1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TƯ TƯỞNG đạo đức của TRIẾT học NHO GIA và VIỆC vận DỤNG vào GIẢNG dạy TPVHTĐ

17 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 39,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA TRIẾT HỌC NHO GIAVÀ VIỆC VẬN DỤNG VÀO GIẢNG DẠY MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH PHỔ THÔNG Phần 1: Đặt vấn đề Nho giáo Khổng giáo là một học thuy

Trang 1

TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA TRIẾT HỌC NHO GIA

VÀ VIỆC VẬN DỤNG VÀO GIẢNG DẠY MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC

TRUNG ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH PHỔ THÔNG

Phần 1: Đặt vấn đề

Nho giáo (Khổng giáo) là một học thuyết chính trị, tư tưởng nổi tiếng của Trung Hoa thời cổ đại do Khổng Tử và hai người học trò xuất sắc của ông là Mạnh

Tử và Tuân Tử sáng lập và phát triển Trải qua hơn hai nghìn năm trăm năm tồn tại, chúng ta không thể phủ nhận vai trò và sự ảnh hưởng to lớn của Nho giáo đến đời sống văn hoá, xã hội của các quốc gia Phương Đông, trong đó có Việt Nam Nho giáo xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nổi bật nhất là trong

lĩnh vực văn học Yếu tố Nho giáo đã giúp các nhà thơ, nhà văn trung đại thể hiện,

giãi bày tâm tư, tình cảm của mình trước vận mệnh đất nước, trước cuộc sống xã hội đương thời Bởi vậy, nghiên cứu, xem xét những tư tưởng đạo đức của Nho gia, và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hoá, văn học nước ta sẽ góp phần dạy các tác phẩm văn học trung đại một cách đầy đủ và sâu sắc hơn

Phần 2: Nội dung

1 Khái quát tư tưởng đạo đức của triết học Nho gia

1.1 Khái quát về trường phái triết học Nho gia

Nho gia là một trường phái triết học cổ điển của Trung Hoa, ra đời vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc, khoảng thế kỷ thứ VI TrCN Người có công sáng lập ra trường phái Nho gia là Khổng Tử (551 - 479 TrCN).Trải qua sự khảo nghiệm từ thực tế xã hội đã được chứng kiến, Khổng Tử đề xuất hệ thống các tư tưởng về tự nhiên, chính trị, đạo đức, trong đó lấy trung tâm là việc giáo hoá đức nhân để cai trị xã hội

Sau khi Khổng Tử chết, Nho gia chia làm tám phái, quan trọng nhất là phái Mạnh Tử (327 - 289 trCN) và Tuân Tử (313 - 238 trCN) Mạnh Tử đã đi sâu tìm hiểu bản tính con người trên cơ sở đạo nhân của Khổng Tử, đề ra thuyết tính thiện

Trang 2

Tư tưởng của Mạnh Tử mang khuynh hướng của chủ nghĩa duy tâm Còn Tuân Tử lại phát triển truyền thống trọng lễ của Nho gia, nhưng trái với Mạnh Tử, ông cho rằng con người vốn có tính ác, coi thế giới khách quan có quy luật riêng Tư tưởng triết học của Tuân Tử thuộc chủ nghĩa duy vật chất phác cổ đại

Kinh điển của Nho gia thường kể tới là hai bộ Tứ thư và Ngũ kinh Tứ thư

gồm 4 sách: Trung dung, Đại học, Luận ngữ, Mạnh Tử Ngũ Kinh có: Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu Qua hệ thống kinh điển này có thể thấy rõ nét tư tưởng triết học

của Nho gia là các tư tưởng dựa trên triết lý về vũ trụ và giới tự nhiên, từ đó luận giải về đạo làm người, về chính trị, về nhận thức Trong đó đậm nét nhất là tư tưởng về đạo làm người, về chính trị và giáo dục Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về chính trị đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho gia

1.2 Tư tưởng đạo đức trong triết học Nho gia

Khổng Tử và các học trò của ông đã thấy được sức mạnh và vai trò to lớn của đạo đức đối với xã hội Vì vậy, trong hệ thống tư tưởng của Nho gia, một nội dung vô cùng quan trọng được Khổng Tử đặt ra đó là luận bàn về đạo đức

Theo Khổng Tử, Đạo là năm mối quan hệ xã hội cơ bản của con người được gọi là nhân luân, Mạnh Tử gọi là ngũ luân: vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh em, bạn bè Trong đó, ba mối quan hệ cơ bản nhất, Đổng Trọng Thư gọi là Tam cương

- ba sợi dây ràng buộc con người từ trong quan hệ gia đình đến ngoài xã hội Đức chính là các phẩm chất quan trọng nhất mà con người cần phải có để thực hiện tốt các mối quan hệ cơ bản trên Khổng Tử nhấn mạnh “Tam đức” (nhân, trí, dũng); ở Mạnh Tử là “Tứ đức” (nhân, nghĩa, lễ, trí); Đổng Trọng Thư là “ngũ thường” (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) Tam cương và ngũ thường được kết hợp và gọi tắt là đạo cương - thường

Cương - thường là nội dung cơ bản trong đạo làm người của Nho giáo, là nguyên tắc chi phối mọi suy nghĩ, hành động và là khuôn vàng thước ngọc để đánh giá phẩm hạnh của con người Một mặt, đạo cương - thường góp phần điều chỉnh

Trang 3

Chu trước đây và các triều đại phong kiến sau này đặt ra Cương - thường là nhân

tố quan trọng làm cho xã hội ổn định theo thứ bậc, là cơ sở đảm bảo quyền thống

trị của thiên tử Mặt khác, đạo cương - thường với nội dung “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”, “phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu” (vua xử bề tôi chết, bề

tôi không chết là không có lòng trung, cha xử con chết, con không chết là không có hiếu) là sợi dây trói buộc con người, làm cho con người thụ động trong cả suy nghĩ

và hành động

Phạm trù đạo đức đầu tiên, cơ bản nhất trong đạo cương - thường là Nhân (đức nhân) Tất cả các phạm trù đạo đức khác đều xoay quanh phạm trù trung tâm này Từ đức nhân mà phát ra các đức khác và các đức khác lại quy tụ về đức nhân

Cả cuộc đời mình, Khổng Tử đã dành nhiều tâm huyết để làm cho đức nhân trở thành hiện thực Ông mong muốn các học trò rèn luyện để đạt được đức nhân và ứng dụng nó trong thực tiễn Theo Khổng Tử thì:

- Nhân có nghĩa là yêu người : “Phàn Trì hỏi về người nhân, Khổng Tử nói: (đó là người biết) yêu người” (Phàn Trì vấn nhân, Tử viết: “ái nhân”).

- Nhân có nghĩa là trung và thứ Bàn về chữ trung, ông giải thích: “Người nhân là người mình muốn lập thân thì cũng giúp người lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người thành đạt” (Phù nhân giả, kỉ dục lập nhi lập nhân, kỉ dục đạt nhi đạt nhân) Về chữ thứ, ông viết: “Điều gì mình không muốn, chớ thi hành cho người khác” (Kỉ sở bất dục vật thi ư nhân) Như vậy, trung thứ tức là từ lòng

mình suy ra lòng người, phải giúp người Khổng Tử khuyên rằng nên làm cho người những cái mà mình muốn và đừng làm cho người những cái mình không muốn

- Đối với bản thân mình, người có đức nhân là phải thực hiện đúng lễ: “Dẹp

bỏ tư dục, trở về với lễ là phát huy điều nhân” (Khắc kỉ phục lễ vi nhân) Lễ là

hình thức thể hiện nhân và cũng là một chuẩn mực của Ngũ thường

Phạm trù đức nhân tuy bao chứa nhiều nội hàm khác nhau, song cái gốc và cốt lõi của nhân là hiếu đễ Theo Khổng Tử, tình cảm giữa cha mẹ và con cái, giữa

Trang 4

chồng và vợ, giữa anh em với nhau (quan hệ gia đình) là những tình cảm tự nhiên, vốn có thuộc về bản tính con người Từ cách hiểu này, ông cho rằng, trong gia đình nếu người cha đứng đầu thì mở rộng ra trong nước có ông vua đứng đầu Khổng

Tử hình dung quốc gia là một gia đình lớn, ông vua là người cha của gia đình ấy Nho giáo đặt vua đứng đầu trong tam cương và ngũ luân Vì vậy, đạo làm người phải tận hiếu với cha mẹ, tận trung với vua Một người biết yêu thương kính trọng cha mẹ mình thì mới biết yêu thương người ngoài Khổng Tử bàn đến đạo đức từ xuất phát điểm đầu tiên là gia đình, từ đó suy rộng ra đến quốc gia và thiên hạ

Nhân còn gắn liền với Nghĩa (nghĩa vụ, thấy việc đúng cần phải làm để giúp người) Khổng Tử cho rằng người quân tử cần chú ý đến nghĩa và coi thường lợi Muốn thực hiện nhân, nghĩa thì cần có Dũng (lòng dũng cảm) và có Trí (trí tuệ)

Có trí mới biết cách giúp người mà không làm hại đến người, đến mình, mới biết yêu và ghét người, mới biết đề bạt người chính trực và gạt bỏ người không ngay thẳng Tuy nhiên, trí theo Khổng Tử và các môn đệ của ông không phải là những tri thức phản ánh thực tại khách quan của tự nhiên và xã hội để từ đó chỉ đạo hành động của con người mà là những tri thức mang tính giáo điều, chỉ gói gọn trong sự hiểu biết sách vở của Nho giáo (Tứ thư và Ngũ kinh)

Về phạm trù Lễ, theo Nho giáo, là quy định về mặt đạo đức trong quan hệ ứng xử giữa người với người Con cái phải có hiếu với cha mẹ, bề tôi phải trung với vua, chồng vợ có nghĩa với nhau, anh em phải trên kính dưới nhường, bạn bè phải giữ được lòng tin Những quy tắc này là bất di bất dịch mà ai cũng phải tuân theo Lễ là sợi dây buộc chặt con người với chế độ phong kiến tập quyền Khổng

Tử yêu cầu, từ vua cho đến dân phải rèn luyện và thực hiện theo lễ Đến Đổng Trọng Thư, lễ đã được đẩy lên đến cực điểm của sự khắt khe Chỉ vì giữ lễ mà dẫn đến những hành vi ngu trung, ngu hiếu một cách mù quáng ở không ít người trong

xã hội trước đây

Tư tưởng lễ của Nho giáo có tính hai mặt Về ý nghĩa tích cực, tư tưởng lễ

đã đạt tới mức độ sâu sắc, trở thành thước đo, đánh giá phẩm hạnh con người Sự

Trang 5

giáo dục con người theo lễ đã tạo thành một dư luận xã hội rộng lớn, biết quý trọng người có lễ và khinh ghét người vô lễ Lễ không dừng lại ở lý thuyết, ở những lời giáo huấn mà đã đi vào lương tâm của con người Từ lương tâm đã dẫn đến hành động đến mức trong các triều đại phong kiến xưa, nhiều người thà chết chứ không

bỏ lễ: “chết đói là việc nhỏ, nhưng thất tiết mới là việc lớn” (Chu Hy) Nhờ tin và

làm theo lễ mà các xã hội theo Nho giáo đã giữ được yên ổn trong gia đình và trật

tự ngoài xã hội trong khuôn khổ của chế độ phong kiến Vì thế lễ trở thành điều kiện bậc nhất trong việc quản lý đất nước và gia đình

Về mặt hạn chế, lễ là sợi dây ràng buộc con người làm cho suy nghĩ và hành động của con người trở nên cứng nhắc theo một khuôn phép cũ; lễ đã kìm hãm sự phát triển của xã hội, làm cho xã hội trì trệ Bởi vì, Khổng Tử sống trong thời đại

xã hội loạn lạc, người ta tranh giành nhau, chém giết nhau không từ một thủ đoạn tàn ác nào để tranh bá, tranh vương, để có bổng lộc chức tước Ông hoài cổ, muốn quay ngược bánh xe lịch sử cũng là điều dễ hiểu Tuy nhiên, chính mặt hạn chế này của Nho giáo đã để lại tàn dư cho đến tận ngày nay, nó trở thành phong tục, lối sống, nó thấm sâu vào suy nghĩ và hành động của không ít người ở các nước phương Đông, nơi tiếp nhận và chịu ảnh hưởng của Nho giáo

Tín là đức tính thứ năm trong Ngũ thường Tín có nghĩa là lời nói và việc làm phải thống nhất với nhau, là lòng tin của con người với nhau Tín góp phần củng cố lòng tin giữa người với người Trong ngũ luân thì tín là điều kiện đầu tiên trong quan hệ bè bạn Tuy nhiên, nội hàm của đức tín không chỉ bó hẹp trong mối quan hệ duy nhất này mà nó còn bao gồm cả lòng tin vô hạn vào đạo lý của bậc thánh hiền và các mối quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ Theo quan niệm của Nho giáo thì đức tín là nền tảng của trật tự xã hội

Để thực hiện nhân và lễ, Khổng tử đã nêu ra tư tưởng chính danh (danh nghĩa là tên gọi, danh phận, địa vị; chính có nghĩa là đúng, là chấn chỉnh lại cho đúng tên gọi và danh phận) Do đó, chính danh là làm cho mọi người ai ở địa vị nào, danh phận nào thì giữ đúng vị trí và danh phận của mình, cũng không dành vị

Trang 6

trí của người khác, không lấn vượt và làm rối loạn Vì vậy, để xã hội ổn định thì

mọi người cần làm đúng danh phận Theo ông, “Danh không chính thì lời nói chẳng thuận, lời nói không thuận thì việc chẳng nên, việc không nên thì lễ nhạc chẳng hưng vượng, lễ nhạc không hưng vượng thì hình phạt chẳng trúng, hình phạt không trúng ắt dân không biết xử trí ra sao” (danh bất chính tắc ngôn bất

thuận, ngôn bất thuận tắc sự bất thành, sự bất thành tắc lễ nhạc bất hưng, lễ nhạc bất hưng tắc hình phạt bất trúng, hình phạt bất trúng tắc dân vô sở thố thủ túc) Riêng đối với người cầm quyền vua - thiên tử - được thay trời cai trị thì càng phải làm đúng danh của mình, như vậy mọi người mới noi theo Đặc biệt, trong việc chính sự (việc nước), điều đầu tiên nhà vua phải làm là lập lại chính danh, phải xác định vị trí, vai trò, nghĩa vụ và trách nhiệm của từng người để họ hành động cho đúng Khổng Tử cho rằng không ở chức vị ấy thì không được bàn việc của chức vị

đó, không được hưởng quyền lợi, bổng lộc của chức vị ấy

Mục đích của chính danh mà Nho giáo đề cao là sự ổn định xã hội, suy cho cùng là để bảo vệ quyền của thiên tử, duy trì sự phân biệt đẳng cấp Chính danh không những chỉ là nội dung tư tưởng chính trị của Nho giáo, mà còn mang ý nghĩa đạo đức, là một yêu cầu về mặt đạo đức của con người Chúng ta biết rằng, một trong những phạm trù đạo đức đó là lương tâm, trách nhiệm Nếu xét theo nghĩa này thì một người làm tròn nghĩa vụ và bổn phận của mình tức là người đó

có đạo đức

Ý nghĩa tích cực của tư tưởng chính danh là làm cho con người ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình một cách rõ ràng trong các mối quan hệ xã hội Con người tồn tại trong vô vàn các quan hệ xã hội đan xen, ở mỗi mối quan hệ đó con người có nghĩa vụ nhất định phải thực hiện Điều này là cần thiết ở mọi chế độ

xã hội, ở mọi thời đại Tư tưởng chính danh yêu cầu con người thực hiện một cách đúng mức nghĩa vụ của bản thân trước cộng đồng và xã hội trong khuôn khổ danh phận, góp phần vào duy trì bình ổn xã hội Tư tưởng này còn kìm hãm tự do của nhân cách tới mức không chấp nhận bất kì sáng kiến nào của con người, làm cho

Trang 7

con người luôn ở trạng thái nhu thuận, chỉ biết phục tùng theo chủ trương “thuật nhi bất tác” (chỉ làm theo mà không sáng tác gì thêm)

2 Vận dụng tư tưởng đạo đức trong triết học Nho gia vào việc giảng dạy một

số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam

2.1 Ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức trong triết học Nho gia đến văn học trung đại Việt Nam

Khi nghiên cứu về Nho giáo và ảnh hưởng của nó đến Việt Nam, các nhà khoa học đều cho rằng Nho giáo nói chung và những tư tưởng đạo đức của Nho giáo nói riêng được du nhập vào nước ta từ khoảng thế kỷ thứ I (TrCN) khi nhà Tây Hán đánh bại tập đoàn phong kiến họ Triệu, giành lấy quyền thống trị và cho lập ba quận tại Bắc Bộ Tuy nhiên, tầm ảnh hưởng Nho giáo lúc này còn rất hạn chế, chủ yếu được xem là phương tiện để du nhập chữ Hán vào Việt Nam và đồng hoá hóa ngôn ngữ, văn hoá Việt Nam Đến thế kỷ X, sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự chủ và xây dựng chế độ phong kiến quân chủ tập quyền, thì xã hội Việt Nam lúc này mới đặt ra những yêu cầu đối với sự tồn tại và phát triển của Nho giáo Đầu tiên phải kể đến

là yêu cầu phải truyền bá Nho giáo đến người dân, củng cố quyền lực phong kiến lớn mạnh và bảo vệ nền độc lập dân tộc trước sự xâm lược của nước ngoài

Cùng với sự lớn mạnh của các triều đại phong kiến Việt Nam, Nho giáo và

vị thế của nó trong đời sống văn hoá của người Việt ngày càng được củng cố và

khẳng định, đặc biệt là trong lĩnh vực văn học Trong cuốn Văn học Việt Nam sử yếu - tác phẩm được xem là công trình nghiên cứu đầu tiên về văn học sử Việt Nam, nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm nhấn mạnh: “…dân tộc Việt Nam ngay

từ khi thành lập đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Tàu Cái văn hóa ấy truyền sang nước ta có nhiều cách, nhưng thứ nhất là do văn học, tức là nhờ sự học chữ nho và sách chữ nho của người Tàu tràn sang Chính cái văn học của người Tàu ấy đã chi phối tư tưởng, học thuật, luân lý, chính trị, phong tục của dân tộc ta Trong các trào lưu tư tưởng của người Tàu tràn sang bên ta, có ảnh hưởng sâu sắc đến

Trang 8

dân tộc ta, nhất là Nho giáo Các sách làm gốc cho Nho giáo là Tứ thư và Ngũ kinh Các sách ấy vừa là kinh điển của các môn về đạo Nho, vừa là những tác phẩm văn chương tối cổ ở nước Tàu” Như vậy có thể thấy rằng, văn học Việt

Nam buổi đầu chịu ảnh hưởng rất nhiều từ văn hoá Trung Hoa, trong đó có các tư tưởng kinh điển Nho giáo Bên cạnh đó, các nhà văn, nhà thơ Việt Nam thời trung

đại phần lớn là các nhà Nho, là sản phẩm của nền giáo dục “cửa Khổng sân Trình”, lại thêm quan niệm “Thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo” (thơ dùng để nói chí,

văn dùng để tải đạo) nên các tác phẩm văn học thời kỳ này cũng chủ yếu dùng để phổ biến đạo Nho hoặc là nói về những điều giáo huấn của các nhà Nho

2.2 Tư tưởng đạo đức của triết học Nho gia qua một số tác phẩm văn học tiêu biểu

2.2.1 Tư tưởng Nhân nghĩa trong “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi

Khi nghiên cứu về tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, chúng ta đều khẳng định đó là một áng “Thiên cổ hùng văn”, một bản Tuyên ngôn độc lập

của dân tộc Việt Nam Tác phẩm ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, cuối năm 1427, sau khi cuộc kháng chiến chống quân Minh kết thúc thắng lợi, Nguyễn Trãi đã thừa lệnh Lê Lợi viết ra bài cáo với ý nghĩa là bản tổng kết hành trình thắng lợi của nghĩa quân Lam Sơn trước kẻ thù phương Bắc Tác phẩm được viết

theo thể Cáo là một thể loại thường được vua chúa sử dụng để ban bố sắc lệnh, có

thể viết bằng văn biền ngẫu hoặc văn xuôi kết hợp với văn vần Vì vậy khi nghiên cứu cần chú ý sự kết hợp giữa yếu tố văn chương và chính trị trong tác phẩm

- Nhân nghĩa là luận đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến:

Mở đầu tác phẩm, tác giả đã nêu ra luận đề chính nghĩa của cuộc kháng

chiến chống Minh của nhân dân ta Đó là tư tưởng Nhân nghĩa, là sự tồn tại độc

lập lâu đời của dân tộc ta, là những chứng cứ về sự thất bại của giặc:

“Từng nghe:

Trang 9

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

Trên cơ sở quan điểm nhân nghĩa của Nho giáo và tình hình dân tộc, Nguyễn

Trãi đã xác định mục đích và nội dung của tư tưởng nhân nghĩa là “yên dân”, “trừ bạo” “Yên dân” là khiến cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc Đây là lý

tưởng lớn khát khao mà suốt đời Nguyễn Trãi theo đuổi Ông hiểu chỉ có cuộc sống nhân dân ấm no thì xã hội mới có thể thái bình thịnh trị Bởi dân là gốc, sức

dân là sức nước, nước có thể đẩy thuyền cũng có thể lật thuyền “Trừ bạo” chính

là diệt trừ những điều bạo ngược - những điều khiến cho cuộc sống nhân dân lầm

than Tư tưởng nhân nghĩa trong Bình ngô đại cáo, ta thấy đặt trong hoàn cảnh đất

nước bấy giờ, “bạo” ở đây chính là giặc Minh xâm lược

- Nhân nghĩa là mục đích chiến đấu cao đẹp của nghĩa quân Lam Sơn:

Khi tìm hiểu về tư tưởng nhân nghĩa trong Bình ngô đại cáo, ta thấy thông

qua hệ thống lý lẽ chặt chẽ cùng dẫn chứng thuyết phục, Nguyễn Trãi đã khẳng định cuộc kháng chiến của ta là cuộc chiến chính nghĩa nhằm mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân, bảo vệ nền độc lập truyền thống văn hiến lâu đời của dân tộc Nguyễn Trãi cũng đã bóc trần bộ mặt giả dối của quân giặc khi chúng lợi dụng tình hình rối ren của nước ta để cất binh xâm lược:

“Vừa rồi:

Nhân họ Hồ chính sự phiền hà

Để trong nước lòng dân oán hận Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa Bọn gian tà bán nước cầu vinh”

Giặc Minh lấy cớ “phù Trần diệt Hồ” để sang xâm lược nước ta Liên hệ

với thực tiễn lịch sử, ta nhận thấy đây chỉ là luận điệu xảo trá của quân giặc Lợi dụng tình trạng hỗn loạn của đất nước, không được lòng dân của nhà Hồ mà bọn

Trang 10

phong kiến phương Bắc đã “ngư ông đắc lợi” Lật tẩy mục đích xâm lược nước ta

không phải vì chính nghĩa như cách quân Minh biện minh, tác giả đã cho thấy bộ mặt thật của quân ngoại xâm Để từ đó làm rõ sự tàn ác của quân giặc và bè lũ bán nước

Không chỉ có mục đích xâm lược phi nghĩa mà giặc Minh còn có những hành động bạo tàn không thể chấp nhận được, đó là những hành động dã man, trà đạp lên quyền sống của con người:

“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”

Chính sách cai trị thâm độc tàn bạo của giặc mà nạn nhân trực tiếp là những người dân nghèo khổ đáng thương:

“Nặng thuế khóa sạch không đầm núi Người bị bắt xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng

Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc”

Hay:

“Nay xây nhà mai đắp đất chân tay nào phục dịch cho vừa

Nặng nề những nỗi phu phen Tan tác cả nghề canh cửi”

Ở Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi chưa đề cập đến một âm mưu tội ác vô

cùng thâm độc của giặc Minh là chủ trương đồng hóa, Hán hóa người Việt trên nhiều lĩnh vực khác nhau như bắt người tài mang về Trung Quốc, thu gom trống đồng, bắt mặc trang phục và theo phong tục người Hán,… nhưng tác giả đã đi sâu

tố cáo những chủ trương cai trị phản nhân đạo, vô cùng hà khắc của giặc Minh như: hủy hoại cuộc sống con người bằng hành động diệt chủng, tàn sát người dân

vô tội Tội ác ấy khiến cho người dân vô tội lâm vào cảnh khốn cùng Đây là hành

Ngày đăng: 20/02/2022, 12:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w