1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sáng kiến kinh nghiệm ngữ văn lớp 12, đề tài rèn kĩ năng làm bài nghị luận văn học

52 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 4,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng làm bài văn nghị luận văn học của học sinh lớp 12 hiện nay.3.2 Một số giải pháp rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận văn học cho họcsinh lóp 12 - Nắm chắc kiến thức cơ bản về

Trang 1

ĐỀ TÀI: “Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận văn học

cho học sinh lớp 12”

TÓM TẮT SÁNG KIẾN

1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:

Cùng với các bộ môn khác góp phần hình thành nhân cách học sinh,môn văn trong trường phổ thông có tầm quan trọng đặc biệt, tác động trựctiếp đến phẩm chất, tư tưởng tình cảm của người học Một bài thơ hay, mộttrích đoạn đặc sắc khắc họa sinh động hình tượng nhân vật, sẽ tác động đếntâm hồn và thái độ sống của học sinh Dạy văn là một hoạt động thuộc phạmtrù nghệ thuật, khám phá và chuyển tải cái hay, cái đẹp từ tác phẩm đến họcsinh Mỗi tác phẩm, tùy thể loại, được tuyển chọn trong chương trình sáchgiáo khoa đều toát lên vẻ đẹp riêng Nội dung thẩm mĩ của tác phẩm văn họcgắn liền với tầm đón nhận của người đọc

Cùng với quá trình đọc hiểu văn bản, học sinh còn phải viết các bài

làm văn theo quy định của phân phối chương trình Việc viết bài của học sinhkhông chỉ kiểm tra xem các em lĩnh hội kiến thức, khả năng cảm nhận vănchương mà còn rèn khả năng sử dụng ngôn ngữ, cách diễn đạt, cách giao tiếpứng xử Qua đó giúp giáo viên đánh giá toàn diện hơn năng lực của từng họcsinh và đưa ra cách giảng dạy phù hợp

Thế nhưng hiện nay tình trạng học sinh ngại học văn, sợ làm văn đang

diễn ra rất phổ biến Dù biết rằng môn Ngữ văn là một môn thi bắt buộc trong

kì thi THPTQG, câu hỏi nghị luận văn học chiếm 5/10 điểm toàn bài nhưngphần lớn học sinh không có thói quen tìm hiểu, khám phá bài học Khi kiểmtra thì dựa vào sách tham khảo, hoặc đọc đề bài xong là đặt bút viết ngay,nghĩ đến đâu viết đến đấy vì thế có những bài văn ý tưởng nghèo nàn, lặp ýhoặc hết sức ngô nghê, dở khóc, dở cười Hạn chế đó thể hiện rõ trong kì thiTHPTQG Theo kết quả thống kê, điểm trung bình môn thi Ngữ văn của cảkhối 12 của nhà trường năm 2015 - 2016 là 5,18; năm học 2016 - 2017 là5,64, năm học 2017 - 2018 là 5,95 Kết quả đó rất thấp so với nhiều trườngTHPT trong tỉnh

Xuất phát từ những quan điểm nêu trên, năm học 2018 - 2019, tôi đã lên

kế hoạch nghiên cứu, vận dụng một số giải pháp để nâng cao kĩ năng làm vănnghị luận văn học cho học sinh lớp 12 Qua một thời gian áp dụng sáng kiến,bước đầu tôi nhận thấy tương đối khả quan

Trang 2

2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến:

2.1 Điều kiện:

- Các cấp quản lý: Tổ chức các cuộc hội thảo chuyên đề về phương pháp

dạy làm văn ở bậc THPT một các rộng rãi và thường xuyên hơn

- Cấp cơ sở: Đây là một nội dung quan trọng trong dạy học Ngữ văn hiện

nay, đó cũng là một nội dung khô khan và khó vì vậy đề nghị nhà trường tăngcường thêm nhiều đầu sách hướng dẫn kĩ năng làm các dạng làm văn để giáoviên chúng tôi có thêm nhiều tài liệu để nghiên cứu phục vụ giảng dạy

2.2 Thời gian áp dụng thử nghiệm sáng kiến:

Tôi đã nghiên cứu và áp dụng sáng kiến cho đối tượng học sinh lớp 12 từ

tháng 9 năm học 2018 - 2019

2.3 Đối tượng áp dụng sáng kiến :

- Lớp thực nghiệm: 12G, 12H

- Lớp đối chứng : 12K

3 Nội dung sáng kiến :

Sáng kiến tập trung vào các vấn đề sau:

3.1 Thực trạng làm bài văn nghị luận văn học của học sinh lớp 12 hiện nay.3.2 Một số giải pháp rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận văn học cho họcsinh lóp 12

- Nắm chắc kiến thức cơ bản về văn bản văn học

- Rèn kĩ năng làm văn nghị luận văn học : tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, viếtđoạn văn, bài văn, trình bày dẫn chứng, chuyển ý, hành văn

- Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực để tạo hứng thú cho học sinh

4 Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến

Qua kiểm chứng, người viết nhận thấy sáng kiến “Rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 12” rất phù hợp với đối tượng học

sinh hiện nay Nó mang lại cho học sinh những kĩ năng cơ bản trong quá trìnhlàm bài văn nghị luận văn học, giúp các em không còn lúng túng khi tiếp nhận

đề bài, biết trình bày những ý kiến, quan điểm của bản thân về một vấn đề, mộttác phẩm văn học

Trang 3

Sáng kiến cũng đã phần nào kích thích sự sáng tạo, tìm tòi của họcsinh ,giúp các em cảm thấy thích thú với tác phẩm văn chương, từ đó tạo độnglực giúp các em thêm say mê và tăng cường khả năng tích lũy kiến thức đối vớimôn học này hơn Đồng thời đây cũng là cách để giáo viên trau dồi kiến thức,tăng cường học hỏi, trao đồi kinh nghiệm chuyên môn.

5 Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến.

5.1 Đối với Sở : nên tổ chức các cuộc thi sáng kiến kinh nghiệm theo chủ đề

gợi ý từng năm cho các bộ môn và có trao giải Đây cũng là dịp để mỗi giáoviên có cơ hội học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn

5.2 Đối với trường: nên đầu tư, hỗ trợ kinh phí cho sinh hoạt các chuyên đề.

Nên đánh giá thật chính xác các SKKN và ưu tiên, cộng điểm thi đua chonhững sáng kiến có chất lượng tốt, tính ứng dụng cao, dễ phổ biến

5.3 Đối với tổ bộ môn: nên ra đề kiểm tra, khảo sát chất lượng mang tính

sáng tạo Ngoài ra, nên thường xuyên tổ chức hội thảo chuyên đề theo tháng

để tích lũy kiến thức và học hỏi lẫn nhau

MÔ TẢ SÁNG KIẾN

1 Hoàn cảnh nảy sinh và tính mới của sáng kiến.

Nghị luận văn học là một kiểu bài làm văn cơ bản, chiếm vị trí quantrọng trong chương trình Ngữ Văn ở bậc THPT Theo phân phối chương trìnhmôn Ngữ văn lớp 12 có 4/6 bài kiểm tra thuộc nghị luận văn học Trong kìthi THPT QG, đề thi môn Ngữ văn có 5/10 điểm thuộc nghị luận văn học

Bởi thế cho nên, sáng kiến này nhằm mục đích giúp cho giáo viên có thêm

những định hướng đúng đắn trong việc dạy học môn Ngữ văn , coi chất lượng

và kết quả của học đạt được lên hàng đầu

Văn học vốn là một môn học có đặc thù riêng Bằng những hình tượng vàngôn từ phong phú sinh động của mình, nó cung cấp cho người đọc nhữngkiến thức về cuộc sống cũng như những điều bí ẩn trong tâm hồn con người,khơi gợi tâm tư tình cảm, cảm xúc và góp phần quan trọng trong việc hình

thành, phát triển nhân cách của mỗi người học sinh Thế nhưng hiện nay tình

trạng học sinh đặc biệt học sinh 12 lười học và nhất là lười học các môn xã

Trang 4

hội trong đó có môn văn đang diễn ra rất phổ biến, phần lớn các em ngán ngạihọc môn Ngữ văn, ít đầu tư cho môn này.Thực trạng đó yêu cầu giáo viênphải thực sự tâm huyết, phải say sưa với các bài giảng của mình và phải trăntrở, suy nghĩ cách để các em có thể xử lý tốt các đề văn, có như thế mới nângcao chất lượng dạy và đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới.

Một thực tế cho thấy trong những năm vừa qua, dạy học chủ yếu theophương pháp truyền thống, nặng về truyền thụ kiến thức lý thuyết và truyềnthụ tri thức một chiều Số giáo viên thường xuyên chủ động sáng tạo trongviệc phối hợp các phương pháp dạy học cũng như sử dụng các phương phápphát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học chưa nhiều Giờ học vănchỉ dừng lại ở mức độ lĩnh hội, tiếp thu và ghi nhớ một cách máy móc Đặcbiệt là những giờ làm văn, bản thân phân môn này đã khó và khô hơn so vớiviệc học tác phẩm văn học, giáo viên lại không để ý đến vai trò quan trọngcủa nó, nhiều khi dạy ào ào cho qua nên dẫn đến việc các em không biết vậndụng những kiến thức lí thuyết vào giải quyết những đề nghị luận văn học

Với mục đích đề ra, sáng kiến đã bám sát chương trình và các đề thiTHPTQG gần đây để xây dựng được hệ thống lí thuyết giải quyết đề nghịluận văn học phù hợp với từng kiểu bài nhỏ và phù hợp với xu hướng ra đềthi mới hiện nay Mặt khác sáng kiến cũng áp dụng các phương pháp dạy họctích cực và ứng dụng công nghệ thông tin nhằm tạo hứng thú học tập cho họcsinh như phương pháp thảo luận, trao đổi nhóm Phương pháp này sẽ giúpcác thành viên trong lớp chia sẻ hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân, cùngnhau xây dựng nhận thức mới, không học theo kiểu “thầy đọc trò chép” nhưtrước

Sáng kiến được áp dụng lần đầu thực tiễn tại đơn vị trường THPT từtháng 9 năm 2018 Ưu điểm nổi bật của sáng kiến là:

- Giúp học sinh THPT nhất là học sinh lớp 12 có kĩ năng trong việc xác

định đề, tìm ý, tạo lập dàn ý, dựa vào dàn ý để viết cho đúng với yêu cầu nộidung và hình thức của một bài văn nghị luận văn học

- Giúp giáo viên có cái nhìn toàn diện hơn khi hướng dẫn học sinhtriển khai đề nghị luận văn học, đồng thời xác định được hướng dạy, hướngkhai thác tác phẩm và hướng ra đề kiểm tra, đề thi theo cấu trúc của Bộ giáodục hiện nay

- Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ Văn, đồng thời

đáp ứng được yêu cầu của các kì thi, nhất là kì thi THPT QG

Trang 5

- SKKN này sẽ là nguồn tư liệu phong phú, bổ ích để thầy cô dạy Văntrao đổi, làm tư liệu sinh hoạt chuyên đề ở tổ bộ môn

2 Cơ sở lí luận của vấn đề

Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói: “Nghề dạy học là nghềcao quý nhất trong những nghề cao quý” Đặc biệt người giáo viên dạy Văncàng thấm thía hơn sự “cao quý” ấy Được mang tri thức, mang niềm vui,được dạy “lễ”, dạy “văn”, được khơi gợi trí tuệ, niềm yêu thích say mê…ởmỗi thế hệ học sinh thì còn gì cao quý, hạnh phúc hơn đối với người thầy

Quả thực, chẳng gì có thể diễn tả hết niềm vui sướng và tự hào củangười giáo viên khi thành quả lao động của mình đạt kết quả cao, nhất là kếtquả của kì thi THPT Quốc gia Vì vậy, trong quá trình giảng dạy học sinh nóichung, dạy ôn thi nói riêng, giáo viên luôn dày công, dốc sức tìm tòi sáng tạokhông ngừng để có phương pháp và cách thức ôn luyện hiệu quả nhất Sựgian nan ấy được khẳng định bằng kết quả của mỗi kì thi, mỗi điểm cao màcác em đạt được

Nghị luận văn học là một kiểu bài làm văn cơ bản, chiếm vị trí quantrọng trong chương trình Ngữ Văn ở bậc THPT Theo phân phối chương trìnhmôn Ngữ văn lớp 12 có 4/6 bài kiểm tra thuộc nghị luận văn học Trong kìthi THPT QG, đề thi môn Ngữ văn có 5/10 điểm thuộc nghị luận văn học.Điều này hoàn toàn phù hợp với vai trò, vị trí môn học Kĩ năng viết các kiểubài nghị luận văn học đã được bàn luận đến rất nhiều trong các hội thảo, trênnhiều diễn đàn Song qua thực tế trải nghiêm tôi thấy trong kĩ năng viết bàinghị luận văn học các em còn nhiều hạn chế Vì vậy trong sáng kiến kinh

nghiệm này, tôi muốn trao đổi cùng đồng nghiệp vấn đề “Rèn kĩ năng viết kiểu bài nghị luận văn học cho học sinh lớp12” để mong tìm được giải pháp

chung giúp học sinh viết bài tốt nhất, hiệu quả nhất trong mỗi kì thi

3 Thực trạng của vấn đề.

Như đã nói ở trên văn học vốn là một môn học có đặc thù riêng Bằng

những hình tượng và ngôn từ phong phú sinh động của mình, nó cung cấpcho người đọc những kiến thức về cuộc sống cũng như những điều bí ẩntrong tâm hồn con người, khơi gợi tâm tư tình cảm, cảm xúc và góp phầnquan trọng trong việc hình thành, phát triển nhân cách của mỗi người họcsinh

Thế nhưng hiện nay tình trạng học sinh đặc biệt học sinh 12 lười học

và nhất là lười học các môn xã hội trong đó có môn văn đang diễn ra rất phổ

Trang 6

Mặt khác do đặc thù lớp 12 các em chỉ lo ôn học những môn thi theo khốinên trong lớp các em ngồi học thờ ơ, với tác phẩm truyện nói riêng và bộ mônNgữ văn nói chung, nhiều khi tỏ ra lãnh đạm với số phận nhân vật, với tiếngnói tâm tình của nhà thơ ,nhà văn, không có thói quen chủ động khám phá,tìm hiểu bài học Nếu được hỏi những truyện ngắn hay, hay những bài thơ màcác em yêu thích, thường thì hiểu biết của các em chỉ quanh quẩn ở những bàitrong sách giáo khoa Cá biệt có những em còn không kể được tên những tácphẩm đã học trong chương trình, không nhớ tên tác giả hay nhầm tên nhânvật ở tác phẩm này với tác phẩm kia,hiểu sai nội dung các chi tiết, xuyên tạcchi tiết, sự kiện….

Đặc biệt một thực tế mà giáo viên nào cũng nhận thấy là sách thamkhảo, sách hướng dẫn học tốt, sách chuẩn kiến thức và những bài văn mẫuquá nhiều, vô hình chung đã làm cho học sinh bỏ rơi sách giáo khoa, nhiều

em còn đối phó bằng cách soạn bài hoàn toàn dựa vào sách tham khảo màchưa một lần đọc văn bản trong sách giáo khoa Khi kiểm tra thì chép vănmẫu hay sách để học tốt Vì thế đôi khi cái nhìn của các em về tác phẩm cònlệch lạc, thậm chí sai kiến thức cơ bản

Một thực trạng nữa là học sinh không học bài, không soạn bài, khôngđọc văn bản, lên lớp học thụ động, chép bài một cách máy móc, đây là điềurất đáng lưu tâm, làm ảnh hưởng đến hiệu quả và yêu cầu đổi mới giáo dụchiện nay Những thực trạng này dẫn đến kết quả là học sinh hạn chế tư duysáng tạo, chưa có tinh thần thái độ học tập đúng đắn, không hiểu hoặc khônghứng thú khi tiếp nhận tác phẩm văn chương; không có kĩ năng vận dụng kiếnthức để viết một bài nghị luận văn học cho đúng

Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy kĩ năng làm kiểu bài nghị luận văn

học của nhiều em học sinh lớp 12 còn rất yếu Thông thường khi viết bài vănnghị luận văn học, các em hay mắc phải những lỗi cơ bản sau:

3.1 Học sinh không có thói quen phân tích đề, lập dàn ý trước khi viết bài

Khi bắt gặp một đề bài các em hay đặt bút viết ngay mà không có thờigian suy nghĩ tìm hiểu đề xem đề yêu cầu viết cái gì, viết như thế nào, và viếtcái gì là chủ yếu Bình thường nếu xác định đúng yêu cầu đề thì học sinh sẽlàm bài đúng, ngược lại xác định sai sẽ dẫn đến lạc đề.Tương tự dàn ý cũngrất quan trọng, nó được coi là bộ khung, bộ xương của bài viết Có dàn ýngười viết sẽ tránh được lạc đề, thừa, thiếu hay lặp ý Hơn nữa có dàn ý ngườiviết sẽ chủ động và bình tĩnh hơn Một bài văn tốt phải có một dàn ý tốt.Chính vì không ý thức được tầm quan trọng của phân tích đề và lập dàn ý

Trang 7

nên các em hay bỏ qua bước này và vì thế nên khi bắt tay vào viết rất lúngtúng, viết không trúng yêu cầu của đề bài, và điểm số không cao.

Ví dụ:

Đề thi khảo sát chất lượng lớp 11, năm 2016 - 2017 của trường tôi có câu

2 (5,0 điểm) như sau:

Có ý kiến cho rằng, Hai đứa trẻ của Thạch Lam là một truyện ngắn hiện thực Lại có ý kiến khẳng định, Hai đứa trẻ của Thạch Lam là một truyện

ngắn lãng mạn Anh/ chị hãy trình bày quan điểm của mình về vấn đề trên

dựa vào những hiểu biết về tác phẩm Hai đứa trẻ( Thạch Lam) trong sách

giáo khoa Ngữ Văn 11 nâng cao.

Với đề bài trên nhiều em không đọc kĩ đề dễ lầm sang khẳng định một ýkiến mà phủ định một ý kiến kia, chẳng hạn khẳng định đây là truyện ngắnhiện thực hoặc lãng mạn và chứng minh theo quan điểm đó mà không biếtrằng cần phải kết hợp cả hai Từ đó dẫn đến bài viết của nhiều em thiếu ý,điểm thấp

3.2 Học sinh không xác định được dạng bài, không xác định được luận điểm, luận cứ của bài văn nghị luận văn học

Trong nhà trường phổ thông, các em được rèn làm các dạng bài cơ bản

như: miêu tả, biểu cảm, tự sự, thuyết minh, nghị luận trong đó nghị luận làdạng bài cơ bản chiếm tỉ lệ các bài kiểm tra cao nhất

Văn nghị luận là dùng ý kiến lý lẽ của mình đề bàn bạc, để thuyết phụcngười khác về một vấn đề nào đó Cho nên nói đến văn nghị luận là nói đến

hệ thống luận điểm luận cứ, vì nó là sản phẩm của tư duy lo-gic, nó tác độngvào trí tuệ, lí trí của người đọc nhiều hơn là tác động vào cảm xúc, tình cảm,hay tưởng tượng

Luận điểm là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghịluận Luận điểm cần được nêu khái quát, diễn đạt rõ ràng, dễ hiểu

Luận cứ là lí lẽ và dẫn chứng đưa ra làm sáng tỏ cho luận điểm, làmcho người đọc hiểu, tin vào tính đúng đắn của nó.Luận cứ yêu cầu phải chânthật, đúng đắn, tiêu biểu thì mới khiến cho luận điểm thêm sức thuyết phục

Ngoài ra cần phải biết cách lập luận tức là tổ chức, sắp xếp các luận cứ

để làm sáng rõ luận điểm, sắp xếp các luận điểm theo trình tự hợp lý, chặt chẽ

Trang 8

để thành văn bản hoàn chỉnh Văn nghị luận yêu cầu phải đúng hướng, phảitrật tự, phải mạch lạc, phải trong sáng, hấp dẫn và sáng tạo

Các thao tác được sử dụng chính trong văn nghị luận là: giải thích,chứng minh, phân tích, bình luận, so sánh, bác bỏ

Nghị luận văn học là một dạng nghị luận mà các vấn đề đưa ra bàn bạc

là các vấn đề văn học như : tác phẩm, tác giả, thời đại văn học

Trong chương trình Ngữ văn cơ bản, Nghị luận văn học gồm các dạng đềnhư sau:

Dạng 1: Phân tích/cảm

nhận

Phân tích giá trị nội dung của tác phẩmPhân tích đặc sắc nghệ thuật của tác phẩmPhân tích một khía cạnh của nội dung/nghệthuật

Phân tích nhân vật/diễn biến tâm lí của nhânvật

Phân tích tình huống truyệnCảm nhận về một bài thơ/đoạn thơCảm nhận về một đoạn trích văn xuôiDạng 2: So sánh Hai tác phẩm cùng chủ đề

Hai hay một nhóm nhân vậtHai chi tiêt, hai cách kết thúc trong hai tácphẩm,

Dạng 3: Nghị luận về một ý

kiến bàn về văn học

Nghị luận về một ý kiến bàn về nhân vật, tácphẩm, phong cách nghệ thuật, giai đoạn vănhọc

Đánh giá về hai ý kiến khác nhau hoặc bổ sungcho nhau về tác phẩm, nhân vật

Chính vì các em không xác định được dạng bài, không xác định được

luận điểm, luận cứ,viết theo cảm tính, nghĩ gì viết đấy không cần biết có đúng

yêu cầu hay không cho nên có những bài văn, khi chấm giáo viên đọc màkhông hiểu được học sinh của mình viết gì, muốn nói điều gì

Trang 9

Ví dụ: Anh( chị) hãy phân tích đoạn thơ sau:

"Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê

Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng"

(Trích Việt Bắc - Tố Hữu)

Ở phần thân bài học sinh không xác định được trọng tâm luận đề,không xác định được luận điểm, luận cứ nên viết:

"Bài thơ Việt Bắc được Tố Hữu viết trong những năm kháng chiến

chống Pháp, những chiến thắng ở Điện Biên Phủ là chiến thắng ác liệt nhất làm cho quân giặc tan tành mây khói Quân ta đi từ chiến thắng này sang chiến thắng khác Đội quân ngày càng hùng mạnh Đọc đoạn thơ chúng ta

tự hào về lòng dũng cảm của cha anh chúng ta Bài thơ Việt Bắc đã ca ngợi

chiến thắng của quân đội ta, nhân dân ta.diễn tả niềm vui của nhân dân ta "

(Vũ Ngọc Quang – 12H)

3.3 Học sinh chưa biết phân tích làm sáng tỏ vấn đề cần nghị luận

3.3.1 Học sinh chủ yếu diễn xuôi đoạn thơ (khi làm đề Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ)

Ví dụ: Anh (chị) hãy phân tích đoạn thơ sau:

"Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm, Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Trang 10

Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành"

(Tây Tiến - Quang Dũng)

Học sinh viết: "Đoàn quân Tây Tiến của Quang Dũng có hình dáng kì

lạ, bị sốt rét rụng hết tóc, da xanh như tàu lá chuối nhưng vẫn sáng ngời một

vẻ đẹp như dáng dữ dằn của những con hổ trong rừng sâu khiến kẻ thù phải khiếp sợ Mặc dù gian khổ nhưng họ vẫn lạc quan yêu đời vẫn mơ màng gửi giấc mơ về Hà Nội, mơ về những cô gái đẹp ở Hà Nội Mặc dù cái chết luôn

đe dọa,rình rập, những nấm mồ vô danh nơi biên giới xa xôi cũng không làm những người lính Tây Tiến chùn bước Họ vẫn đi không tiếc tuổi xuân,vẫn coi cái chết nhẹ như lông hồng "

(Nguyễn Quang Tuấn – 12H)

3.3.2 Học sinh thường sa vào kể lể tác phẩm (khi làm bài Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi)

Ví dụ: Anh (chị) hãy phân tích nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng

A Phủ của Tô Hoài.

Học sinh viết: " Vợ chồng A Phủ kể về số phận bất hạnh của cô Mị Mị

là một cô gái Hmông trẻ trung xinh đẹp, Mị bị bắt về làm con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra.Ở nhà thống lí Pá Tra đêm nào Mị cũng khóc rồi Mị cầm nắm lá ngón về khóc lóc với cha định chết Cha Mị nói "Mày về chào tao mà

đi chết à? Không được đâu Mày chết rồi ai trả nợ cho tao " Thế là Mị không dám chết nữa, Mị lại quay trở về nhà Thống lí Mấy năm sau bố Mị chết Mị cũng không buồn chết nữa, sống lâu trong cái khổ Mị cũng quen rồi.

Mị lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa, đêm tình mùa xuân Mị cũng uống rượu, định đi chơi, nhưng bị A Sử trói vào cột "

Trang 11

- Bài viết lan man không có bố cục, hệ thống ý rối, lặp ý, thừa ý.

- Diễn đạt lủng củng, sai chính tả, dùng từ, đặt câu

- Lựa chọn dẫn chứng không phù hợp với nội dung luận điểm

- Dùng nhiều cách diễn đạt và ngôn từ sáo rỗng

- Hiểu sai lệch , xuyên tạc nội dung các chi tiết trong tác phẩm

Còn rất nhiều lỗi khác song yêu cầu khuôn khổ, dung luợng bài viếtkhông cho phép nên tôi chỉ đề cập đến một số lỗi chính khi viết bài văn nghịluận văn học ở trên

4 Các giải pháp, biện pháp thực hiện

4 1 Giải pháp 1: Nắm chắc văn bản văn học

Để thực hiện được đề tài, yếu tố đầu tiên mà tôi quan tâm đó là đốitượng học sinh Học sinh đa số học văn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là nănglực cảm thụ văn học kém, lại không thích đọc các tác phẩm văn học Vì vậy,muốn học sinh làm tốt các bài nghị luận văn học trước hết cần các em phảinắm được tác phẩm Muốn vậy giáo viên cần hướng dẫn học sinh:

4.1.1 Hướng dẫn các em cách đọc - hiểu văn bản

Nghị luận văn học là kiểu bài văn hướng tới các vấn đề đặt ra trong cáctác phẩm văn học: nội dung, nghệ thuật, hoặc các khía cạnh khác như tìnhhuống, diễn biến tâm lí của nhân vật Cho nên người viết phải hiểu biết kĩ

về tác phẩm văn học: từ tác giả, hoàn cảnh sáng tác, đặc trưng thể loại đến nộidung, nghệ thuật của tác phẩm

Vì vậy, cần hình thành kĩ năng đọc cho học sinh, tạo cho các em có thóiquen đọc sách, hướng dẫn các em đọc theo quy trình: Đọc chậm để hiểuthông suốt toàn văn bản → Đọc hiểu hình tượng nghệ thuật → đọc hiểu tưtưởng tình cảm của tác giả → đọc hiểu để thưởng thức văn học

4.1.2 Khuyến khích học sinh khi đọc phải có thói quen ghi chép

Ví dụ: Sau khi đọc xong một tác phẩm văn học, học sinh có thể ghi chép:

- Tóm tắt tác phẩm

- Những chi tiết, hình ảnh chọn lọc

- Những câu văn, thơ hay; những hình ảnh đẹp

- Có những nhận xét, đánh giá ban đầu về tác phẩm văn học đó

4 2 Giải pháp 2: Rèn kĩ năng làm văn nghị luận văn học

Trang 12

4 2.1 Bước 1: Rèn kĩ năng tìm hiểu đề

Đây là thao tác được thực hiện đầu tiên khi làm bài văn nghị luận Để thựchiện tốt được thao tác này học sinh cần đọc kĩ đề, tìm và gạch chân các cụm từquan trọng (cụm từ chứa thông tin căn bản của vấn đề: vấn đề cần nghị luận, thaotác nghị luận, ) Học sinh phải xác định đầy đủ, chính xác các yêu cầu sau :

- Yêu cầu về hình thức: Thuộc kiểu bài nào? Nghị luận về một bài thơ,

đoạn thơ; hay nghị luận về một ý kiến bàn về văn học ?

- Yêu cầu về nội dung: Vấn đề cần nghị luận là gì?

- Yêu cầu về phạm vi dẫn chứng: Có thể lấy dẫn chứng từ những tác

phẩm văn học nào?

Ví dụ:

Đề bài: Có ý kiến cho rằng : Sông Hương là bản tình ca ca ngợi về thiên

Hoàng Phủ Ngọc Tường, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.

Với đề bài này hướng dẫn học sinh thực hiện các bước xác định đề nhưsau :

- Kiểu bài nghị luận : Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học

- Xác định trọng tâm bài viết :Vẻ đẹp của hình tượng sông Hương

- Phạm vi dẫn chứng : Tác phẩm "Ai đã đặt tên cho dòng sông "

- Xác định các thao tác chính cho bài viết : Phân tích, kết hợp chứng minh,bình luận…

4.2.2 Bước 2: Rèn kĩ năng tìm ý và lập dàn ý

Tìm ý là tái hiện lại kiến thức đã học về những giá trị nội dung và nghệthuật của tác phẩm đang bàn đến, từ đó suy nghĩ và trả lời các câu hỏi :

- Tác phẩm đó chứa đựng những nội dung gì ?

- Qua mỗi nội dung, tác giả thể hiện thái độ, tình cảm gì ?

- Thông điệp gì được tác giả gửi đến người đọc ?

- Để làm nổi bật giá trị nội dung, nhà văn đã sử dụng những hình thứcnghệ thuật nào?

- Thủ pháp nghệ thuật quan trọng nhất mà tác giả sử dụng để gây ấntượng cho người đọc là gì ?

- Chi tiết, hình ảnh nào làm em thích nhất, vì sao ?

Trang 13

Lập dàn ý là một khâu quan trọng Dàn ý giúp người viết không bỏ sótnhững ý cơ bản, trọng tâm, đồng thời loại bỏ được những ý không cần thiết.Lập dàn ý tốt, có thể sẽ viết dễ dàng hơn, nhanh hơn và hay hơn.

Trước khi hướng dẫn học sinh lập dàn ý từng kiểu bài, tôi đưa ra môhình tổng quát của một bài văn nghị luận cho học sinh tham khảo:

Mô hình tổng quát một bài văn nghị luận:

Mở bài (còn gọi là đặt vấn đề):

Dẫn dắt từ vấn đề rộng hơn thu hẹp

dần đến việc giới thiệu luận đề

Thân bài (còn gọi là giải quyết vấn

đề):

Bao gồm nhiều đoạn văn, mỗi

đoạn văn là một luận điểm Các luận

điểm đều tập trung làm nổi bật luận

đề ở phần mở bài

Kết bài (còn gọi là kết thúc vấn đề):

Tổng hợp lại từ các luận điểm đã

trình bày, đánh giá và gợi mở

Thânbài

Từ mô hình tổng quát đó, tôi hướng dẫn các em lập dàn ý của từng kiểubài

Để lập được dàn ý tôi yêu cầu học sinh:

- Nắm vững cách làm bài của từng kiểu bài: Nghị luận về một bài thơ,đoạn thơ; Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi…

- Xác định được các luận điểm, luận cứ Sắp xếp các luận điểm, luận cứtheo một trật tự lôgic, chặt chẽ

4.2.2.1 Cách lập dàn ý từng kiểu bài, dạng bài nghị luận văn học thường gặp:

a Kiểu bài: Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

Trang 14

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể.

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Trang 15

Nguồn gốc và sự hình thành của đất nước

Đất nước có từ rất xa xưa và là một giá trị bền vững, vĩnh hằng, đượctạo dựng, bồi đắp qua nhiều thế hệ và truyền nối từ đời này sang đời khác

(Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi, Đất Nước có … ngày xửa, ngày xưa….).

Luận điểm 2 : Sự cảm nhận của nhà thơ về Đất Nước

- Đất nước được cảm nhận rất cụ thể, bình dị, gần gũi, thân thiết vớicuộc sống hằng ngày của mỗi người (câu chuyện cổ tích mẹ kể, miếng trầu bà

ăn, ngôi nhà mình ở, tình nghĩa vợ chồng hạt lúa ta trồng…)

- Đất nước gắn liền với nền văn hóa lâu đời của dân tộc:

+ Gắn với những câu chuyện cổ tích “ngày xửa ngày xưa…mẹ thườnghay kể”

+ Gắn với truyền thống văn hóa, phong tục (miếng trầu, tóc bới sau đầu) của người Việt.

- Đất nước lớn lên trong đau thương vất vả :

+ Những cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm (dân mình biết trồng tre mà đánh giặc).

+ Gian nan vất vả trong lao động để tồn tại và phát triển (một nắng hai sương).

- Đất nước gắn với những con người sống ân tình, thủy chung trong

tình nghĩa vợ chồng (thương nhau bằng gừng cay muối mặn).

Luận điểm 3: Nhận xét, đánh giá chung về nghệ thuật biểu hiện

+ Đất nước: hiện lên vừa thiêng liêng vừa thân thương gần gũi Cáchcảm nhận độc đáo, mới mẻ dưới chiều sâu văn hóa và giàu giá trị nhân văn

+ Ngôn ngữ bình dị, dân dã nhưng giàu sức gợi

+ Giọng thơ tâm tình thiết tha, suy tư trầm lắng

+ Sức truyền cảm lớn từ sự hòa quyện của chất chính luận và chất trữtình

Kết luận :

- Sử dụng phong phú các chất liệu văn hóa dân gian

=> Cái riêng biệt, độc đáo của đoạn thơ này là sự cảm nhận, phát hiện

về Đất nước trong một cái nhìn tổng hợp, toàn vẹn, mang đậm tư tưởng nhân

Trang 16

dân, sử dụng phong phú các yếu tố của văn hóa, văn học dân gian một cáchsáng tạo

b Kiểu bài: Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi

Kiểu bài này có nhiều dạng khác nhau, chủ yếu là phân tích các khíacạnh của tác phẩm văn xuôi như: Phân tích nhân vật, phân tích giá trị nhânđạo, phân tích giá trị hiện thực, phân tích tình huống,

Tôi tập trung hướng dẫn và rèn kĩ năng cho học sinh cách làm các dạngbài thường gặp như sau:

* Phân tích nhân vật trong tác phẩm văn học

Ví dụ :

Đề bài : Anh (chị) hãy phân tích nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài

Mở bài :

- Giới thiệu về Tô Hoài và tác phẩm Vợ chồng A Phủ

- Vị trí, giá trị , ý nghĩa của việc xây dựng hình tượng nhân vật Mịtrong tác phẩm

Thân bài:

Luận điểm1 Lai lịch nhân vật

Trang 17

- Mị là một thiếu nữ dân tộc H’Mông xinh đẹp, tài hoa, hồn nhiên, yêu

đời, hiếu thảo, chăm chỉ làm lụng

- Là niềm mơ ước của bao chàng trai trong bản "trai đến đứng nhẵn cảchân vách đầu buồng Mị " , có biết bao người mê, ngày đêm thổi sáo đi theoMị

- Là con nhà nghèo Vì món nợ truyền kiếp của cha mẹ để lại, Mị bịthống lý Pá Tra bắt về làm con dâu gạt nợ

Luận điểm 2 : Số phận nhân vật Mị trong nhà Pá Tra : Mị bị đày đọa cả về thể xác lẫn tinh thần:

- Danh nghĩa là con dâu thống lý, vợ của con quan nhưng Mị lại bị đối

xử như một nô lệ

- Mị ở nhà chồng mà như ở địa ngục với công việc triền miên Mị sốngkhổ nhục hơn cả súc vật, thường xuyên bị A Sử đánh đập tàn nhẫn Mị sốngnhư một tù nhân trong căn buồng chật hẹp, tối tăm

- Trong cuộc sống tù hãm, Mị vô cùng buồn tủi, uất ức Cơ muốn sốngcũng chẳng được sống cho ra người, muốn chết cũng không xong, dường như

Mị bắt đầu chấp nhận thân phận khốn khổ, sống như cái bóng, như "con rùa nuôi trong xó cửa".

- Mị bị tê liệt ý thức về bản thân và những mong muốn thay đổi số phận

Luận điểm 3 Vẻ đẹp của nhân vật Mị: Sức sống tiềm tàng, mạnh mẽ

a Sức sống của Mị trong những ngày hội xuân ở Hồng Ngài

- Bên trong hình ảnh "con rùa nuôi trong xó cửa" vẫn đang còn một con

người khát khao tự do, khát khao hạnh phúc Gió rét dữ dội cũng không ngănđược sức xuân tươi trẻ trong thiên nhiên và con người, tất cả đánh thức tâmhồn Mị Mị uống rượu để quên hiện tại đau khổ Mị nhớ về thời con gái, Mịsống lại với niềm say mê yêu đời của tuổi trẻ Trong khi đó tiếng sáo (biểutượng của tình yêu và khát vọng tự do) từ chỗ là hiện tượng ngoại cảnh đã đisâu vào tâm tư Mị

- Mị thắp đèn như thắp lên ánh sáng chiếu rọi vào cuộc đời tăm tối Mịchuẩn bị đi chơi nhưng bị A Sử trói lại; tuy bị trói nhưng Mị vẫn tưởng tượng

và hành động như một người tự do, Mị vùng bước đi

b Sức sống của Mị trong đêm cuối cùng ở nhà Pá Tra

Trang 18

- Mới đầu thấy A Phủ bị trói, Mị vẫn thản nhiên Nhưng đêm ấy, Mị thấy

dòng nước mắt trên má A Phủ Nhớ lại cảnh ngộ của mình trong đêm mùaxuân năm trước, Mị đồng cảm, thương xót cho A Phủ

- Phân tích nét tâm lý: Mị thấy cái chết sắp tới với A Phủ là oan ức, phi lý;

Mị không sợ hình phạt của Pá Tra; ý thức căm thù và lòng nhân ái giúp Mịthắng nỗi sợ hãi, biến Mị thành con người dũng cảm trong hành động cắt dâytrói cứu A Phủ

- Ngay sau đó, Mị đứng lặng trong bóng tối với bao giằng xé trong lòng.

Nhưng rồi khát vọng sống trỗi dậy thật mãnh liệt, Mị vụt chạy theo A Phủ,đến với tự do

Luận điểm 4 : Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật: cách giới thiệu,

khắc hoạ tính cách, diễn tả nội tâm nhân vật một cách tinh tế…

Kết bài :

- Xây dựng nhân vật Mị, nhà văn đã gián tiếp tố cáo xã hội phong kiến miền núi

cổ hủ, lạc hậu và tàn ác

- Ca ngợi vẻ đẹp, sức sống tiềm tàng và con đường đi đến với cách mạng của

người dân miền núi Tây Bắc

- Tác phẩm mang giá trị nhân đạo sâu sắc.

Tương tự tôi giới thiệu với học sinh dàn ý các dạng bài khác như :

* Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm văn học

Trang 19

* Phân tích giá trị hiện thực trong tác phẩm

* Phân tích tình huống trong tác phẩm

Trang 20

c Kiểu bài: nghị luận về một ý kiến bàn về văn học

Trang 21

Ví dụ :Về hình tượng sông Hương trong bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông ? của Hoàng Phủ Ngọc Tường, có ý kiến cho rằng : Sông Hương mang vẻ đẹp đầy nữ tính và rất mực đa tình Bằng hiểu biết về tác phẩm,

anh (chị) hãy làm sáng tỏ nhận xét trên.

Mở bài: Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm:

- Hoàng Phủ Ngọc Tường là gương mặt tiêu biểu của văn học ViệtNam hiện đại Ông có sở trường về thể bút kí, tuỳ bút Sáng tác của ông là sựkết hợp nhuần nhuyễn chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén vớisuy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, vănhóa, lịch sử, địa lí

- Ai đã đặt tên cho dòng sông? là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách

bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường Đến với tác phẩm người đọc sẽ gặp ở đó

dòng sông Hương với vẻ đẹp đầy nữ tính và rất mực đa tình

Thân bài :

* Giải thích ý kiến :

- Vẻ đẹp nữ tính : Có những vẻ đẹp, phẩm chất của giới nữ (như: xinh đẹp,

dịu dàng, mềm mại, kín đáo )

+ Khi là một cô gái Digan phóng khoáng và man dại với bản lĩnh gan dạ,

tâm hồn tự do và trong sáng Khi là người mẹ phù sa của một vùng văn hoá

xứ sở với một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ.

+ Khi là một người con gái đẹp ngủ mơ màng Khi là người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya Khi được ví như là Kiều, rất Kiều Khi là người con gái Huế

với sắc màu áo cưới vẫn mặc sau tiết sương giáng

=> Dù ở bất kỳ trạng thái tồn tại nào, sông Hương trong cảm nhận của HoàngPhủ Ngọc Tường vẫn đầy nữ tính, xinh đẹp, hiền hòa, dịu dàng, kín đáonhưng không kém phần mãnh liệt

- Rất mực đa tình

Trang 22

+ Cuộc hành trình của sông Hương là cuộc hành trình tìm kiếm người tình

mong đợi Trong cuộc hành trình ấy, sông Hương có lúc trầm mặc, có lúc dịu dàng, cũng có lúc mãnh liệt mạnh mẽ…Song nó chỉ thực vui tươi khi đến ngoại ô thành phố, chỉ yên tâm khi nhìn thấy chiếc cầu trắng của thành phố

in ngần trên nền trời.

+ Gặp được thành phố, người tình mong đợi, con sông trở nên duyên dáng ý

nhị uốn một cánh cung rất nhẹ sang cồn Hến, cái đường cong ấy như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu.

+ Sông Hương qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi, muốn ở như những

vấn vương của một nỗi lòng

+ Sông Hương đã rời khỏi kinh thành lại đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang

hướng Đông - Tây để gặp lại thành phố một lần cuối Nó là nỗi vương vấn, chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu Như nàng Kiều trong đêm tình tự, sông Hương chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó

* Các loại đề so sánh văn học thường gặp

- So sánh hai chi tiết trong hai tác phẩm văn học;

- So sánh hai đoạn thơ; so sánh hai đoạn văn;

Trang 23

Đứng trước một đề văn thường có rất nhiều cách triển khai, giải quyết vấn

đề, song đối với kiểu đề so sánh văn học dù là ở dạng so sánh hai chi tiết, haiđoạn thơ, hai đoạnh văn, hay hai nhân vật phương pháp làm bài văn dạngnày thông thường có hai cách:

- Nối tiếp: Lần lượt phân tích hai văn bản rồi chỉ ra điểm giống và khác nhau

- Song song: Tìm ra các luận điểm giống và khác nhau rồi lần lượt phân tíchtừng luận điểm kết hợp với việc lấy song song dẫn chứng của cả hai văn bảnminh họa

Cách 1: Phân tích theo kiểu nối tiếp

Đây là cách làm bài phổ biến của học sinh khi tiếp cận với dạng đề này,

cũng là cách mà Bộ giáo dục và đào tạo định hướng trong đáp án đề thi đại

Bước một lần lượt phân tích từng đối tượng so sánh cả về phương diện nộidung và nghệ thuật, sau đó chỉ ra điểm giống và khác nhau

Cách này học sinh dễ dàng triển khai các luận điểm trong bài viết Bài viết

rõ ràng, không rối kiến thức nhưng cũng có cái khó là đến phần nhận xétđiểm giống và khác nhau học sinh không thành thạo kĩ năng, nắm chắc kiếnthức sẽ viết lặp lại những gì đã phân tích ở trên hoặc suy diễn một cách tùytiện

Mô hình khái quát của kiểu bài này như sau:

- Mở bài: Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này); giới thiệu khái quát

Trang 24

+ Lý giải sự khác biệt: Thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình diện: bốicảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặctrưng thi pháp của thời kì văn học…(bước này vận nhiều thao tác lập luậnnhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)

- Kết bài: Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu; có thể nêunhững cảm nghĩ của bản thân

Cách 2: Phân tích song song

Cách này hay nhưng khó, đòi hỏi khả năng tư duy chặt chẽ, lôgic, sự tinhnhạy trong phát hiện vấn đề học sinh mới tìm được luận diểm của bài viết vàlựa chọn những dẫn chứng tiêu biểu phù hợp của cả hai văn bản để chứngminh cho luận điểm đó

Trang 25

Ví dụ, khi so sánh bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi và trích đoạn Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm Ứng dụng cách viết này học sinh không

phân tích lần lượt từng tác phẩm như cách một mà phân tích so sánh songsong trên các bình diện: Xuất xứ - cảm hứng - hình tượng - chất liệu và giọng

Lưu ý: Trong thực tế không phải đề nào chúng ta cũng có thể áp dụng theo

đúng khuôn mẫu cách làm như đã trình bày ở trên Phải tùy thuộc vào cáchhỏi trong mỗi đề cụ thể mà áp dụng theo cách nào và áp dụng sao cho linhhoạt, phù hợp Cũng có khi vận dụng đầy đủ các ý của phần thân bài, cũng cókhi phải cắt bỏ một phần cho hợp với yêu cầu trọng tâm của đề, hay dụng ýcủa người viết

Ví dụ: Sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam và Chữngười tử tù của Nguyễn Tuân.

* Thân bài :

- Phân tích đối tượng so sánh 1: Sự tương phảngiữa ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn Haiđứa trẻ

+ Bóng tối: Dày đặc, bao trùm cả phố huyện và được lặp đi, lặp lại nhiều

lần: Một đêm mùa hạ êm như nhung; đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối; tố ihết cả con đường thăm thảm ra sông, con đường qua chợ về nhà; các ngõ vào lànglại càng sẫm đen hơn nữa; đêm trong phố tĩnh mịch và đầy bóng tối biểu trưng cho cuộc sống tăm tối, tù đọng,quẩn quanh

nơi phố huyện (đó cũng chính là hình ảnh của xã hội Việt Nam những năm

1930 - 1945)

+ Ánh sáng: Ánh sáng tương phản với bóng tối nhằm tô đậm thêm bóng tối.

\ Ánh sáng nơi phố huyện: nhỏ nhoi, yếu ớt, thưa thớt chỉ là những quầng sáng leo lét, những hột sáng, những vệt sáng, những khe sáng, tượng trưng

cho số phận leo lét, mòn mỏi của những con người nơi đây

Trang 26

\ Ánh sáng Hà Nội trong hoài niệm của nhân vật Liên: Hà Nộirực sáng vừa

là quá khứ, vừa là ước mơ về tương lai của chị em Liên

\ Ánh sáng từ đoàn tàu vụt qua nhanh: các toa đèn sángtrưng; các cửa kính sáng; đồng và kền lấp lánh ánh sáng của đoàn tàu khác hẳn với ánh sáng

nhỏ nhoi, yếu ớt của phố huyện, hướng con người tới tương lai tươi sáng

-> Kết quả của sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối: Biểu tượng chonhững kiếp người sống leo lét vô danh trong một xã hội tù đọng tăm tốinhưng vẫn không nguôi hướng về một tương lai tươi sáng hơn

- Phân tích đối tượng so sánh 2: Sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn Chữ người tử tù

+ Bóng tối: “mặt đất tối”, “ một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy

mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián”… hiện thân cho một không

gian nhà tù tăm tối, một cuộc sống tù đọng, tối tăm đầy cái ác,cái xấu nơi nhàngục thực dân, phong kiến Đồng thời bóng tối cũng tượng trưng cho cái áctrong cuộc sống cũng như trong bản chất con người

+ Ánh sáng: “một ngôi sao Hôm nhấp nháy”, “một ngôi sao chính vị từ biệt

vũ trụ”, “vuông lụa trắng”, “ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu”…là

ánh sáng của chân lí,của tâm hồn con người, của cái đẹp tài hoa, của mộtnhân cách thanh cao…

-> Kết quả của sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối là sự chiến thắng củathiên lương con người trước cái xấu cái ác, trước cái cao cả với cái thấphèn…

- Nhận xét điểm tương đồng và khác biệt :

+ Điểm tương đồng

\ Cả hai tác giả đều sử dụng ánh sáng và bóng tối - một thủ pháp nghệ thuật

tương phản, đối lập mà văn học lãng mạn hay sử dụng nhằm tạo tình huốngtruyện Đây là các chi tiết nhỏ nhưng góp phần chuyển tải nội dung tư tưởng,chủ đề tác phẩm

\ Ánh sáng và bóng tối trong hai tác phẩm tác phẩm vừa mang ý nghĩa tả thựcvừa mang ý nghĩa biểu tượng cao Bóng tối tượng trưng cho cái xấu, còn ánhsáng tượng trưng cho cái tốt

+ Điểm khác biệt

\ Chữ người tử tù: Sự tương phản gữa ánh sáng và bóng tối được xây dựng

trên sự đối lập gay gắt, có sự chuyển biến bất ngờ, đột ngột Thủ pháp nghệ

Ngày đăng: 04/10/2021, 17:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w