách nhiệt bằng vật liệu alcium Silicate và
Al2O3 – 40% dày 220 mm giúp ổn định nhiệt độ bên trong lò đốt
Nhiệt độ lò đốt ở buồng đốt thứ cấp là 1.100o , năng suất mỏ đốt 500.000 kcal/h Thời gian khí lưu cháy 1 giây, thể tích buồng đốt 2,8 m3
, thành buồng có lớp chịu nhiệt và cách nhiệt bằng vật liệu alcium Silicate và
Al2O3 – 40% dày 220mm, lưu lượng khí cháy là 2000 m3/h Tro được lấy ra ngoài bằng dụng cụ cầm tay từ cửa lấy tro Ống khói có đường kính bên trong 500mm, chiều cao của ống khói là 15 m
Năng lượng cần cung cấp cho quá trình đốt rác: Nguồn điện sử dụng 380v – 3 pha – 50Hz, công suất yêu cầu 10kW, tiêu hao điện năng cho máy 5kW/h (25kW/tấn rác), lượng dầu O sử dụng cho quá trình đốt rác từ 10-20 lít/h tùy thuộc vào đặc tính của từng loại chất thải rắn, tối đa là 186 lít/tấn rác
* Ưu điểm:
- Hiệu suất khai thác cao
- Thời gian lưu giữa chất thải rắn chờ đốt ngắn
- Thuận lợi cho công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn
Trang 28- o hạn chế nhiên liệu tiêu hao trong buồng đốt thứ cấp nên lượng O, NOxcòn lại trong khí thải cao
Lò đốt Hoval (sản xuất tại Áo):
Là một loại lò đốt phân tầng có nhiều vùng cháy: có 2 tầng đốt (tầng đốt sơ cấp và tầng đốt thứ cấp) Lò đốt Hoval có khả năng đốt được nhiều loại rác thải khác nhau kể cả những chất thải có độc tính cao và rác thải bệnh viện Trị số calo trung bình < 4.000 Kcal/kg, tỷ trọng chất thải rắn bình quân là 120 kg/m3, độ ẩm của rác là 30% Lò có khả năng hoạt động liên tục 11 h/ngày, khả năng nạp tải (đốt rác) 9h/ngày ông suất đốt rác 460kg/h Rác được nạp vào lò đốt hoàn toàn tự động theo chu kỳ bằng thiết bị nâng kết hợp với bộ đẩy nạp thủy lực, rác được đưa vào theo từng mẻ đốt Nhờ có hệ thống nạp rác này nên khi chất thải rắn được đưa vào buồng đốt để tiêu hủy không ảnh hưởng đến quá trình đốt cháy đang diễn ra bên trong, đồng thời không làm thất thoát nhiệt lượng ra ngoài bảo đảm nhiệt độ bên trong luôn luôn ổn định Tăng hiệu suất đốt cháy triệt để chất thải rắn
Nhiệt độ lò đốt ở buồng sơ cấp là >650o , năng suất mỏ đốt 71.380 kcal/h Thể tích buồng cháy 10,8 m3, có lớp chịu nhiệt, cách nhiệt bằng vật liệu aO – 3.2%, Fe2O3 – 2,3% và Al2O3 – 39% dày 220mm giúp ổn định nhiệt độ bên trong lò đốt không thất thoát nhiệt ra ngoài
Nhiệt độ lò đốt ở buồng đốt thứ cấp là >1000o , năng suất mỏ đốt 945.900 kcal/h (2 mỏ) Thời gian khí lưu cháy 1 giây, thể tích buồng đốt 5,31m3, thành buồng có lớp chịu nhiệt và cách nhiệt bằng vật liệu aO – 3.2%, Fe2O3 – 2,3% và Al2O3– 39% dày 220mm, lưu lượng khí cháy là 4000m3/h
Năng lượng cần cung cấp cho quá trình đốt rác: Nguồn điện sử dụng 380v – 3 pha – 50Hz, công suất yêu cầu 14kW, tiêu hao điện năng cho máy 20kW/h (43kW/tấn rác), lượng dầu iezel sử dụng cho quá trình đốt rác từ 22-97 lít/h tùy thuộc vào đặc tính của từng loại chất thải rắn, tối đa là 228 lít/tấn rác
Trang 29Ưu điểm: Buồng đốt thứ cấp có hệ thống 2 béc đốt công suất lớn (sử dụng được nhiều loại nhiên liệu để tạo nhiệt năng đốt cao) nên lượng O còn lại ít
Nhược điểm: hi phí năng lượng cho một tấn chất thải rắn cao do sử dụng hai mỏ đốt công suất cao tại buồng thứ cấp và rác trước khi đưa vào đốt phải ép bớt nước để giảm độ ẩm
Lò nhiệt phân khí hóa liên tục A+B của Trung Quốc (Công ty TNHH Khoa
học Kỹ thuật Sparten Trường Sa, Hồ Nam, Trung Quốc):
ùng để đốt rác thải y tế, rác thải công nghiệp nhẹ, công suất 5-30 tấn/ngày Rác thải được khí hóa, nhiệt phân, đốt trong điều kiện thiếu oxy nên lượng bụi phát sinh ít, giảm tải đáng kể cho công đoạn làm sạch khói khí tiếp theo Sử dụng đầu kim loại dò đo độ dày lớp tro để dự đoán thời gian ra tro, dùng khay đựng tro kiểu xoay vừa làm xích lò, đồng thời phát huy tác dụng nghiền tro và dỡ tro, tránh hiện tượng đốt không hết gây vón cục Nhiệt trị rác
từ 2800 kcal trở lên thì khi đốt không cần tiếp thêm nhiên liệu, nhiệt độ trung tầm lần 2 đạt mức 1150o Quá trình đốt sử dụng công nghệ nhiệt phân giải
và các hệ thống điều khiển chính xác từng công đoạn, đạt tiêu chuẩn xả thải theo quy định, không phát sinh ô nhiễm thứ cấp Sử dụng kĩ thuật lò kín, khi cần dừng lò trong thời gian ngắn (trong 24h) đảm bảo trong lò không bị tắt lửa Lần vận hành sau không cần đánh lửa, giảm tiêu hao nhiên liệu đáng kể,
có thể liên tục cấp liệu và ra tro bã
Lò đốt chất thải rắn y tế ChuwaStar của Nhật Bản:
Lò được bảo ôn bằng lớp nước (ngay cả tại bộ phận buồng đốt), có tác dụng giúp giảm nhiệt độ thành lò, đảm bảo tuổi thọ và an toàn cho người vận hành lò Với hai buồng cháy không ngăn cách cùng các thiết bị điều khiển chế
độ đốt làm cho quá trình đốt cháy hoàn toàn, tận dụng được nhiệt để sấy nóng không khí cấp vào, gia nhiệt và sinh hơi nước phục vụ cho quá trình khử bụi, tăng hiệu quả xử lý bụi trước khi thải ra môi trường
ấu tạo của lò cho phép tạo ra áp suất âm trong buồng đốt nhiệt phân, đảm bảo ngọn lửa không trào ra ngoài khi cần mở cửa lò trong quá trình đốt,
Trang 30có thể định kỳ bỏ rác vào trong lò khi đốt, tiết kiệm được nhiên liệu, giảm chi phí vận hành, tăng hiệu quả kinh tế Khói thải sau khi hình thành ở buồng đốt
sơ cấp tiếp tục được đốt cháy hoàn toàn ở buồng đốt thứ cấp ở nhiệt độ từ
1050 – 1200o Lò đốt có hệ thống cyclon tổ hợp có hiệu quả xử lý bụi cao (sử dụng một phần hơi nước để tăng hiệu quả xử lý), khói thải được pha loãng với không khí lạnh bằng Ejecter trên ống khói để hạ nhiệt độ xuống 250o
C trong khoảng 0,5-1 giây nhằm đảm bảo ngăn ngừa sự tái sinh dioxin/furan đã
bị phân hủy trước đó Tuy nhiên trong trường hợp thành phần và đặc tính rác không ổn định, có tính chất đặc thù (độ ẩm rác >40%, có nhiều thành phần
PV , ) cần nghiên cứu phối trộn rác trước khi đốt hoặc phải nghiên cứu để
bổ sung tháp rửa khí thải bằng dung dịch kiềm NaOH
Hình 1.5 Lò đốt chất thải nguy hại huwaStar
1.4.2 Lò t chất thải rắn nguy hại tại Việt Nam
Lò đốt chất thải rắn nguy hại có thị trường tiêu thụ rộng lớn ở khắp các tỉnh thành trên cả nước, với nhiều đối tượng sử dụng khác nhau từ các đơn vị trong ngành y tế, công nghiệp, nông nghiệp có phát sinh chất thải rắn nguy hại cho đến các công ty môi trường đô thị để xử lý chất thải rắn nguy hại sinh hoạt…, đóng góp vào công cuộc bảo vệ môi trường của nhiều ngành, trong đó
có ngành công nghiệp môi trường
Nắm bắt được sự cấp thiết của việc sử dụng lò đốt chất thải rắn nguy hại trong việc bảo vệ môi trường đối với các ngành liên quan, Viện ông
Trang 31nghệ môi trường - Viện Hàn lâm Khoa học và ông nghệ Việt Nam đã nghiên cứu và chế tạo lò đốt chất thải rắn nguy hại VHI-18B (xem Hình 1.6) có công suất xử lý đa dạng từ 50 đến 100kg/mẻ và với hệ thống xử lý khí thải sử dụng công nghệ tổ hợp hấp thụ-cyclon ướt Sản phẩm đã được cấp bằng độc quyền sáng chế số 4271 theo quyết định số 1734/QĐ-ĐK ngày 27.4.2004 của ục
sở hữu trí tuệ
Hình 1.6 Lò đốt VHI-18B
Lò đốt được thiết kế dựa trên cơ sở áp dụng nguyên lý đốt đa vùng đang được sử dụng ở các nước tiên tiến trên thế giới hất thải rắn y tế được đưa vào buồng đốt sơ cấp duy trì ở nhiệt độ khoảng 500 - 800o
C Không khí được cấp liên tục đủ cho quá trình đốt thiêu huỷ Khói bốc lên từ buồng đốt sơ cấp (các sản phẩm cháy chưa hoàn toàn, chứa nhiều bụi và các chất độc hại) được hoà trộn với không khí theo nguyên lý vòng xoáy và được đưa tiếp vào buồng đốt thứ cấp ở buồng đốt thứ cấp, các sản phẩm cháy chưa hoàn toàn (chứa cả ioxin và Furan) tiếp tục được phân huỷ và đốt cháy ở nhiệt độ cao khoảng 1050 - 1200o với thời gian lưu cháy đủ lớn (1,5 đến 2 giây) Khói từ buồng đốt thứ cấp được đưa qua hệ thống xử lý khí thải để loại trừ bụi, kim loại nặng và các thành phần khí gây ô nhiễm môi trường như NOx, SOx, HCl,
HF Để đảm bảo áp suất âm trong buồng lò trên đỉnh cyclon hệ thống được lắp đặt 01 bơm ejector, đảm bảo khí trong buồng lò không thoát ra qua các cửa lò Một ưu điểm nổi bật nữa của lò VHI- 18B là hệ thống xử lý khí thải bằng phương pháp hấp thụ, loại trừ triệt để bụi, kim loại nặng và các khí độc
Trang 32hại, làm lạnh nhanh khí thải xuống dưới 200 o nên tránh được tình trạng tái sinh dioxin
Viện ông nghệ Hóa học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và ông nghệ Việt Nam cũng đã chế tạo thành công lò đốt chất thải rắn y tế công suất nhỏ WI-3C và WI-8B Rác thải y tế và những chất cần thiêu được đưa vào buồng đốt sơ cấp Đầu đốt sẽ đốt và gia nhiệt buồng đốt sơ cấp lên nhiệt độ 300 –
900 o Phần chất hữu cơ bay hơi chưa kịp phân hủy cùng với khí cháy được đẩy qua buồng đốt thứ cấp Tại đây nhờ đầu đốt, nhiệt độ buồng đốt thứ cấp được nâng lên tới 900 - 1.100 o sẽ đốt cháy hoàn toàn các sản phẩm hữu cơ còn lại từ quá trình đốt sơ bộ Khí thải từ lò đốt thứ cấp sau khi tách bụi ở cyclon được đưa qua bộ phận reactor Tại đây, dưới tác dụng của xúc tác
G 3M, các chất hữu cơ còn sót sẽ được oxy hóa hết, đồng thời thành phần khí NOx cũng được khử thành Nitơ phân tử Nhiệt độ khí thải sẽ được giảm xuống sau khi qua bộ phận giải nhiệt với tác nhân giải nhiệt là nước Tiếp theo, khí thải được đưa qua tháp hấp thụ để hạ nhiệt tiếp tục và hấp thụ khí axít còn sót lại ung dịch kiềm ra khỏi tháp hấp thụ được chảy vào bồn chứa
và được bơm tuần hoàn trở lại tháp hấp thụ uối cùng, khí thải đạt tiêu chuẩn được hút bằng quạt và xả ra ngoài qua ống khói ông suất (tính theo ca): 20
kg rác/ca (WI-3C), 50 kg rác/ca (WI-8B)
Trung tâm Nghiên cứu Vật liệu mới thuộc trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ hí Minh đã đưa ra một hệ thống lò đốt chất thải rắn và lỏng công suất 2000kg/ngày Hệ thống lò đốt chất thải trên đã được chế tạo và lắp đặt thành công tại K N Biên Hòa II và K N của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Hệ thống lò đốt sử dụng phương pháp đốt 2 cấp (buồng sơ cấp và thứ cấp) Nhiệt
độ buồng sơ cấp khoảng 700-800 o , tại đây toàn bộ các chất thải bị phân nhiệt chỉ còn một lượng tro nhỏ (chủ yếu là các mảnh vụn kim loại, thủy tinh) nằm ở đáy lò và được định kỳ tháo ra qua ghi bằng gang chịu nhiệt Tại buồng đốt thứ cấp, nhiệt độ lò luôn được duy trì ổn định trên 1.200 o bằng hai béc đốt dầu O cao áp Ngoài ra, hệ thống lò còn có thêm buồng đốt bổ sung ở nhiệt độ cao nhằm tăng cường đốt triệt để thành phần khí thải ô nhiễm còn sót
lại trước khi qua hệ thống xử lý
Trang 33ông ty TNHH MTV Đức Minh thành phố Hà Nội cũng đã đưa ra trên thị trường lò đốt chất thải rắn sinh hoạt B – npha (xem Hình 1.6) ựa trên
cơ sở đối lưu tự nhiên và bức xạ nhiệt, lò được thiết kế với kết cấu bên trong buồng đốt rất đặc thù, đảm bảo 3 yếu tố: thời gian lưu khói trên 2,5 giây, nhiệt
độ cao trên 1000 o và lượng oxy dư trên 6% để quá trình cháy xảy ra triệt để hoàn toàn ông suất xử lý từ 0,5-12 tấn rác/ngày Thiết bị trao đổi nhiệt đối lưu kiểu chùm ống Khói đi vào trong ống, không khí đi ngoài ống Lò được làm bằng vật liệu thép chịu nhiệt, chống ăn mòn Với thiết kế nhỏ, gọn không chiếm nhiều diện tích, lò đốt rác đã được cấp chứng nhận độc quyền kiểu dáng công nghiệp số 18405 ngày 4/7/2012 của ục Sở hữu trí tuệ ấu tạo lò đốt bao gồm các môđun hợp thành rất tiện lợi cho việc xây dựng và lắp đặt Trong đó môđun chính là phần thân lò bao gồm buồng đốt sơ cấp, thứ cấp và buồng tách bụi, các môđun còn lại đều áp dụng khoa học công nghệ và vật
liệu tốt nhất để đảm bảo độ bền và các chỉ tiêu chất lượng khí thải
Trong quá trình hoạt động, sau khi rác thải được cấp vào buồng đốt sơ cấp, nhờ ảnh hưởng của nhiệt bức xạ ra từ tường lò, nhiệt độ trong lò đốt được nâng lên dần và xảy ra các quá trình cháy, sấy khô, thoát chất bốc và cháy chất bốc Quá trình đốt chất thải rắn trong thiết bị được kiểm soát dễ dàng, duy trì nhiệt độ cao thường xuyên trên 1000 o để giúp cháy kiệt rác thải, giảm trên 90% thể tích cần chôn lấp Lò cũng được trang bị thêm bộ phận làm lạnh và bộ lọc bụi bảo đảm khí thải luôn có nhiệt độ thấp và sạch trước khi thải ra ngoài hiều cao ống khói được tính toán một cách phù hợp,
ít nhất trên 15m tính từ mặt đáy lò
Trang 34Hình 1.7 Lò đốt rác thải sinh hoạt BD-Alpha
Lò đốt rác thải y tế BELI TSH-20G của Trung tâm Ứng dụng và huyển giao ông nghệ có công suất 20kg/giờ, nạp theo mẻ 60kg/lần, có thể nạp rác và vận hành liên tục Lò gồm 2 buồng đốt: buồng cấp 1 và cấp 2 Nhiệt độ buồng đốt cấp 1 là 450-800 o
kế khép kín, tường gạch chịu được nhiệt độ cao và có khung vỏ thép bảo vệ
Lò có khả năng bức xạ nhiệt lớn, thích hợp đốt các loại rác thải sinh hoạt Lò
có 4 buồng đốt: buồng đốt rác sơ cấp, buồng đốt tro sơ cấp, buồng đốt khí thứ cấp kép
Nhận xét chung:
Trang 35Nhìn chung tất cả các lò đốt đều có tính đến nhiệt độ đốt cao và thời gian lưu khí lớn hơn hoặc bằng 2 giây, chính vì vậy hầu hết các lò đốt đang sử dụng để thiêu đốt chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn nguy hại trên thế giới
và ở Việt Nam đều có thể đảm bảo tiêu chuẩn môi trường Tuy nhiên, các lò thiêu đốt này có những nhược điểm chính như sau :
- Hiện nay, đều sử dụng nguyên lý đốt đa vùng: vùng đốt sơ cấp và vùng đốt thứ cấp Ở cả 2 vùng đốt đều phải nâng nhiệt độ vùng đốt đến 900-1050 o
C hính vì vậy chi phí cho quá trình đốt rất cao
- Một số lò đốt đã tìm cách tận dụng nhiệt của khói lò để đun nước nóng, hoặc sinh hơi nước để dùng ở công đoạn xử lý bụi Tuy nhiên, hầu hết các lò đốt không thể tận dụng nhiệt để sấy rác Lý do: kỹ thuật phức tạp và gây mùi hôi thối khi sấy rác thải ẩm ướt ác lò đốt trên thường lựa chọn rác thải có nhiệt trị cao, độ ẩm dưới 40% Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên ở những nước nhiệt đới, độ ẩm của rác khác cao nên chi phí đốt sẽ tăng lên đáng kể
- ác lò đốt rác hiện nay đều được thiết kế có khoang đốt thứ cấp để duy trì thời gian lưu khói 2 giây Thể tích khoang đốt thứ cấp là cố định hính vì vậy, trong trường hợp rác có độ ẩm thấp, tốc độ đốt rác có thể nhanh hơn, nhưng do cần duy trì thời gian lưu 2 giây nên không thể tăng công suất thiêu đốt được
- o lò đốt ở các buồng sơ cấp và thứ cấp đều duy trì ở nhiệt độ cao nên cần phải sử dụng các vật liệu chịu nhiệt đắt tiền Mặt khác, do các phụ kiện, các thiết bị thường xuyên làm việc ở nhiệt độ cao nên rất nhanh hỏng phải sửa chữa hoặc thay thế kéo theo chi phí vận hành và bảo dưỡng cao
Trang 36CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nội dung 1:Nghiên cứu thực nghiệm trong phòng thí nghiệm
mô phòng thí nghiệm có công suất đốt 50kg/ngày
Nội dung 3: Nghiên cứu thực nghiệm thiêu đốt rác thải trên quy mô phòng thí nghiệm có công suất đốt 50kg/ngày
- Nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm rác đến quá trình cháy rác,
- Nghiên cứu nhiệt độ từng khoang cháy trong lò đốt,
- Nghiên cứu độ tro sau khi quá trình đốt kết thúc;
- Nghiên cứu ảnh hưởng của lưu lượng khí đến quá trình đốt;
2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đề tài tiến hành nghiên cứu với các đối tượng chính như sau:
- hất thải nguy hại công nghiệp và chất thải nguy hại tại ông ty UREN O Hà Nội;
- hất thải y tế Bệnh viện E, Hà Nội …
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN ỨU
2.3.1 Ph ng pháp thực nghiệm
2.3.1.1 Thực nghiệm quá trình sấy trong phòng thí nghiệm
Phương pháp thực nghiệm được dùng trong quá trình thực hiện đề tài là các loại chất thải rắn khó phân hủy Từ đó có thể đưa ra các thông số, các số
Trang 37liệu thực nghiệm (như thời gian, nhiệt độ, hiệu suất thu hồi sản phẩm…) tối
ưu của công nghệ để việc tiến hành áp dụng công nghệ cho hiệu quả cao hơn
ác loại chất thải được phân loại trước để tách được các thành phần có thể cháy được như: nhựa, cao su, bông băng, da giầy, gỗ Quá trình sấy được tiến hành trên 2 quy mô thí nghiệm khác nhau: quy mô trong tủ sấy phòng thí nghiệm và quy mô trên mô hình lò
Thiết bị sử dụng phục vụ cho quá trình làm thí nghiệm gồm có: cốc, cân điện tử, máy sấy, mô hình lò
Hình 2 1 ụng cụ, thiết bị của quá trình thí nghiệm
Trang 382.3.1.2 Thực nghiệm trên mô hình
Hình 2.2 Mô hình Pilot hệ thống thiêu đốt
Chú thích: I – Khoang tiếp nhận chất thải rắn; II – Khoang sấy; III – Khoang cacbon hóa,
IV – Khoang cháy; V – Bếp đốt; VI – Tháp hấp thụ; VII – Bể chứa dung dịch hấp thụ; VIII – Ống khói 1 – Tấm chắn; 2 – Lỗ đo độ ẩm; 3, 5–Thanh ghi 1; 4, 6 – Lỗ đo nhiệt độ; 7 – Vòi phun; 8, 9 – Khay tưới; 10 – Van xả cặn; 11- Bơm dung dịch hấp thụ; 12 – Quạt hút khí thải; K – đường khí; N – đường nước
Trong đó: