Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”.. Khái niệm này nhấ
Trang 1I Mối quan hệ văn hoá và văn học
1 Về khái niệm văn hoá và văn học
Văn hoá được hiểu là một khái niệm rất rộng và có ý nghĩa lớn đối tiến trình phát triển của loài người Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về văn hóa Theo
UNESCO: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” Khái niệm này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của
các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời gian dài tạo nên những giá trị có tính phổ quát, đồng thời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc Theo chủ tịch Hồ
Chí Minh thì: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” Cách định nghĩa của Hồ Chí Minh giúp chúng ta hiểu về văn hoá một cách
đầy đủ hơn Bởi vì theo Người, tất cả các hoạt động của con người suy cho cùng đều phục vụ việc sinh tồn của mình trong tự nhiên và trong xã hội, cho dù đó là những phát minh về công cụ sinh hoạt hay các sản phẩm phục vụ đời sống tinh thần
Có thể thấy các định nghĩa về văn hoá dù đặt trên những cơ sở khác nhau thì cũng đều hướng đến một nội dung chung đó là các hoạt động phục vụ đời sống và
đáp ứng quá trình tiến hoá của con người Như vậy có thể hiểu văn hoá là: Một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong hoạt động thực tiễn qua quá trình tương tác giữa con người với tự nhiên, xã hội và bản thân Văn hóa là của con người, do con người sáng tạo và vì lợi ích của con người.
Văn hóa được con người giữ gìn, sử dụng để phục vụ đời sống con người và truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác
Trang 2Về khái niệm văn học, theo Wikipedia, “là bất kỳ tác phẩm nào bằng văn bản Hiểu theo nghĩa hẹp hơn, thì văn học là dạng văn bản được coi là một hình thức nghệ thuật, hoặc bất kỳ một bài viết nào được coi là có giá trị nghệ thuật hoặc trí tuệ, thường là do cách thức triển khai ngôn ngữ theo những cách khác với cách sử dụng bình thường” Hay nói cách khác, văn học là bộ phận quan trọng, bắt
nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống, bày tỏ quan điểm, lập trường đối với cuộc sống Và văn học cũng là một loại hình nghệ thuật Văn học có các thể loại khác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kịch bản, lí luận phê bình Văn học có lịch
sử phát triển từ lâu đời, là sự phát triển của văn học dân gian (hay văn học truyền miệng) và văn học viết
2 Văn hoá và văn học có mối quan hệ tác động qua lại với nhau
Từ cách định nghĩa nêu trên, có thể thấy, văn hoá và văn học là những khái niệm quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa chứa đựng trong nhau, vừa có tác động qua lại với nhau
2.1 Văn học là một hiện tượng của văn hoá (văn học trong văn hoá)
Văn học là một hiện tượng của văn hoá Như cách hiểu về khái niệm văn hoá là tất các các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình tiến hoá, phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống con người, thì văn học chính
là một sản phẩm đặc biệt trong quá trình sáng tạo đó Một tác phẩm văn học ra đời trước hết phục vụ cho nhu cầu tìm hiểu thế giới, giao tiếp, bày tỏ tình cảm của con người, sau đó là phản ánh hiện thực khách quan qua lăng kính chủ quan của người sáng tạo Đối với một cộng đồng quốc gia, dân tộc hay một vùng lãnh thổ, những tác phẩm văn học lớn, có giá trị nghệ thuật thường tiêu biểu cho nền văn hoá của
quốc gia, dân tộc đó Ví dụ như Việt Nam có “Truyện Kiều”, Trung Quốc có “Tam Quốc diễn nghĩa”, “Tây Du Ký”, “Hồng lâu mộng”,… hay nước Nga có các sáng
tác của Đôxtôiépxki, Sholokhov, Puskin,…
Văn hoá và văn học quan hệ với nhau như bộ phận và toàn thể vì thế như cái hẹp (văn học) và cái rộng (văn hoá), cái trên và cái dưới Cả văn hoá và văn học vì
Trang 3thế mang những nét chung như: chúng đều tồn tại như một hiện tượng của ý thức
hệ xã hội và là biểu hiện của tinh thần; văn hoá và văn học đều là những hiện tượng thông tin; một trong những thành phần của văn hoá là nghệ thuật, bản chất của nghệ thuật là thẩm mĩ, kết quả của sự tương tác hình tượng, mà hình tượng nghệ thuật chỉ có thể tạo ra từ ngôn ngữ trực tiếp hoặc dựa vào ngôn ngữ Bên cạnh
đó, trong văn hoá có nội dung không có trong văn học - một hiện tượng nghệ thuật ngôn từ; nội dung ấy là dấu hiệu chủ yếu để phân biệt văn hoá và văn học
Những điều này dễ nhận thấy trong bộ phận văn học dân gian Là bộ phận văn học được sáng tác, lưu truyền bằng phương thức truyền miệng trong tập thể nhân dân lao động, văn học dân gian phản ánh tư duy, đời sống tâm hồn, tình cảm của con người thời cổ đại cho đến xã hội có phân chia giai cấp Những sáng tác văn học dân gian gắn liền với môi trường diễn xướng và sinh hoạt văn hoá của cộng đồng Và bản thân các tác phẩm ấy cũng được xem là một phần của văn hoá truyền thống Việt Nam Trong kho tàng tục ngữ, ca dao của dân tộc ta, có nhiều câu mang tính định hướng thẩm mỹ, dạy con người nhận diện cái đẹp, chẳng
hạn: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn/ Xấu người, đẹp nết còn hơn đẹp người”; “Cái nết đánh chết cái đẹp” Hay khuyên con người ứng xử có văn hoá: “Lời nói chẳng mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”,… Những bài ca dao, dân ca,
những điệu hò được nảy sinh trong hoạt động giao tiếp giữa con người với con người, đặc biệt là đối đáp, giao duyên giữa nam và nữ:
“Hôm qua tát nước đầu đình,
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen.
Em được thì cho anh xin, Hay là em để làm tin trong nhà…”
Hay:
“Anh đi anh nhớ quê nhà, Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.
Trang 4Nhớ ai dãi nắng dầm sương, Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.”
Bên cạnh đó, những câu chuyện truyền thuyết nảy sinh từ trong những sự tích, sinh hoạt văn hoá có yếu tố lịch sử hoặc có liên quan đến lịch sử Ví dụ “Sự tích thánh Gióng” gắn với lễ hội đền Gióng, “Sự tích bánh chưng, bánh dày” gắn với truyền thống ẩm thực của con người Việt Nam,… Dần dần những câu chuyện, bài ca dao
ấy trở thành một truyền thống trong văn hoá trọng tình, trọng nghĩa, yêu hoà bình, ghét chiến tranh của dân tộc Việt Nam, nó lưu truyền mãi đến tận ngày nay
Như vậy, xét về một ý nghĩa nào đó, nhà văn chính là người đã viết nên lịch sử tâm hồn văn hóa dân tộc mình bằng văn học để thức nhận những ký ức văn hóa dân tộc nơi người đọc Tiếp xúc với tác phẩm văn học cũng chính là tiếp xúc với những giá trị văn hóa được nhà văn phản ánh trong đó, nhất là những tác phẩm văn học mà đối tượng phản ánh là những vấn đề văn hóa như tác phẩm văn học viết về phong tục, tôn giáo, tín ngưỡng, các truyền thuyết lịch sử, lễ hội…
2.2 Văn hoá là đối tượng phản ánh của văn học (văn hoá trong văn học)
Văn học với chức năng phản ánh đời sống con người trong các mối quan hệ
tự nhiên và xã hội, đã lấy văn hoá làm đối tượng để phản ánh (bên cạnh các đối tượng khác) Văn bản văn học có 3 phương diện (đối tượng) thuộc về văn hoá:
Thứ nhất, văn bản văn học phản ánh toàn bộ đời sống cộng đồng dân tộc,
trong đó văn hoá như là một phần hợp thành quan trọng nhất
Trong văn học Việt Nam, chúng ta dễ dàng nhận thấy phương diện này Qua những trang văn Nguyễn Tuân, người đọc như được tìm về với những thú vui, thú chơi tao nhã cửa “một thời xa bóng” mà tưởng như chỉ còn thấy trong những trang sách sử Hay người đọc bắt gặp một “xã hội chó đểu” diễn ra đầu thế kỷ XX trong các sáng tác của Vũ Trọng Phụng, những khung cảnh văn hoá với những nếp nhà, khoảng sân ở nông thôn việt Nam trước Cách mạng qua trang văn của Nam Cao,
những nét đẹp văn hoá Hà thành qua “Một người Hà Nội” của Nguyễn Khải… Có
lẽ chỉ có văn chương mới giúp cho con người có những cảm xúc dạt dào như vậy,
Trang 5nó khác hẳn với việc tìm hiểu văn hoá qua những cuốn sách khoa học hay những câu chuyện về lịch sử
Thứ hai, ngôn ngữ với tư cách là chất liệu tạo nên văn bản văn học là một
trong những hiện tượng văn hoá quan trọng nhất
Khi nghiên cứu về “Truyện Kiều”, chúng ta đều hiểu rằng tác giả Nguyễn
Du đã mượn cốt truyện từ một “tiểu thuyết phong tình” của Trung Hoa (“Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân) Thế nhưng, điều làm nên giá trị của tác
phẩm có lẽ nằm ở ngôn ngữ dân tộc, nhiều hơn là ở nội dung của nó Trong mười năm gió bụi nơi đất Bắc, Nguyện Du đã học tập được ở nhân dân lao động một vốn ngôn ngữ khổng lồ, mà nhờ đó, tác giả đưa vào trang thơ của mình khiến cho
“Truyện Kiều” không những không xa lạ với đông đảo độc giả mà trái lại vô cùng
thân thuộc Bởi đó là ngôn ngữ của nhân dân, ngôn ngữ của dân tộc:
“Vầng trăng ai sẻ làm đôi Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường!”
Hoặc:
“Long lanh đáy nước in trời Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.”
“Truyện Kiều” dễ thuộc, dễ nhớ, gần gũi với mọi tầng lớp nhân dân cũng chính là
vì lí do đó
Thứ ba, văn bản văn học được công chúng tiếp nhận đã ảnh hưởng, tác
động xã hội, đến tâm lí, sở thích cá nhân và cộng đồng đôi khi tạo nên cả một phong trào xã hội Hoạt động của nó chúng chính là một hoạt động văn hoá
Đề cập đến phương diện này không thể không nói đến phòng trào Thơ mới
diễn ra đầu thế kỷ XX Đầu năm 1932, bài thơ “Tình già” của Phan Khôi ra mắt
bạn đọc trên báo Phụ nữ tân văn số 122 được xem là bài thơ mở đầu cho phong trào Thơ mới Ngay sau đó, cuộc tranh luận giữa lối thơ mới và thơ cũ diễn ra vô cùng gay gắt Đến năm 1941, cuộc tranh chấp mới chấm dứt do sự thắng thế của
Trang 6lối thơ mới, khép lại mấy trăm năm thống lĩnh của thơ Đường Từ đó mở ra một thời kỳ vàng son mới của văn học Việt Nam đã diễn ra với tên gọi quen thuộc là phong trào Thơ mới Thơ mới vì thế cũng được xem là một phong trào văn hoá diễn ra một cách toàn diên và sâu rộng khiến sau này nhà phê bình Hoài Thanh
phải đi đến một tổng kết về tinh thần của nó: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu Nhưng càng đi sâu càng lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận” (Thi nhân Việt Nam)
Như vậy, việc ghi lại những thông tin văn hoá - xã hội, cùng với thời gian, văn bản văn học trở thành những “tư liệu lịch sử”, “chứng nhân của thời đại” như
kí ức văn hoá, kinh nghiệm lịch sử Văn học vì thế sẽ trở thành sợi dây kết nối các giai đoạn phát triển của loài người