Những ca từ hào hùng và da diết ấy đã gợi ra trong lòng bao người con đất Việt tình yêu, niềm tự hào và sự đau đáu hướng về hai quần đảo quê hương. Trường Sa, Hoàng Sa biết bao đời nay đã là một phần máu thịt không thể tách rời của lãnh thổ thân yêu, để mà biết bao thế hệ cha ông đã không tiếc máu xương ngã xuống bảo vệ từng tấc đất, ngọn sóng cho non sông đất nước được trường tồn. Thế nhưng, lịch sử với những yếu tố khách quan của nó đã khiến cho ngày nay hai quần đảo ấy đã không còn trọn vẹn. Giữ gìn những hình ảnh thân thương, khắc ghi những chứng cứ lịch sử về chủ quyền của Việt Nam đối với Trường Sa, Hoàng Sa là một phần trách nhiệm lớn lao đối với thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÔNG Á KHOA NGÔN NGỮ TRUNG
BÀI TIỂU LUẬN
Giảng viên HD :
Sinh viên thực hiện :
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2023
Trang 2MỤC LỤC
I LỜI MỞ ĐẦU
II VỊ TRÍ ĐỊA LÍ
III HOÀN CẢNH LỊCH SỬ
1 Hoàng Sa trước thời kì nhà Nguyễn
2 Hoàng Sa trong thời kì nhà Nguyễn (1802 – 1945)
3 Các bằng chứng của Việt Nam đối với chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
3.1 Giai đoạn 1945 – 1974
3.2 Giai đoạn từ sau 1974 đến nay
IV ĐẶC ĐIỂM HIỆN VẬT
V THÀNH TỰU
VI KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
Trang 3I Lời mở đầu
“Tôi đang nghe Tổ quốc gọi tên mình, Bằng tiếng sóng Trường Sa, Hoàng Sa dội vào ghềnh đá.
Tiếng Tổ quốc vọng về từ biển cả, Nơi bão tố dập dồn, chăng lưới, bủa vây…”
Những ca từ hào hùng và da diết ấy đã gợi ra trong lòng bao người con đất Việt tình yêu, niềm tự hào và sự đau đáu hướng về hai quần đảo quê hương Trường Sa, Hoàng Sa biết bao đời nay đã là một phần máu thịt không thể tách rời của lãnh thổ thân yêu, để mà biết bao thế hệ cha ông đã không tiếc máu xương ngã xuống bảo vệ từng tấc đất, ngọn sóng cho non sông đất nước được trường tồn Thế nhưng, lịch sử với những yếu tố khách quan của nó đã khiến cho ngày nay hai quần đảo ấy đã không còn trọn vẹn Giữ gìn những hình ảnh thân thương, khắc ghi những chứng cứ lịch sử về chủ quyền của Việt Nam đối với Trường Sa, Hoàng Sa là một phần trách nhiệm lớn lao đối với thế hệ trẻ hôm nay và mai sau
Trong khuôn khổ nội dung môn học “Chủ nghĩa Mác-Lênin”, được sự quan tâm của trường Đại học Đông Á, Khoa ngôn ngữ Trung, ngày…tháng… năm 2023, chúng em đã được đến tham quan, học tập tại nhà trưng bày Hoàng
Sa, một địa chỉ nhiều người biết đến nhờ lưu giữ những hình ảnh, chứng cứ quý báu về quần đảo Hoàng Sa “Chủ nghĩa Mác-Lênin” là một môn học mà từ trước đến nay luôn được các thế hệ học sinh, sinh viên coi là một môn học khó hiểu, khô khan và nhàm chán Tuy nhiên, cùng với những bài học lí thuyết bổ ích mà các thầy cô đã truyền đạt trên lớp, những buổi trải nghiệm thực tế như trên đây
đã giúp chúng em hiểu rõ hơn các nguyên lý, các luận điểm, tư duy khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin Đồng thời vun đắp tình yêu đối với quê hương, Tổ quốc, tinh thần đoàn kết, gắn kết trong tập thể Từ đó, chúng em thấy được trách nhiệm phải bảo vệ thành quả của các thế hệ ngư dân, chiến sĩ đi trước đối với hai quần đảo, luôn tỉnh táo, kiên trì trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, tránh
Trang 4các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch đối với công cuộc bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta
Tiểu luận về chuyến tham quan nhà trưng bày Hoàng Sa Đà Nẵng là bài thu hoạch những kiến thức chúng em đã tìm hiểu được trong chuyến tham quan, trải nghiệm, dưới sự hướng dẫn của thầy …… Những kiến thức ấy đối với chúng em là vô cùng bổ ích và lí thú Tuy nhiên, tri thức khoa học là đại dương mênh mông, kiến thức chúng em tìm hiểu được chỉ là hạt cát bé nhỏ Bởi vậy bài tiểu luận của chúng em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Chúng
em rất mong nhận được sự hướng dẫn, sửa chữa của thầy để bài làm của chúng
em được hoàn thiện hơn Chúng em kính chúc thầy sức khoẻ, hạnh phúc và thành công trong công việc giảng dạy
II Vị trí địa lí
Nhà trưng bày Hoàng Sa được khởi công vào ngày 07 tháng 12 năm 2015, chính thức khánh thành và đi vào hoạt động đón khách tham quan từ ngày 28 tháng 3 năm 2018 Đây là một công trình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là nơi trưng bày, giới thiệu, tuyên truyền những hình ảnh, tư liệu lịch sử và pháp lí minh chứng về quá trình khai phá, xác lập và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa một cách thực sự, liên tục và hòa bình, phù hợp với thực tiễn và luật pháp quốc tế
Trang 5Vị trí Nhà trưng bày Hoàng Sa trên đường Hoàng Sa, quận Sơn Trà, Đà
Nẵng
- Vị trí: đường Hoàng Sa, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố
Đà Nẵng
- Công trình có vị trí trên đường Hoàng Sa, mặt tiền hướng mặt ra Biển Đông với ý nghĩa như là đang hướng về quần đảo Hoàng Sa (hiện nay đang Trung Quốc đang chiếm đóng phi pháp)
Nhà trưng bày Hoàng Sa (ảnh báo Hải Quân)
- Kiến trúc: nhà trưng bày được xây dựng trên khu đất có tổng diện tích 1.296m2, diện tích sàn xây dựng 1.824m2, chiều cao xây dựng 18,2m2 với 04 tầng Hình ảnh công trình được lấy cảm hứng từ hình tượng con dấu của vua Minh Mạng trong Sắc chỉ thành lập Hải đội Hoàng Sa năm 1835
III Hoàn cảnh lịch sử
Trong các hiện vật lịch sử, tài liệu đang được lưu giữ và giới thiệu tại Nhà trưng bày hoàng Sa Đà Nẵng, người tham quan có thể nhận ra các bằng chứng
rõ ràng về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa Có thể chia
ra thành hai thời kì: trước thời nhà Nguyễn và trong thời kì nhà Nguyễn.
1 Hoàng Sa trước thời kì nhà Nguyễn
Trang 6Tại Nhà trưng bày Hoàng Sa hiện nay đang trưng bày nhiều tài liệu, bản
đồ cũng như các ghi chép trích đoạn trong các thư tịch cổ trước thời nhà Nguyễn
về các hoạt động chấp pháp, khai thác đối với quần đảo này Bao gồm 4 bản đồ
và 7 đoạn trích trong các thư tịch cổ
Bốn bản đồ gồm: (1) Tờ bản đồ vẽ xứ Quảng Nam trong tập An Nam hình thắng đồ phụ Nam Bắc xứ đồ, phía trên có chú dẫn bằng chữ Hán Nôm miêu tả
sơ lược về Bãi Cát Vàng; (2) Bản đồ vẽ hình thế xứ Quảng Nam trong Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá, quê ở xã Bích Triều, huyện Thanh Mai
(nay thuộc huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An) soạn vẽ vào năm 1686, chú dẫn phía trên bản đồ này có miêu tả địa danh Bãi Cát Vàng ở ngoài khơi tỉnh Quảng
Ngãi; (3) Bản đồ vẽ hình thế phủ Quảng Ngãi trong tập Thiên hạ bản đồ, biên
soạn vào thời Lê (thế kỷ XVIII), sao lục vào thời Nguyễn (thế kỷ XIX), chú dẫn phía trên bản đồ này có miêu tả địa danh Bãi Cát Vàng ở ngoài khơi tỉnh Quảng
Ngãi; (4) Bản đồ màu vẽ hình thế xứ Quảng Nam trong Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá soạn vẽ vào năm 1686, sao vẽ lại vào thế kỷ XIX, chú
dẫn phía trên bản đồ này có miêu tả địa danh “Bãi Cát Vàng” bằng chữ Nôm ở ngoài khơi tỉnh Quảng Ngãi
Bản đồ Hoàng Sa trong một số tài liệu trước thời nhà Nguyễn
Các đoạn trích trong thư tịch cổ được lựa chọn, gồm: (1) Bảng trích trong
Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, biên soạn năm 1776; (2) Đoạn trích trong Đại
Trang 7Nam thực lục tiền biên, Quyển 10, ghi chép về thời chúa Nguyễn Phúc Khoát,
vào năm Giáp Tuất (1754); (3) Đoạn viết về hoạt động của đội Hoàng Sa vào
năm 1754 trong Đại Việt sử ký tục biên, biên soạn vào thời Lê – Trịnh; (4) Văn
bản giải quyết vụ kiện ở phường Mỹ Lợi (nay là làng Mỹ Lợi, xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế) liên quan đến đội Hoàng Sa; (5) Đoạn viết về Bãi Cát Vàng và hoạt động của đội Hoàng Sa thời chúa Nguyễn trong
Thiên Nam lộ đồ của Nhữ Ngọc Hoàn soạn vẽ vào năm 1771; (6) Đoạn viết về
xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, đảo Hoàng Sa và hoạt động của đội Hoàng Sa thời
chúa Nguyễn trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy chú
(1782-1840); (7) Đoạn viết về Bãi Cát Vàng và hoạt động của đội Hoàng Sa thời chúa
Nguyễn trong Giao Châu dư địa đồ.
Một số trích đoạn trong các thư tịch cổ khẳng định chủ quyền của Việt Nam
đối với quần đảo Hoàng Sa
Từ các tài liệu, thư tịch kể trên có thể khẳng định rằng, không phải đến thời kì nhà Nguyễn, mà từ các giai đoạn trước đó, các triều đại phong kiến Việt Nam đã có các hoạt động đánh dấu chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Tất cả các hoạt động đó đã được các sách và tài liệu của các nhà sử học ghi chép lại rất rõ ràng Nó minh chứng cho thấy các hoạt động thực thi chủ quyền của Nhà nước phong kiến Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và
Trang 8Trường Sa đã phát triển với một trình độ tương đối cao và mọi chi tiết đều được khẳng định, lưu trữ bằng những văn bản, mộc bản chính thức trong các văn khố, thư tịch quốc gia
2 Hoàng Sa trong thời kì nhà Nguyễn
Hoàng Sa trong thư tịch cổ Việt Nam thời Nguyễn được chia thành 5 chủ
đề nhỏ, trưng bày các bản đồ: An Nam đại quốc họa đồ do Giám mục Jean Louis Taberd vẽ in trong từ điển Latinh-Annam xuất bản năm 1938; Đại Nam nhất thống toàn đồ vẽ vào năm 1838 đời Minh Mạng.
Bản đồ “An Nam đại quốc hoạ đồ” có ghi chú hình ảnh về “Bãi Cát Vàng”
(quần đảo Hoàng Sa)
Các châu bản triều Nguyễn có niên đại từ năm Minh Mạng thứ 11 (1830) đến năm Bảo Đại thứ 13 (1939) được in ấn và giới thiệu nguyên bản chữ Hán, đi kèm phần dịch nghĩa và tiếng Anh Các châu bản này xác nhận sự thực thi chủ quyền mang tính quốc gia của nhà nước phong kiến Việt Nam trong nhiều năm liền, mà không phải hành động mang tính cá nhân đơn lẻ của các ngư dân Bên cạnh đó, hàng loạt hình ảnh về hoạt động của đội Hoàng Sa, lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa tại đảo Lý Sơn, hình ảnh hoạt động trên đảo Hoàng Sa từ năm 1858
Trang 9đến năm 1945 góp cái nhìn đầy đủ hơn về bằng chứng xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam từ lâu đời
Hình ảnh lễ “Khao lề tế lính” ở đảo Lí Sơn được tái hiện
Không những thế, nhiều bản đồ Trung Quốc do nhà nước Trung Hoa xuất
bản cũng không vẽ hình ảnh quần đảo Hoàng Sa, như bản đồ Nhị kinh thập bát tỉnh tổng đồ trong sách Thanh nhị kinh thập bát tỉnh cương vực toàn đồ do Đông
Điều Văn Tả Vệ Môn soạn vẽ, xuất bản tại Trung Quốc năm 1850; bản đồ
Quảng Đông toàn đồ trong sách Thanh nhị kinh thập bát tỉnh cương vực toàn
đồ, xuất bản tại Trung Quốc 1850; bản đồ Đại Thanh đế quốc trong sách Đại Thanh đế quốc toàn đồ do Thượng Hải thương vụ ấn thư quán xuất bản năm
1908; bản đồ vẽ đảo Hải Nam là cực nam của Trung Quốc trong tập Càn Long thập tam bài đông bản dư địa đồ… Các tài liệu đó một lần nữa khẳng định chủ quyền bền vững của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa
3 Các bằng chứng của Việt Nam đối với chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa
Với nhiều tư liệu, văn bản, hiện vật, ấn phẩm và bản đồ được trưng bày Nhà trưng bày Hoàng Sa cũng như tài liệu, công trình nghiên cứu của các nhà khoa học của Việt Nam và trên thế giới là những bằng chứng lịch sử, cơ sở pháp
Trang 10lý chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa trên Biển Đông
3.1 Từ năm 1945 – 1974
Giai đoạn từ 1945 đến 1974, bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa được khẳng định qua các hình ảnh, tư liệu về hoạt động quân sự, dân sự trên đảo:
Đài khí tượng do người Pháp xây dựng, nghiên cứu trên đảo Hoàng Sa
Nghị định số 3282 ngày 5/5/1939 của Toàn quyền Đông Dương về việc phân chia quận hành chính Hoàng Sa thành hai quận hành chính cũng thuộc tỉnh Thừa Thiên; Các văn bản như công văn liên quan đến hoạt động của Trạm khí tượng đặt trên đảo Hoàng Sa, phiếu đệ trình số 2042/TTM/P3/2 ngày 18/4/1959 của Phòng III Bộ Tổng Tham mưu Quốc phòng về việc phái Bảo an ra đóng tại quần đảo Hoàng Sa; Sắc lệnh số 81-NG ngày 27/4/1965 của Thủ tướng Chính phủ về việc trong giới hạn 3 hải lý, hải phận Việt Nam sẽ được lập thành “Khu vực phòng vệ” và cấm hẳn sự lưu thông của tàu bè có phương hại đến hòa bình, trật tự hoặc an ninh của Việt Nam; công điện của Chỉ huy đảo Duncan gửi Tỉnh đoàn Bảo an Quảng Nam về việc theo dõi điều tra 2 thuyền Trung Quốc đổ bộ lên một đảo nhỏ ở phía Bắc thuộc quần đảo Hoàng Sa ngày 25/2/1961… được trưng bày để đông đảo người xem được biết sự thống nhất lâu dài trong việc
Trang 11quản lý quần đảo Hoàng Sa dù lúc này hai miền Nam Bắc Việt Nam đang bị chia cắt Ngoài ra còn nhiều hình ảnh về “Hải chiến Hoàng Sa” cũng được giới thiệu để nhắc chúng ta nhớ đến ngày một phần máu thịt của Tổ quốc Việt Nam
bị cưỡng chiếm
Cột mốc do chính quyền Việt Nam cộng hoà đặt trên quần đảo Hoàng Sa 3.2 Từ sau năm 1974 đến nay
Năm 1974, Trung Quốc dùng không quân, hải quân chiếm đóng phi pháp phần phía tây của quần đảo Hoàng Sa Chính quyền Việt Nam cộng hoà và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã kịch liệt phản đối hành động này của Trung Quốc Đồng thời, Việt Nam không ngừng đấu tranh khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Năm 1975, chính quyền Việt Nam cộng hoà sụp đổ, Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam tiếp quản đầy đủ các đảo do quân đội Việt Nam cộng hoà cai quản trên Biển Đông Nhà nước Việt Nam thống nhất sau đó tiếp tục khẳng định chủ quyền của người Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ban hành nhiều văn bản hành chính nhà nước thành lập các huyện đảo Hoàng Sa và huyện đảo Trường Sa cũng như hoàn thiện việc quản lý hành chính trên các quần đảo này
Trang 12Dù đang chiếm đóng phi pháp đối với quần đảo Hoàng Sa, nhưng đối với quần đảo Trường Sa, có một bằng chứng hiển nhiên là cho đến năm 1988 chưa
hề có bất kỳ sự hiện diện nào của Trung Quốc ở quần đảo này Ngày 14/3/1988, Trung Quốc bắt đầu dùng vũ lực chiếm đóng trái phép một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam Dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế, Việt Nam
có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền lâu đời và liên tục của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Một trong những văn kiện có tính pháp lí quốc tế trong lĩnh vực biển đảo
mà đa số các nước trên thế giới tham gia đó là Công ước Luật Biển năm 1982 cho phép các quốc gia ven biển được hưởng quy chế thềm lục địa để thăm dò và khai thác tài nguyên Chiếu theo công ước này, việt Nam có đầy đủ những bằng chứng pháp lí cũng như các yếu tố lịch sử về chủ quyền không thể tranh cãi đối với Hoàng Sa và Trường Sa Theo đó, về mặt địa lý, đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa chỉ cách Quảng Ngãi 135 hải lý và đảo Hoàng Sa chỉ cách lục địa Việt Nam 160 hải lý Vì vậy, quần đảo Hoàng Sa nằm trong thềm lục địa của Việt Nam được quy định bởi Công ước về Luật Biển năm 1982 Về mặt địa chất, các nghiên cứu khoa học đều cho thấy quần đảo Hoàng Sa là một thành phần của Việt Nam Tại quần đảo Trường Sa cũng vậy, về mặt địa chất và địa hình đáy biển các đảo Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Việt Nam từ đất liền
ra ngoài biển Hơn nữa, bãi Tư Chính và đảo Trường Sa chỉ cách đất liền Việt Nam từ 150 đến 200 hải lý, nằm trong thềm lục địa của Việt Nam
Như vậy, chúng ta có đầy đủ các bằng chứng pháp lí khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dựa theo các bằng chứng lịch sử và Công ước quốc tế Mọi hoạt động chiếm đóng trái phép, các hành vi
sử dụng hoặc đe doạ sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp trên biển Đông trong đó có 2 quần đảo trên đều là phi pháp và không thể chấp nhận được
IV Đặc điểm hiện vật
Trang 13Để dễ dàng cho việc tham quan, nghiên cứu của du khách, Nhà trưng bày Hoàng Sa đã sưu tầm, thu thập các tài liệu, hiện vật có giá trị về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa
Vị trí trung tâm tầng 1 của Nhà trưng bày là hình ảnh tái hiện cột mốc chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, được ghi bằng tiếng Việt và tiếng Pháp
Các hiện vật tại Nhà trưng bày được sắp xếp theo các chủ đề cụ thể:
+ Chủ đề 1: Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên trên quần đảo Hoàng Sa.
Chủ đề giới thiệu tổng quan về vị trí chiến lược, tọa độ, phân loại các thực thể địa lý trên quần đảo Hoàng Sa, tài nguyên thiên nhiên, sinh vật biển trên quần đảo Hoàng Sa
+ Chủ đề 2: Hoàng Sa trong thư tịch cổ Việt Nam trước thời nhà
Nguyễn Chủ đề trình bày các hiện vật lịch sử kéo dài khoảng 2 thế kỷ từ đầu
thế kỷ 17 đến trước năm 1802, ghi nhận quần đảo Hoàng Sa lúc đó được định danh với tên gọi bằng chữ Nôm là “Bãi Cát Vàng” và được miêu tả rất chi tiết trên các bản đồ, thư tịch cổ từ thời nhà Lê đến thời nhà Nguyễn khẳng định các nhà nước Việt Nam đã phát hiện, khai thác, bảo vệ quần đảo Hoàng Sa, Trường
Sa, coi đây là phần lãnh thổ quan trọng của quốc gia trên biển
+ Chủ đề 3: Hoàng Sa trong thư tịch cổ Việt Nam ở thời nhà Nguyễn
(1802 – 1945) Ở chủ đề này giới thiệu các thư tịch cổ, tài liệu cổ thể hiện: Nhà
Nguyễn tiếp tục thực thi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa thông qua nhiều hoạt động của đội hùng binh và thủy quân triều đình Bên cạnh đó, không gian trưng bày về: Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa; Quê hương của Hải đội Hoàng Sa; hình ảnh, tư liệu về hoạt động trên quần đảo Hoàng Sa (1858-1945); các bản đồ
cổ, tư liệu cổ xác nhận lãnh thổ Trung Quốc không có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
+ Chủ đề 4: Bằng chứng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo
Hoàng Sa (1945 – 1974) được thể hiện rõ qua các hình ảnh, tư liệu về hoạt động
trên quần đảo Hoàng Sa thời chính quyền Việt Nam Cộng hòa như: sự thiết lập