RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN MỘT ĐOẠN TRÍCH, MỘT TÁC PHẨM VĂN XUÔI, CÁC DẠNG BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN TRÍCH, TÁC PHẨM VĂN XUÔI, THƠ gồm 3 dạng chính. Bài viết này sẽ cung cấp cụ thể cách viết bài văn nghị luận, cũng như một số dàn ý để tham khảo. Bài viết này sẽ là một giải pháp để làm một bài văn nghị luận. Giành có các bạn học sinh cấp 2 và cấp 3, cũng như là tài liệu để ôn tập cho việc thi đại học, cao đẳng hàng năm.
Trang 1Đề 4 :
Bà lão cúi đầu nín lặng Bà lão hiểu rồi Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này Còn mình thì Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rủ xuống hai dòng nước mắt Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?
1 Đoạn văn trên được viết theo phương thức nào là chính?
2 Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là gì ?
3 Xác định thành ngữ dân gian được sử dụng trong đoạn văn và nêu hiệu quảnghệ thuật của các thành ngữ đó ?
4 Dấu ba chấm ( ) trong câu văn Còn mình thì có ý nghĩa gì?
5 Từ văn bản, viết đoạn văn bày tỏ suy nghĩ về tình mẫu tử
Trả lời :
Câu 1 : Đoạn văn được viết theo phương thức biểu cảm là chính
Câu 2 : Đoạn văn diễn tả tâm trạng của nhân vật bà cụ Tứ khi biết con trai( nhân vật Tràng) dẫn người đàn bà xa lạ về nhà
Câu 3 : Thành ngữ dân gian được sử dụng trong đoạn văn : dựng vợ gả chồng , ăn nên làm nổi, sinh con đẻ cái Hiệu quả nghệ thuật của các thành
ngữ : chứng tỏ nhà văn thể hiện tài năng vận dụng sáng tạo ngôn ngữ dân gian,dòng tâm tư người kể hoà với dòng suy nghĩ của nhân vật bà cụ Tứ Tác giảhiểu được nỗi lòng, tâm trạng của người mẹ thương con
Câu 4 : Dấu ba chấm ( ) trong câu văn Còn mình thì có ý nghĩa: gợi lời độc thoại nội tâm của nhân vật bà cụ Tứ bị đứt đoạn, khi bà so sánh giữa người ta với còn mình Qua đó, người đọc thấy được tấm lòng của người mẹ già này Bà
thương con nhưng thấy mình chưa làm tròn bổn phận, trách nhiệm của mộtngười mẹ, nhất là trong ngày hạnh phúc của con Tấm lòng của bà cụ Tứ thậtcao cả và thiêng liêng
Câu 5 : Đoạn văn cần đảm bảo các ý:
-Dẫn ý bằng chính dòng độc thoại nội tâm xúc động của bà cụ Tứ
- Tình mẫu tử gì? Biểu hiện của tình mẫu tử?
- Ý nghĩa của tình mẫu tử?
- Phê phán những đứa con bất hiếu với mẹ và nêu hậu quả
- Bài học nhận thức và hành động?
Đề 5:
Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở Vợ hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất Cảnh tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía cảm động Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng Hắn
đã có một gia đình Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy Cái nhà như cái tổ
ấm che mưa che nắng Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận
Trang 2phải lo lắng cho vợ con sau này Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà.
1 Đoạn văn trên được viết theo phương thức nào là chính?
2 Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là gì ?
3 Xác định từ loại của các từ giẫy, quét và nêu hiệu quả nghệ thuật của các từ
đó ?
4 Ý nghĩa của từ nên người trong văn bản là gì?
5 Từ văn bản, viết đoạn văn bày tỏ suy nghĩ về hạnh phúc
Trả lời :
Câu 1 : Đoạn văn được viết theo phương thức tự sự là chính
Câu 2 : Đoạn văn diễn tả cảnh tại ngôi nhà của nhân vật Tràng vào buổi sáng,sau đêm tân hôn
Câu 3 : Từ giẫy, quét là động từ Hiệu quả nghệ thuật của các từ đó : nhà văn tả
những việc làm vào sáng sớm của bà cụ Tứ và con dâu Họ đang xây đắp mái
ấm gia đình, dọn dẹp nhà cửa cho sạch sẽ, ngăn nắp Chính hạnh phúc gia đình
đã làm thay đổi không khí ngôi nhà, xua đi sự ám ảnh của cái đói, cái chếtđang rình rập
Câu 4 : Ý nghĩa của từ nên người : thể hiện sự trưởng thành của nhân vật Tràng
đối với gia đình Đó là trách nhiệm làm con, làm chồng và tương lai sẽ làmcha của anh khi đã có vợ Nhà văn thể hiện tấm lòng nhân đạo, hiểu được tâm
trạng vui sướng khi được đón nhận hạnh phúc của Tràng
Câu 5 : Đoạn văn cần đảm bảo các ý:
- Dẫn ý bằng niềm vui của nhân vật Tràng khi có vợ
- Hạnh phúc gì? Biểu hiện của hạnh phúc?
- Ý nghĩa của hạnh phúc nói chung, hạnh phúc gia đình nói riêng?
- Phê phán những bất hạnh diễn ra trong gia đình và nêu hậu quả
- Bài học nhận thức và hành động?
Đề 6:
Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành Bà cụ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh với con dâu Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này:
-Tràng ạ Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà Tao tin rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem
1 Đoạn văn trên được viết theo phương thức nào là chính?
2 Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là gì ?
3 Các từ ngữ mẹt rách, lùm rau chuối thái rối, một đĩa muối ăn với cháo trong
đoạn văn đạt hiệu quả diễn đạt như thế nào?
4 Việc bà cụ Tứ khuyên con mua lấy đôi gà có ý nghĩa gì?
5 Từ văn bản, viết đoạn văn bày tỏ suy nghĩ về câu nói : gia đình là mái ấmduy nhất của mỗi con người ?
Trả lời :
Trang 3Câu 1 : Đoạn văn được viết theo phương thức tự sự là chính
Câu 2 : Đoạn văn diễn tả bữa cơm ngày đó khi đón con dâu mới và lời khuyêncon nuôi gà của bà cụ Tứ
Câu 3 : Các từ ngữ mẹt rách, lùm rau chuối thái rối, một đĩa muối ăn với cháo
trong đoạn văn đạt hiệu quả diễn đạt: Nhà văn kể lại cận cảnh mâm cơm ngày
đó thật thảm khốc Qua đó, tác giả có cái nhìn cảm thương với người nôngdân, đồng thời gián tiếp tố cáo tội ác của bọn thực dân, phát xít lúc bấy giờ -thủ phạm gây ra nạn đói Ất dậu ( 1945)
Câu 4 : Việc bà cụ Tứ khuyên con mua lấy đôi gà có ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Nuôi đôi gà tức là nuôi niềm hy vọng Đó là lời khuyên chân tình của mộtngười mẹ nhân hậu nhất, lời khuyên đậm chất nông dân Bà cụ Tứ là người gầnđất xa trời Nhưng bà không nói về mình mà chỉ lo cho con Khuyên con nuôi
gà là bà đã thắp lên ngọn lửa niềm tin vào tương lai, vào sự sống bất diệt
Câu 5 : Đoạn văn cần đảm bảo các ý:
- Dẫn ý bằng cảnh gia đình bà cụ Tứ trong bữa cơm ngày đói Bữa ăn tuythảm hại nhưng ấm áp tình mẹ con
- Gia đình là gì? Tại sao gia đình là mái ấm duy nhất của mỗi conngười ?
- Vai trò và ý nghĩa của gia đình trong cuộc sống?
- Phê phán những gia đình tan vỡ, bất hạnh và nêu hậu quả
- Bài học nhận thức và hành động?
CÂU 5 ĐIỂM:
Đề 1 : Phân tích hình ảnh người vợ nhặt trong truyện ngắn “Vợ nhặt”
của Kim Lân.
A/ Lập dàn ý:
I Mở bài
- Giới thiệu vài nét lớn về tác giả, tác phẩm;
- Giới thiệu và nhận định chung về nhân vật người vợ nhặt
II Thân bài:
1 Khái quát về tác phẩm : Giới thiệu hoàn cảnh ra đời tác phẩm, xuất xứ
tác phẩm, tóm tắt nội dung truyện
2 Phân tích nhân vật người vợ nhặt :
a/ Phân tích đặc điểm 1:
- Nêu đặc điểm: Người “vợ nhặt ” là nạn nhân của nạn đói năm 1945 -Làm rõ đặc điểm:
+ Người vợ nhặt là một con số không tròn trĩnh: không tên tuổi, khôngquê hương, không quá khứ
+ Chân dung chị ta hiện ra ngay từ đầu là những nét không mấy dễ nhìn
Đó là hình ảnh một người đàn bà gầy vêu vao, ngực gầy lép, khuôn mặt lưỡicày xám xịt, còn quần áo thì rách như tổ đĩa
+ Chị ta hiện ra trước mắt mọi người với điệu bộ còn xa mới gọi là dịudàng Đàn bà gì mà “sầm sập chạy tới”, “sừng sỉa nói”, “đứng cong cớn trướcmặt hắn”…
Trang 4+ Đã thế, chị ta thuộc loại ăn nói chỏng lỏn, ghê gớm, mở miệng thì
“rích bố cu”, “bỏ bố”, “sợ gì”
+ Và trên hết, chị ta là một người đang đói Đói đến mức quên cả ý tứ,
sỉ diện tối thiểu của một người con gái
b./Phân tích đặc điểm 2:
- Nêu đặc điểm: Nhưng trong sâu thẳm con người thị vẫn có niềm khát
khao được sống, khát khao một mái ấm hạnh phúc
-Làm rõ đặc điểm:
+ Con người thật của chị ta, khi đi với Tràng mới hiện lên đầy đủ.Người đàn bà cong cớn ấy, ngay từ khi đi theo Tràng về nhà đã khác : một côdâu ngoan ngoãn dễ thương đang về nhà chồng…
+ Khi bước vào nhà Tràng, người đàn bà ấy “ngồi mớm ở mép giườnghai tay khư khư ôm cái thúng, mặt bần thần” Đó cũng chính là cái tâm trạngngổn ngang trăm mối của lòng người
+ Nhưng có lẽ nét đẹp của người đàn bà ấy, thực sự hiện ra rõ nhất làsau buổi gặp gỡ với bà cụ Tứ và buổi sáng hôm sau của cuộc đời làm vợ Thị
tỏ ra đảm đang, hiền thục
+ Bóng dáng của chị hiện ra tuy không lộng lẫy nhưng gợi lên sự ấm áp.Chị mang đến một làn gió tươi mát cho cuộc sống tăm tối bên bờ cái chết
3 Nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật “vợ nhặt ” :
- Tác giả đặt nhân vật vào tình huống truyện độc đáo để bộc lộ phẩm chất,
tính cách
- Cách kể chuyện tự nhân , hấp dẫn, dựng cảnh sinh động
- Đối thoại hấp dẫn, ngôn ngữ mộc mạc, giản dị
III Kết bài :
- Kết luận chung về hình tượng nhân vật “vợ nhặt ”
- Nêu ý nghĩa của nhân vật
- Cảm nghĩ về nhân vật
B/Gợi ý làm bài: ( Phần sau đây chỉ là gợi ý chi tiết của dàn ý sơ lược.
Học sinh đọc tham khảo Khi làm bài, HS phải viết thành bài hoàn chỉnh, diễn
đạt sáng tạo hơn Chú ý dòng in đậm đứng là ý chính, dòng in đậm nghiêng là trích dẫn chứng tiêu biểu).
Mở
bài
Kim Lân ( 1920-2007) là cây bút chuyên viết truyện ngắn Ông
có nhiều tác phẩm có giá trị về đề tài nông thôn và nông dân Sángtác của Kim Lân phản ánh chân thực, xúc động cuộc sống củangười dân quê mà ông hiểu biết sâu sắc về cảnh ngộ và tâm lí của
họ “Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn hay nhất của nhà vănKim Lân và của văn xuôi hiện đại Việt Nam sau 1945 Trong
truyện ngắn này, nhà văn Kim Lân đã miêu tả rất thành công nhân
vật người vợ nhặt Đó là hình ảnh của một người nghèo đói, bất
hạnh nhưng lại có một khát vọng sống mãnh liệt
Thân
bài:
Vợ nhặt thực chất là một chương trong tiểu thuyết Xóm ngụ
cư (1946), được Kim Lân viết lại sau hoà bình, in trong tập Con
Trang 5quát
chó xấu xí ( 1962) Truyện kể về xóm ngụ cư trong nạn đói năm
1945 Anh Tràng là một thanh niên nghèo, làm nghề đẩy xe thuê.Một lần chở lúa lên tỉnh, tình cờ Tràng đươc một cô gái giúp anhđẩy xe lân dốc Lần sau gặp lại, Tràng mời cô gái ăn bốn bát bánhđúc rồi rủ về với mình Cô đã thành vợ Tràng Tràng dẫn vợ về, cảxóm ngụ cư ngạc nhiên, mẹ Tràng ngạc nhiên và cả Tràng cũngngạc nhiên Cuộc sống của họ tuy nghèo nhưng rất đầm ấm và luôn
hy vọng vào tương lai Kết thúc truyện là tâm trạng anh Tràng nghĩ
về hình ảnh lá cờ và đoàn người đi phá kho thóc của Nhật chia chongười đói
Phân
tích ý
1 :
Người “vợ nhặt ”là nạn nhân của nạn đói năm 1945 Thị là
người vô gia cư, đến cái tên cũng chẳng có Có lẽ thị không phảingười ở xứ này, mà ở một nơi nào đó, do nạn đói đã trôi dạt đến
đây, bám víu bụi bờ để sống.Trước khi trở thành vợ Tràng, thị là một người phụ nữ ăn nói chỏng lỏn, táo bạo và liều lĩnh: Lần gặp đầu tiên, thị chủ động làm quen ra đẩy xe bò cho Tràng và “liếc mắt cười tít” với Tràng Lần gặp thứ hai, thị “sầm sập chạy tới”,
“sưng sỉa nói” và lại còn “đứng cong cớn” trước mặt Tràng Nhưng Tràng không nhận ra thị Bởi hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt Nạn đói đã tàn phá ghê gớm,
khiến cho thị thay hình đổi dạng Thị còn chủ động đòi ăn Khi
được Tràng mời ăn bánh đúc, thị đã sà xuống cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì Ăn xong còn lấy
đũa quẹt ngang miệng và khen ngon…
Có thể nói, tất cả những biểu hiện trên của thị suy cho cùng
cũng là vì đói Cái đói trong một lúc nào đó nó có thể làm biến dạng tính cách của con người Nói điều này, chắc chắn nhà văn thật sự xót xa và cảm thông cho cảnh ngộ đói nghèo của người
một người đàn bà hiền thục, e lệ, lễ phép, đảm đang Điều đó được
thể hiện qua dáng vẻ bẽn lẽn đến tội nghiệp của thị khi bên Tràng
vào lúc trời chạng vạng ( thị đi sau Tràng ba bốn bước, cái nón rách che nghiêng, “rón rén, e thẹn” , ngượng nghịu,“chân nọ bước díu cả vào chân kia” ) Thật là tội nghiệp cho cảnh cô dâu mới
theo chồng về nhà: một cảnh đưa dâu không xe hoa, chẳng pháocưới mà chỉ thấy những khuôn mặt hốc hác u tối của những ngườitrong xóm và âm thanh của tiếng quạ, tiếng khóc hờ người chết
tang thương…Sau một ngày làm vợ, chị dậy sớm, quét tước, dọn
dẹp cho căn nhà khang trang, sạch sẽ Đó là hình ảnh của một
Trang 6người vợ biết lo toan, thu vén cho cuộc sống gia đình – hình ảnh
của một người vợ hiền, một cô dâu thảo Dù kề bên cái chết, cô gái này vẫn khao khát hạnh phúc, muốn được sống trong mái
ấm hạnh phúc của gia đình, một mái ấm tình thương, có chồng
có con như những người đàn bà may mắn khác Trong bữa cơm cưới giữa ngày đói, chị tỏ ra là một phụ nữ am hiểu về thời sự khi
kể cho mẹ và chồng về câu chuyện ở Bắc Giang người ta đi phákho thóc của Nhật Chính chị đã làm cho niềm hy vọng của mẹ vàchồng thêm niềm hy vọng vào sự đổi đời trong tương lai
Nghệ
thuật
Nhân vật Vợ nhặt đã thể hiện sự điêu luyện của ngòi bút Kim Lân trong nghệ thuật xây dựng nhân vật Tác giả đã tạo được một tình huống truyện độc đáo để nhân vật bộc lộ những phẩm chất, tính cách Cách kể chuyện tự nhiên, hấp dẫn, dựng cảnh sinh động với nhiều chi tiết đặc sắc; đối thoại hấp dẫn, ấn tượng; miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, ngôn ngữ mộc mạc, giản
dị, đậm chất nông thôn và có sự gia công sáng tạo của nhà văn Kết
luận
Tóm lại, người phụ nữ không tên tuổi, không gia đình, không tên gọi, không người thân ấy đã thật sự đổi đời bằng chính tấm lòng giàu tình nhân ái của Tràng và mẹ Tràng Bóng dáng
của thị hiện ra tuy không lộng lẫy nhưng lại gợi nên sự ấm áp về
cuộc sống gia đình Phải chăng thị đã mang đến một làn gió tươi mát cho cuộc sống tăm tối của những người nghèo khổ bên bờ của
cái chết…
Nhân vật là một bằng chứng sinh động để tác giả tố cáo hiệnthực về nạn đói, góp phần tạo nên giá trị hiện thực và nhân đạo củatác phẩm
Đề 2 : Phân tích nhân vật Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim
Lân.
( Trích đề thi và đáp ánTốt Nghiệp THPT năm 2011- Phần nâng cao)
A Đáp án của Bộ GD&ĐT :
a Yêu cầu về kĩ năng
Biết cách làm bài nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi; biếtcách phân tích một hình tượng nhân vật Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát;không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp
b Yêu cầu về kiến thức
Trên cơ sở những hiểu biết về nhà văn Kim Lân và truyện ngắn Vợnhặt (chủ yếu phần trích trong Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập hai), thí sinh có thểtrình bày theo nhiều cách, nhưng cần làm rõ được các ý cơ bản sau:
- Nêu được vấn đề cần nghị luận
Trang 7- Tràng là người dân ngụ cư nghèo khổ, có phẩm chất hiền lành, tốtbụng; sẵn lòng cưu mang người đồng cảnh ngộ trong nạn đói khủng khiếp
- Trong hoàn cảnh khốn cùng vẫn khát khao hạnh phúc, có ý thức tạodựng mái ấm gia đình
- Khát vọng sống mãnh liệt; có niềm tin vào tương lai tươi sáng
- Nghệ thuật: nhân vật được đặt trong tình huống truyện độc đáo; diễnbiến tâm lí được miêu tả chân thực, tinh tế; ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, phùhợp với tính cách nhân vật
- Đánh giá chung về nhân vật
B/Gợi ý làm bài: ( Phần sau đây chỉ là gợi ý chi tiết của dàn ý sơ lược.
Học sinh đọc tham khảo Khi làm bài, HS phải viết thành bài hoàn chỉnh, diễn
đạt sáng tạo hơn Chú ý dòng in đậm đứng là ý chính, dòng in đậm nghiêng
là trích dẫn chứng tiêu biểu).
Mở bài Kim Lân là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn xuôi
hiện đại Việt Nam trước và sau Cách mạng tháng Tám Thế giớinghệ thuật của ông tập trung ở khung cảnh nông thôn và hình tượngngười nông dân Sáng tác của Kim Lân phản ánh chân thực, xúcđộng cuộc sống của người dân quê mà ông hiểu biết sâu sắc vềcảnh ngộ và tâm lí của họ Một trong những tác phẩm tiêu biểu củaKim Lân được viết ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công
là truyện ngắn “Vợ nhặt” Trong truyện ngắn này, nhà văn Kim Lân đã miêu tả rất thành công nhân vật Tràng Đó là hình ảnh của
một người nghèo đói, bất hạnh nhưng giàu tình người và khát vọnghạnh phúc
Thân
bài:
Khái
quát
Vợ nhặt thực chất là một chương trong tiểu thuyết Xóm ngụ
cư (1946), được Kim Lân viết lại sau hoà bình, in trong tập Con chó xấu xí ( 1962) Truyện kể về xóm ngụ cư trong nạn đói năm
1945 Anh Tràng là một thanh niên nghèo, làm nghề đẩy xe thuê.Một lần chở lúa lên tỉnh, tình cờ Tràng đươc một cô gái giúp anhđẩy xe lên dốc Lần sau gặp lại, Tràng mời cô gái ăn bốn bát bánhđúc rồi rủ về với mình Cô đã thành vợ Tràng Tràng dẫn vợ về, cảxóm ngụ cư ngạc nhiên, mẹ Tràng ngạc nhiên và cả Tràng cũngngạc nhiên Cuộc sống của họ tuy nghèo nhưng rất đầm ấm và luôn
hy vọng vào tương lai Kết thúc truyện là tâm trạng anh Tràng nghĩ
về hình ảnh lá cờ và đoàn người đi phá kho thóc của Nhật chia chongười đói
Thật vậy, xuất hiện trong tác phẩm, Tràng vốn là một gã trainghèo, sống ở xóm ngụ cư, có một mẹ già và làm nghề đẩy xe bò
Trang 8mướn Đã vậy, Tràng lại có một ngoại hình xấu xí, thô kệch với “
cái đầu trọc nhẵn”; “cái lưng to rộng như lưng gấu”; “ hai con mắt gà gà, nhỏ tí” lúc nào cũng đắm vào bóng chiều của hoàng
hôn.Thêm vào đó, tính tình của Tràng lại có phần “dở hơi” nhưng
tốt bụng, hay vui đùa với trẻ con trong xóm Có thể nói, Tràng có một cảnh ngộ thật bất hạnh và tội nghiệp.
Thấy người đàn bà đói quá, anh sẵn sàng cho ăn dù cũng chẳng
dư dật gì Thấy người đàn bà quyết tâm theo mình, dù bỗng sợ cho
tương lai, anh vẫn không từ chối Điều chủ yếu là :"Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy" Chính sự tốt bụng và nhân hậu này đã đem đến
hạnh phúc cho Tràng
Phân
tích ý
2 :
Mặc dù nghèo khổ nhưng trong hoàn cảnh khốn cùng,
Tràng vẫn khát khao hạnh phúc, có ý thức tạo dựng mái ấm gia đình
Tràng có vợ bằng cách “nhặt” được chỉ qua hai lần gặp gỡ, vàicâu nói đùa và bốn bát bánh đúc giữa ngày đói Qủa thật, chuyệnlấy vợ của Tràng là một lạ mà thú vị - đùa mà thật, thật mà cứ nhưđùa
Lúc đầu, khi người phụ nữ đói nghèo, rách rưới đồng ý theo không Tràng về làm vợ, Tràng không phải không biết “chợn”:
“Thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng” Nhưng rồi anh ta chặc lưỡi “Chậc,kệ!”.
Có vẻ như một quyết định không nghiêm túc như phóng lao phảitheo lao vậy.Việc hai người đến với nhau bề ngoài có vẻ ngẫu
nhiên nhưng bên trong lại là tất nhiên : Người đàn bà cần Tràng để
có một chỗ dựa qua thì đói kém, còn Tràng cũng cần người phụ nữnghèo ấy để có vợ và để biết đến hạnh phúc
Trên đường đưa vợ về nhà, Tràng thật sự vui và hạnh
phúc:“ Trong một lúc, Tràng như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả đói khát đang đe doạ…Trong lòng hắn, lúc này chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông ấy…” Có thể nói , trong tác phẩm, có tới hơn hai mươi lần nhà văn
nhắc đến niềm vui và nụ cười thường trực của Tràng khi đã có vợbằng các từ ngữ rất gợi tả và gợi cảm : mặt phớn phở, mắt sáng lênlấp lánh, miệng cười tủm tỉm…
Chỉ sau một đêm “nên vợ nên chồng”, Tràng thấy mình đổi khác “ trong người êm ái, lửng lơ như người từ giấc mơ đi ra.Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ như không phải” Tràng “ bỗng nhiên thấy thương yêu và gắn bó với căn nhà”; “Hắn đã có một gia đình Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy Cái nhà như tổ ấm che mưa che nắng…Bây giờ hắn mới
Trang 9thấy hắn nên người, thấy hắn có bổn phận phải lo cho vợ con sau này…”
Niềm vui của Tràng thật cảm động, lẫn lộn cả hiện thực lẫn
ước mơ “Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà” So với cái dáng “ngật ngưỡng” của Tràng ở đầu tác phẩm, hành động “xăm xăm” này
của Tràng là một đột biến quan trọng, một bước ngoặt đổi thay cả
số phận lẫn tính cách của Tràng: từ đau khổ sang hạnh phúc, từ chán đời sang yêu đời, từ ngây dại sang ý thức.
Tràng biết vượt lên trên hoàn cảnh để sống hạnh phúc Trong
phúc chốc, Tràng nghĩ đến“ cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp Đằng trước có lá cờ đỏ to lắm” Đoàn
người đi phá kho thóc của Nhật và lá cờ Việt Minh Đây là hiện
thực nhưng cũng là ước mơ về một tương lai hướng về Đảng vềcách mạng của Tràng và những người như Tràng
Hai hình ảnh trên đối lập nhau nhưng có nhiều ý nghĩa Hìnhảnh cách mạng xa mà gần, trừu tượng mà cụ thể, tạo xúc độngmạnh và gợi niềm tin Đó là tín hiệu của sự đổi đời, nhất địnhTràng và bao người nông dân nghèo khổ khác sẽ được sống tronghạnh phúc nếu biết đứng dậy để đoàn kết đấu tranh
Nghệ
thuật
Nhân vật Tràng đã thể hiện sự điêu luyện của ngòi bút Kim Lân trong nghệ thuật xây dựng nhân vật Tác giả đã tạo được một tình huống truyện độc đáo để nhân vật bộc lộ những phẩm chất, tính cách: cách kể chuyện tự nhiên, hấp dẫn, dựng cảnh sinh
động với nhiều chi tiết đặc sắc; đối thoại hấp dẫn, ấn tượng; miêu tả
tâm lí nhân vật tinh tế, ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, đậm chất nông thôn và có sự gia công sáng tạo của nhà văn.
Kết
luận
Tóm lại, Kim Lân miêu tả tâm trạng nhân vật Tràng xoay
quanh tình huống nhặt vợ hết sức đặc biệt Cũng từ đó, hình tượngnhân vật Tràng có vai trò lớn trong việc thể hiện tư tưởng chủ đề
của tác phẩm: Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết mà luôn nghĩ đến sự sống Cũng qua Tràng và câu chuyện nhặt vợ của
anh, nhà văn giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của nhựng người dân lao động nghèo: đó là vẻ đẹp tình người
và niềm tin tưởng vào tương lai.
Đề 3 : Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn
“Vợ nhặt” của Kim Lân ( Trích đề thi và đáp ánTốt Nghiệp THPT năm 2008)
Trang 10A Đáp án của Bộ GD&ĐT :
a Yêu cầu về kĩ năng:
Biết cách làm bài văn nghị luận phân tích nhân vật; kết cấu chặt chẽ, diễnđạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp
b Yêu cầu về kiến thức:
Trên cơ sở hiểu biết về truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân, thí sinh phântích được diễn biến tâm trạng của nhân vật bà cụ Tứ với các ý cơ bản sau:
- Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và nhân vật
- Bối cảnh nảy sinh tâm trạng: giữa nạn đói thê thảm, mọi người đang đốimặt với cái chết thì Tràng (con trai bà cụ Tứ) lại lấy vợ
- Diễn biến tâm trạng của nhân vật bà cụ Tứ:
B Gợi ý làm bài: ( Phần sau đây chỉ là gợi ý chi tiết của dàn ý sơ lược Học
sinh đọc tham khảo Khi làm bài, HS phải viết thành bài hoàn chỉnh, diễn đạt
sáng tạo hơn Chú ý dòng in đậm đứng là ý chính, dòng in đậm nghiêng là trích dẫn chứng tiêu biểu)
Mở bài Kim Lân là một trong những nhà văn xuất sắc của
nền văn xuôi hiện đại Việt Nam trước và sau Cáchmạng tháng Tám Thế giới nghệ thuật của ông tập trung
ở khung cảnh nông thôn và hình tượng người nông dân.Sáng tác của Kim Lân phản ánh chân thực, xúc độngcuộc sống của người dân quê mà ông hiểu biết sâu sắc
về cảnh ngộ và tâm lí của họ Một trong những tácphẩm tiêu biểu của Kim Lân được viết ngay sau khi
Cách mạng tháng Tám thành công là truyện ngắn “Vợ nhặt” Trên cái nền tăm tối và đau thương của nạn đói
Ất Dậu ( 1945), nhà văn đã viết rất hay về tâm trạng của bà cụ Tứ - một người mẹ già, nghèo khổ nhưng giàu tình thương con và giàu lòng nhân hậu
Thân bài:
Khái quát
Vợ nhặt thực chất là một chương trong tiểu thuyết Xóm ngụ cư (1946), được Kim Lân viết lại sau hoà bình, in trong tập Con chó xấu xí ( 1962) Truyện
kể về xóm ngụ cư trong nạn đói năm 1945 Anh Tràng
là một thanh niên nghèo, làm nghề đẩy xe thuê Một lầnchở lúa lên tỉnh, tình cờ Tràng đươc một cô gái giúp anhđẩy xe lân dốc Lần sau gặp lại, Tràng mời cô gái ănbốn bát bánh đúc rồi rủ về với mình Cô đã thành vợ
Trang 11Tràng Tràng dẫn vợ về, cả xóm ngụ cư ngạc nhiên, mẹTràng ngạc nhiên và cả Tràng cũng ngạc nhiên Cuộcsống của họ tuy nghèo nhưng rất đầm ấm và luôn hyvọng vào tương lai Kết thúc truyện là tâm trạng anhTràng nghĩ về hình ảnh lá cờ và đoàn người đi phá khothóc của Nhật chia cho người đói
Phân tích ý
1 :Khái quát về
cuộc đời của bà
Trước hết, xuất hiện trong tác phẩm, bà cụ Tứ hiện
lên là một người đàn bà nông dân, hồn hậu và có một
cuộc đời thật nhiều thương cảm: nhà nghèo, goá bụa, sống gian khổ, thầm lặng Bà cụ Tứ lần đầu tiên xuất
hiện trong thiên truyện với vài nét đơn giản : chưa thấy
người đã thấy tiếng ho, dáng lọng khọng, đôi mắt
nhoèn hấp , Nhà văn gọi bà bằng những từ ngữ trân
trọng, trìu mến: bà cụ, bà lão, người mẹ nghèo khổ.
Cách gọi như vậy thể hiện sự kính trọng bà mẹ, kínhtrọng tuổi già và kính trọng nỗi khổ đau suốt một đời đã
đè nặng lên vai con người Chính thái độ này của KimLân đã khiến nhà văn như nhập thân vào bà cụ Tứ, nhìn
sự việc, kể lại theo con mắt và tâm trạng của bà
phụ nữ lạ xuất hiện trong nhà mình Trạng thái ngỡngàng của bà cụ được nhà văn diễn tả bằng hàng loạt
những câu nghi vấn: “Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con trai mình thế kia? Sao lại chào mình mình bằng u? ”.Sự việc Tràng lấy vợ được xem
là việc ngạc nhiên động trời, tạo ra một tình huống đầykịch tính Bà ngạc nhiên vì con mình nghèo, xấu xí, dânngụ cư, lại đang thời buổi đói khát, nuôi thân còn chẳng
xong mà Tràng lại dám lấy vợ
Sau khi hiểu ra là con trai đã có vợ, bà lão không
nói gì mà chỉ “cúi đầu nín lặng” Sự nín lặng đầy nội tâm, đó là tâm trạng vừa ai oán, vừa xót thương cho đứa con mình vì Tràng lấy vợ trong lúc bần hàn, người
mẹ nghèo không biết lấy gì cho con và bà tủi hờn cho
mình: Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con
đẻ cái để mở mặt sau này Còn mình thì Tâm trạng
buồn tủi cho chính mình thì không đủ sức lấy được vợcho đứa con trai duy nhất của mình để đến nỗi Tràng
phải nhặt vợ.Trong nỗi lo âu của bà còn là những day
Trang 12dứt, dằn vặt của người mẹ vì bà đã không làm tròn bổn
phận làm mẹ Sau đó bà đã lo lắng: Biết rằng chúng nó
có nuôi nổi nhau sống qua cơn đói khát này không Ý
nghĩ ấy biểu hiện tấm lòng thương con bao la của bà cụ
Tứ Nỗi lo lắng của bà là tấm lòng của người mẹ đầy
trách nhiệm nhưng đành bất lực trước số phận
Tiếp theo là tâm trạng của bà cụ Tứ khi nói chuyện với người vợ Tràng Người đàn bà Tràng đã
nhặt về làm vợ đang đứng trước bà cụ Tứ Thị như một người có lỗi, cúi mặt xuống,tay vân vê tà áo đã rách bợt Bà đăm đăm nhìn thị Đó là cái nhìn của sự ái ngại,
cảm thông, Ánh mắt của bà là ánh mặt của tình thương
Bà nghĩ “Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình Mà con mình mới có được vợ…” Bà đã hiểu rất rõ nguyên nhân người ta đã lấy con mình Hay chính bà đã hiểu được hoàn cảnh của thị là một người đang gặp khó khăn, đói khổ nên đã theo không về làm vợ con bà Bà còn hiểu cũng nhờ người ta mà con mình mới có được vợ Một
sự thấu hiểu sâu sắc Người được bà ban ơn, lại cũng làngười mà bà phải chịu ơn Tuy nhiên, không vì lẽ đó mà
bà phải hạ thấp mình Bà là mẹ, bà có quyền quyết địnhtất cả Và người đàn bà kia cùng Tràng đang hồi hộp,chờ đợi cái giây phút quyết định ấy
Bà đã gọi thị là con, xưng u một cách tự nhiên,
bằng chính tình cảm chân thành, ấm áp thể hiện sự tôntrọng thị, nói chuyện thân mật với thị ngay trong lầnđầu gặp mặt Câu nói đầu tiên của bà với nàng dâu mới
thật chân tình, cảm động: “Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng…” Nhà
văn đã tìm được từ ngữ chính xác để miêu tả tâm trạng
của bà cụ: mừng lòng chứ không phải bằng lòng Nó
vừa có vẻ mộc mạc của người già vừa lột tả đúng cáithần thái của một tấm lòng vị tha cao quý đang ngượngngập, vụng về tìm cách giấu dòng nước mắt xót thương
Rồi bà lại động viên con trai và con dâu: “Nhà ta nghèo con ạ Vợ chồng mày liệu mà bảo nhau làm ăn ai giàu ba họ, ai khó ba đời ” Nếu ở Tràng, sự
ngỡ ngàng đi thẳng tới niềm tin thì ở bà cụ Tứ, sự vậnđộng tâm lí phức tạp hơn nhiều Con người già cả ấy đãđánh giá sự việc bằng kinh nghiệm và sự từng trải, lòngđầy ám ảnh về một quá khứ nặng trĩu những đắng cay,
cơ cực:“Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau qua được cơn đói khát này không?” Rồi tình thương lại
Trang 13chìm vào nỗi lo, tạo thành một trạng thái tâm lý triền
miên day dứt : bà nghĩ đến bổn phận chưa tròn, nghĩđến ông lão, đến con gái út, nghĩ đến nỗi khổ của đờimình, nghĩ đến tương lai của con …để cuối cùng dồn tụ
bao lo lắng – yêu thương trong một câu nói giản dị: “ Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá”.
Hiểu biết, cảm thông, cưu mang và thương xót với
một cô gái xa lạ, nghèo khổ, rách rưới, đói khát theokhông con bà về làm vợ, tấm lòng ấy chỉ có ở một conngười có lòng nhân hậu, bao dung và vị tha Bà cụ Tứ làmột người như vậy
dọn dẹp nhà cửa, sân vườn Tràng thấy mẹ mình hôm
nay nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường Cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên Bà xăm xắn dọn
dẹp, thu vén căn nhà Bà cùng những người con đều
nghĩ: thu xếp nhà cửa cho quang quẽ, nề nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn Trong bữa cơm ngày đói thảm hại: giữa cái mẹt rách có độc một chùm rau chuối thái rối và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành.
Bà cụ vừa ăn vừa kể toàn chuyện vui để xua đi thực tạihãi hùng, để nhen nhóm niềm tin vào cuộc sống cho con
:“ Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà …”.
Bữa ăn diễn ra thật nhanh bởi niêu cháo chỉ đủ
cho mỗi người lưng lưng hai bát là đã hết nhẵn Bà cụ
Tứ nhình hai con vui vẻ: Chúng mà đợi u nhá Tao có cái này hay lắm cơ Rồi bà bưng ra một cái nồi bốc khói nghi ngút, bà cười và nói với con:“Chè khoán đây, ngon đáo để cơ” Chữ ‘ngon” này không phải là
xúc cảm về vật chất ( xúc cảm về vị cháo cám) mà là
xúc cảm về tinh thần: ở người mẹ, niềm tin về hạnh
phúc của con biến đắng chát của cháo cám thành ngọtngào Chọn hình ảnh nồi cháo cám, Kim Lân muốn
chứng minh cho cái chất người của người dân lao động: trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tình nghĩa và hy vọng của con người vẫn không thể bị tiêu diệt – con người vẫn muốn sống cho ra sống Chính chất người
đã thể hiện ở cách sống tình nghĩa và hy vọng Tuy
nhiên, niềm vui của bà cụ Tứ trong hoàn cảnh ấy vẫn làniềm vui tội nghiệp, bởi thực tại vẫn nghiệt ngã với nồi
cháo cám “đắng chát và nghẹn bứ” Bà không cầm
được nước mắt Tình thương của bà đối với các con
Trang 14càng lúc càng như kiệt sức Nhưng họ không gục ngãchính vì họ đã tìm được niềm an ủi trong sự cưu mang,nương tựa nhau, quan tâm chăm sóc nhau Tình vợchồng, tình mẹ con-những động lực lớn lao ấy đã giúp
họ tăng sức mạnh vượt qua những thực trạng u uất, bếtắc Chính bà cụ Tứ đã thắp sáng ngọn lửa niền tin và
hy vọng cho hai con Bà là người mẹ nhân hâu nhất
Nghệ thuật
Nhà văn Kim Lân đã miêu tả diễn biến tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ khá sắc sảo Ông đã thấu hiểu và phân tích được một cách hợp lí những chuyển biến tâm trạng phức tạp mà sâu sắc của nhân vật Tác giả
đã tạo được một tình huống truyện độc đáo để nhân vậtbộc lộ những phẩm chất, tính cách: cách kể chuyện tựnhiên, hấp dẫn, dựng cảnh sinh động với nhiều chi tiếtđặc sắc; đối thoại hấp dẫn, ấn tượng; miêu tả tâm línhân vật tinh tế, ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, đậm chấtnông thôn và có sự gia công sáng tạo của nhà văn
Kết luận Có thể nói, thành công của nhà văn là đã thầu
hiểu và phân tích được những trạng thái tâm lý khá tinh tế của nhân vật bà cụ Tứ trong một hoàn cảnh
đặc biệt.Vượt lên hoàn cảnh vẫn là một vẻ đẹp tinh thầncủa những người nghèo khổ Nhân vật bà cụ Tứ là điểnhình cho những người mẹ, người phụ nữ Việt Namnghèo khổ, nhân hậu, giàu đức hi sinh và khao kháthạnh phúc
Đề 4 : Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân.
( Trích đề thi và đáp ánTốt Nghiệp THPT năm 2008 - Lần 2)
A Đáp án của Bộ GD&ĐT :
a) Yêu cầu về kĩ năng:
Biết cách làm bài nghị luận văn học, vận dụng khả năng đọc hiểu đểphân tích làm nổi bật giá trị nội dung của tác phẩm tự sự Kết cấu chặt chẽ,diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp
b) Yêu cầu về kiến thức:
Trên cơ sở những hiểu biết về Kim Lân và truyện ngắn Vợ nhặt, thísinh biết phân tích các chi tiết tiêu biểu để làm nổi bật nội dung nhân đạo củatác phẩm; có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau song cần nêu đượcnhững ý chính sau:
- Phản ánh hiện thực cuộc sống bi thảm của người dân lao độngtrong nạn đói khủng khiếp 1945; lên án tội ác của thực dân, phát xít
- Cảm thương thân phận rẻ rúng của con người
Trang 15- Ngợi ca nét đẹp tâm hồn người lao động nghèo: khát khao hạnhphúc, lòng nhân hậu, niềm hy vọng vào ngày mai…
B Gợi ý làm bài: ( Phần sau đây chỉ là gợi ý chi tiết của dàn ý sơ lược Học
sinh đọc tham khảo Khi làm bài, HS phải viết thành bài hoàn chỉnh, diễn đạt
sáng tạo hơn Chú ý dòng in đậm đứng là ý chính, dòng in đậm nghiêng là trích dẫn chứng tiêu biểu)
Mở bài Kim Lân là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn
xuôi hiện đại Việt Nam trước và sau Cách mạng tháng Tám Thếgiới nghệ thuật của ông tập trung ở khung cảnh nông thôn vàhình tượng người nông dân Sáng tác của Kim Lân phản ánhchân thực, xúc động cuộc sống của người dân quê mà ông hiểubiết sâu sắc về cảnh ngộ và tâm lí của họ Một trong những tácphẩm tiêu biểu của Kim Lân được viết ngay sau khi Cách mạng
tháng Tám thành công là truyện ngắn “Vợ nhặt” Truyện thể
hiện giá trị nhân đạo sâu sắc
năm 1945 Anh Tràng là một thanh niên nghèo, làm nghề đẩy xethuê Một lần chở lúa lên tỉnh, tình cờ Tràng đươc một cô gáigiúp anh đẩy xe lân dốc Lần sau gặp lại, Tràng mời cô gái ănbốn bát bánh đúc rồi rủ về với mình Cô đã thành vợ Tràng.Tràng dẫn vợ về, cả xóm ngụ cư ngạc nhiên, mẹ Tràng ngạcnhiên và cả Tràng cũng ngạc nhiên Cuộc sống của họ tuy nghèonhưng rất đầm ấm và luôn hy vọng vào tương lai Kết thúctruyện là tâm trạng anh Tràng nghĩ về hình ảnh lá cờ và đoànngười đi phá kho thóc của Nhật chia cho người đói
Khái
niệm giá
trị nhân
đạo
Trước hết, ta có thể hiểu: Gía trị nhân đạo là một giá trị
cơ bản của những tác phẩm văn học chân chính, được tạo nênbởi niềm cảm thông sâu sắc của nhà văn với nỗi đau của nhữngcon người, những cảnh đời bất hạnh trong cuộc sống Đồng thời,nhà văn còn thể hiện tấm lòng nâng niu, trân trọng của mình vớinhững nét đẹp trong tâm hồn và niềm tin khả năng vươn lên củangười lao động để hướng về sự sống, về ánh sáng và tương lai…
dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào của cuộc đời
Có thể nói, truyện ngắn “Vợ nhặt” đã giúp cho chúng tacảm nhận một cách sâu sắc về cuộc sống tối tăm của nhữngngười lao động nghèo trong nạn đói năm 1945, cũng như khátvọng sống mãnh liệt và ý thức về nhân phẩm của họ
Phân tích Biểu hiện thứ nhất về giá trị nhân đạo của của truyện đó
Trang 16ý 1 : là nhà văn đã tố cáo bọn thực dân, phát xít, nguyên nhân gây
ra nạn đói cho nhân dân ta.
Vợ nhặt trước hết là thiên truyện về cái đói.
Chỉ mấy chữ “Cái đói đã tràn đến…” đủ gợi lên hoài niệm
kinh hoàng cho người xứ Việt về một hiểm hoạ lớn của dân tộc
đã quét đi xấp xỉ gần một phần mười dân số trên đất nước này.Đúng như chữ nghĩa Kim Lân, hiểm hoạ ấy “tràn đến”, tức là
biệt của Kim Lân về cái thời ghê rợn: đó là cái thời mà ranh giớigiữa người và ma, cái sống và cái chết chỉ mong manh như sợitóc, cõi âm nhoà vào cõi dương, trần gian mấp mé miệng vực của
âm phủ Trong không gian của thế giới ngổn ngang người sống
kẻ chết ấy, cái tiếng quạ “gào lên từng hồi thê thiết” cùng với
“mùi gây của xác người” càng tô đậm cảm giác tang tóc thê
lương Quả là cái đói đã lộ hết sức mạnh huỷ diệt cuộc sống tớimức khủng khiếp Câu nói của bà cụ Tứ ở cuối truyện đã trực
tiếp chỉ rõ nguyên nhân gây ra nạn đói: Đằng thì nó bắt giồng đay, đằng thì nó bắt đóng thuế Giời đất này không chắc đã sống qua được đâu các con ạ Kẻ đã bắt nhân dân ta nhổ lúa để
trồng đay làm nguyên liệu phục vụ cho cuộc chiến tranh đó làphát xít Nhật khi chúng đến xâm lăng Đông Dương năm 1940.Còn sưu cao thuế nặng, đó là chính sách bảo hộ thâm độc củathực dân Pháp khi chúng cai trị nước ta Đó là nỗi đau, là thảmhoạ với dân tộc Việt Nam Đó còn là một tội ác, một mối thù chỉ
có thể đưa vào quá khứ chứ không thể lãng quên
Phân tích
ý 2 :
Biểu hiện thứ hai về giá trị nhân đạo của truyện là nhà
văn thể hiện thái độ cảm thương thân phận rẻ rúng của con người Thái độ ấy được Kim Lân kín đáo bộc lộ qua cách kể
chuyện, cách xây dựng nhân vật Giọng kể chậm rãi, từ tốn, nhẹnhàng biểu hiện cái nhìn gần gũi, cảm thông của tác giả Cáchmiêu tả tâm lí sâu sắc, chứng tỏ nhà văn đã thâm nhập vào nhânvật nên mới thấu hiểu tâm tư thầm kín của họ Kim Lân xâydựng nhân vật Tràng có vẻ hoang sơ nhưng chưa phải là hoang
dã, thô kệch nhưng không thô lỗ, vô tâm nhưng chưa phải ngờ
nghệch Người vơ nhặt có chao chát, chỏng lỏn nhưng chưa
phải đanh đá, điêu ngoa, theo không Tràng về làm vợ là do đói,
Trang 17là do khát sống chứ không phải là lẳng lơ, hư hỏng Đặc biệt,
nhân vật bà cụ Tứ, dưới ngòi bút của Kim Lân, hiện lên là mộtngười mẹ thương con hết mực, một người phụ nữ nhân hậu, baodung Nhà văn đã xây dựng các nhân vật bằng cả một tấm lòngnâng niu trân trọng
Phân tích
ý 3 :
Biểu hiện quan trọng nhất về giá trị nhân đạo của truyện là tác giả đã đi sâu khám phá và nâng niu trân trọng khát vọng hạnh phúc, khát vọng sống của con người Trong
cảnh bần cùng đói rách, người ta có thể sống ích kỉ, lạnh lùng,thậm chí là tàn nhẫn Nhưng người lao động Việt Nam vẫn sốngnhân hậu, tràn đầy tình thương, nhường cơm sẻ áo, cưu mangđùm bọc; vẫn khao khát vương lên, khao khát hạnh phúc và hyvọng vào tương lai Các nhân vật anh Tràng, bà cụ Tứ và người
vợ nhặt đã thể hiện rõ điều đó.
Anh Tràng có vẻ ngoài thô kệch nhưng lại rất tốt bụng Khithấy người đàn bà đói gợi ý đòi ăn, Tràng không từ chối, sẵnsàng cho ăn dù mình cũng chẳng dư dật gì Người đàn bà nghèokhó hơn mình, quyết định đi theo thì Tràng cũng không từ chối
dù cũng rất lo đến cái thân mình không nuôi nổi lại còn đèo bòng nhưng anh vẫn chậc, kệ và dẫn vợ về nhà Sáng hôm sau, Tràng thấy có cái gì vừa thay đổi thu dọn phòng sạch sẽ gọn gàng Thật sự là Tràng đã tìm thấy hạnh phúc của mình Hạnh
phúc dâng lên trong lòng Tràng Từ khi có vợ, Tràng thấy gắn bó
với ngôi nhà mình hơn, thấy nên người
Bà cụ Tứ là người phụ nữ có tấm lòng cao cả Việc Tràng
có vợ khiến cho bà ngạc nhiên, nhưng khi hiểu ra mọi chuyện, bà
xót thương cho đứa con và lo lắng: Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đó khát này không? Trong bữa cơm, bà động viên con bằng triết lí dân gian : Ai giàu ba họ, ai khó ba đời và bà nói toàn chuyện vui, chuyện sau này Người
mẹ ấy đã nhìn cuộc hôn nhân éo le của con thông qua toàn bộ nỗiđau khổ của cuộc đời bà
Còn người vợ nhặt bị nạn đói làm cho tơi tả nhưng lòng khát sống khiến cho thị tìm cách để có miếng ăn Khi gặp Tràng,
thị gợi ý để được ăn và đã ăn một chặp bốn bát bánh đúc Tràngnói đùa một câu và thị đã theo người đàn ông xa lạ để tránh cáiđói Khi nhìn thấy gia cảnh của Tràng, thị đã thở dài bởi nỗi lochưa chắc đã tránh khỏi cái chết Nhưng được sự cưu mang đùmbọc nhân hậu của bà cụ Tứ, thị đã sống đúng với mình, là mộtngười con hiền thảo.Sự thay đổi ấy của thị thể hiện cái nhìn rấtnhân đạo của nhà văn
Phân tích
ý 4 :
Cuối cùng, giá trị nhân đạo của truyện chính là nhà văn
đã gợi ra cho những con người đang sắp chết đói kia một con
Trang 18đường sống Hình ảnh đoàn người đi trên đê Sộp với lá cờ đỏ
phấp phới hiện lên trong đầu Tràng với vẻ “ân hận, tiếc rẻ” là
một dự báo: lần sau gặp lại, chắc chắn Tràng sẽ đi cùng với họ,cùng họ phá kho thóc Nhật để chia cho người đói Tràng sẽ hoàchung vào dòng người ấy để mang về ánh sáng của ấm no và cảmột tương lai tốt đẹp Đoàn người ấy là Việt Minh, lá cờ ấy làcách mạng Đi theo cách mạng những kiếp người đau khổ sẽđược đổi đời Cách kết thúc truyện của tác giả đã đem lại niềmtin cho mọi người
Nghệ
thuật
Có được thành công giá trị nhân đạo như trên của truyện Vợ nhặt là nhờ sự đóng góp không nhỏ của nghệ thuật truyện Tác giả đã tạo được một tình huống truyện độc
đáo, cách kể chuyện tự nhiên, dựng cảnh sinh động với nhiều chitiết đặc sắc; đối thoại hấp dẫn, ấn tượng; miêu tả tâm lí nhân vậttinh tế, ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, đậm chất nông thôn và có sựgia công sáng tạo của nhà văn
Kết luận Tóm lại, điểm đáng quý về giá trị nhân đạo của “Vợ nhặt”
là niềm tin tưởng sâu sắc của nhà văn vào bản năng sống, khátvọng sống mạnh mẽ của những người lao động nghèo Tình cảmnhân đạo của tác phẩm có nhiều nét mới so với tình cảm nhânđạo trong nhiều tác phẩm văn học hiện thực trước cách mạng
tháng Tám…“Vợ nhặt” là bài về tình người của những con người nghèo khổ
Đề 5: Phân tích giá trị hiện thực tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân.
A/ Lập dàn ý :
I/ Mở bài :
- Giới thiệu vài nét lớn về tác giả, tác phẩm;
- Nêu vấn đề giá trị hiện thực của truyện
II Thân bài:
1 Khái quát về tác phẩm: Giới thiệu hoàn cảnh ra đời tác phẩm, xuất xứ
tác phẩm, tóm tắt nội dung truyện
2 Phân tích giá trị hiện thực của truyện :
a/.Biểu hiện trước hết về giá trị hiện thực của truyện ngắn "Vợ nhặt" là truyện đã phản ánh chân thực nạn đói năm 1945 và cuộc sống khốn khổ của nhân dân ta trong nạn đói ấy.
-Làm rõ đặc điểm: nạn đói năm 1945 tràn đến xóm ngụ cư thông qua
thời gian, không gian, âm thanh tiếng quạ,
-Làm rõ đặc điểm: cuộc sống khốn khổ của nhân dân ta trong nạn đói,
nhất là cảnh người đói vật vờ như bóng ma và người chết như ngả rạ
b/.Hiện thực về nạn đói còn được thể hiện qua một tình huống cụ thể với những con người cụ thể, đó là anh Tràng có vợ.