1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

05-Fin101-Bai 3-V1.0.Pdf

20 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lãi Suất
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại Bài tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 592,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

05 FIN101 Bai 3 v1 0 doc Bài 3 Lãi suất 43 v1 0 BÀI 3 LÃI SUẤT Mục tiêu Nội dung  Hiểu được sự khác biệt trong các dòng tiền khác nhau  Hiểu và áp dụng được các kỹ năng chiết khấu, ghép dồn  So sán[.]

Trang 1

BÀI 3: LÃI SUẤT

 Hiểu được sự khác biệt trong các dòng

tiền khác nhau

 Hiểu và áp dụng được các kỹ năng chiết

khấu, ghép dồn

 So sánh được các khoản đầu tư có thời

gian khác nhau và dòng tiền khác nhau

 Phân tích được những biến động của lãi suất

 Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng

đến các loại lãi suất khác nhau

 Giới thiệu cho sinh viên các kiến thức

về giá trị thời gian của tiền tệ, sự khác biệt trong giá trị tiền tệ ở những thời điểm khác nhau

 Giới thiệu cho sinh viên các kỹ thuật tính toán để quy đổi các dòng tiền ở các thời điểm khác nhau

 Giới thiệu sinh viên các vấn đề có liên quan tới lãi suất

Hướng dẫn học

 Đối với chương lãi suất, các yêu cầu đầu vào khá nhiều, học viên cần nắm được khái niệm

về tiền (chương tổng quan), khái niệm và phân biệt được các công cụ tài chính (chương thị trường tài chính), và khái niệm về luồng tiền (chương tài chính doanh nghiệp) Bên cạnh đó, học viên cũng cần nắm được một số kiến thức của kinh tế vĩ mô để hiểu được các vấn đề có liên quan

 Điều quan trọng khi học chương này là phải tuân thủ chặt chẽ các thứ tự nghiên cứu vì các khái niệm liên quan chặt chẽ đến nhau, nhất thiết phải hiểu được khái niệm trước thì mới có thể tiếp tục tới các khái niệm sau vì khái niệm trước sẽ được sử dụng làm cơ sở phân tích khái niệm tiếp theo nó

Thời lượng học

 7 tiết

Trang 2

TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP

Tình huống

Ông Quang giám đốc công ty Alpha quyết định đi vay 100

triệu VND tại ngân hàng AVBank trong vòng 5 năm để mua

máy móc thiết bị, ngân hàng công bố lãi suất mà ông phải trả

là 9.5%/ năm Ông Quang không hiểu ngân hàng yêu cầu lãi

suất như vậy là thấp hay là cao Bên cạnh đó, ông Quang

cũng có thể vay số tiền 100 triệu từ phía một công ty tài

chính là công ty VinaFin, tuy nhiên công ty này yêu cầu công

ty Alpha phải trả dần khoản vay với quy định là mỗi năm

công ty Alpha phải trả cho VinaFin một số tiền là 27 triệu

trong vòng 5 năm

Câu hỏi

Nếu là giám đốc công ty Alpha, anh chị sẽ quyết định vay tiền từ AVBank hay từ công ty VinaFin, và căn cứ nào để anh chị ra quyết định như vậy?

Làm thế nào để có thể so sánh các khoản vay với thời hạn không giống nhau và cách thức trả tiền không giống nhau như trong ví dụ trên?

Giả sử công ty Alpha dự kiến đơn hàng này sẽ đem lại cho công ty một khoản lãi là 9%/năm Nếu là ông Quang anh chị sẽ quyết định thế nào, có vay tiền để mua máy hay không, và nếu

vay thì vay của ai?

Trang 3

3.1 Giá trị thời gian của tiền tệ

Để hiểu được bài toán thực tế mà các nhà đầu tư có thể gặp phải khi xem xét bài này,

có thể nghiên cứuví dụ sau:

Ví dụ 3-1: Chị Thanh, một nhà đầu tư có một khoản tiền 100 triệu, chị có những sự

lựa chọn sau cho khoản đầu tư của mình:

 Không làm gì cả

 Mua một trái phiếu của công ty Hoa Việt, với khoản lãi trái phiếu mỗi năm là 8 triệu, mệnh giá trái phiếu là 100 triệu và sẽ được hoàn trả sau 5 năm

 Đầu tư vào một dự án kinh doanh nhà ở hồ Linh Đàm với những luồng tiền dự tính như sau Năm thứ 3 thu được 30 triệu, năm thứ 4 thu được 50 triệu và năm thứ 5 thu được 60 triệu

Vậy chị Thanh nên lựa chọn làm gì trong trường hợp này?

Để có thể giải quyết được vấn đề mà chị Thanh đang gặp phải, rõ ràng cần phải quyết định được hai vấn đề: Có nên thực hiện các dự án hay không và nếu thực hiện thì dự

án nào là có lợi nhất? Câu trả lời sẽ được đưa ra dựa trên việc dự án nào mang lại lợi ích cao nhất về mặt tài chính (với giả định là độ rủi ro của các dự án là tương đương) Khi nói tới việc đánh giá dự án, hoặc tính toán lãi suất cho một công cụ nợ, điều đầu tiên cần phải nhắc tới là việc ra quyết định chấp nhận hay không chấp nhận một dự án đầu tư, hoặc có mua hay không nên mua một loại trái phiếu Quyết định chấp nhận hay không chấp nhận này phụ thuộc vào việc liệu có đáng để bỏ tiền ra đầu tư cho dự

án hay mua trái phiếu hay không, còn quyết định lựa chọn phụ thuộc vào lợi ích do dự

án nào mang lại là lớn hơn

Giá trị thời gian của tiền được dựa trên quan điểm

“Với cùng một lượng tiền nhận được, giá trị của nó

sẽ không giống nhau nếu ở vào những thời điểm

khác nhau”

Sự khác biệt này được thể hiện ở 3 điểm:

 Tiền nhận được hôm nay sẽ chắc chắn hơn tiền

nhận được trong tương lai do có yếu tố bất định

 Tiền nhận được trong tương lai sẽ có giá trị nhỏ

hơn trong hiện tại do tác động của lạm phát làm giá trị thực của tiền thấp xuống

 Nếu có tiền trong thời điểm hiện tại, nhà đầu tư có thể sử dụng nó cho các mục đích khác nhằm sinh lợi

Do vậy, khi nói tới giá trị thời gian của tiền, kể cả trong trường hợp chị Thanh lựa chọn không đầu tư với số tiền của mình, chị Thanh cũng có thể đem số tiền này gửi vào ngân hàng để lấy lãi Giả sử lãi ngân hàng ở mức 10%/năm, thì sau một năm

số tiền mà chị Thanh có được sẽ là 100 x (1+0,1)=110 triệu Khi đó, số tiền 100 triệu hiện tại tương đương với số tiền 110 triệu sau đây một năm với điều kiện mức sinh lợi

là 10%/năm

Từ lập luận trên, có thể nói rằng giá trị thời gian của tiền làm cho với cùng một lượng tiền, giá trị của nó tại các thời điểm khác nhau là khác nhau Do đó không thể kết luận

ở phương án thứ hai trong ví dụ trên chị Thanh sẽ có số tiền thu về là 100 + 5x8 = 140 triệu, mà nó sẽ phụ thuộc vào thời điểm mà chị Thanh có các luồng tiền thu về Điều này sẽ được giải thích kỹ hơn ở phần sau

Trang 4

3.1.2 Giá trị tương lai

Định nghĩa

Trong ví dụ ở trên, nếu quyết định đầu tư vào dự án nhà ở hồ Linh Đàm, chị Thanh sẽ

có 3 dòng tiền tương lai là 30 triệu ở năm thứ 3, thường được ký hiệu là FV3 Tương

tự như vậy FV4 là 50 triệu và FV5 sẽ là 60 triệu

Câu hỏi: Liệu có thể cộng các giá trị tương lai lại với nhau để đánh giá hiệu quả của dự án hay không?

Giá trị tương lai có thể tìm được từ giá trị hiện tại bằng cách cộng dồn, hay còn gọi là ghép lãi (compounding) Đây là một kỹ thuật sử dụng trong tài chính nhằm đưa các dòng tiền ở các thời điểm khác nhau về cùng một thời điểm trong tương lai

Công thức cộng dồn

Trong đó:

PV là giá trị hiện tại (sẽ được nhắc tới ở ngay mục sau)

i là lãi suất được sử dụng để cộng dồn

n là số năm tính tới thời điểm tương lai n

Để có thể hiểu rõ mối quan hệ giữa giá trị hiện tại và giá trị tương lai, học viên có thể xem xét ví dụ 3-2 ở mục 3.1.4

Giá trị hiện tại là giá trị của một dòng tiền vào hiện tại Điều này có nghĩa là nếu lấy hiện tại làm mốc, thì giá trị hiện tại của thời điểm hiện nay bằng chính nó, còn giá trị hiện tại của một khoản tiền n trong tương lai sẽ khác so với giá trị danh nghĩa tại thời điểm đó do có sự xuất hiện khái niệm giá trị thời gian của tiền tệ Giá trị hiện tại thực

ra chỉ là đối của khái niệm giá trị tương lai, và được ký hiệu là PV (Present Value) Muốn tìm giá trị hiện tại phải xác định bằng cách chiết khấu từ giá trị tương lai Như vậy, chiết khấu (discounting) là kỹ thuật nhằm chuyển giá trị tương lai thành giá trị hiện tại Trong chiết khấu cần nhắc tới lãi suất chiết khấu, hay còn gọi là tỷ lệ chiết khấu (discount rate), đây là một khái niệm khá quan trọng vì nó không dễ hình dung như lãi suất trong công thức cộng dồn, nhưng xét về bản chất thì cả lãi suất và tỷ lệ chiết khấu đều là một Chúng đều là tỷ lệ sinh lợi mà nhà đầu tư yêu cầu khi xem xét các dòng tiền, những phần tiếp theo của bài sẽ cho thấy điều này rõ hơn

Công thức chiết khấu

Trong đó:

PV là giá trị hiện tại

i là tỷ lệ chiết khấu

n là số năm tính tới thời điểm tương lai

Trang 5

Ví dụ 3-2 ở phần 3.1.4 sẽ cho thấy xét về bản chất, kỹ thuật tìm giá trị tương lai và giá trị hiện tại có thể sử dụng thay thế cho nhau khi đánh giá các dòng tiền Tuy nhiên, trong thực tế đầu tư và tín dụng, phương pháp chiết khấu để tìm giá trị hiện tại lại là phương pháp chủ yếu được áp dụng Lý do chính của việc ưa thích phương pháp chiết khấu hơn có lẽ là do thói quen, và việc quy đổi về hiện tại có vẻ như thực tế hơn và trực quan hơn so với việc quy đổi về một thời điểm nào đó trong tương lai

Giá trị hiện tại của một luồng tiền trong tương lai thể

hiện mức giá trị ngang bằng của luồng tiền đó nếu

nhận được trong thời điểm hiện tại Do đó nếu như

tổng giá trị hiện tại của các luồng tiền nhận về và tổng

giá trị hiện tại của các luồng tiền chi ra có thể so sánh

được với nhau, có thể sử dụng phép so sánh này để

quyết định đầu tư cho dự án

Ví dụ 3-2: Chị Lan, giám đốc công ty CRC bán hàng cho đối tác và đang lựa chọn

nhận tiền hàng thanh toán theo một trong hai cách:

 A: Nhận ngay 100 triệu vào thời điểm hiện tại

 B: Nhận 50 triệu vào ngay bây giờ và nhận tiếp 60 triệu sau hai năm

Chị Lan nên quyết định nhận tiền theo phương thức nào?

Rõ ràng nếu chỉ đơn thuần cộng hai giá trị 50 triệu và 60 triệu thì cách nhận tiền thứ hai là hấp dẫn hơn hẳn cách thứ nhất, tuy nhiên nếu như tính tới giá trị thời gian của tiền thì hai dòng tiền này vào hai thời điểm khác nhau nên không thể so sánh được Nếu muốn so sánh dòng tiền của hai phương án này thì cần phải quy chúng về cùng một mốc thời gian Giả sử chị Lan muốn số tiền của mình phải sinh lợi ở mức 10%/năm vì lãi ngân hàng hiện tại đang ở mức này, có thể so sánh hai dòng tiền theo hai cách như sau:

 Quy đổi về cùng thời điểm tương lai:

Với phương án A, 100 triệu hiện nay sẽ có giá trị tương lai sau 2 năm là:

FV2 = 100 x (1+10%)2 = 121 (triệu), vậy phương án A có giá trị FV(A ) = 121 Với phương án B, vì có hai dòng tiền nên phải phân hai dòng tiền này ra thành 2 phần riêng biệt

50 triệu hiện nay sẽ có giá trị tương lai sau 2 năm là:

FV2 = 50 x (1+10%)2 = 60,5 (triệu)

60 triệu là dòng tiền tại thời điểm sau 2 năm nên nó chính là FV2

Từ đó, FV(B) = 60,5 + 60 = 120,5

Như vậy, nếu quy về cùng một thời điểm trong tương lai FV(A) lớn hơn FV(B), vì vậy chị Lan nên chọn phương án A để nhận tiền hàng

 Quy đổi về cùng thời điểm hiện tại

Với đáp án ở cách tính trên là chọn phương án A, nên có thể khẳng định rằng giá trị PV(A) sẽ lớn hơn PV(B) mà chưa cần tính toán

Với phương án A, PV(A) chính là 100 triệu vì không cần quy đổi

Với phương án B, PV(B) sẽ là PV của 60 triệu sau 2 năm, cộng với 50 triệu nhận ngay không cần quy đổi

Trang 6

Sử dụng công thức chiết khấu giá trị tương lai với tỷ lệ chiết khấu 10%:

PV = 60 / (1 + 10%)2 = 49,59 (triệu)

Vậy PV(B) = 49,59 + 50 = 99,59

Khi so sánh hai kết quả có thể thấy PV(A) lớn hơn PV(B), trùng khớp với nhận định lúc đầu, và chị Lan nên lựa chọn cách thanh toán theo phương án A vì nó có lợi hơn

Khi nghiên cứu về giá trị thời gian của tiền tệ, nguyên tắc chung nhất là xác định tất

cả các dòng tiền và gộp các dòng tiền đó vào cùng một thời điểm để tính toán Như phần trên đã nói, trong các phương pháp đánh giá dòng tiền, phương pháp thường dùng nhất là quy đổi giá trị dòng tiền về giá trị hiện tại Do đó, mục này sẽ giới thiệu phương pháp xác định giá trị của một số dòng tiền đặc biệt và phương pháp đánh giá

dự án đầu tư dựa trên giá trị hiện tại ròng và tỷ suất hoàn vốn nội bộ

Phương pháp chung để xác định PV của các dòng tiền trong tương lai là xác định tổng

PV của tất cả các dòng tiền, tuy nhiên đối với một số dòng tiền đặc biệt có thể áp dụng công thức khác để tính PV

Giá trị hiện tại của niên kim (annuity)

Niên kim được hiểu là dòng tiền cố định trong một số

năm nhất định Ví dụ như chị Thanh mua trái phiếu của

ngân hàng Hoa Việt nhưng được trả tiền trong 3 năm,

mỗi năm nhận được 50 triệu Như vậy, chị Thanh nhận

được một khoản niên kim 50 triệu trong vòng 3 năm

Với giả định tỷ suất sinh lợi yêu cầu là 10% ở trên, có

thể tính PV của số tiền chị Thanh nhận được bằng

Excel như sau:

Trong hàm PV của Excel, nhập giá trị rate=10%, nper=3, pmt=501 Hàm sẽ trả kết quả

là 124,34 Như vậy, với số tiền 100 triệu bỏ ra mua trái phiếu, chị Thanh có lợi vì PV của các dòng tiền thu về là lớn hơn số tiền đã bỏ ra

Giá trị hiện tại của trái phiếu coupon

Như Bài 2 - Thị trường tài chính đã phân tích, trái phiếu coupon là loại trái phiếu được hoàn trả lãi bằng các cuống phiếu gọi là các khoản coupon Như vậy, tổng số các dòng tiền mà một nhà đầu tư thu được sẽ là tổng giá trị các dòng coupon và mệnh giá của trái phiếu vào năm cuối cùng Khi đó, giá trị hiện tại của trái phiếu coupon tương đương với giá trị niên kim hiện tại của các khoản coupon cộng với giá trị hiện tại của mệnh giá trái phiếu

Trong ví dụ 3-1 ở trên, trái phiếu của ngân hàng Hoa Việt mà chị Thanh mua là trái phiếu coupon có kỳ hạn 5 năm với khoản coupon là 8 triệu mỗi năm và mệnh giá là

100 triệu Có thể xác định giá trị hiện tại của trái phiếu này như sau:

1 Giá trị FV và giá trị type trong hàm này sẽ được bỏ qua, hoặc điền số 0 vì các giá trị này không dùng tới

Trang 7

 Giá trị hiện tại của các khoản niên kim là 30,33 triệu (sử dụng hàm PV trong Excel với các giá trị rate=10%, nper=5, pmt=8)

 Giá trị hiện tại của mệnh giá là 62,09 triệu Như vậy, tổng giá trị hiện tại của trái phiếu này là 92,42 triệu, với giá trị này chị Thanh không nên mua trái phiếu của Hoa Việt vì số tiền ban đầu chị bỏ ra là 100 triệu

Giá trị hiện tại của niên kim vĩnh viễn (perpetuity)

Một khoản niên kim vĩnh viễn về bản chất là luồng tiền cố định hàng năm nhưng kéo dài trong vô hạn Vì không có thời hạn kết thúc nên giá trị hiện tại của luồng niên kim vĩnh viễn sẽ được tính theo công thức xấp xỉ:

Giá trị hiện tại của niên kim vĩnh viễn (PERPETUITY)

PV = FV / i Trong đó:

PV là giá trị hiện tại

FV là giá trị của luồng niên kim mỗi năm

i là tỷ lệ chiết khấu

Một ứng dụng quan trọng của niên kim vĩnh viễn là tính giá trị hiện tại của cổ tức Vì bản chất của cổ phiếu là không có thời hạn nên giá trị cổ tức nhận được cũng là không

có thời hạn Nếu muốn tính toán giá trị hiện tại của cổ tức, có thể giả định rằng cổ tức của công ty mỗi năm là cố định và nó kéo dài vĩnh viễn

Giá trị hiện tại của niên kim vĩnh viễn tăng trưởng (perpetual growth)

Niên kim vĩnh viễn tăng trưởng về bản chất là niên kim vĩnh viễn, tuy nhiên mỗi năm dòng tiền lại tăng lên một phần nhỏ Trong trường hợp này một khoản tăng trưởng trong niên kim mỗi năm được giả định thêm, khi đó công thức tính giá trị hiện tại của niên kim vĩnh viễn tăng trưởng sẽ là:

Giá trị hiện tại của niên kim vĩnh viễn tăng trưởng (PERPETUAL GROWTH)

PV = FV / (i-g) Trong đó: PV là giá trị hiện tại

FV là giá trị của luồng niên kim mỗi năm

i là tỷ lệ chiết khấu

g là tỷ lệ tăng trưởng của niên kim

Niên kim vĩnh viễn tăng trưởng có thể ứng dụng trong trường hợp giả định cổ phiếu của công ty sẽ đem lại một luồng cổ tức tăng trưởng đều đặn qua các năm

Ví dụ 3-3: Ông Đức mua 5000 cổ phiếu của công ty CRC Ông Đức muốn biết giá trị

hiện tại của số tiền cổ tức mà ông sẽ nhận được với mức lợi suất yêu cầu là 8% Nếu công ty CRC trả cổ tức cố định hàng năm là 12.000 cho mỗi cổ phiếu thì giá trị hiện tại của tất cả các luồng cổ tức trong tương lai là:

PV = d / i = 12000 / 8% = 150000 Nếu nhân với tổng số cổ phiếu ông Đức đang giữ là 5000 cổ phiếu thì tổng giá trị hiện tại của cổ tức mà ông có thể nhận được là 150000 x 5000 = 750 triệu

Trong trường hợp ông Đức dự tính cổ tức của công ty sẽ tăng trưởng là 4% mỗi năm thì giá trị hiện tại của các luồng cổ tức mà ông Đức sẽ nhận được là:

PV = d / (i – g) = 12000 / (8% - 4%) = 300000 Khi đó tổng giá trị hiện tại của cổ tức mà ông Đức có thể nhận được là:

300000 x 5000 = 1 tỷ 500 triệu

Trang 8

Từ các phân tích trên có thể thấy nếu cổ tức có tăng trưởng thì giá trị hiện tại của các luồng cổ tức là cao hơn Tuy nhiên, vì đây chỉ là giả định về mặt lý thuyết nên các phân tích này khá nhạy cảm với khả năng sai lệch trong tính toán

Khi đánh giá một dự án hoặc một khoản đầu tư, chủ thể đầu tư sẽ đứng trước hai quyết định là có nên đầu tư vào dự án hay không và nếu đầu tư thì lựa chọn dự án nào trong số các dự án có thể Vì vậy, cần phải xác định tiêu chí để làm căn cứ đánh giá khi xem xét các dự án khác nhau

Nguyên tắc đánh giá dự án dựa trên giá trị hiện tại ròng

Giá trị hiện tại ròng của dự án (NPV - Net Present Value) được hiểu là phần chênh lệch giữa tổng giá trị hiện tại của các khoản thu được từ dự án với tổng giá trị hiện tại các khoản chi hay còn gọi là các khoản đầu tư Nếu như giá trị thu về lớn hơn giá trị

bỏ ra thì dự án này là dự án có sinh lợi

Công thức tính NPV

Có thể xác định công thức tìm NPV là:

NPV= PV (dòng tiền thu về) – PV (dòng tiền chi ra)

Như vậy, có thể dùng NPV để đánh giá dự án NPV âm có nghĩa là dự án không có tính sinh lợi và do đó không chấp nhận dự án Ngược lại, nếu NPV dương thì chấp nhận dự án Tuy nhiên, vì NPV phản ánh mức độ sinh lợi của dự án nên nếu như có nhiều dự án khác nhau thì có thể lựa chọn dự án có NPV cao nhất

Trong ví dụ 3-1, xem xét các phương án khác nhau và lựa chọn dựa trên cơ sở NPV thì các phương án sẽ được phân tích như sau:

 Với phương án mua trái phiếu của ngân hàng Hoa Việt, NPV của nó là 92,42 -100

= -7,58 Như vậy, chắc chắn không chấp nhận dự án này

 Với phương án đầu tư xây dựng nhà ở hồ Linh Đàm, PV của dự án này được xác định dựa trên cơ sở chiết khấu các dòng tiền với giá trị hiện tại lần lượt là 22,54 triệu ở năm thứ 3; 34,15 triệu ở năm thứ 4; 37,26 triệu ở năm thứ 5 Khi tính tổng các giá trị PV này, PV của dự án là 93,95 triệu Từ đó, có thể thấy NPV của dự án cũng là âm với giá trị là 93,95–100 = -6,05 triệu

Do vậy, chị Thanh không nên đầu tư vào dự án nào mà nên đem số tiền 100 triệu của mình đi gửi ngân hàng với mức lãi suất là 10%/ năm Ở phần phân tích dưới đây về IRR, lý do để chị Thanh nên làm như vậy sẽ được giải thích rõ hơn

Nguyên tắc đánh giá dự án dựa trên tỷ suất hoàn

vốn nội bộ

Khi đánh giá một dự án theo NPV có thể

tuân thủ nguyên tắc là chấp thuận nếu NPV dương và

loại bỏ nếu NPV âm Tuy nhiên nếu NPV = 0 dự án

này được gọi là cân bằng, không chấp thuận nhưng

cũng không loại bỏ Vì vậy, nếu đặt giá trị NPV của dự

án là 0, cộng với việc xác định được các dòng tiền

trong tương lai, thì có thể xác định được một tỷ lệ chiết

khấu tương ứng với giá trị NPV này Do đó, tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR - Internal Rate of Return) là tỷ lệ chiết khấu làm cho NPV của dự án bằng 0 IRR phản ánh

Trang 9

khả năng sinh lợi của dự án, chưa tính đến chi phí cơ hội của vốn đầu tư Nếu như IRR lớn hơn tỷ lệ chiết khấu hiện tại của dự án thì thực hiện dự án, hay nói cách khác dự

án có lãi, tương đương với giá trị hiện tại ròng dương

IRR là một chỉ tiêu mang tính tương đối, tức là nó chỉ phản ánh tỷ lệ hoàn vốn nội bộ của dự án là bao nhiêu chứ không cho biết số lãi hay lỗ của dự án tính bằng tiền Tuy nhiên IRR lại rất có giá trị trong đánh giá dự án vì IRR có thể sử dụng được cho các

dự án có quy mô khác nhau trong khi NPV thì không thể như vậy Nói chung có thể xác định dự án là có lợi nếu IRR > 25% mà không cần phải so sánh với tỷ lệ chiết khấu vì đây là một mức sinh lợi tương đối cao, tương tự như vậy nếu IRR <5% thì có thể loại bỏ dự án ngay mà không cần so sánh Đối với NPV không thể áp dụng cách làm tắt này

Trong ví dụ 3-1, có thể đánh giá dự án dựa trên IRR như sau:

Với khoản trái phiếu Hoa Việt, IRR sẽ là mức chiết khấu làm cho tổng PV của trái phiếu, gồm có PV coupon và PV mệnh giá cân bằng với 100 triệu Như vậy khi giải trong Excel với hàm IRR, kết quả là 8% Với phương án Hoa Việt, IRR là 8%, tức là IRR trùng khớp với lãi suất coupon của trái phiếu, do đó, đôi khi IRR còn được gọi là YTM , tức là lãi suất đáo hạn thể hiện coupon của một trái phiếu sẽ bằng với tỷ suất hoàn vốn của nó nếu như trái phiếu này được giữ tới khi đáo hạn Tuy nhiên nếu so sánh với lợi suất yêu cầu của dự án thì IRR nhỏ hơn mức lợi suất yêu cầu 10%, nên phưong án này là không có lợi, chị Thanh không nên lựa chọn

Với phương án đầu tư nhà ở hồ Linh Đàm, với các dòng tiền như giả định, khi giải bằng hàm IRR trong Excel kết quả trả về là 8.36, khi so sánh với lợi suất yêu cầu là 10% kết quả này cũng nhỏ hơn nên phương án hồ Linh Đàm là không có lợi

Trong ví dụ trên, các kết quả trả về bằng phân tích IRR hoàn toàn trùng khớp với kết quả phân tích NPV, do vậy có thể thấy hai phương pháp phân tích này có thể sử dụng thay thế cho nhau được trong việc đánh giá dự án

Trong phần trên có thể thấy rõ rằng, tỷ suất sinh lợi là

một nhân tố rất quan trọng để xác định việc chấp thuận

hay không chấp thuận một dự án Nếu IRR nhỏ hơn lãi

suất yêu cầu của nhà đầu tư thì dự án sẽ bị bác bỏ và

ngược lại Mặt khác, lãi suất vừa được hiểu là quyền

lợi của người này nhưng đồng thời cũng là nghĩa vụ

của người khác Ví dụ, đối với người cho vay, lãi suất

là lợi tức của việc cấp vốn còn đối với người đi vay, lãi suất lại là chi phí của vốn vay

Vì vậy, việc nghiên cứu lãi suất và hiểu rõ về lãi suất là một yêu cầu bắt buộc nếu muốn hiểu rõ các vấn đề tài chính

Khi đó lãi suất sẽ được coi là một mức giá cả mà tại đó hợp đồng tín dụng có thể được ký kết giữa người cấp tín dụng và người nhận tín dụng Tuy nhiên có một điểm cần lưu ý, đó là sự phân biệt giữa lãi suất và tiền lãi Tiền lãi là số tiền mà người nhận tín dụng phải trả cho người cấp tín dụng Do đó, lãi suất là một tỷ lệ, thường là phần trăm, còn tiền lãi là một số tuyệt đối, cho nên không được phép dùng lẫn giữa hai khái niệm này

Trang 10

Trong hợp đồng tín dụng, ngoài lãi suất còn phải nhắc thêm tới khái niệm tiền gốc Tiền gốc là số tiền danh nghĩa để dựa vào đó hợp đồng tín dụng tính toán lãi suất và cũng là số tiền mà người nhận tín dụng được sử dụng theo hợp đồng tín dụng

Công thức tính lãi suất

Công thức tính lãi suất:

Lãi suất = Tiền lãi / Tiền gốc

Lưu ý rằng trong quan hệ tín dụng, là một trong những quan hệ tài chính cơ bản, lãi suất chính là yếu tố cốt lõi cho quan hệ này Do đó, việc tính toán chính xác dựa trên những hiểu biết đúng đắn về lãi suất là cơ sở quan trọng để có thể đưa ra những quyết định tín dụng chính xác

Việc phân loại lãi suất dựa trên các tiêu chí khác nhau sẽ giúp cho học viên nắm rõ hơn những loại lãi suất phổ biến trên thị trường và đặc điểm của chúng

Theo thời hạn

 Nếu phân chia theo thời hạn, lãi suất có thể được chia thành 3 nhóm:

o Lãi suất không kỳ hạn: Là loại lãi suất áp dụng cho hợp đồng vay không quy định thời gian đáo hạn Lãi suất không kỳ hạn có thể tồn tại dưới dạng lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, lãi suất tiền gửi thanh toán không kỳ hạn hay lãi suất gọi trả

o Lãi suất ngắn hạn: Là loại lãi suất áp dụng cho

các hợp đồng tín dụng ngắn hạn, tức là có thời hạn dưới một năm Vì bản chất của tín dụng ngắn hạn là

để tài trợ nhu cầu tiền tệ cho các doanh nghiệp nên lãi suất này thường không quá cao

o Lãi suất trung và dài hạn: Là loại lãi suất áp dụng

cho các hợp đồng tín dụng dài hạn, có thời hạn thường là trên 5 năm Nói chung vì mục tiêu của tín dụng dài hạn là để tài trợ cho các khoản đầu tư dài hạn nên lãi suất thường là cao để bù đắp cho yếu tố lạm phát

Theo cách quy định

 Nếu phân chia theo hợp đồng, lãi suất chủ yếu được phân thành hai nhóm sau:

o Lãi suất cố định: Là mức lãi suất được quy định chính xác trong suốt thời gian hợp đồng, ví dụ như nếu hợp đồng quy định là 12%/năm thì tỷ lệ này không thay đổi trong suốt thời gian của hợp đồng

o Lãi suất thả nổi: Là mức lãi suất của hợp đồng tín dụng được dựa theo một lãi suất nào đó trên thị trường nhưng bản thân lãi suất đó là không cố định

Ví dụ, có thể quy định là lãi suất hợp đồng = LIBOR1 12 tháng cùng kỳ cộng với 0,03% Vì bản chất LIBOR là biến đổi liên tục nên lãi suất dựa theo đó cũng là thả nổi

1 LIBOR = London InterBank Offered Rate, lãi suất cho vay liên ngân hàng London

CHÚ Ý

Hiểu một cách cơ bản và đơn giản nhất thì có thể định nghĩa lãi suất như sau: Lãi suất là tỷ

lệ phần trăm dựa trên số tiền của hợp đồng tín dụng mà người nhận tín dụng phải trả cho người cấp tín dụng

Ngày đăng: 07/06/2023, 18:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Đường cong lãi suất - 05-Fin101-Bai 3-V1.0.Pdf
Hình 3.1. Đường cong lãi suất (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w