1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

phân tích tác phẩm Việt bắc Tố Hữu

37 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích Tác phẩm Việt Bắc Tố Hữu
Tác giả Tố Hữu
Trường học Đại học Tổng hợp Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Bài phân tích
Năm xuất bản 1954
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 80,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆT BẮC Tố Hữu A MỞ BÀI CHUNG Biêlinxki đã từng nói “Bất cứ thi sĩ vĩ đại nào, sở dĩ họ vĩ đại bởi vì những đau khổ và hạnh phúc của họ bắt nguồn từ khoảng sâu thẳm của lịch sử xã hội, bởi vì họ là k.

Trang 1

VIỆT BẮC -Tố Hữu-

A MỞ BÀI CHUNG

Biêlinxki đã từng nói: “Bất cứ thi sĩ vĩ đại nào, sở dĩ họ vĩ đại bởi vì những đau

khổ và hạnh phúc của họ bắt nguồn từ khoảng sâu thẳm của lịch sử xã hội, bởi vì họ là khí quan và đại biểu của xã hội, của thời đại và của nhân loại.” Tố Hữu chính là một đạibiểu xuất sắc của thời đại mình, là lá cờ đầu của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam Từ đầu đếncuối trong cuộc đời mình ông đều gắn bó với con đường cách mạng giải phóng dân tộc, là nhà thơcủa lí tưởng cộng sản Con đường thơ của ông luôn gắn bó, song hành và phản ánh chân thật cácchặng đường gian khổ, hi sinh nhưng cuối cùng đi đến thắng lợi vẻ vang của cách mạng ViệtNam Thơ Tố Hữu dễ thuộc, dễ nhớ và đậm đà bản sắc dân tộc, giọng điệu tâm tình ngọt ngào dễ

đi vào lòng người, trở thành quen thuộc trong tâm thức người Việt Bài thơ "Việt Bắc" được đánhgiá là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của Tố Hữu, là một trong số các bài thơ hay nhất của thơ

ca kháng chiến chống Pháp Bài thơ in trong tập thơ cùng tên năm 1954

B PHÂN TÍCH ĐOẠN THƠ

Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân ly Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

(Ngữ văn 12, tập 1, NXBGD VN, 2018, tr.109)

I MỞ BÀI

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Tk mở bài chung

- Giới thiệu yêu cầu của đề bài:

II THÂN BÀI

1 Khái quát

1.1 Hoàn cảnh sáng tác

- Sau 9 năm kháng chiến đầy gian khổ, hi sinh dân tộc ta đã làm nên chiến thắng lịch sử ĐiệnBiên Phủ chấn động địa cầu Hiệp định Giơnevơ được kí kết, hoà bình được lập lại, một trang sửmới của đất nước và một giai đoạn mới của cách mạng được mở ra Tháng 10-1954, các cơ quancủa Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội Miền Bắc bước vào thời

kì xây dựng đất nước Cuộc sống thay đổi có tính chất bước ngoặt, từ chiến tranh sang hoà bình,

Trang 2

chia ngọt sẻ bùi Nhân sự kiện có tính thời sự và lịch sử ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “ViệtBắc” vào tháng 10-1954 Hơn nữa, trong hoàn cảnh ấy, người ta chó nhu cầu muốn nhìn lạichặng đường lịch sử đã đi qua, lí giải chiến tháng và xác định con đường đi tiếp Hoàn cảnh ấy đãchi phối đến cảm hứng sáng tác và nội dung của bài thơ.

1.2 Kết cấu bài thơ:

     - Nhà thơ đã chọn hình thức thể hiện là lối đối đáp của ca dao dân ca nhưng nếu trong

ca dao, dân ca là đối đáp giữa đôi lứa yêu nhau thì bài thơ là lời đối đáp giữa người đi lànhững người cán bộ cách mạng miền xuôi với người ở là người dân Việt Bắc Hình thứcđối đáp làm cho bài thơ mang âm hưởng của những bài hát giao duyên vừa đằm thắm, thiếttha vừa sâu nặng nghĩa tình

- Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên trong là lời độc thoại, là biểu hiện tâm tư tình cảm củachính nhà thơ, của những người tham gia kháng chiến

1.3 Đề tài:

- Đề tài của bài thơ là đề tài chia li, tiễn biệt là một đề tài quen thuộc trong thơ ca xưa nay.Thế giới văn học tuyệt vời đã lưu giữ cho ta bao cuộc chia ly bất tử Nhớ cuộc chia ly Lý Bạchvới Mạnh Hạo nhiên trên lầu Hoàng Hạc Cuộc từ biệt Thúc Sinh của Thúy Kiều sau những ngàymặn nồng, thắm thiết Cuộc chia li chói ngời sắc đỏ trong thơ Nguyễn Mĩ …Và đến "Việt Bắc"của Tố Hữu người đọc không thể quên cuộc chia tay lịch sử giữa những người cách mạng miềnxuôi với người Việt Bắc

- Thơ ca về chia li, tiễn biệt thường chất chứa buồn đau, sầu muộn:

"Người lên ngựa, kẻ chia bào

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

“Cùng trông lại lại cùng chẳng thấy

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Ngàn dâu xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai”

(Chinh phụ ngâm)

Nhưng trong "Việt Bắc" Tố Hữu đã thể hiện những sắc điệu mới bởi bài thơ đượcsáng tác trong ngày chiến thắng, chia tay để rồi gặp lại, cả người đi người ở đều hướng đếnmột viễn cảnh tươi đẹp của đất nước Điều này cũng cho thấy Tố Hữu luôn là nhà thơ của

lẽ sống lớn, niềm vui lớn, tình cảm lớn Thơ ông không đi vào những tình cảm cá nhânriêng tư mà chỉ hướng đến những cảm xúc lịch sử của lòng người, của thời đại Khúc ca vềcuộc chia tay của nhân dân VB với cán bộ về xuôi đã minh chứng cho điều Xuân Diệu nói:

“Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ là thơ rất đỗi trữ tình”

2 Phân tích đoạn thơ

2.1 Khái quát

- Kết cấu đối đáp được thể hiện rất rõ ngay từ tám câu thơ đầu tiên của bài thơ Người ta đã có

lý khi nói thơ Tố Hữu là thứ thơ "đốt cháy trái tim để trở thành trí tuệ", với ý tưởng trữ tình hoá

sự kiện chính trị cũng như đời sống chính trị của đất nước, viết "Việt Bắc", Tố Hữu đã sáng tạo

Trang 3

nên một cấu tứ rất độc đáo-khúc hát đối đáp trong cuộc chia tay giữa người ở và người về xuôi đểkhơi gợi những kỉ niệm gắn bó trong những ngày kháng chiến gian khổ mà vẻ vang

- Cặp từ mình – ta: Mình - ta vốn là cách xưng hô quen thuộc trong đời sống hàng ngày, làcách xưng hô của vợ chồng hoặc giữa những người có mối quan hệ thân thiết, gắn bó

- Trong ca dao, dân ca cặp từ mình - ta thường xuất hiện trong các bài ca dao giao duyên như:

Mình nói với ta mình hãy còn son

Ta đi qua ngõ thấy con mình bòCon mình những trấu cùng tro

Ta đi lấy nước tắm cho con mình Hay:

Mình về có nhớ ta chăng

Ta về ta nhớ hàm răng mình cườiHoặc:

Mình về ta chẳng cho về

Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ

- Cách xưng hô mình - ta gần gũi thân thương được Tố Hữu vay mượn trong ca dao, dân ca Sáng tạo của nhà thơ là ở chỗ nếu trong ca dao, dân ca mình - ta là đôi lứa yêu nhau với một nam một nữ thì trong bài thơ mình - ta là người đi (người cán bộ miền xuôi) và kẻ ở (nhân dân Việt Bắc) Sáng tạo hơn nữa là trong bài thơ mình - ta có sự chuyển hóa, hòa quyện thành sự

đồng vọng diễn tả chung tâm tư của cả người đi, kẻ ở Cả mình và ta đều chung những kỉ niệmgắn bó, chung một nỗi niềm tâm trạng, nay phải chia tay biết bao lưu luyến, bịn rịn Bài thơ đãvượt ra khỏi những cảm xúc riêng tư để chuyển tải một vấn đề rất lớn của đời sống cáchmạng – đó là vấn đề ân nghĩa thủy chung của cách mạng với nhân dân

2.2 Bốn câu thơ:

“Mình về mình có nhớ ta Mười năm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”

Lời ướm hỏi ngọt ngào của người ở lại

- Bốn câu thơ đầu của bài thơ là lời ướm hỏi ngọt ngào của người ở lại Trong cuộc chia taynhà thơ đã để cho người ở lại là người lên tiếng trước bởi trong cuộc chia tay những người ở lạithường là người nhạy cảm hơn Đoạn thơ có hai câu hỏi tu từ "Mình về mình có nhớ ta" và Mình

về mình có nhớ không", hỏi không phải để được trả lời mà hỏi để nhắn nhủ, nhắc nhở người đi, ra

về hãy nhớ Con người đang đứng trước cuộc biệt li nên hình thức câu thơ cũng nhuốm màu libiệt Tác giả đã đặt hai từ mình - ta ở vị trí đầu và cuối câu tạo cảm giác xa xôi, cách biệt Còn ởgiữa là cụm từ "mình có nhớ" thể hiện tâm trạng băn khoăn, nhớ thương của người ở lại

- Cụm từ "mình có nhớ" được lặp lại 2 lần, riêng từ nhớ được lặp lại 4 lần trong thể hiện nỗinhớ da diết, khôn nguôi của người ở lại Họ lo sợ mai này bạn mình về nơi phồn hoa đô hội đầycám dỗ sẽ không giữ được tình cảm son sắt, thủy chung "Việt Bắc" là bài ca tình nghĩa Câuhỏi vang lên dồn dập như nhắc nhở, như khắc sâu những tình cảm tốt đẹp của quân dân,

Trang 4

của cách mạng và kháng chiến, của mình với ta Nỗi niềm, tình cảm ấy của người ở lại cònđược nhà thơ Tố Hữu nhắc đến trong đoạn thơ sau của bài thơ:

Mình về thành thị xa xôiNhà cao còn nhớ núi đồi nữa chăngPhố đông có nhớ bản làng

Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng

- Lời người ở lại khơi gợi lại thời gian gắn bó trong suốt 15 năm Câu thơ phảng phất âm

hưởng của một câu Kiều về 15 năm tình nghĩa sâu nặng, thủy chung của Thúy Kiều và KimTrọng:

Những là dày ước mai aoMười lăm năm ấy biết bao nhiêu tìnhMười lăm năm ấy là mười lăm năm gắn bó giữa những người cách mạng miền xuôi với nhândân Việt Bắc trên chiến khu cách mạng Mười lăm năm ấy được tính từ khởi nghĩa Bắc Sơnnăm 1940, từ khi Hồ Chí Minh về nước bắt tay vào xây dựng khu căn cứ địa cách mạng tạichiến khu Việt Bắc để làm thủ đô kháng chiến của dân tộc:

Ôi sáng xuân nay xuân bốn mốtTrắng rừng biên giới nở hoa mơBác về im lặng con chim hótThánh thót bờ lau vui ngẩn ngơCán bộ cách mạng và nhân dân Việt Bắc đã cùng ăn, cùng ở, cùng chiến đấu gắn bó khăng

khít và làm nên chiến thắng lẫy lừng của dân tộc “vang dội năm châu, chấn động địa cầu” và rồi

là một cuộc chia tay lịch sử, người cán bộ cách mạng rời Việt Bắc về xuôi Mười lăm năm

"Mình đây ta có đắng cay ngọt bùi", mười lăm năm "bát cơm sẻ nửa chăn sui đắpcùng", làm sao kể xiết biết bao ân tình Bốn từ "thiết tha mặn nồng" cho thấy tình cảm

giữa Việt Bắc và cán bộ thật thủy chung sâu nặng, keo sơn bền chặt Hỏi không chỉ để nhắn nhủ người đi mà đây cũng là cách để người ở lại bày tỏ tình cảm của mình Không biết ra về mình có nhớ không, còn ta không thể nào quên những ngày tháng ấy.

- Lời người ở lại còn gợi nhớ cả không gian Việt Bắc qua các hình ảnh chỉ thiên nhiên

như cây, núi, sông, nguồn Ra về rồi, thấy cây hãy nhớ đến núi rừng chiến khu, nhìn sônghãy nhớ đến suối nguồn Việt Bắc Cách gợi nhắc như lời dặn dò kín đáo mà chân thành.Việt Bắc là cội nguồn cách mạng, "Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa", là trungtâm đầu não của cuộc kháng chiến Câu thơ này là sự vận dụng linh hoạt và tài tình của nhàthơ Tố Hữu với câu tục ngữ "Uống nước nhớ nguồn" Phải chăng người ở muốn khẳng định

có những ngày tháng gian khổ ở Việt Bắc mới có ngày chiến thắng về ta, để hôm nay mìnhđược về thủ đô Hà Nội Nên dù có đi đâu, về đâu hãy nhớ đến mảnh đất Việt Bắc, cái nôi củacách mạng làm nên chiến thắng, là cội nguồn của dân tộc Đó là đạo lý làm người, là truyền thốngvăn hóa của người Việt Nam Qua đó nhà thơ cũng nhắc nhớ các thế hệ con cháu phải biếthướng về gốc gác, về nơi bén rễ, về cái nôi cho ta hình hài

=> Bốn câu thơ như một bài ca dao đầy chất trữ tình thể hiện những băn khoăn, trăn trở của người

ở lại, của Việt Bắc thuỷ chung với cách mạng Tố Hữu đã chọn được cách nói để khơi nguồn chocảm xúc, mạch thơ trong những câu mở đầu này cứ thế tuôn chảy suốt bài thơ

Trang 5

2.3 Bốn câu thơ: Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân ly

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

Tiếng lòng của người ra đi

*Hai câu đầu:

- Trước những lời tha thiết của người ở lại, người ra đi không trực tiếp trả lời những câu

hỏi của người ở lại mà lắng nghe, rồi như tự nói với chính mình như một lời độc thoại nộitâm trữ tình đầy sâu lắng Đại từ "ai" tuy phiếm chỉ nhưng rất cụ thể, gần gũi, thân thương

và chỉ người ở lại Cồn là hình ảnh gợi không gian núi rừng Việt Bắc Trong câu thơ hìnhảnh người Việt Bắc hiện lên giữa không gian thiên nhiên quen thuộc cất lên những lời thathiết, nhớ thương Người ra cũng cảm được nỗi lòng của người ở lại nên trong lòng họcũng trào dâng bao tình cảm nhớ thương, quyến luyến Bởi vậy, đoạn thơ trở thành lờiđồng vọng của người đi và kẻ ở

- Tố Hữu đã thể hiện thật tinh tế tâm trạng người về xuôi bằng hai từ láy: Bâng khuâng

và bồn chồn

+“Bâng khuâng” là nhớ thương, lưu luyến, bịn rịn

+ “Bồn chồn” diễn tả tâm trạng hồi hộp, day dứt, nôn nao

Trong lòng cồn lên bao nỗi nhớ thương, không nỡ chia xa nên bước chân người ra đi trởnên ngập ngừng, dùng dằng vừa muốn đi lại vừa muốn ở Ai đó cũng đã diễn tả thật haytâm trạng ấy của người ra đi "Bước đi một bước lâu lâu lại dừng" Nghệ thuật tiểu đối kếthợp với đảo ngữ vừa tạo chất nhạc, chất thơ ngọt ngào, vừa nhấn mạnh vào tâm tư vớinhiều cảm xúc rối bời trong lòng người ra đi

*Hai câu sau:

- Lời người gợi lên cảnh một cuộc chia tay đầy lưu luyến bịn rịn Trong đó "áo chàm" là biện

pháp nghệ thuật hoán dụ dùng hình ảnh chiếc áo màu chàm để chỉ người Việt Bắc, là cách dùng

bộ phận để chỉ toàn thể vì người Việt Bắc thường nhuộm và mặc áo màu chàm Màu chàm làmàu sắc của núi rừng, bền bỉ, không hề phai nhạt như tình cảm mãi không bao giờ nhạt phai.Màu áo chàm thể hiện phẩm chất của người Việt Bắc giản dị, mộc mạc, chịu thương chịukhó và ân tình, thủy chung:

Đá mòn nhưng dạ chẳng mònChàm nâu thêm đậm phấn son chẳng nhòaCuộc chia tay có những người dân Việt Bắc đầy ân nghĩa đưa tiễn, giãi bày tình cảmnhớ thương Người ra đi cũng chưa đi đã nhớ nhớ tiếng ai tha thiết, nhớ áo chàm, cồn nhỏ,nhớ cảnh nhớ người và tình cảm của người ra đi cũng thật son sắc, thủy chung

- Câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” là câu thơ gợi nhiều cảm xúc, là hình ảnh

có giá trị biểu cảm cao cho thấy người đi kẻ ở đều chung một nỗi niềm lưu luyến bịn rịnkhiến cảnh chia tay hiện lên thật cảm động Cả người đi và kẻ ở đều có bao nhiêu điềumuốn nói, bao nhiêu tình cảm muốn giãi bày nhưng nghẹn ngào không cất nổi thành lời

Và có lẽ ngôn ngữ cũng không đủ để diễn đạt bao nỗi nhớ thương nên im lặng cũng là cáchthể hiện tình cảm Họ cầm tay nhau mà không biết nói gì nhưng trong cái cầm tay ấy hẳn

Trang 6

có bao nhiêu xúc động, nghẹn ngào Đôi khi chỉ cần một cái cầm tay thôi đã đủ nói lên tất

cả Giống như những người lính trong bài thơ của Chính Hữu vì thương nhau mà nắm lấytay nhau:

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay

(Đồng chí - Chính Hữu)

Cái nắm tay trong bài thơ “Đồng chí” là để xiết chặt tình đồng đội, để cùng nhauvượt lên trên gian khổ Còn cái cầm tay trong cuộc chia ly này là tình cảm quân dân cánước, là mối quan hệ chân thành, bền chặt của cách mạng và nhân dân Ba dấu chấm lửngđặt ở cuối đoạn thơ giống như một nốt lặng trong một khuôn để tình cảm cứ ngân dài, sâulắng

3 Đánh giá về nội dung và nghệ thuật

Bằng thể thơ lục bát êm dịu, kết cấu đối đáp của ca dao, dân ca, ngôn ngữ, hình ảnhgiản dị, quen thuộc, đậm chất ca dao, dân ca, giọng điệu thơ ngọt ngào, truyền cảm, đặcbiệt thể hiện qua việc sử dụng cặp từ mình - ta thân mật cùng với các biện pháp tu từ nhưđiệp từ, hoán dụ, tiểu đối đoạn thơ đã trở thành một khúc trữ tình, sâu lắng thể hiện tìnhcảm son sắc, thủy chung giữa người đi và kẻ ở, giữa những người cán bộ cách mạng miềnxuôi và nhân dân Việt Bắc Tình cảm trong sáng ấy là tình cảm cách mạng tiêu biểu chochủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp, là cộinguồn sức mạnh để Việt Bắc trở thành quê hương cách mạng, cội nguồn chiến thắng

Đoạn số 2:

Cảm nhận về đoạn thơ sau trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu:

“Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?

Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già.

Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son Mình về, còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

(Ngữ văn 12, tập 1, NXBGD VN, 2018, tr.110)

Trang 7

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Tk mở bài chung

- Giới thiệu yêu cầu của đề bài:

II THÂN BÀI

1 Khái quát

1.1 Hoàn cảnh sáng tác

- Sau 9 năm kháng chiến đầy gian khổ, hi sinh dân tộc ta đã làm nên chiến thắng lịch sử ĐiệnBiên Phủ chấn động địa cầu Hiệp định Giơnevơ được kí kết, hoà bình được lập lại, một trang sửmới của đất nước và một giai đoạn mới của cách mạng được mở ra Tháng 10-1954, các cơ quancủa Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội Miền Bắc bước vào thời

kì xây dựng đất nước Cuộc sống thay đổi có tính chất bước ngoặt, từ chiến tranh sang hoà bình,

từ núi rừng về thành thị Biết bao lưu luyến ân tình với những nơi đã từng đồng cam cộng khổ,chia ngọt sẻ bùi Nhân sự kiện có tính thời sự và lịch sử ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “ViệtBắc” vào tháng 10-1954 Hơn nữa, trong hoàn cảnh ấy, người ta chó nhu cầu muốn nhìn lạichặng đường lịch sử đã đi qua, lí giải chiến tháng và xác định con đường đi tiếp Hoàn cảnh ấy đãchi phối đến cảm hứng sáng tác và nội dung của bài thơ

1.2 Kết cấu bài thơ:

     - Nhà thơ đã chọn hình thức thể hiện là lối đối đáp của ca dao dân ca nhưng nếu trong

ca dao, dân ca là đối đáp giữa đôi lứa yêu nhau thì bài thơ là lời đối đáp giữa người đi lànhững người cán bộ cách mạng miền xuôi với người ở là người dân Việt Bắc Hình thứcđối đáp làm cho bài thơ mang âm hưởng của những bài hát giao duyên vừa đằm thắm, thiếttha vừa sâu nặng nghĩa tình

- Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên trong là lời độc thoại, là biểu hiện tâm tư tình cảm củachính nhà thơ, của những người tham gia kháng chiến

1.3 Đề tài:

- Đề tài của bài thơ là đề tài chia li, tiễn biệt là một đề tài quen thuộc trong thơ ca xưa nay.Thế giới văn học tuyệt vời đã lưu giữ cho ta bao cuộc chia ly bất tử Nhớ cuộc chia ly Lý Bạchvới Mạnh Hạo nhiên trên lầu Hoàng Hạc Cuộc từ biệt Thúc Sinh của Thúy Kiều sau những ngàymặn nồng, thắm thiết Cuộc chia li chói ngời sắc đỏ trong thơ Nguyễn Mĩ …Và đến "Việt Bắc"của Tố Hữu người đọc không thể quên cuộc chia tay lịch sử giữa những người cách mạng miềnxuôi với người Việt Bắc

- Thơ ca về chia li, tiễn biệt thường chất chứa buồn đau, sầu muộn:

"Người lên ngựa, kẻ chia bào

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

“Cùng trông lại lại cùng chẳng thấy

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Ngàn dâu xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai”

(Chinh phụ ngâm)

Nhưng trong "Việt Bắc" Tố Hữu đã thể hiện những sắc điệu mới bởi bài thơ đượcsáng tác trong ngày chiến thắng, chia tay để rồi gặp lại, cả người đi người ở đều hướng đến

Trang 8

một viễn cảnh tươi đẹp của đất nước Điều này cũng cho thấy Tố Hữu luôn là nhà thơ của

lẽ sống lớn, niềm vui lớn, tình cảm lớn Thơ ông không đi vào những tình cảm cá nhânriêng tư mà chỉ hướng đến những cảm xúc lịch sử của lòng người, của thời đại Khúc ca vềcuộc chia tay của nhân dân VB với cán bộ về xuôi đã minh chứng cho điều Xuân Diệu nói:

“Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ là thơ rất đỗi trữ tình”

2 Phân tích đoạn thơ: Lời người ở lại gợi nhắc về những ngày tiền khởi nghĩa, cách mạng tháng Tám

2.1 Giới thiệu đoạn thơ

- Kết cấu đối đáp được thể hiện rất rõ trong suốt đoạn trích, bao gồm cả đoạn thơ này Người

ta đã có lý khi nói thơ Tố Hữu là thứ thơ "đốt cháy trái tim để trở thành trí tuệ", với ý tưởng trữ

tình hoá sự kiện chính trị cũng như đời sống chính trị của đất nước, viết "Việt Bắc", Tố Hữu đãsáng tạo nên một cấu tứ rất độc đáo-khúc hát đối đáp trong cuộc chia tay giữa người ở và người

về xuôi để khơi gợi những kỉ niệm gắn bó trong những ngày kháng chiến gian khổ mà vẻ vang

- Cặp từ mình – ta: Mình - ta vốn là cách xưng hô quen thuộc trong đời sống hàng ngày, làcách xưng hô của vợ chồng hoặc giữa những người có mối quan hệ thân thiết, gắn bó

- Trong ca dao, dân ca cặp từ mình - ta thường xuất hiện trong các bài ca dao giao duyên như:

Mình nói với ta mình hãy còn son

Ta đi qua ngõ thấy con mình bòCon mình những trấu cùng tro

Ta đi lấy nước tắm cho con mình Hay:

Mình về có nhớ ta chăng

Ta về ta nhớ hàm răng mình cườiHoặc:

Mình về ta chẳng cho về

Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ

- Cách xưng hô mình - ta gần gũi thân thương được Tố Hữu vay mượn trong ca dao, dân ca Sáng tạo của nhà thơ là ở chỗ nếu trong ca dao, dân ca mình - ta là đôi lứa yêu nhau với một nam một nữ thì trong bài thơ mình - ta là người đi (người cán bộ miền xuôi) và kẻ ở (nhân dân Việt Bắc) Sáng tạo hơn nữa là trong bài thơ mình - ta có sự chuyển hóa, hòa quyện thành sự

đồng vọng diễn tả chung tâm tư của cả người đi, kẻ ở Cả mình và ta đều chung những kỉ niệmgắn bó, chung một nỗi niềm tâm trạng, nay phải chia tay biết bao lưu luyến, bịn rịn Bài thơ đãvượt ra khỏi những cảm xúc riêng tư để chuyển tải một vấn đề rất lớn của đời sống cáchmạng – đó là vấn đề ân nghĩa thủy chung của cách mạng với nhân dân Trong đoạn thơ, từmình lúc được ghép thành "mình đi", lúc lại thành "mình về" có thể hiểu một cách đơn thuần làchỉ người cán bộ cách mạng nhưng cũng có thể hiểu theo một hướng khác là mình đi hôm nayliệu ngày mai mình có trở về và khi về còn nhớ Từ "mình" còn được ghép thành các cụm từ

"Mình đi, có nhớ", "mình về, còn nhớ" thành lời ướm hỏi, gợi nhắc, nhắn nhủ người ra đi ra vềhãy nhớ

Trang 9

- Trong đoạn thơ 12 câu có 4 câu thơ đầu tái hiện những ngày tháng gian khổ trên chiến khuViệt Bắc, 4 câu thơ tiếp theo là những ngày tháng nghĩa tình và 4 câu thơ cuối khẳng định nhữngngày tháng trên chiến khu Việt Bắc đã làm nên những trang sử vẻ vang của đất nước.

2.2 Bốn câu thơ: - Mình đi, có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Cách nói tăng tiến “những mây cùng mù” càng nhấn mạnh khung cảnh hoang sơ, đầy tháchvới người cán bộ cách mạng Những ngày đầu lập căn cứ địa cách mạng ấy, người cán bộ từ miềnxuôi chưa quen với cái khắc nghiệt của thiên nhiên rừng núi nên bao nhiêu khó khăn gian khổ.Nhưng cũng từ buổi ấy, nhân dân và cán bộ đã cùng nhau đồng cam, cộng khổ, gắn bó chia sẻcùng nhau

- Không chỉ đối diện với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, những người cán bộ cách mạng vànhân dân Việt Bắc còn phải sinh hoạt trong điều kiện vật chất vô cùng thiếu thốn, kham khổ.Thiếu thốn nên chỉ có miếng cơm chấm muối, bát cơm cũng phải chia đôi, không có cơm thì ăntrám, ăn măng, cùng đắp chăn làm từ vỏ cây sui Mặc dù khó khăn gian khổ là thế nhưng họ vẫncùng nhau vượt qua bởi cùng khắc sâu mối thù với giặc “Mối thù nặng vai” là hình ảnh hoán dụ

có tác dụng vật chất hóa, cụ thể hóa mối thù sâu nặng của nhân dân đối với bè lũ cướp nước vàbán nước Nghệ thuật đối lập giữa miếng cơm nhỏ bé với mối thù to lớn đè nặng trên vai đã nângcao tầm vóc con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp Với ý chí quyết tâm, ngườiViệt Nam đã vượt qua mọi khó khắn gian khổ để chiến đấu và chiến thắng quân thù

2.3 Bốn câu thơ: Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

Những ngày tháng nghĩa tình

*Hai câu thơ đầu:

- Chính những ngày tháng khó khăn, gian khổ ấy đã làm nên nghĩa nên tình, khiến cho nhữngngười cán bộ cách mạng và nhân dân Việt Bắc xích lại gần nhau, yêu thương gắn bó với nhauhơn Bởi vậy mà những ngày tháng gian khổ cũng là những ngày tháng nghĩa tình Nghĩa tình sâunặng nên khi phải chia tay mới lưu luyến, bịn rịn, bâng khuâng, không cầm nổi lòng mình mà cấtlên lời giãi bày, thổ lộ tình cảm

Trang 10

- Trong cuộc chia tay người ở lại đã lên tiếng giãi bày, thổ lộ tình cảm nhớ thương, tha thiếtqua hai hình thức gián tiếp và trực tiếp:

+ Ban đầu, người ở lại giãi bày tình cảm một cách gián tiếp, tế nhị bằng cách mượn các hìnhảnh thiên nhiên như rừng núi, trám bùi, măng mai Đây là cách nói lấp lửng, giãi bày tình cảm đầy

ý nhị, khéo léo mà nhà thơ Tố Hữu học được từ ca dao:

Bây giờ mận mới hỏi đàoVườn hồng đã có ai vào hay chưaMận hỏi thì đào xin thưaVườn hồng có lối nhưng chưa ai vàoNghệ thuật nhân hóa kết hợp với nghệ thuật hoán dụ “rừng núi nhớ ai”, trong đó hoán dụ

"rừng núi" chỉ Việt Bắc và người Việt Bắc, đại từ phiếm chỉ "ai" chỉ người cán bộ về xuôi đã diễn

tả trong cuộc chia tay này, dường như cả thiên nhiên và con người Việt Bắc đều thương nhớngười cán bộ về xuôi

Người ở lại còn khéo léo bày tỏ tình cảm chân thành, mộc mạc của mình qua hình ảnh trámbùi, măng mai vốn sản vật của núi rừng Việt Bắc Đây là các món ăn thường nhật của cán bộkháng chiến, cũng được Hồ Chí Minh nhắc đến trong bài thơ "Tức cảnh Pác Bó":

Sáng ra bờ suối tối vào hang Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng

Khi những người cán bộ cách mạng ở Việt Bắc, người Việt Bắc lấy măng, hái trám để nuôicán bộ Vì thế bài thơ mới có những câu thơ tuyệt bút:

Ve kêu rừng phách đổ vàngNhớ cô em gái hái măng một mìnhTình cảm quân dân thắm thiết nên khiến hình ảnh cô gái hái măng một mình trong rừng màkhông hề gợi cảm giác lẻ loi, đơn chiếc Nhưng bây giờ khi những người cán bộ cách mạng vềxuôi trám và măng không có người thu hái nên để trám rụng, măng già

=> Nhìn chung, việc mượn các hình ảnh thiên nhiên để giãi bày tình cảm đã thể hiện tình cảmnhớ thương, cảm giác lẻ loi, trống vắng đến thẫn thờ, ngẩn ngơ của người ở lại Mình về ta nhớ

và nỗi lòng của con người lan tỏa cả ra thiên nhiên,cảnh vật khiến cả núi rừng dường như cũngngẩn ngơ, trống trải, buồn bã đến lạ thường

*Hai câu thơ sau:

- Gợi ra cảnh vật Việt Bắc với những mái nhà tranh, vách đất, những bờ lau xám hiu hắt Đâyvẫn là những hình ảnh được sử dụng để bộc lộ gián tiếp tình cảm của người ở lại trong cuộc chiatay Từ láy"hắt hiu" kết hợp với màu lau xám càng làm nổi bật lên khung cảnh hoang vắng, đơn

sơ, buồn bã của cảnh vật

- Nhưng dường như diễn tả tình cảm một cách gián tiếp chưa đủ, chưa thỏa, chưa diễn tả hếtđược tình cảm sâu nặng nên người Việt Bắc sau đó không cần mượn hình ảnh gián tiếp mà khẳngđịnh trực tiếp, rõ ràng tình cảm của mình là "đậm đà lòng son" "Lòng son" là từ ngữ rất đắt để thểhiện tình cảm sâu sắc, thủy chung, kết hợp thêm với từ láy "đậm đà" cùng nghệ thuật đối lập, đốilập giữa "hắt hiu lau xám" với "đậm đà lòng son"càng góp phần khẳng định tấm lòng sắc son, caoquý của nhân dân Việt Bắc

2.4 Bốn câu thơ: Mình về, còn nhớ núi non

Trang 11

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

Việt Bắc là cội nguồn cách mạng, làm nên những trang sử vẻ vang của dân tộc

- Người ở lại một lần nữa nhắn nhủ người đi nhớ về Việt Bắc "Núi non" ở đây là hoán dụ chỉthiên nhiên, con người Việt Bắc Núi non này đã từng chở che và cùng cán bộ kháng chiến, nhândân Việt Bắc đánh giặc:

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù”

Lời người ở lại gợi nhắc lại những ngày còn là Việt Minh kháng Nhật, là những ngày đầu đầugian khổ của cuộc kháng chiến, người ở lại mong người về xuôi nhớ ghi những thời khắc lịch sử

ấy, bởi “mình – ta” đã gắn bó với nhau từ khi đó để làm nên chiến thắng hôm nay

- Ở đoạn thơ 12 câu này cặp từ mình - ta được lặp đi lặp lại 8 lần Trong đó, mười câu thơ đầucủa đoạn thơ "mình" chỉ người ra đi nhưng đến câu thơ "Mình đi, mình có nhớ mình" thì từ mìnhchỉ cả người đi và kẻ ở Mình với ta chuyển hóa, tuy hai mà một thể hiện tình cảm gắn bó, mặnnồng

- Người ở lại còn nhắc đến các tên địa danh Tân Trào, Hồng Thái nay đã trở thành hai di tíchlịch sử nổi tiếng, gắn với hai sự kiện quan trọng của cách mạng Cây đa Tân Trào là nơi làm lễxuất quân của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Việt Nam.Đình Hồng Thái là nơi họp quốc dân đại hội phát động khởi nghĩa cách mạng tháng Tám Những

sự kiện lớn lao ấy đã làm nên thắng lợi của cách mạng tháng Tám, mở ra là những trang sử vẻvang của dân tộc Nhắc đến các địa danh này, người ở lại muốn nhắn nhủ người ra đi nhớ về ViệtBắc là nhớ về quê hương cách mạng

3 Đánh giá chung về nội dung và nghệ thuật

- Bằng thể thơ lục bát êm dịu, kết cấu đối đáp của ca dao, dân ca, ngôn ngữ, hình ảnh

giản dị, quen thuộc, đậm chất ca dao, dân ca, giọng điệu thơ ngọt ngào, truyền cảm, đặcbiệt thể hiện qua việc sử dụng cặp từ mình - ta thân mật cùng với các biện pháp tu từ như

điệp từ, ẩn dụ, tiểu đối Nét đặc sắc trong đoạn thơ này là ở chỗ tiết tấu rất giàu nhạc điệu Tố

Hữu đã sử dụng nghệ thuật đối một cách triệt để trong các câu thơ tám chữ làm cho nhạc điệu củađoạn thơ trở nên réo rắt và tạo nên những ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc với người đọc Đoạn thơ vìthế đã trở thành một khúc trữ tình, sâu lắng thể hiện tình cảm son sắc, thủy chung giữangười đi và kẻ ở, giữa những người cán bộ cách mạng miền xuôi và nhân dân Việt Bắc.Tình cảm trong sáng ấy là tình cảm cách mạng, tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cáchmạng của nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp, là cội nguồn sức mạnh để ViệtBắc trở thành quê hương cách mạng, cội nguồn chiến thắng

Đoạn số 3:

Cảm nhận về đoạn thơ sau trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu:

Trang 12

- Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu

Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.

Ta đi, ta nhớ những ngày Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi

Thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.

Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.

Nhớ sao lớp học i tờ Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.

Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa

(Ngữ văn 12, tập 1, NXBGD VN, 2018, tr.110,111)

I MỞ BÀI

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Tk mở bài chung

- Giới thiệu yêu cầu của đề bài:

II THÂN BÀI

1 Khái quát

1.1 Hoàn cảnh sáng tác

- Sau 9 năm kháng chiến đầy gian khổ, hi sinh dân tộc ta đã làm nên chiến thắng lịch sử ĐiệnBiên Phủ chấn động địa cầu Hiệp định Giơnevơ được kí kết, hoà bình được lập lại, một trang sửmới của đất nước và một giai đoạn mới của cách mạng được mở ra Tháng 10-1954, các cơ quancủa Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội Miền Bắc bước vào thời

kì xây dựng đất nước Cuộc sống thay đổi có tính chất bước ngoặt, từ chiến tranh sang hoà bình,

từ núi rừng về thành thị Biết bao lưu luyến ân tình với những nơi đã từng đồng cam cộng khổ,chia ngọt sẻ bùi Nhân sự kiện có tính thời sự và lịch sử ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “ViệtBắc” vào tháng 10-1954 Hơn nữa, trong hoàn cảnh ấy, người ta chó nhu cầu muốn nhìn lạichặng đường lịch sử đã đi qua, lí giải chiến tháng và xác định con đường đi tiếp Hoàn cảnh ấy đãchi phối đến cảm hứng sáng tác và nội dung của bài thơ

Trang 13

1.2 Đề tài:

- Đề tài của bài thơ là đề tài chia li, tiễn biệt là một đề tài quen thuộc trong thơ ca xưa nay.Thế giới văn học tuyệt vời đã lưu giữ cho ta bao cuộc chia ly bất tử Nhớ cuộc chia ly Lý Bạchvới Mạnh Hạo nhiên trên lầu Hoàng Hạc Cuộc từ biệt Thúc Sinh của Thúy Kiều sau những ngàymặn nồng, thắm thiết Cuộc chia li chói ngời sắc đỏ trong thơ Nguyễn Mĩ …Và đến "Việt Bắc"của Tố Hữu người đọc không thể quên cuộc chia tay lịch sử giữa những người cách mạng miềnxuôi với người Việt Bắc

- Thơ ca về chia li, tiễn biệt thường chất chứa buồn đau, sầu muộn:

"Người lên ngựa, kẻ chia bào

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

“Cùng trông lại lại cùng chẳng thấy

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

Ngàn dâu xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai”

(Chinh phụ ngâm)

Nhưng trong "Việt Bắc" Tố Hữu đã thể hiện những sắc điệu mới bởi bài thơ đượcsáng tác trong ngày chiến thắng, chia tay để rồi gặp lại, cả người đi người ở đều hướng đếnmột viễn cảnh tươi đẹp của đất nước Điều này cũng cho thấy Tố Hữu luôn là nhà thơ của

lẽ sống lớn, niềm vui lớn, tình cảm lớn Thơ ông không đi vào những tình cảm cá nhânriêng tư mà chỉ hướng đến những cảm xúc lịch sử của lòng người, của thời đại Khúc ca vềcuộc chia tay của nhân dân VB với cán bộ về xuôi đã minh chứng cho điều Xuân Diệu nói:

“Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ là thơ rất đỗi trữ tình”

2 Phân tích đoạn thơ: Người ra đi gợi nhắc tình cảm gắn bó

2.1 Giới thiệu đoạn thơ

- Kết cấu đối đáp được thể hiện rất rõ trong suốt đoạn trích, bao gồm cả đoạn thơ này Người

ta đã có lý khi nói thơ Tố Hữu là thứ thơ "đốt cháy trái tim để trở thành trí tuệ", với ý tưởng trữ

tình hoá sự kiện chính trị cũng như đời sống chính trị của đất nước, viết "Việt Bắc", Tố Hữu đãsáng tạo nên một cấu tứ rất độc đáo-khúc hát đối đáp trong cuộc chia tay giữa người ở và người

về xuôi để khơi gợi những kỉ niệm gắn bó trong những ngày kháng chiến gian khổ mà vẻ vang

- Cặp từ mình – ta: Mình - ta vốn là cách xưng hô quen thuộc trong đời sống hàng ngày, làcách xưng hô của vợ chồng hoặc giữa những người có mối quan hệ thân thiết, gắn bó

- Trong ca dao, dân ca cặp từ mình - ta thường xuất hiện trong các bài ca dao giao duyên như:

Mình nói với ta mình hãy còn son

Ta đi qua ngõ thấy con mình bòCon mình những trấu cùng tro

Ta đi lấy nước tắm cho con mình Hay:

Mình về có nhớ ta chăng

Ta về ta nhớ hàm răng mình cườiHoặc:

Trang 14

Mình về ta chẳng cho về

Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ

- Cách xưng hô mình - ta gần gũi thân thương được Tố Hữu vay mượn trong ca dao, dân ca Sáng tạo của nhà thơ là ở chỗ nếu trong ca dao, dân ca mình - ta là đôi lứa yêu nhau với một nam một nữ thì trong bài thơ mình - ta là người đi (người cán bộ miền xuôi) và kẻ ở (nhân dân Việt Bắc) Sáng tạo hơn nữa là trong bài thơ mình - ta có sự chuyển hóa, hòa quyện thành sự

đồng vọng diễn tả chung tâm tư của cả người đi, kẻ ở Cả mình và ta đều chung những kỉ niệmgắn bó, chung một nỗi niềm tâm trạng, nay phải chia tay biết bao lưu luyến, bịn rịn Bài thơ đãvượt ra khỏi những cảm xúc riêng tư để chuyển tải một vấn đề rất lớn của đời sống cáchmạng, đó là vấn đề ân nghĩa thủy chung của cách mạng với nhân dân

- Nếu như đoạn thơ trước nói về nỗi lòng kẻ ở người đi, tái hiện cảnh chia tay đầy lưu

luyến, bịn rịn rồi sau đó người ở lại đã hỏi và gợi nhắc người ra đi hãy nhớ về 15 năm gắn bó, nhớ

về những ngày tháng gian khổ mà nghĩa tình thì đoạn thơ này đến lượt người ra đi thổ lộ, giãi bàytình cảm của mình Lời người ra đi gợi lại nỗi nhớ về cuộc sống sinh hoạt trên chiến khu ViệtBắc, khẳng định tình cảm son sắc, chưa về đã nhớ Nhớ thiên nhiên Việt Bắc thơ mộng, thanhbình, yên ả và nhớ người Việt Bắc nghèo về vật chất nhưng sâu nặng nghĩa tình, nhớ những ngàytháng gian nân mà vẫn lạc quan, yêu đời, tỉnh cảm vẫn gắn bó keo sơn

2.2 Bốn câu thơ đầu: - Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu

Người ra đi khẳng định tình cảm mặn nồng, trước sau như một

 - Trước nỗi lòng của người ở lại, người ra đi cũng khẳng định tình cảm son sắc thủychung “Ta – mình”, “mình – ta” được lặp đi lặp lại, quấn quýt, quyện hoà làm một Câuthơ đầu của đoạn thơ là sự vận dụng sáng tạo câu ca dao về tình cảm lứa đôi:

Ta với mình tuy hai mà một

Mình với ta tuy một mà hai

"Đinh ninh" là sự khẳng định chắc chắn, mãi mãi gắn bó, thuỷ chung Như vậy, người

ra đi ở đây đã khẳng định tình cảm của mình với Việt Bắc và người Việt Bắc trước sau nhưmột, lúc nào cũng mặn mà đinh nình, dù có thế nào cũng không thay lòng đổi dạ

- Câu thơ "Mình đi, mình lại nhớ mình” là sự hô ứng, để trả lời cho câu hỏi đặt ra củađồng bào Việt Bắc “Mình đi mình có nhớ mình" Người cán bộ kháng chiến về nơi đôthành nhưng vẫn nhớ đến những ngày sống ở chiến khu Việt Bắc Đây cũng chính là lờikhẳng định phẩm chất đạo đức của người cán bộ kháng chiến, luôn nhớ về cội nguồn cáchmạng

- Biện pháp nghệ thuật so sánh “Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu” đã khẳngđịnh một lần nữa sự chung thuỷ son sắt, tình cảm bền chặt của người cán bộ kháng chiếnvới Việt Bắc Nhà thơ Tố Hữu có lẽ đã sáng tạo câu thơ dựa trên hình ảnh ca dao:

Công cha như núi Thái SơnNghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Trang 15

Trong ca dao, tình mẹ vô bờ bến được so sánh với nước trong nguồn, tuôn chảy bất tậnkhông bao giờ cạn “Bao nhiêu” thành cặp với “bấy nhiêu” là cái vô tận đi liền với một cái

vô tận khác Câu thơ chính là tiếng lòng được thốt lên từ một trái tim tràn đầy xúc độngcủa kẻ ở người về trong giây phút li biệt, thể hiện tình cảm nhớ thương gắn bó của nhữngngười cách mạng về xuôi với cảnh và người Việt Bắc cũng như nước trong nguồn khôngbao giờ vơi cạn

2.3 Câu thơ "Nhớ gì như nhớ người yêu"

Nhớ Việt Bắc và người Việt Bắc như nỗi nhớ của tình yêu đôi lứa:

- Bằng nghệ thuật so sánh độc đáo, nhà thơ đã diễn tả nỗi nhớ về một mảnh đất như

nỗi nhớ người yêu, một mối quan hệ chính trị lại giống như một tình yêu đôi lứa Tình yêuluôn đi liền với nỗi nhớ và nỗi nhớ trong tình yêu thì luôn là nồng nàn, da diết, cháy bỏngnhất Thơ ca xưa nay viết về nỗi nhớ trong tình yêu rất nhiều Ca dao cũng có những câunhư:

Nhớ ai bổi hổi bồi hồiNhư đứng đống lửa như ngồi đống thanHoặc:

Nhớ ai ra ngẩn vào ngơNhớ ai, ai nhớ bây giờ nhớ aiÔng hoàng thơ tình Xuân Diệu cũng thể hiện một nỗi nhớ mãnh liệt:

Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh

Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi

Nỗi nhớ trong tình yêu của người phụ nữ lại được nữ thi sĩ Xuân Quỳnh miêu tả:

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Nỗi nhớ người yêu là nỗi nhớ có khi ngẩn ngơ, ngơ ngẩn; có khi có khi bồn chồn,bối rối, bổi hổi, bồi hồi, mãnh liệt và thường trực Nỗi nhớ Việt Bắc và người Việt Bắcphải chăng hàm chứa mọi cung bậc cảm xúc ấy Với hình ảnh so sánh này, Tố Hữu đã thểhiện được tình cảm rất sâu đậm của người đi bởi có nỗi nhớ nào thổn thức, thường trực vàmãnh liệt hơn nỗi nhớ trong tình yêu

- Điệp từ "nhớ" được lặp lại hai lần trong câu thơ đã nhấn mạnh nỗi nhớ cồn cào, dadiết khôn nguôi Cuộc đời mỗi con người đều không tránh được chuyện đi và ở, hội ngộ vàchia li Những mảnh đất đã từng qua, ngững con người đã từng gắn bó đều để lại niềmthương và nỗi nhớ như nhà thơ Chế Lan Viên đã khái quát:

Khi ta ở chỉ là nơi đất ởKhi ta đi đất đã hóa tâm hồnMười lăm năm trên chiến khu Việt Bắc đã để lại bao tình cảm luyến thương nêntrong giờ phút chia tay tất cả kỉ niệm trong suốt 15 năm gắn bó bỗng chốc ùa về với những

ấn tượng, tình cảm sâu đậm nhất Và người ra đi cũng nhu cầu được bày tỏ nỗi lòng

2.4 Đoạn thơ: Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Trang 16

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy

Nhớ thiên nhiên việt Bắc yên ả, thanh bình, thơ mộng

- Trong nỗi nhớ của người ra đi thiên nhiên Việt Bắc rất đẹp và thơ mộng Đó làViệt Bắc vào những đêm trăng “Trăng lên đầu núi" là vầng trăng mới lên, mới lấp ló nơiđầu núi thật đẹp và lãng mạn Khung cảnh Việt Bắc có ánh trăng chiếu rọi rất nên thơ cònđược nhà thơ Tố Hữu miêu tả một lần nữa trong bài thơ:

Rừng thu trăng rọi hòa bìnhNhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

"Nắng chiều lưng nương” cũng là khoảnh khắc đẹp của thiên nhiên Việt Bắc, ánhnắng dịu nhẹ trải vàng cả núi rừng và nương rẫy trong buổi chiều tà Các hình ảnh thiênnhiên thơ mộng ấy còn gợi hình ảnh con người Việt Bắc trong những khoảnh khắc đẹp, gợinhững đêm trăng hò hẹn, những buổi chiều lao động trên nương rẫy

- Nỗi nhớ không chỉ trải dài theo thời gian “trăng lên – nắng chiều – sớm – khuya”

mà còn trải rộng khắp không gian: Bản khói cùng sương – bếp lửa – rừng nứa – bờ tre –ngòi Thia – sông Đáy – suối Lê Nghệ thuật liệt kê đã tái hiện nỗi nhớ vơi đầy của ngườicán bộ kháng chiến đồng thời khắc họa được vẻ đẹp của quê hương Việt Bắc Những đồitre bát ngát, những dòng suối mát trong, con sông hiền hòa, những bếp lửa ấp iu nồngđượm, tất cả cứ in sâu trong nỗi nhớ người về Nhắc đến dòng sông, đồi núi, rừng nứa, bờtre là rưng rưng bao kỉ niệm, đong đầy bao yêu thương Những cái tên: Ngòi Thia, sôngĐáy, suối Lê có lẽ không đơn thuần chỉ là những địa danh mà còn ẩn dấu bao kỉ niệm, cảm

xúc Có thể nói mỗi thời gian, không gian này với người về xuôi đều lung linh kỉ niệm,

cham chứa yêu thương

- Câu thơ “Sớm khuya bếp lửa người thương đi về” là một điểm nhấn của nỗi nhớvới sự xuất hiện của hình ảnh con người Việt Bắc Hai chữ “người thương” thật hay, đó lànhững con người gắn bó với nhau bằng tình sâu nghĩa đậm “Người thương” ấy là nhữngai? Đó có thể là người em liên lạc “Sớm bản Na chiều em qua bản Bắc, mười năm trònkhông mất một phong thư”, có thể là người anh du kích với “Chiếc áo nâu suốt một đời várách”, là người mế “Lửa hồng soi tóc bạc/ năm con đau mế thức một mùa dài” như trongbài thơ “Tiếng hát con tàu” Chế Lan Viên cũng đã từng nói đến Họ là những người đã cưumang, đùm bọc, che chở cán bộ kháng chiến, là những người mà cán bộ kháng chiến coinhư máu thịt, như gia đình Hai chữ “người thương” vì vậy mà chất chứa biết bao ân tìnhcủa người về xuôi

- Các điệp từ: nhớ gì, nhớ từng, nhớ những cùng với nghệ thuật so sánh (như nhớngười yêu), các tên địa danh ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê và tiểu đối đều góp phần thểhiện thành công những cung bậc cảm xúc phong phú của nỗi nhớ quê hương cách mạng,tạo nên chất nhạc chất họa mê li, say đắm cho khổ thơ

2.5 Đoạn thơ: Ta đi, ta nhớ những ngày

Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi

Thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

Trang 17

Nhớ người mẹ nắng cháy lung Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô

Nhớ người Việt Bắc nghèo về vật chất nhưng sâu nặng nghĩa tình

- Hai câu thơ “Ta đi ta nhớ những ngày/ Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi” đã kháiquát và khẳng định được tình cảm của người ra đi, ta về là ta luôn nhớ Cụm từ “đắng cayngọt bùi” là ẩn dụ, trong đó “đắng cay” là ẩn dụ cho những gian khổ, vất vả; “ngọt bùi”tượng trưng cho niềm vui, hạnh phúc Trong nỗi nhớ của người ra đi có những kỉ niệm vềnhững ngày tháng khó khăn, gian khổ những cũng có nhiều kỉ niệm ngọt ngào, có niềm vuichiến thắng, có hạnh phúc tình yêu

- Nếu hai câu thơ trước có ý nghĩa khái quát, thì hai câu thơ “Thương nhau chia củsắn lùi/ bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng” đã cụ thể hóa những đắng cay, ngọt bùi trongcuộc sống kháng chiến Bao nhiêu gian khổ đã cùng nhau nếm trải như thiên nhiên khắcnghiệt, thiếu thốn kham khổ về vật chất, giặc đến giặc lùng Khó khăn gian khổ lại làmngười cán bộ kháng chiến và người dân Việt Bắc yêu thương, đùm bọc nhau hơn Nghệthuật đảo ngữ với từ "Thương nhau" được đặt lên đầu cặp lục bát cho thấy đó là cănnguyên, cội nguồn để dẫn đến những hành động nhường cơm, sẻ áo Sắn lùi là món ăn bình

dị, dân dã Chăn sui được làm từ vỏ cây sui, thô ráp nhưng là thứ duy nhất họ có để xua đicái giá lạnh của vùng núi cao Họ phải chia nhau từng củ sắn, bát cơm sẻ làm đôi, đắp cùngchăn sui để tỏa cho nhau hơi ấm Các động từ “chia”, “sẻ”, “đắp cùng” thể hiện nhữnghành động đầy ân nghĩa của người Việt Bắc, làm người ra đi mãi ghi nhớ, khắc sâu

- Người Việt Bắc nhường cơm, sẻ áo, nuôi giấu người cán bộ cách mạng còn đượcthể hiện qua hình ảnh người mẹ Việt Bắc “nắng cháy lưng, địu con lên rẫy bẻ từng bắpngô” Đây có lẽ là một trong những hình ảnh in đậm nhất trong lòng người ra đi Người

mẹ địu con lên nương rẫy trong cái nắng đến cháy da, cháy thịt để vừa trông nom, chechở cho đứa con thơ bên mình vừa kiên trì, cần mẫn “bẻ từng bắp ngô” để nuôi con, nuôicán bộ Sự tương phản, đối lập giữa cái dữ dội của thiên nhiên với ý chí nghị lực của conngười càng làm tôn lên vẻ đẹp cần cù, chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh của người mẹdân tộc Hình ảnh những người mẹ tuyệt vời, kì diệu trong những cuộc kháng chiến cònđược gặp lại trong bài thơ "Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ" của Nguyễn KhoaĐiềm:

Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội

Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng”

Chính người mẹ Việt Bắc, những người mẹ Việt Nam anh hùng với tình mẫu tử vàtình cảm cách mạng thiêng liêng đã góp phần to lớn làm nên chiến thắng của dân tộc, trởthành những nhân vật lịch sử trong các cuộc kháng chiến vĩ đại

2.6 Đoạn thơ:

Nhớ sao lớp học i tờ

Ðồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

Nhớ sao ngày tháng cơ quan

Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.

Trang 18

Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nện cối đều đều suối xa

Nhớ cuộc sống kháng chiến gian khổ nhưng đầy niềm vui

- Nhớ về những ngày ấy là nhớ về không khí của những lớp học i tờ, những ngàytháng vừa làm cách mạng vừa diệt giặc dốt Trước khi cách mạng đến, dân ta có biết baocuộc đời tủi cực, tăm tối, bị nô lệ và thiếu ánh sáng văn hóa, đa số nhân dân mù chữ Muốnlàm cách mạng phải dạy dân học chữ vì vậy mà những lớp bình dân học vụ ra đời Cụm từ

"đồng khuya đuốc sáng" cho thấy đêm đêm giữa mênh mông núi rừng Việt Bắc vang lêntiếng học i tờ, làm nên một sức sống mới trên quê hương cách mạng Cụm từ "những giờliên hoan” trong câu thơ cho thấy lớp học tuy có những vất vả gian khổ nhưng vẫn đầyniềm vui, tưng bừng náo nức nhất là trong những giờ liên hoan sôi nổi

- Những ngày tháng ấy là những ngày tháng cơ quan đầy gian nan, thử thách Nhưngvới tinh thần lạc quan cách mạng người cán bộ miền xuôi và nhân dân Việt Bắc vẫn vượtqua, họ vẫn yêu đời nên tiếng hát vẫn bay cao, vang xa giữa núi đồi Tinh thần lạc quanvốn là truyền thống của người Việt Nam, càng khó khăn gian khổ phẩm chất ấy càng đượcbộc lộ rõ ràng Tinh thần ấy đã được những người những người cán bộ cách mạng và nhândân Việt Bắc phát huy cao độ trong cuộc kháng chiến chống Pháp, góp phần cổ vũ, nâng

đỡ, chắp cánh niềm tin để ta có đủ sức mạnh đi đến chiến thắng

- Trong nỗi nhớ của người ra đi còn có những âm thanh quen thuộc, bình dị, thânthương là âm thanh tiếng mõ tiếng chày vang lên giữa núi rừng Việt Bắc Đó là tiếng mõtrâu buổi chiều trở về bản làng, là tiếng chày nhịp nhàng của cối giã gạo bên suối Mỗi một

âm thanh lại gợi mở bức họa bình dị mà thơ mộng Tiếng giã gạo đêm khuya bình dị màghi dấu bao nghĩa tình sâu nặng Tiếng suối róc rách nơi rừng xa lại gợi cái trong ngần, thơmộng của cảnh vật Những âm thanh của cuộc sống lao động thường ngày, khi sống cùng

có lẽ chẳng mấy ai để ý, nhớ nhung, nhưng khi xa rồi thì những âm thanh ấy lại khiến conngười bồi hồi, xao xuyến, thổn thức Lời thơ dứt mà những âm thanh ấy cứ ngân vang mãitrong lòng người chia xa Việt Bắc Từ láy "đều đều" không chỉ thể hiện âm thanh đều đềucủa tiếng mõ tiếng chày vào các buổi chiều và vào ban đêm hòa quện giữa âm thanh củarừng núi mà còn thể hiện nhịp sống đều đều, êm ả thanh bình trên chiến khu

3 Đánh giá về nội dung và nghệ thuật

Bằng thể thơ lục bát êm dịu, kết cấu đối đáp của ca dao, dân ca, ngôn ngữ, hình ảnh

giản dị, quen thuộc, đậm chất ca dao, dân ca, giọng điệu thơ ngọt ngào, truyền cảm, đặcbiệt thể hiện qua việc sử dụng cặp từ mình - ta thân mật cùng với các biện pháp tu từ nhưđiệp từ, ẩn dụ, tiểu đối Qua nỗi nhớ của người ra đi, đoạn thơ gợi ra trước mắt người đọcbức tranh thiên nhiên, con người Việt Bắc vừa thơ mộng vừa giàu chất hiện thực, diễn tảsâu sắc tình cảm ân tình thủy chung son sắc giữa những con người đã cùng đồng cam cộngkhổ, là những kỉ niệm in đậm trong lòng nhà thơ cũng như bao người trong cuộc khángchiến Việt Bắc tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu có sự hòa quyện giữa chất trữ tìnhchính trị và nghệ thuật biểu hiện đậm đà tính dân tộc

Đoạn số 4:

Ngày đăng: 11/05/2023, 17:18

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w