Rất hay bà bổ ích !
Trang 1MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích của đề tài 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.2 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam 4
2.2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 4
2.2.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam 8
2.2.3 Tình hình sản xuất ngô ở tỉnh Thái Nguyên 11
2.3 Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới và ở Việt Nam 12
2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới 12
2.3.1.1 Tình hình nghiên cứu ngô lai trên thế giới 12
2.3.1.2 Tình hình nghiên cứu phân bón cho ngô trên thế giới 13
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngô tại Việt Nam 15
2.3.2.1 Tình hình nghiên cứu về giống ngô lai ở Việt Nam 15
2.3.2.2 Tình hình nghiên cứu về lượng đạm bón cho ngô tại Việt Nam 17
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đối tượng nghiên cứu 22
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
3.3 Nội dung nghiên cứu 22
3.4 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 22
3.4.1.1 Công thức thí nghiệm 22
3.4.1.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 23
3.4.2 Quy trình kỹ thuật thí nghiệm 23
3.4.3 Chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi 24
Trang 23.4.4 Các chỉ tiêu về hình thái 25
3.4.5 Các chỉ tiêu chống chịu sâu bệnh 26
3.4.6 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 26
3.4.7 Phương pháp xử lý số liệu 27
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Điều kiện thời tiết khí hậu vụ Đông năm 2011 tại Thái Nguyên 28
4.1.1 Nhiệt độ 28
4.1.2 Độ ẩm 29
4.1.3 Lượng mưa 29
4.2 Ảnh hưởng của lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến thời gian sinh trưởng của một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011 30
4.2.1 Giai đoạn từ gieo đến trỗ cờ 31
4.2.2 Giai đoạn tung phấn, phun râu 32
4.2.3 Giai đoạn chín sinh lý 33
4.3 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến tốc độ tăng trưởng chiều cao của một số giống ngô lai, vụ Đông 2011 .33
4.4 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến các đặc điểm hình thái của một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011 35
4.4.1 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011 35
4.4.2 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến số lá trên cây và chỉ số diện tích lá của một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011 37
4.5 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011 39
1
Trang 34.5.1 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến khả
năng chống đổ của một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011 39
4.5.2 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến khả năng chống chịu sâu bệnh của một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011 41
4.6 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến trạng thái cây, độ bao bắp, trạng thái bắp của một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011 44
4.6.1 Trạng thái cây 44
4.6.2 Trạng thái bắp 44
4.6.3 Độ bao bắp 45
4.7 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến các yếu tố cấu thành năng suất của một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011 45
4.7.1 Số bắp trên cây 47
4.7.2 Chiều dài bắp 47
4.7.3 Đường kính bắp 48
4.7.4 Số hàng hạt/bắp 48
4.7.5 Số hạt/ hàng 49
4.7.6 Khối lượng 1000 hạt 49
4.8 Ảnh hưởng của lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011 50
4.8.1 Năng suất lý thuyết 50
4.8.2 Năng suất thực thu 51
4.9 Hiệu quả kinh tế của lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đối với một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011 51
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
5.1 Kết luận 53
5.1.1 Tình hình sinh trưởng 53
5.1.2 Khả năng chống chịu 53
2
Trang 45.1.3 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 53
5.1.4 Hạch toán kinh tế 54
5.2 Đề nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC
3
Trang 5NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
TCN : Tiêu chuẩn ngành
TGST : Thời gian sinh trưởng
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng ngô thế giới giai đoạn 2004 - 2010
5
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2010 6
Bảng 2.3 Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020 7
Bảng 2.4 Sản xuất ngô Việt Nam giai đoạn 1961 - 2010 8
Bảng 2.5 Diện tích, năng suất và sản lượng ngô của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2001 - 2010 12
Bảng 2.6 Nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô trong giai đoạn sinh trưởng (%) .17
Bảng 3.1 Các công thức và thời kỳ bón đạm 22
Bảng 4.1 Diễn biến thời tiết khí hậu vụ ngô Đông 2011 tại Thái Nguyên .28
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến thời gian sinh trưởng của một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011 31
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến tốc độ tăng trưởng chiều cao của một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011 34
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011 35
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến số lá trên cây và chỉ số diện tích lá của một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011 37
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến đổ rễ và gẫy thân của một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011 40
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến tỷ lệ nhiễm sâu bệnh của một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011 .41
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến trạng thái cây, độ bao bắp, trạng thái bắp của một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011 44
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống ngô lai LVN99 và LVN14 vụ Đông, năm 2011 46
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011 50
Bảng 4.11 Hiệu quả kinh tế của lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đối với một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011 52
Trang 7Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cây ngô (Zea mays L.) là một trong những cây ngũ cốc chính, cổ nhất,
phổ biến rộng, có năng suất cao và giá trị kinh tế lớn của loài người Ngô làcây lương thực nuôi sống gần 1/3 số dân trên toàn thế giới Ở các nước thuộcTrung Mỹ, Nam Á, Châu Phi sử dụng ngô làm lương thực chính Một số khuvực đã sử dụng ngô như Tây Phi 80%, Bắc Phi 42%, Tây Á 27%, Nam Á75%, Đông Nam Á và Thái Bình Dương 39%, Đông Á 30%, một số nước Ấn
Độ 90%, ở Philippin 60% Bên cạnh giá trị làm lương thực, cây ngô còn làcây thức ăn gia súc quan trọng, 70% chất tinh trong thức ăn tổng hợp là từngô Cây ngô còn là thức ăn xanh và ủ chua rất tốt cho chăn nuôi gia súc lớn,đặc biệt là bò sữa Những năm gần đây ngô còn là loại cây thực phẩm được
ưa chuộng Ngoài ra, ngô còn là nguyên liệu của công nghiệp chế biến thựcphẩm, công nghệ y dược và công nghiệp nhẹ (Trần Văn Minh, 2004) [12]
Với ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế, cùng với tính thích ứng rộng
và tiềm năng năng suất cao, cây ngô được hầu hết các quốc gia trên thế giớigieo trồng (166 nước) và diện tích ngày càng mở rộng Năm 2007, sản xuấtngô trên thế giới đạt kỉ lục cả 3 chỉ tiêu: Diện tích 158,0 triệu ha (chỉ sau lúa
mì - 214,2 triệu ha, vượt qua lúa nước - 155,8 triệu ha), năng suất 50,1 tạ/ha(lúa nước 42,3 ta/ha, lúa mì 28,3 tạ/ha) và sản lượng 791,8 triệu tấn - chiếmgần 40% trong tổng sản lượng 3 cây lương thực hàng đầu trên thế giới (lúanước: 659,6 triệu tấn, lúa mì: 606 triệu tấn) (FAOSTAT, 2010)[30]
Hiện nay nhu cầu sử dụng ngô ở Việt Nam là rất lớn, diện tích hàngnăm trồng trên 1 triệu ha nhưng vẫn nhập khẩu với số lượng lớn, năm 2010nhập 1,6 triệu tấn Nguyên nhân chủ yếu là do năng suất ngô của nước ta còngthấp, năng suất ngô trung bình 48,8 tạ/ha, đạt thấp hơn so với năng suất ngôcủa thế giới (51,9 tạ/ha) và của nhiều nước trên thế giới như Mỹ (103 tạ/ha),Trung Quốc (54 tạ/ha) (Tổng cục thống kê; FAOSTAT, 2011) [20], [31].Trong tương lai, nhu cầu sử dụng ngô ở nước ta ngày càng tăng Theo dự báocủa cục chăn nuôi, đến năm 2020 nhu cầu về thức ăn chăn nuôi sẽ cần khoảng
15 triệu tấn và sẽ phải nhập khoảng 50% nguyên liệu để sản xuất (Bộ Nôngnghiệp, 2010) [2]
Trang 8Trong những năm gần đây, Việt Nam cũng đã lai tạo và chọn đượcnhiều giống ngô đáp ứng về năng suất, chất lượng được thế giới cũng nhưtrong nước chấp nhận Nếu đánh giá khách quan thì giống ngô của Việt Nam
so với các giống ngô của các nước trên thế giới không có sự chênh lệch lớn vềnăng suất Vì vậy, việc chọn các biện pháp kỹ thuật canh tác nhằm tăng năngsuất ngô phù hợp với điều kiện của Việt Nam; từ đó xây dựng quy trình kỹthuật tiên tiến nhằm tăng năng suất và hiệu quả sản xuất ngô, góp phần tăngthu nhập cho người nông dân là nhiệm vụ chính của các nhà khoa học,khuyến nông
Ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc, ngô là cây lương thực chínhchỉ đứng sau cây lúa Năm 2009, diện tích lúa là 669,9 nghìn ha, diện tích ngô
là 443,4 nghìn ha (Tổng cục Thống kê, 2011)[20] Mặc dù diện tích trồng ngôlai của vùng đạt từ 80 - 90% nhưng năng suất ngô rất thấp, chỉ đạt 34,5 tạ/ha(bằng 84,6% so với trung bình cả nước) Sở dĩ năng suất ngô ở vùng này thấp
là vì ngô chủ yếu được trồng trên đất dốc, không chủ động nước, điều kiệnkhí hậu khắc nghiệt cùng với tập quán canh tác lạc hậu nên ngô không pháthuy được tiềm năng của giống Như vậy, giải pháp nâng cao năng suất và hiệuquả sản xuất ngô ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc là tập trung vàonâng cao các biện pháp kỹ thuật canh tác, trong đó có kỹ thuật bón phân chongô, đặc biệt là phân đạm
Xuất phát từ cơ sở khoa học và nhu cầu thực tế, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng lượng đạm bón ở thời kỳ trước
trỗ 10 ngày đến sinh trưởng và năng suất của một số giống ngô lai trong điều kiện vụ Đông năm 2011 tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên” 1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích của đề tài
Xác định lượng đạm thích hợp bón vào thời kỳ trước trỗ 10 ngày cho haigiống ngô LVN99 và LVN14 nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ trước trỗ 10 ngàyđến sinh trưởng và năng suất của giống ngô LVN99 và LVN14
- Đề xuất lượng đạm thích hợp bón ở thời kỳ trước trỗ 10 ngày cho 2giống ngô LVN99 và LVN14
Trang 91.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng củamức phân N bón vào thời kì trước trỗ 10 ngày đến sinh trưởng, phát triển,năng suất giống ngô LVN14 và LVN99
- Qua kết quả nghiên cứu sẽ đưa ra các luận cứ về ảnh hưởng của mứcphân bón đến các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển và năng suất của giốngngô lai đơn LVN14 và LVN99
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Từ kết quả nghiên cứu đề xuất mức phân N bón thích hợp nhằm tăngnăng suất giống ngô LVN14 và LVN99 trên 1 đơn vị diện tích
- Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canhgiống ngô lai đơn LVN14 và LVN99 tại trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu Mặc dùđứng thứ ba về diện tích (sau lúa nước và lúa mỳ), ngô đã có năng suất và sảnlượng cao nhất trong các cây cốc (Ngô Hữu Tình, 2009) [19] Còn ở Việt Namngô chỉ chiếm hơn 8% diện tích cây lương thực, nhưng có ý nghĩa thứ 2 saulúa nước (Phan Xuân Hào, 2002) [6]
Theo Trần Trung Kiên, 2009 [10] thì một số giống ngô lai đạt năng suất
5 - 7 tấn/ha là không khó khăn nếu áp dụng đúng quy trình kỹ thuật
Cải tạo giống đi đôi với chế độ dinh dưỡng hợp lý sẽ làm tăng năngsuất ngô vì đạm là một trong những nguyên tố dinh dưỡng ảnh hưởng có tínhchất quyết định đến năng suất ngô Ngô cần đạm trong suốt thời kì sinhtrưởng đặc biệt vào các thời kỳ 3 - 5 lá, 7 - 9 lá và trước trỗ 10 ngày Đạm làthành phần cơ bản của protein, ADN, diệp lục… Vì vậy thiếu N chồi lá mầmkhông phát triển đầy đủ, sự phân chia tế bào ở đỉnh sinh trưởng bị kìm hãm,giảm diện tích lá, tăng khả năng quang hợp của cây Bón N đầy đủ làm tăngdiện tích và tuổi thọ của lá, tăng khả năng quang hợp, đây là cơ sở của việcnâng cao khả năng tích lũy chất khô và năng suất ngô
Ngô là cây trồng quang hợp theo chu trình C4, có tiềm năng năng suấtcao mà không có một cây cốc nào có thể sánh kịp Để nâng cao hiệu quảtrong sản xuất nông nghiệp nói chung và khai thác triệt để vị trí, vai trò củacây ngô nói riêng thì việc xác định được một chế độ dinh dưỡng thích hợpcho từng thời kỳ của mỗi giống ngô ở các điều kiện sinh thái nhất định là mộtyêu cầu cấp thiết
Xuất phát từ thực tế trên và để đưa ra lượng phân bón hợp lý góp phầnlàm tăng năng suất và sản lượng ngô của tỉnh Thái Nguyên chúng tôi tiếnhành làm đề tài này
2.2 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Ngô là cây ngũ cốc có vị trí quan trọng đứng thứ ba sau lúa mỳ và lúanước Giữa những năm 90 của thế kỷ XX, ngô còn xếp thứ ba về diện tích vàsản lượng, song trong những năm gần đây ngô vượt lên đứng đầu về diện tích,
Trang 11năng suất và sản lượng, là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất caonhất trong các cây lương thực chủ yếu.
Ngô được sử dụng rất nhiều trong lĩnh vực như: làm lương thực, thựcphẩm, thức ăn gia súc, nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến…Hiện nay ngô còn là nguồn nguyên liệu quan trọng trong sản xuất năng lượngsinh học (ethanol), đây được coi là giải pháp cho sự thiếu hụt năng lượng tongtương lai Ở Mỹ, trên 90% ethanol được sản xuất từ ngô với hơn 2680 nhàmáy Trung Quốc cũng đang tập trung đầu tư xây dựng nhiều cơ sở nghiêncứu về nguồn năng lượng sinh học này với mục tiêu ethanol nhiên liệu sẽ tănglên 2 tỷ lít vào năm 2020 (Ngô Sơn, 2007) [16] Nhờ những tiến bộ trongnghiên cứu và sản xuất mà diện tích, năng suất và sản lượng và trên thế giớităng lên liên tục từ đầu thế kỷ 20 đến nay Kết quả được thể hiện qua bảng 2.1
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng ngô thế giới giai đoạn 2004 - 2010
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, năm 2011) [31]
Số liệu bảng 2.1 cho thấy sản xuất ngô trên thế giới tăng nhanh cả vềdiện tích, năng suất và sản lượng Năm 2004 diện tích trồng ngô là 147,47triệu ha đến năm 2010 là 161,82 triệu ha, tăng 14,35 triệu ha so với năm 2004
Năng suất ngô của thế giới có xu hướng tăng nhưng không thực sự ổnđịnh Năm 2004 năng suất ngô đạt 49,41 tạ/ha Năm 2006 chỉ còn 47,62 tạ/hagiảm 1,79 tạ/ha
Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới được trình bày ởbảng 2.2
Trang 12Bảng 2.2 Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2010
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, năm 2011) [31]
Mỹ là một nước sản xuất ngô lớn nhất thế giới, chiếm hơn 40% tổngsản lượng ngô thế giới Việc sử dụng các giống ngô lai ở Mỹ bắt đầu từ năm
1930 Hiện nay 100% diện tích ngô của Mỹ là trồng các giống ngô lai trong
đó hơn 90% là giống ngô lai đơn (Ngô Hữu Tình, 2009) [19] Nhiều thínghiệm ở Mỹ về các giống ngô lai đơn đã cho năng suất đạt 25 tấn/ha/vụ.Người ta tính được mức độ tăng năng suất ngô ở Mỹ trong giai đoạn 1930 -
1986 là 103kg/ha/năm, trong đó sự đóng góp cho cải tiến di truyền là63kg/ha/năm Vào cuối thế kỷ 19, Mỹ đã có 770 giống ngô cải lương (DuvickD.N, 1990) [28] Trong thời gian gần đây, nếu như phần lớn các nước pháttriển năng suất ngô tăng không đáng kể thì năng suất ngô ở Mỹ lại có sự tăngđột biến
Trung Quốc là nước đứng thứ 2 trên thế giới về diện tích trồng ngô vớisản lượng năm 2010 là 177,54 triệu tấn tăng hơn 7% so với năm 2009 Do cótrình độ kỹ thuật và thâm canh cao nên Israel là nước đứng đầu về năng suấtvới 283,91 tạ/ha, năng suất ngô thấp nhất là Ấn Độ (19,58 tạ/ha) Trong sảnxuất hiện nay có sự rõ ràng về năng suất giữa các nước phát triển và các nướcđang phát triển Năng suất ngô trung bình của các nước phát triển là 7,8tấn/ha, các nước đang phát triển là 2,7 tấn/ha Hai nguyên nhân chính dẫn đến
sự chênh lệch này là:
Trang 13- Tỷ lệ sử dụng giống ngô lai khác nhau trong sản xuất Ở các nướcphát triển 90 - 100% diện tích ngô được trồng bằng các giống ngô lai cố ưuthế lai cao, trong khi đó các nước đang phát triển diện tích trồng ngô lai rấtthấp (37% diện tích) chủ yếu là trồng các giống thụ phấn tự do (63% diệntích) (CIMMYT, 1991 - 1992) [26].
- Khả năng đầu tư và trình độ thâm canh của người sản xuất
Theo dự báo của Viện nghiên cứu chương trình Lương thực thế giới(IPRI, 2003)[32], vào năm 2020 tổng nhu cầu ngô thế giới là 852 triệu tấn,trong đó 15% dùng làm lương thực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16%dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp Ở các nước phát triển chỉ dùng 5%ngô làm lương thực nhưng ở các nước đang phát triển tỷ lệ này là 22%, dựbáo nhu cầu ngô trên thế giới năm 2020 được trình bày ở bảng 2.3
Bảng 2.3 Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020
(triệu tấn)
Năm 2020 (triệu tấn) % thay đổi
(Nguồn: Số liệu thống kê của IPRI, năm 2003) [32]
Dự báo đến năm 2020, nhu cầu ngô thế giới tăng 45% so với nhu cầunăm 1997, chủ yếu tăng cao ở các nước đang phát triển (72%), trong đó cácnước khu vực Đông Á được dự báo có nhu cầu tăng mạnh nhất vào năm 2020(85%) Sở dĩ nhu cầu ngô tăng mạnh ở các nước này là do dân số tăng, thunhập bình quân đầu người tăng, dẫn đến nhu cầu về lương thực, thực phẩmtăng mạnh, từ đó đòi hỏi khối lượng ngô rất lớn để phát triển chăn nuôi
Như vậy trong những năm qua và thời kì sắp tới, diện tích và thị trườngngô trên thế giới sẽ biến động không lớn, chỉ có năng suất ngô là tăng đáng
kể Đó cũng là giải pháp tốt nhất cho các nước, đặc biệt là các nước đang pháttriển muốn giải quyết vấn đề cung - cầu lương thực hiện nay Vì thế nhiệm vụ
Trang 14của các nhà khoa học là phải chọn tạo ra những giống ngô mới cho năng suấtcao, phẩm chất tốt đáp ứng nhu cầu của thị trường… Bên cạnh đó cũng phảixây dựng biện pháp bón phân hợp lý đặc biệt là phân đạm.
2.2.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam
Ngô là cây trồng nhập nội được đưa vào Việt Nam khoảng 300 năm và
đã nhanh chóng trở thành một trong những cây trồng quan trọng trong hệthống cây lương thực quốc gia (Ngô Hữu Tình và CS, 1995) [17] Cây ngô đãkhẳng định vị trí trong sản xuất nông nghiệp và trở thành cây lương thực quantrọng đứng thứ hai sau cây lúa đồng thời là cây màu số một, góp phần đáng kểtrong việc giải quyết lương thực tại chỗ cho người dân Trong hơn mười nămtrở lại đây, những thành công trong công tác nghiên cứu và sử dụng các giốngngô lai được coi là cuộc cách mạng thực sự trong ngành sản xuất ngô ở ViệtNam Thành công này đã thay đổi một cách sâu sắc diện mạo nghề trồng ngôvốn tồn tại nhiều yếu kém trong nhiều năm ở nước ta Năng suất ngô ở ViệtNam trong những năm 1960 chỉ đạt trên 1 tấn/ha, với diện tích trồng ngô làhơn 200 nghìn ha Đến đầu những năm 1980, năng suất chỉ đạt có 1,1 tấn/ha,sản lượng chỉ có hơn 400 nghìn tấn do nông dân vẫn trồng các giống ngô địaphương với tốc độ canh tác lạc hậu Từ giữa những năm 1980, nhờ hợp tácvới trung tâm cải tạo ngô và lúa mỳ quốc tế (CIMMYT), nhiều giống ngô cảitiến đã được đưa vào sản xuất góp phần nâng cao năng suất lên gần 1,5tấn/ha vào đầu những năm 1990 Tuy nhiên, ngành sản xuất ngô ở nước tathực sự có bước tiến nhảy vọt trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến nay do
mở rộng diện tích trồng ngô lai đồng thời cải thiện các biện pháp kỹ thuậtcanh tác, đáp ứng yêu cầu của giống mới
Bảng 2.4 Sản xuất ngô Việt Nam giai đoạn 1961 - 2010
(nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Trang 15(Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ NN&PTNT 2011) [20]
Số liệu bảng 2.4 cho thấy, sản xuất ngô ở nước ta phát triển mạnh cả vềdiện tích, năng suất và sản lượng Năm 1990 cả nước trồng được 389,6 nghìn
ha, tăng 202,8 nghìn ha so với năm 1961, và 42,4 nghìn ha so với năm 1980.Mười năm sau diện tích trồng ngô đạt 432,0 nghìn ha, tăng 42,4 nghìn ha sovới năm 1990 Năm 2010 diện tích trồng ngô của nước ta là 1126,9 nghìn ha,tăng 396,7 nghìn ha so với năm 2000 Trung bình 1 năm tăng 39,67 nghìn ha
Năng suất ngô cũng tăng nhanh liên tục với tốc độ cao hơn trung bìnhthế giới trong suốt 20 năm qua Năm 1980, năng suất ngô nước ta chỉ bằng34% so với trung bình thế giới, năm 2000 bằng 59,8%, năm 2005 bằng 74,4%
và năm 2010 đạt 78,39% Năm 1990, sản lượng ngô vượt ngưỡng 1 triệu tấn,năm 2000 vượt ngưỡng 2 triệu tấn, và đến năm 2010 Việt Nam đạt năng suất,diện tích, sản lượng ngô cao nhất từ trước cho tới nay (diện tích đạt 1126,9nghìn ha, năng suất đạt 40,9 tạ/ha và sản lượng 4608,8 nghìn tấn)
Có được thành tựu trên nhờ ứng dụng kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất, đặcbiệt là việc sử dụng giống ngô lai Có thể nói tốc độ phát triển ngô lai ở ViệtNam rất nhanh so với lịch sử phát triển ngô lai trên thế giới Đây là bước tiếnvượt bậc so với một số nước trong vùng, kết quả này đã được CIMMYT vànhiều nước đánh giá cao Hiện nay nhiều tỉnh có diện tích trồng ngô lai đạtgần 100% như Đồng Nai, An Giang, Trà Vinh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Sơn La,
Hà Tây (Hà Nội mở rộng ngày nay), Vĩnh Phúc…
Sự phát triển ngô lai ở Việt Nam đã được Trung tâm cải tạo giống ngô
và lúa mỹ quốc tế (CIMMYT) và tổ chức Nông lương (FAO) của Liên HợpQuốc cũng như các nước trong khu vực đánh giá cao Việt Nam đã đuổi kịpcác nước trong khu vực về trình độ nghiên cứu tạo giống ngô lai và đang ởgiai đoạn đầu đi vào công nghệ cao (công nghệ gen, nuôi cấy bao phấn vànoãn) (Ngô Hữu Tình, 2003) [18]
Một thực trạng đặt ra hiện nay mặc dù diện tích, năng suất và sản lượngngô của nước ta đều tăng nhanh nhưng so với bình quân chung của thế giớinăng suất ngô của nước ta còn rất thấp, mặt khác nhu cầu sử dụng ngô củaViệt Nam ngày càng lớn Vấn đề này đặt ra nhiệm vụ rất quan trọng và cấp
Trang 16thiết cho các cơ quan nghiên cứu chọn tạo giống là tạo ra các giống ngô cónăng suất cao, chống chịu tốt cùng các biện pháp kỹ thuật phù hợp.
* Khó khăn trong sản xuất ngô của Việt Nam
- Năng suất ngô của nước ta còn thấp so với năng suất ngô trung bình thếgiới (năm 2010 năng suất ngô của Việt Nam đạt 40,9 tạ/ha, bằng 78,39% năngsuất thế giới), năng suất thực tế thấp hơn nhiều so với tiềm năng, giá thành sảnxuất ngô còn cao, cạnh tranh gay gắt giữa ngô và các cây trồng khác
- Khí hậu toàn cầu đang biến đổi phức tạp, đặc biệt là hạn hán, lũ lụtngày càng nặng nề hơn, nhiều sâu bệnh hại mới xuất hiện, sản xuất ngô ởnhiều nơi đang gây nên tình trạng xói mòn, rửa trôi đất
- Các giống ngô thực sự chịu hạn và các điều kiện bất thuận khác nhưđất xấu, chua phèn, kháng sâu bệnh, có thời gian sinh trưởng ngắn đồng thờicho năng suất cao và ổn định… nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả canhtác cho người sản xuất vẫn chưa nhiều
- Các biện pháp kỹ thuật canh tác mặc dù đã được cải thiện nhiều songvẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi của giống mới Trong đó một số vấn đề đángchú ý như khoảng cách, mật độ, phân bón, thời vụ, phòng trừ sâu bệnh và cỏdại, bảo quản sau thu hoạch chưa được quan tâm đúng mức như với công tácchọn tạo giống
* Định hướng phát triển ngô ở Việt Nam
- Nhanh chóng tạo ra được những giống ngô lai có năng suất cao, chấtlượng tốt và quan trọng là phù hợp với điều kiện sinh thái Đây là vấn đề khóđòi hỏi đầu tư nhiều công sức, tiền của, thời gian và muốn thành công phải cóđược những yếu tố công nghệ cao, hệ thống sản xuất hạt giống chất lượng tốtnhư làm khô, chế biến, đóng gói công nghiệp để đảm bảo chất lượng ngangtầm hạt giống của các công ty nước ngoài Ngoài ra phải có chiến lược đểgiành lại thị trường dựa vào tiêu chí chất lượng cao, giá thành hạ
- Định hướng tăng diện tích: Tăng diện tích vụ Xuân trên đất bỏ hóa ởcác tỉnh miền núi phía Bắc Tăng diện tích vụ 2 (Thu - Đông) ở các tỉnh TâyBắc, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ Tăng diện tích vụ Đông ở các tỉnh ĐồngBằng Sông Hồng và Bắc Trung Bộ Chuyển một số diện tích cây trồng kháckém hiệu quả sang trồng ngô (lúa ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, cà phê ở Tây Nguyên)
Trang 17- Định hướng tăng năng suất: Mở rộng diện tích trồng ngô lai, tăng tỷ
lệ giống ngô lai trong sản xuất lên 85 - 90% Tạo ra những giống lai mới ưuviệt hơn (ngắn ngày, có khả năng chống chịu tốt, năng suất cao, chất lượngtốt) Đầu tư cho một số khâu trong biện pháp kỹ thuật trồng trọt như phânbón, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh… để tăng năng suất ngô
- Kết hợp các phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học trongtạo dòng, đánh giá dòng và xác định cặp lai (tạo dòng bằng nuôi cấy baophấn, noãn chưa thụ tinh, chọn dòng bằng maker phân tử…) bước đầu nghiêncứu công tác chuyển gen trong tạo giống
- Nghiên cứu chọn tạo các giống ngô thụ phấn tự do cho những vùngkhó khăn, chú ý phát triển các giống có đặc điểm tốt tại địa phương (ngô đáđịa phương, nếp lù,…) để làm lương thực và tiêu thụ tươi
- Nghiên cứu tạo vật liệu khởi đầu theo định hướng tạo giống: Tạo quầnthể theo nhóm ưu thế lai, tạo dòng thế hệ mới,…
- Cập nhật thông tin, trao đổi vật liệu, tài liệu và kinh nghiệm thông quahợp tác quốc tế
- Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ khoa học tiên tiến, ứng dụngnhanh và hiệu quả những tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệsinh học và công nghệ thông tin trong nghiên cứu, đánh giá sản phẩm mộtcách nhanh chóng, chính xác Tăng cường trang thiết bị phục vụ trong côngtác nghiên cứu
2.2.3 Tình hình sản xuất ngô ở tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi Trung du Bắc Bộ, có diện tích tựnhiên 3.562.82 km2, dân số hiện nay khoảng 1.046.000 người, chiếm 1,13%diện tích và 1,41% dân số so với cả nước Với địa hình đồi núi phức tạp, diệntích canh tác nhỏ hẹp, đất bạc màu, điều kiện tưới tiêu còn nhiều khó khăn,diện tích trồng ngô chủ yếu trên đất hai lúa ở vụ Đông và trên đất đồi dốc ở
vụ Xuân Hè
Từ 1995 trở về trước, sản xuất ngô ở Thái Nguyên chủ yếu dùng cácgiống cũ, giống địa phương có thời gian sinh trưởng dài, năng suất thấp Saumột thời gian với sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địaphương có sự tham gia tích cực của đội ngũ các nhà khoa học, diện tích trồngngô lai ngày càng tăng thay thế dần các giống ngô địa phương Đến nay, diện
Trang 18tích trồng ngô lai tăng mạnh, chiếm trên 90% diện tích mang lại năng suất,sản lượng vượt trội trong sản xuất.
Bảng 2.5 Diện tích, năng suất và sản lượng ngô của tỉnh Thái Nguyên
giai đoạn 2001 - 2010
(nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Về năng suất cũng tăng từ 30,6 tạ/ha năm 2001 đến 42,0 tạ/ha năm
2007 (tăng trung bình 2 tạ/ha/năm) Tuy nhiên năm 2008, 2009 năng suất ngô
bị giảm đáng kể, năm 2009 chỉ đạt 38,6 tạ/ha, giảm 3,4 tạ/ha so với năm
2007 Nhưng chỉ một năm sau năng suất ngô lại tăng lên tương đương năm2007
Do diện tích và năng suất đều tăng nên sản lượng ngô đạt cao nhất vàonăm 2008 là 84,6 nghìn tấn tăng 54,9 nghìn tấn so với năm 2001 Tuy nhiênđến năm 2009 sản lượng chỉ còn 67,2 nghìn tấn, năm 2010 là 75,4 nghìn tấn,giảm tương ứng là 17,4 nghìn tấn và 9,2 nghìn tấn so với năm 2008
2.3 Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới và ở Việt Nam
2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới
2.3.1.1 Tình hình nghiên cứu ngô lai trên thế giới
Trang 19Có thể nói ngô lai đã thành công rực rỡ ở Mỹ Các nhà di truyền, cảilương giống ngô Mỹ đã sớm thành công trong việc chọn và lai tạo giống câytrồng này Vào cuối thế kỷ 19, Mỹ đã có 770 giống ngô chọn lọc cải lương.Theo E.Rinke (1979) việc sử dụng giống ngô lai ở Mỹ bắt đầu từ năm 1930,giống lai ba và lai kép được sử dụng đến năm 1957, sau đó giống lai đơn cảitiến và lai đơn đã được tạo ra và sử dụng, chiếm 80 - 85% tổng số giống lai(Trần Hồng Uy, 1985) [22] Hiện nay, Mỹ là nước có diện tích trồng ngô lớnnhất thế giới và 100% diện tích được trồng bằng ngô lai, trong đó hơn 90% làgiống lai đơn.
Việc nghiên cứu tạo giống ngô lai ở Châu Âu bắt đầu muộn hơn ở Mỹ
20 năm và đã đạt được thành công rực rỡ Tỷ lệ sử dụng giống ngô lai ở Châu
Âu rất lớn và nó đã góp phần tạo nên năng suất cao ở nhiều nước (S.K.Vasal
và Me leans,… 1990) [39] Công tác tạo dòng thuần và giống lai ở Bungariđược bắt đầu từ năm 1951 Năm 1956 - 1958 những giống lai kép đầu tiên làVIR-42, Wiscosin - 641 và Ohio-92 đã được thử nghiệm và khu vực hóa.Giống lai đơn đầu tiên được đưa vào sản xuất năm 1956 là SK-4, và sau đómột số lượng lớn giống lai giữa các dòng thuần được tạo ra và đưa thửnghiệm Việc nghiên cứu tạo giống ngô lai ở một số nước đang phát triển bắtđầu từ những năm đầu thập kỷ 60 như Achentina, Braxin, Colombia, Chile,Mehico, Ấn Độ, Pakistan, Hylap, Zimbabwe, Kenya, Tanzania và một vàinước ở Trung Mỹ Trong thời kỳ 1966 - 1990 có xấp xỉ 852 giống ngô đượctạo ra, trong đó 59% là giống thụ phấn tự do, 27% là giống lai quy ước, 10%
là giống ngô lai không quy ước và 4% là các giống khác
Trung Quốc là một cường quốc ngô lai Châu Á, với diện tích 25 triệu
ha, năng suất 4,9 tấn/ha, sản lượng ngô hàng năm trên 120 triệu tấn, đứngthứ hai trên thế giới sau Mỹ Giống ngô lai được đưa vào Trung Quốc từnhững năm 60, giống lai đơn đưa vào từ những năm cuối của thập kỷ này(S.K Vasala, Me leans,… 1999) [44] Năm 1992, có 27 giống ngô lai đượcgieo trồng trên diện tích 100.000 ha (CIMMYT, 1992) [26]
2.3.1.2 Tình hình nghiên cứu phân bón cho ngô trên thế giới
Cây ngô là một cây ngũ cốc quang hợp theo chu trình C4, là cây ưanhiệt, có hệ thống rễ chùm phát triển (FAO, 1995) [29] Cây ngô là cây cótiềm năng năng suất lớn Theo De Geus, (1973) [27], năng suất trung bình
Trang 20của các giống ngô lai là 6,838 kg/ha cần bón: 95N - 67P2O5 - 20K2O kg/ha.Mức bón phân được khuyến cáo cho ngô ở Đài Loan là 175 kg N + 95 kgP2O5 + 70 kg K2O/ha (Shan, 1994) [37].
Sinclair và Muchow (1995) [38] cho rằng hàng thập kỷ gần đây năngsuất ngô tăng lên có liên quan chặt chẽ với mức cung cấp N cho ngô Đạmđược cây hút với một lượng lớn và đạm có ảnh hưởng khác nhau rõ rệt đến sựcân bằng cation và anion ở trong cây Khi cây hút N - NH4+ sự hút các cationkhác chẳng hạn như K+, Ca2+, Mg2+ sẽ giảm trong khi sự hút anion đặc biệt làPhospho sẽ thuận lợi Xảy ra chiều hướng ngược lại, khi cây hút N nitrat Tùythuộc vào tuổi của cây, với cây ngô non sự hút amonium-N nhanh hơn sự hútđạm nitrat, trái lại các cây ngô già hút chủ yếu là đạm nitrat và có thể chiếmtới hơn 90% tổng số lượng đạm cây hút
Trong các nguyên tố dinh dưỡng, đạm có vai trò hết sức quan trọngtrong việc nâng cao năng suất ngô Đạm cũng là thành phần cấu trúc của vách
tế bào Đạm là yếu tố cần thiết cho sự sinh trưởng của cây và là thành phầncủa tất cả các protein Khi thiếu N chồi lá mầm sẽ không phát triển đầy đủ, sựphân chia tế bào ở đỉnh sinh trưởng bị kìm hãm và kết quả là giảm diện tích
lá, kích thước của cây và năng suất giảm Phân đạm có thể tạo ra sự tăng diệntích lá hiệu quả ngay từ đầu và duy trì lá xanh vào cuối vụ để quá trình đồnghóa quang hợp đạt cực đại (Patrick, 2001) [36]; Mức đạm thấp làm giảm sốhạt và năng suất hạt (Barbieri và CS, 2000) [25]
Năng suất ngô cao chỉ có thể đạt được khi thời gian diện tích lá xanhkéo dài và tỷ lệ đồng hóa đạm cao sau thời kỳ ra hoa (Mitsuru, 1995)[35].Khả năng hấp thu đạm tùy thuộc vào giai đoạn sinh trưởng phát triển Một sốbáo cáo về khả năng hút N chỉ ra rằng, tốc độ đồng hóa cực đại xảy ra gầngiai đoạn phun râu và kết thúc vào cuối giai đoạn tung phấn, thiếu đạm làmchậm sinh trưởng của hai giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởngsinh thực, giảm tốc độ ra lá, hạn chế mạnh đến sự phát triển diện tích lá.Thiếu đạm hạn chế đến hiệu quả sử dụng bức xạ, nhất là thời kỳ ra hoa, ảnhhưởng đến năng suất bắp tổng số Cũng theo hai tác giả trên việc cung cấp vàtích lũy đạm ở thời kỳ ra hoa có tính quyết định số lượng hạt ngô, thiếu Ntrong thời kỳ này làm giảm khả năng đồng hóa C của cây, nhất là giai đoạn ra
Trang 21hoa sẽ giảm năng suất hạt Dự trữ đạm ở cây ngô có ảnh hưởng rất lớn đối với
sự sinh trưởng và phát triển lá, sự tích lũy khối và sự tăng trưởng của hạt, ảnhhưởng của N là quan trọng khi đánh giá phản ứng của cây trồng đối với phân
N Rhoads (1984) làm thí nghiệm tưới nước theo rãnh cho thấy: Năng suấtngô 1.200 kg/ha khi không bón đạm và khi bón 224 kg/ha N trên đất chưa baogiờ trồng ngô đạt 6.300 kg/ha và năm trước đó không bón đạm
Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng vai trò của đạm và S đến sự sinhtrưởng, năng suất và chất lượng của giống ngô lai (Cargill 707), tác giả Hussain
và CS, 1999) [33], cho rằng sự cung cấp phân bón ở các mức 150N + 30S và150N + 20S (kg/ha) Theo De Geus, (1973) [27], khi bón cho ngô với liềulượng: 40kg N/ha năng suất thu được 12,11 tạ/ha; 80kg tạ/ha; 160 kg N/hanăng suất thu được 41,47 tạ/ha; 200kg N/ha năng suất thu được 52,18 tạ/ha
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngô tại Việt Nam
2.3.2.1 Tình hình nghiên cứu về giống ngô lai ở Việt Nam
Việt Nam đã chuẩn bị cho chương trình tạo giống ngô lai nhữngnghiên cứu về chọn tạo và sử dụng ngô lai từ lâu Song do vật liệu khởi đầucủa chúng ta còn nghèo và không phù hợp, vì vậy ngô lai đã không phát huyđược vai trò của nó Phải đến những năm đầu của thập kỷ 90 công tác chọntạo giống ngô lai được các nhà khoa học coi là nhiệm vụ chiến lược chủ yếu.Trong những năm 1992 - 1994, Viện nghiên cứu ngô đã lai tạo ra các giốngngô lai không quy ước là: LS-5, LS-6, LS-7, LS-8 Bộ giống ngô lai này gồmnhững giống chín sớm, chín trung bình và chín muộn, có năng suất từ 3-7 tấn/
ha và đã được mở rộng trên phạm vi toàn quốc, mỗi năm diện tích gieo trồngtrên 80.000 ha (Trần Hồng Uy, 1997) [23]
Trong giai đoạn từ 1996 đến 2002 các nhà chọn tạo giống ngô ViệtNam đã chú trọng đến việc tạo dòng thuần để tạo giống ngô lai Kết quả lànhiều giống ngô lai năng suất cao được khảo nghiệm ở các vùng sinh tháikhác nhau như: LVN4, LVN10, LVN17, LVN20, LVN25,… Viện khoa học
Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam trong giai đoạn này cũng đã nghiên cứu vàlai tạo ra giống ngô lai đơn V98 - 1 Đây là giống ngô lai đơn ngắn ngày cótiềm năng năng suất cao chống chịu đổ ngã, nhiễm khô vằn nhẹ (ở mức độ
Trang 22điểm 1 - 2), trồng được nhiều vụ trong năm, thích hợp với điều kiện sinh thái
ở Miền Nam Việt Nam (Phạm Thị Rịnh và CS, 2002) [14]
Bên cạnh việc tạo ra các giống ngô lai có năng suất chất lượng cao thìcông tác lai tạo các giống ngô thích hợp với nhiều vùng sinh thái khác nhauvới nhiều đặc tính nông học quý được các nhà nghiên cứu rất quan tâm Tronggiai đoạn 1995 - 2002 nhóm nghiên cứu ngô thuộc Trung tâm khảo nghiệmgiống cây trồng Trung ương đã lai tạo giống ngô lai đơn T9 và giống ngô lai
ba T7 triển vọng cho sản xuất tại các tỉnh Duyên Hải Nam Trung Bộ, trong đógiống T9 đã được Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận làgiống khu vực hóa tại Miền Trung tháng 9 - 2002 Năm 2000, Viện nghiêncứu Ngô tiếp tục đưa ra thử nghiệm giống ngô lai HQ2000 Có chất lượng cao,hàm lượng Protein cao hơn hẳn ngô thông thường, đặc biệt là hai loại axitamin thường thiếu ở ngô là Lyzin và Triptophan, nhờ vậy mà nâng cao đượcgiá trị dinh dưỡng của ngô
Thông qua dự án “Phát triển giống ngô chịu hạn nhằm cải thiện thunhập cho nông dân vùng Đông Nam Á”(AMNET), đã thu thập được một sốnguồn nguyên liệu mới từ CIMMYT và các nước trong khu vực, bước đầu tạo
ra một số tổ hợp lai có triển vọng Nhờ nguồn nguyên liệu tạo dòng kháphong phú và được thử nghiệm trong điều kiện sinh thái và mùa vụ nên cácgiống ngô lai mới tạo ra đã tỏ ra có nhiều ưu thế như: Chịu hạn, chống đổ, ítsâu bệnh, chất lượng và màu dạng hạt tốt hơn Điển hình là các giống dàingày, tỷ lệ 2 bắp/cây cao như: LVN98, LVN145; một số giống ngô chịu hạntốt, thích nghi với nhiều vùng sinh thái khác nhau như: VN8960, LCH9,LVN61, LVN14 Những giống lai này có tiềm năng năng suất từ 5 - 12tấn/ha, không thua kém các giống ngô lai của các công ty nước ngoài Đặcbiệt, giống lai LVN10 đã được trồng hàng trăm nghìn hecta mỗi năm trênkhắp cả nước Như vậy chương trình tạo giống ngô lai của Việt Nam đã từngbước từ giống lai không quy ước đến lai kép, lai ba, lai đơn cải tiến và lai đơn.Những thành tích đó đã đưa chương trình ngô lai của Việt Nam đứng tronghàng ngũ các nước tiên tiến ở Châu Á
Nhờ những nỗ lực không ngừng trong việc nghiên cứu và ứng dụngngô lai trong sản xuất, đến năm 2007 giống ngô lai chọn tạo của Việt Nam
Trang 23chiếm 32,5% diện tích, giống nước ngoài chiếm 52,3% Số giống ngô có mặttrong sản xuất là 114 giống trong đó 10 giống được ưa chuộng nhất làLVN10, CP888, B9698, CP999, CP919, G49, B9681, P11, LVN4, CP989 vớidiện tích chiếm gần 73% diện tích gien trồng, riêng giống LVN10 chiếm25% Khác với lúa lai, các giống ngô lai chủ yếu sản xuất trong nước, đơn vịchính tham gia sản xuất và cung ứng giống ngô lai là CP Group, Bioseed, ĐC,NSC, Syngenta, Monsanto và Viện nghiên cứu ngô với thị phần được thể hiện
ở biểu đồ 2.1
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu thị phần giống ngô lai ở Việt Nam
( Nguồn: Báo cáo hiện trạng ngành giống cây trồng Việt Nam,2007)[1]
2.3.2.2 Tình hình nghiên cứu về lượng đạm bón cho ngô tại Việt Nam
Trong phạm vi nghiên cứu thuộc chương trình phát triển lương thực, TạVăn Sơn (1995) [15] đã nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cây ngô ở vùng Đồngbằng sông Hồng, thu được kết quả như sau: để tạo ra 1 tấn hạt, ngô lấy đi từđất trung bình một lượng đạm, lân, kali là: N = 22,3 kg; P2O5 = 8,2 kg; K2O =12,2 kg Tỉ lệ nhu cầu dinh dưỡng NPK là: 0,35: 0,45
Tỉ lệ N:P:K thay đổi trong quá trình sinh trưởng phát triển như sau:
Bảng 2.6: Nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô trong giai đoạn sinh trưởng (%)
Trang 24N 51,7 47,4 52,2
(Nguồn: Tạ Văn Sơn, 1995)[15]
Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của nước ngoài và thể hiện rõ
là hút kali được hoàn thành sớm trước phun râu, còn các chất dinh dưỡngkhác như đạm và lân còn tiếp tục đến lúc ngô chín
Để ngô năng suất trung bình 60 tạ/ha ngô hạt, cây ngô lấy từ đất 155 kg
N, 60 kg P2O5, 115 kg K2O (tương đương 337 kg ure, 360 kg supe lân, 192 kgclorua kali) (Đường Hồng Dật, 2003) [5]
Tuy nhiên lượng phân bón cho ngô phụ thuộc vào điều kiện đất đai.Ngô Hữu Tình (1995) [17], trên đất phù sa sông Hồng tỷ lệ nhu cầu dinhdưỡng của N, P, K cho cây ngô đạt năng suất cao là 1 : 0,35 : 0,45 và liềulượng bón phân cho năng suất cao là: 180N - 60P2O5 - 120K2O; ở Duyên HảiMiền Trung: 120N - 90P2O5 - 60K2O; miền Đông Nam Bộ: 90N - 90P2O5 -30K2O; Đồng bằng sông Cửu Long: 150N - 50P2O5 - 60K2O Với ngô Đôngtrên đất phù sa sông Hồng liều lượng phân bón thích hợp là: 150 - 180 kg N;90kg P2O5; 50 - 60 K2O/ha (Phạm Kim Môn, 1991) [13]
Trên đất phù sa sông Hồng lượng phân bón phù hợp là: 120N - 90P2O5
- 60K2O cho năng suất 40 - 50 tạ/ha; 150 - 90P2O5 - 100K2O cho năng suất 50
- 55 tạ/ha; 180N - 90P2O5 - 100K2O cho năng suất 65 - 75 tạ/ha (Trần HữuMiện, 1987) [11]
Trên đất bạc màu vùng Đông Anh - Hà Nội, giống ngô LVN10 có phảnứng rất rõ với phân bón ở công thức bón 120N - 120P2O5 - 120K2O/ha và chonăng suất hạt gấp 2 lần so với công thức đối chứng không bón phân Cũng theotác giả thì trên đất bạc màu, hiệu suất của 1 kg NPK là 8,7 kg; 1 kg N là 11,3 kg;
1 kg P2O5 là 4,9 kg; 1 kg K2O là 8,5 kg (Nguyễn Thế Hùng, 1996) [7]
Tác giả Vũ Cao Thái cũng cho rằng liều lượng và tỷ lệ phân bón chongô khác nhau trên các loại đất khác nhau Theo ông, trên đất phù sa nên bón
120 kg N - 60 kg P2O5 - 90 kg K2O /ha, tỷ lệ N:P:K là 1:0,5:0,75 Trên đất
Trang 25xám bạc màu bón 100 kg N - 100 kg P2O5 - 150 kg K2O/ha với tỷ lệ là 1:1:1,5(dẫn theo Ngô Hữu Tình, 2003) [18].
Nghiên cứu Nguyễn Văn Bộ (2007) [4] khẳng định rằng lượng phânbón khuyến cáo cho ngô không những phụ thuộc vào đất mà còn giống ngô vàthời vụ Giống có thời gian sinh trưởng dài hơn, có năng suất cao hơn cầnphải bón lượng phân cao hơn Đất chua phải bón nhiều lân hơn, đất nhẹ và vụgieo trồng có nhiệt độ thấp cần bón nhiều kali hơn Liều lượng khuyến cáochung cho ngô là:
+ Đối với giống chín sớm:
- Trên đất phù sa: 8 - 10 tấn phân chuồng; 120 - 150 kg N; 70 - 90 kgP2O5 ; 60 - 90 kgK2O /ha
- Trên đất bạc màu: 8 - 10 tấn phân chuồng; 120 - 150 kg N; 70 - 90
kg P2O5; 100 - 120 kg K2O /ha
+ Đối với giống chín trung bình và chín muộn:
- Trên đất phù sa: 8 - 10 tấn phân chuồng; 150 - 180 kg N; 70 - 90 kgP2O5; 80 - 100 kg K2O /ha
- Trên đất bạc màu: 8 - 10 tấn phân chuồng; 150 - 180 kg N; 70 - 90
kg P2O5; 120 - 150 kg K2O /ha
Tác giả Nguyễn Văn Bào (1996) [3] cho rằng lượng phân bón cho ngôcòn phụ thuộc vào điều kiện sinh thái Liều lượng phân bón thích hợp cho ngô
ở các tỉnh miền núi phía Bắc (Hà Giang) là 120 kg N - 60 kg P2O5 - 50 kgK2O/ha cho các giống thụ phấn tự do và 150 kg N - 60 kg P2O5 - 50 kgK2O/ha cho các giống lai Vùng Đông Nam bộ và Tây Nguyên lượng phânbón thích hợp là: 120 kg N - 90 kg P2O5 - 60 kg K2O cho vụ Hè Thu, còn vụThu Đông (vụ 2) có thể tăng lượng K2O lên 90 kg (dẫn theo Ngô Hữu Tình,2003) [18] Trên đất xám của vùng Đông Nam bộ, theo kết quả nghiên cứucủa Trần Thị Dạ Thảo và Nguyễn Thị Sâm (2002), liều lượng phân bón chongô có hiệu quả kinh tế cao nhất là 180 kg N - 80 kg P2O5 - 100 kg K2O /ha(giống LVN99) (dẫn theo Ngô Hữu Tình, 2003) [18]
Theo Lê Quý Tường và Trần Văn Minh, lượng phân bón thích hợp chongô lai trên đất phù sa cổ ở duyên hải Trung bộ trong vụ Đông Xuân là 10 tấn
Trang 26phân chuồng + 150-180 kg N + 90 kg P2O5 + 60 kg K2O /ha (tỷ lệ NPK là1,7:1:0,7 hoặc 2:1:0,7), tiêu tốn lượng đạm từ 22,6 - 28,8 kgN/1 tấn ngô hạt;
vụ Hè Thu bón 10 tấn phân chuồng + 150 kg N + 90 kg P2O5+ 60 kg K2O /ha(tỷ lệ NPK là 1,7:1:0,7), tiêu tốn lượng đạm từ 27,9 - 28,4 kgN/1 tấn ngô hạt(dẫn theo Trần Văn Minh, 2004) [12]
Bón phân vô cơ kết hợp phân hữu cơ cho ngô đã làm tăng năng suấtngô và giúp cải thiện độ phì trong đất, theo Bùi Đình Dinh (1988, 1994) đểđảm bảo cho cây trồng có năng suất cao, ổn định, bón phân hữu cơ chiếm25% tổng số dinh dưỡng, còn 75% phân hoá học (dẫn theo Trần Văn Minh,2004) [12]
Hiệu quả của phân bón chỉ có thể phát huy đầy đủ khi có chế độ phânbón hợp lý, bón cân đối giữa các nguyên tố Bón phân cho ngô để đạt hiệuquả kinh tế cao phải căn cứ vào đặc tính của loại giống ngô, yêu cầu sinh lýcủa cây ngô qua các thời kỳ sinh trưởng, tình trạng của cây trên đồng ruộng,tính chất đất, đặc điểm loại phân bón, kỹ thuật trồng trọt và điều kiện khí hậuthời tiết
Bón cân đối đạm - kali có hiệu lực cao hơn nhiều so với lúa Bội thu dobón cân đối (trung bình của nhiều liều lượng đạm) có thể đạt 33 tạ/ha trên đấtphù sa sông Hồng; 37,7 tạ/ha trên đất bạc màu; 11,7 tạ/ha trên đất xám và 3,9tạ/ha trên đất đỏ vàng Xét về hiệu quả kinh tế thì bón phân cân đối cho ngôtrên đất bạc màu, đất xám có lãi hơn nhiều so với đất phù sa và đất đỏ vàng(Nguyễn Văn Bộ, 2007) [4]
Theo tác giả Bùi Huy Hiền (2002) [8], từ năm 1985 đến nay tình hình
sử dụng phân đạm ở nước ta tăng trung bình là 7,2%/năm, phân lân là 13,9%/năm, phân kali là 23,9%/năm Tổng lượng N + P2O5 + K2O trong 15 năm quatăng trung bình 9,0%/năm Tỷ lệ N: P2O5: K2O trong 10 năm qua đã cân đốihơn với tỷ lệ tương ứng qua các năm 1990, 1995 và 2000 là 1: 0,12: 0,05; 1:0,46: 0,12 và 1: 0,44: 0,37 Lượng phân bón/ha cũng đã tăng lên qua các năm
1990, 1995, 2000 với tổng lượng N: P2O5: K2O tương ứng là 58,7; 117,7 và170,8 kg/ha, tỷ lệ này còn thấp so với các nước phát triển như Mỹ, Hàn Quốc,
Trang 27Pháp, Nhật với tổng lượng N: P2O5 : K2O khoảng 240 - 400 kg/ha Theo VũHữu Yêm (1995) [24], ảnh hưởng của bón đạm như sau: Không bón năng suấtđạt 40 tạ/ha; bón 40 kg N năng suất đạt 56,5 tạ/ha; bón 80 kg N năng suất đạt70,8 tạ/ha; bón 120 kg N năng suất đạt 76,2 tạ/ha; bón 160 kg N năng suất đạt79,9 tạ/ha.
Kết quả nghiên cứu bón đạm cho ngô của Đào Thế Tuấn cho thấy ởĐồng bằng sông Hồng với mức bón đạm 90 kgN/ha, hiệu suất bón đạm đốivới ngô địa phương là 13 kg ngô hạt/1 kg N và ngô lai là 18 kg ngô hạt/1kgN Bón đến mức 180 kg N/ha đã đạt 9 - 14 kg ngô hạt/1 kg N (dẫn theoTrần Văn Minh, 2004) [12]
Kết quả nghiên cứu của Lê Quý Kha (2001) [9] đã chỉ ra rằng mặc dùtrong điều kiện ít có khả năng đầu tư đạm và thiếu nước, ví dụ như nhờ nướctrời, tốt hơn hết vẫn phải chia nhỏ lượng đạm làm nhiều lần để bón thì hiệuquả sử dụng đạm của cây ngô mới cao
Trang 28Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Liều lượng đạm bón cho ngô
- Giống ngô lai LVN99 và LVN14
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Thí nghiệm được tiến hành tại khu cây trồng cạn Viện KhoaHọc Sự Sống - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Thời gian: Từ tháng 9 - 2011 đến tháng 2 - 2012
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón vào thời kỳ trước trỗ 10ngày đến tình hình sinh trưởng của một số giống ngô lai trong điều kiện vụĐông 2011
- Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ trước trỗ 10 ngàyđến tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của một số giống ngô lai, vụđông 2011
- Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón ở thời kỳ trước trỗ 10 ngàyđến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của một số giống ngô lai vụĐông 2011
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 293.4.1.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh(Randomized Complete Block Design) với 3 lần nhắc lại Mỗi ô có diện tích34,3m2 Diện tích toàn ô thí nghiệm sẽ là: 34,3m2 × 24 = 823,2 m2
(Ghi chú: A: Giống LVN99; B: Giống LVN14)
3.4.2 Quy trình kỹ thuật thí nghiệm
Áp dụng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và
sử dụng của giống ngô QCVN 01-56 : 2011/BNNPTNT
* Mật độ và khoảng cách: Gieo trồng 7 hàng/ô với khoảng cách 70 × 25 cm
Trang 30• Lần 2: khi ngô được 7-9 lá: 50kg N + 1/2 K2O+ N (rạch rãnh sâu 3-5
cm theo hàng ngô cách gốc 10-12 cm rồi bón và lấp kín phân kết hợp vớivun cao)
• Lần 3: trước trỗ 10 - 15 ngày: Bón đạm theo công thức thí nghiệm(rạch rãnh sâu 7- 10 cm theo hàng ngô cách gốc 13 -15 cm rồi bón và lấp kínphân kết hợp với vun cao)
* Chăm sóc:
- Vun xới và bón thúc
- Khi ngô từ 4 đến 5 lá: Xới vun, bón thúc lần 1 và vun nhẹ quanh gốc
- Khi ngô từ 8 đến 9 lá: Xới vun, bón thúc lần 2 và vun cao chống đổ
- Tưới nước: Nếu đất khô thì phải tưới nước cho ngô Đảm bảo đủ độ ẩmđất cho ngô trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển, đặc biệt chú ý vàocác thời kỳ ngô 6-7 lá, xoắn nõn, trổ cờ, chín sữa Sau khi tưới nước hoặc saumưa phải thoát hết nước đọng trong ruộng ngô
3.4.3 Chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi
- Ngày gieo: 18/9/2011
- Ngày mọc: Ngày có > 50% số cây có bao lá mầm lên khỏi mặt đất/ô
- Ngày trỗ cờ: Là ngày có > 50% số cây trên ô xuất hiện nhánh cuốicùng của bông cờ
- Ngày tung phấn: Là ngày có > 50% số cây trên ô có hoa đực nở được1/3 trục chính
- Ngày phun râu: Là ngày có > 50% số cây trên ô phun râu (bắp có dâudài 2 - 3cm ngoài lá bi)
- Ngày chín sinh lý: Là ngày có >75% cây trên ô có lá bi khô hoặc chânhạt có chấm đen
Trang 31- Tốc độ tăng trưởng của cây: Đo 10 cây trên ô, đo từ sát mặt đất đếnmút lá, lần 1 đo sau khi trồng 20 ngày, các lần đo cách nhau 10 ngày
Trong đó: h1: Chiều cao cây sau trồng 20 ngày
h2: Chiều cao cây sau trồng 30 ngày
t1: Thời gian sau trồng 20 ngàyt2: Thời gian sau trồng 30 ngày
3.4.4 Các chỉ tiêu về hình thái
- Chiều cao cây (cm): Chọn 10 cây ở hàng giữa (trừ các cây đầu hàng),
đo từ gốc sát mặt đất đến điểm phân nhánh cờ đầu tiên của bông vào giai đoạnchín sữa
- Chiều cao đóng bắp (cm): Trên 10 cây đã đo chiều cao cây, xác địnhchiều cao đóng bắp bằng cách đo từ gốc sát mặt đất đến đốt đóng bắp trêncùng (bắp thứ nhất)
- Số lá/cây: Đếm số lá trên cây theo phương pháp đánh dấu lá (đánhdấu lá thứ 3, 6, 9, 12…)
- Chỉ số diện tích lá (m2 lá/ m2 đất): Đo chiều dài, rộng của tất cả các lácủa 10 cây theo dõi ở giai đoạn trổ cờ
HSDT lá = ∑ chiều dài x ∑ chiều rộng x 0,75 x số cây/m2
- Trạng thái cây: Đánh giá ở giai đoạn cây còn xanh, bắp đã phát triểnđầy đủ Đánh giá theo thang điểm từ 1 - 5 (điểm 1 là rất tốt, điểm 5 là xấu)
Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp đo vào thời gian trước khi thu hoạch
Trang 32- Trạng thái bắp (điểm): để xác định được chỉ tiêu này thì căn cứ vào cácđặc tính như thiệt hại do sâu, bệnh, kích thước bắp, độ dày hạt và độ đồng đềucủa bắp theo thang điểm từ 1 - 5, điểm 1 là tốt nhất và điểm 5 là xấu nhất.
- Độ bao bắp: Trước khi thu hoạch 1 - 3 tuần, khi bắp đã phát triểnhoàn toàn vỏ bọc đã khô, đánh giá độ bao bắp theo thang điểm từ 1 - 5
+ Điểm 1: Tốt, lá bi che kín đầu bắp và cả bắp
+ Điểm 2:Tốt, lá bi che kín đầu bắp
+ Điểm 3: Hở đầu bắp, lá bi không bao chặt đầu bắp
+ Điểm 4: Hở hạt, lá bi không che kín đầu bắp
+ Điểm 5: Kém - Đầu bắp hở nhiều
- Trạng thái bắp: Đánh giá khi thu hoạch cho điểm 1 - 5 dựa vào dạngbắp, kích thước bắp, sâu bệnh
3.4.5 Các chỉ tiêu chống chịu sâu bệnh
- Khả năng chống đổ
+ Gãy thân: Ghi tất cả những cây bị gãy dưới đốt mang bắp và tính
Tỷ lệ gãy thân (%) = Số cây bị gãy x100
Tổng số cây điều tra+ Đổ rễ: Ghi tất cả các cây bị nghiêng góc ≥ 300 so với mặt đất
Tỷ lệ đổ rễ (%) = Số cây bị đổ x100
Tổng số cây điều tra
- Chỉ tiêu chống chịu sâu bệnh
+ Sâu đục thân: Ghi số cây bị sâu đục thân (đếm lỗ đục trên thân, chủyếu là lỗ đục dưới bắp) và tính ra % cây bị hại
+ Sâu cắn râu: Đếm số bắp bị sâu cắn râu và tính % bắp bị hại
+ Bệnh khô vằn: Đếm và tính tỷ lệ cây bị bệnh ở giai đoạn tạo hạt
3.4.6 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
- Đếm tổng số cây thu hoạch/ô
- Tổng số bắp thu hoạch/ô
- Khối lượng bắp của 2 hàng thu hoạch (kg/ô)
- Khối lượng 10 bắp mẫu (kg)
- Khối lượng hạt của 10 bắp mẫu (kg)
- Chiều dài bắp (cm): Đo từ đầu bắp đến múp bắp của 10 bắp mẫu
- Đường kính bắp (cm): Lấy ngẫu nhiên 10 bắp thứ nhất, đo ở giữa tất
cả các bắp
Trang 33- Số hàng/bắp: Một hàng được tính khi có > 50% số hạt so với hàng dài nhất.
- Số hạt/hàng: Đếm số hạt có chiều dài trung bình trên bắp của 30 bắp mẫu
- Đo độ ẩm khi thu hoạch bằng máy Kett - Nhật Bản
- Xác định khối lượng 1000 hạt tươi: Sau thu hoạch đếm 2 mẫu, mỗimẫu 500 hạt sau đó cân 2 mẫu được khối lượng M1, M2 Hiệu số của 2 lần cân(mẫu nặng - mẫu nhẹ) chênh lệch nhau ≤ 5% so với khối lượng trung bình 2mẫu là chấp nhận được, kết quả: P1000 = M1 + M2
- Khối lượng 1000 hạt khô:
- Năng suất thực thu
NSTT (tạ/ha) = Tỷ lệ hạt/bắp x Mô tươi x (100 - A0) x 100
Sô x (100 - 14)
Tỷ lệ hạt/bắp (%) = Mhạt 10 bắp
M10 bắp Trong đó
Ao: Là ẩm độ khi thu hoạch
100 - 14: Năng suất tính ở độ ẩm 14%
P1000: Là khối lượng 1000 hạt ở ẩm độ 14%
Mô tươi : Là khối lượng bắp của ô thí nghiệm
Sô (m2): Là diện tích ô thí nghiệm
Tỷ lệ hạt/bắp (%): Là khối lượng hạt 10 bắp mẫu/khối lượng 10 bắp mẫu
Pô: Khối lượng bắp tươi/ô (kg);
Trang 34Phần 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện thời tiết khí hậu vụ Đông năm 2011 tại Thái Nguyên
Điều kiện ngoại cảnh có liên quan chặt chẽ đến đời sống cây trồng nóichung và cây ngô nói riêng, do ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởngphát triển và các hoạt động sinh lý sinh hóa của cây Sự biểu hiện kiểu hình rabên ngoài chính là kết quả của sự tác động qua lại giữa kiểu gen và điều kiệnmôi trường Cây ngô là cây có nguồn gốc từ Trung Mỹ song đã thích nghinhanh với nhiều điều kiện sinh thái khác nhau, mặc dù vậy nó cũng rất nhạycảm với đó là khí hậu, đất đai và các chất dinh dưỡng khoáng Điều kiện thờitiết khí hậu là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng phát triển và năng suấtcây trồng Nhu cầu nhiệt độ của cây thay đổi tùy thuộc vào từng giai đoạnsinh trưởng phát triển Theo dõi diễn biến thời tiết khí hậu vụ ngô đông năm
2011 chúng tôi đã thu được kết quả ở bảng 4.1
Bảng 4.1 Diễn biến thời tiết khí hậu vụ ngô Đông 2011
tại Thái Nguyên
Nhiệt độ ( 0 C) 27,1 24,0 22,9 16,8 14,2 15,6
Ẩm độ TB (%) 83 81 79 68 84 84 Lượng mưa (mm) 284,7 103,8 4,3 5,2 48,8 18,6
(Nguồn: Trạm khí tượng thủy văn Thái Nguyên năm 2011 - 2012)[27]
4.1.1 Nhiệt độ
Ngô là cây ưa nóng, có yêu cầu tổng nhiệt độ cao hơn cây trồng khác
Để hoàn thành chu kì sống từ gieo đến chín, theo Velican (1956), cây ngô cầntổng nhiệt từ 1700 - 37000C tùy thuộc vào giống vùng sinh thái của ngô đượctrồng Ngoài ra ở các vĩ độ địa lý khác nhau thì nhu cầu về tổng tích nhiệt củacây ngô cũng khác nhau, ở mỗi giai đoạn sinh trưởng yêu cầu nhiệt độ củacây ngô thay đổi Nhiệt độ cần cho cây ngô nảy mầm được giới hạn trongkhoảng 9 - 460C, nhiệt độ tối thiểu 9 - 120C, tối thích là 30 - 350C, tối đa là 40
- 460C, nhiệt độ thấp kéo dài thời gian nảy mầm của hạt
Trang 35Ở thời kì cây con, nhiệt độ tăng cây ngô phát triển nhanh hơn, nhiệt độtối thích 250C - 300C, dưới 120C cây ngô không sinh trưởng được Trong cácgiai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây ngô thì giai đoạn trỗ cờ rất mẫn cảmvới nhiệt độ, ở điều kiện nhiệt độ cao, ẩm độ không khí thấp có thể làm chobông cờ bị khô và ngăn cản quá trình thụ phấn thụ tinh Hạt phấn sau khi rờikhỏi bao phấn sức sống bị giảm nhanh, nếu gặp nhiệt độ 450C hạt phấn và râungô có thể chết Nhiệt độ thích hợp ở thời kì trỗ cờ là 200C - 220C Tuy nhiên
ở thời kì sau trỗ ít bị ảnh hưởng điều kiện nhiệt độ Ở thời kì tích lũy vật chấtkhô nhiệt độ thích 220C - 240C
Số liệu ở bảng 4.1 cho thấy nhiệt độ trung bình ở các tháng 9, 10 là27,10C và 240C thích hợp cho sinh trưởng phát triển cây con Sang đến cuốitháng 11 và đầu tháng 12, 1 (là giai đoạn trỗ cờ, tung phấn, phun râu, hìnhthành hạt) nhiệt độ giảm dần từ 22,90C xuống 16,80C và 14,20C nên ảnhhưởng lớn đến quá trình thụ phấn thụ tinh và quá trình chín Đây cũng chính
là khó khăn khi trồng ngô vụ Đông vậy nên cần chú ý các biện pháp kĩ thuật nhưcung cấp đủ nước cho cây
4.1.2 Độ ẩm
Độ ẩm ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình thụ phấn thụ tinh Nếu độ ẩmquá cao kết hợp với nhiệt độ cao sẽ làm cho hạt phấn mất sức sống Độ ẩmthích hợp cho thời kì trỗ khoảng 80%
Qua bảng thời tiết diễn biến khí hậu ta thấy độ ẩm tương đối thuận lợicho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây ngô Tháng 12 có ẩm độ thấpnhất chỉ đạt 68% cùng với lượng mưa không cao nên chúng tôi phải tưới nước
bổ sung cho cây ngô sinh trưởng và phát triển
4.1.3 Lượng mưa
Ngô là cây trồng cạn, nhưng nhu cầu về nước rất lớn vì sinh khối củacây ngô rất lớn, bộ rễ phát triển mạnh Các nhà khoa học đã cho biết, một câyngô trưởng thành trong một ngày đêm hút và thoát 2 - 4 lít nước Trong quátrình sinh trưởng, phát triển ngô đã hút và thoát khoảng 1800 tấn nước/ha,tương đương lượng mưa 175mm
Lượng mưa cần cho ngô còn phụ thuộc vào sản lượng mà nó tạo ra.Nhu cầu nước thay đổi phụ thuộc từng giai đoạn sinh trưởng phát triển Giai
Trang 36đoạn từ khi cây ngô mọc cho đến khi ngô có 7 - 8 lá thì nhu cầu nước ít vì tíchlũy ít chất xanh nên không cần thiết nhiều nước, lượng nước cần ở giai đoạnnày tương đương lượng mưa 60 - 80mm Giai đoạn 7 - 8 lá đến sau trỗ 15 ngày
là giai đoạn phát triển mạnh nhất của thân lá nên nhu cầu nước rất lớn tươngđương với lượng mưa là 100 - 130 mm Giai đoạn sau trỗ 15 ngày đến chín,thân lá đã ổn định, vật chất khô được vận chuyển từ các bộ phận của cây về hạtnên cây hút ít nước chỉ cần lượng nước tương đương lượng mưa 20 - 60mm
Qua bảng 4.1 cho thấy những ngày đầu sau trồng thường xuyên có mưarào và dông, khả năng thoát nước của ruộng kém nên đã gây khó khăn choquá trình nảy mầm của hạt nên chúng tôi phải tiến hành trồng dặm khi câyđược 1 - 2 lá thật Vào tháng 11 và tháng 12 lượng mưa rất thấp chỉ có 4,3mm
và 5,2mm nên ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh trưởng phát triển của cây.Vào giai đoạn trỗ cờ, tung phấn, phun râu (3/11 - 21/11) lượng mưa chỉ có4,3mm mặc dù đã có các biện pháp cung cấp nước cho ruộng ngô nhưng quátrình thụ phấn thụ tinh vẫn bị ảnh hưởng làm ảnh hưởng đến năng suất ngô
4.2 Ảnh hưởng của lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến thời gian sinh trưởng của một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011
Sinh trưởng và phát triển là hai mặt của quá trình biến đổi phức tạptrong cơ thể sinh vật, có tác dụng thúc đẩy và không thể tách rời nhau Sinhtrưởng, phát triển có quan hệ mật thiết đan xen lẫn nhau và có ảnh hưởng trựctiếp tới năng suất Sinh trưởng là quá trình tạo mới các yếu tố cấu trúc mộtcách không thuận nghịch của tế bào, mô và toàn cây Kết quả là dẫn đến sựtăng về số lượng, kích thước, thể tích, sinh khối của chúng Phát triển là quátrình biến đổi về chất trong quá trình tạo mới các yếu tố cấu trúc làm cho nó
có thể trải qua chu kỳ sống của mình
Quá trình sinh trưởng phát triển của cây ngô chia làm 2 giai đoạn: Sinhtrưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực
- Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng - Vegetative (V): Là giai đoạn sinhtrưởng đầu tiên của cây ngô Khởi đầu giai đoạn này là thời kì nảy mầm vàmọc (Ve) và kết thúc là thời kỳ trỗ cờ (Vt)
- Giai đoạn sinh trưởng sinh thực - Reproductive (R): Được tính từ khiphun râu đến khi ngô chín sinh lý Giai đoạn này thường gắn liền với sự phát
Trang 37triển của hạt ngô và được chia làm 6 thời kỳ: R1, R2, R3, R4, R5, R6 - từ lúchình thành hạt đến khi chín sinh lý.
Thời gian sinh trưởng của cây ngô được tính bằng tổng số ngày từ khigieo hạt đến khi chín sinh lý, thời gian này dài hay ngắn khác nhau tùy thuộcvào đặc điểm của giống, điều kiện ngoại cảnh và kĩ thuật canh tác trong đó cóphân bón, đặc biệt là đạm Nghiên cứu thời gian sinh trưởng và phát triển có ýnghĩa rất quan trọng đối với sản xuất và công tác khoa học, giúp cho việc bốtrí thời vụ và luân canh cây trồng hợp lý, đồng thời còn có ý nghĩa trong lựachọn các giống và cách xác định liều lượng phân bón, đặc biệt là đạm sao chophù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng
Qua theo dõi quá trình sinh trưởng, phát triển của giống ngô LVN14 vàLVN99 trong thí nghiệm bón phân đạm chúng tôi thu được kết quả thể hiện ởbảng 4.2
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến thời gian
sinh trưởng của một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011
Chỉ tiêu
Công thức
Thời gian từ gieo đến… (ngày)
4.2.1 Giai đoạn từ gieo đến trỗ cờ
Đây là khoảng thời gian sinh trưởng khá dài của cây ngô và được chiathành nhiều giai đoạn nhỏ khác nhau, được đánh dấu bởi các giai đoạn V3, V5,V9, V12, V15,V18 (là các giai đoạn cây ngô có 3, 5, 9, 12, 15, 18 lá) Thời kì đầucây sinh trưởng rất chậm, hệ thống rễ mầm hoạt động chủ yếu trong thời gianmọc mầm sau đó yếu dần và thay vào đó là hệ thống rễ đốt Rễ đốt được hìnhthành nhanh chóng, đảm nhận chức năng chính là hút nước và dinh dưỡng
Trang 38Đến khi cây có 5 - 6 lá thì điểm sinh trưởng đã ở trên mặt đất, lúc này hệ rễđốt phát triển rất nhanh và yêu cầu một lượng dinh dưỡng nhất định Đây là
cơ sở cho việc bón thúc lần 1 (khi cây có 3 - 5 lá), kết hợp với xới xáo pháváng để cây sinh trưởng tốt hơn Sau thời kì 7 - 8 lá cây sinh trưởng nhanhdần, chồi bắp bông cờ đã hình thành trong bẹ lá Chiều cao cây và đường kínhthân tăng dần, các lá lần lượt xuất hiện và tăng nhanh về diện tích Kết thúc giaiđoạn này bông cờ xuất hiện và đây cũng là lúc cây ngô chuyển từ sinh trưởngsinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực Hầu hết các biện pháp kĩ thuật trồngtrọt đều được áp dụng trong giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng như: bón thúclần 1, 2 và lần 3 lúc ngô xoáy nõn, làm cỏ, phòng trừ sâu bệnh…
Ngày trỗ cờ được tính khi có >50% số cây/ô xuất hiện nhánh cuối cùngcủa bông cờ Qua bảng 4.2 cho thấy thời gian từ gieo đến trỗ cờ của công thứcbiến động không nhiều nhưng có xu hướng tăng theo lượng đạm bón GiốngLVN99 có thời gian từ gieo đến trỗ cờ biến động từ 66 - 69 ngày còn giốngLVN14 biến động từ 67 - 69 ngày Công thức 2 có thời gian từ gieo đến trỗ cờdài hơn đối chứng 1 ngày ở cả hai giống Công thức 3 có thời gian từ gieo đếntrỗ cờ dài hơn đối chứng 2 ngày (giống LVN99); 1 ngày (giống LVN14).Công thức 4 có thời gian từ gieo đến trỗ cờ dài nhất, dài hơn đối chứng 3ngày (giống LVN99); 2 ngày (giống LVN14)
4.2.2 Giai đoạn tung phấn, phun râu
Giai đoạn tung phấn, phun râu là giai đoạn diễn ra trong thời giankhông dài, chỉ khoảng 10 - 15 ngày Ngô sau khi trỗ cờ sẽ tung phấn, trênbông cờ hoa ở phần giữa trục chính bông cờ tung phấn trước sau đó theo thứ
tự từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong Thời gian tung phấn diễn ra vàokhoảng 7 - 9 giờ sáng và kéo dài trong 5 - 7 ngày Giai đoạn này yêu cầu rấtnghiêm ngặt về các điều kiện nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, ẩm độ… Nếunhiệt độ quá cao, ánh sáng mạnh, lượng mưa ít sẽ làm hạt phấn bị chết khô,không thụ phấn thụ tinh được, ngược lại nếu lượng mưa quá lớn thì quá trìnhthụ phấn thụ tinh cũng sẽ diễn ra không thuận lợi
Sau khi bông cờ tung phấn thì ngô bắt đầu phun râu, ngô chuyển sanggiai đoạn sinh thực, râu ngô nhận hạt phấn để tiến hành thụ tinh hình thành
Trang 39hạt Số noãn được thụ tinh xác định ở thời kì này, những noãn không được thụtinh sẽ không hình thành hạt và thoái hóa gây hiện tượng “ngô đuôi chuột”
Qua bảng 4.2 cho thấy ảnh hưởng của liều lượng đạm bón trước trỗ 10ngày đến thời gian từ gieo đến phun râu biến động từ 67- 70 ngày (giốngLVN99) và 68 - 70 ngày (giống LVN14) Công thức 2 có thời gian từ gieođến tung phấn dài hơn đối chứng 1 ngày ở cả hai giống Công thức 3 có thờigian từ gieo đến tung phấn dài hơn đối chứng 2 ngày (giống LVN99); 1 ngày(giống LVN14) Công thức 4 có thời gian từ gieo đến tung phấn dài nhất, dàihơn đối chứng 3 ngày (giống LVN99); 2 ngày (giống LVN14)
Khoảng cách từ tung phấn đến phun râu là yếu tố hết sức quan trọng,nếu khoảng cách càng ngắn thì thuận lợi cho quá trình thụ phấn thụ tinh,khoảng cách này càng dài thì quá trình thụ phấn thụ tinh càng kém Kết quảthí nghiệm cho thấy các công thức thí nghiệm đều có khoảng cách từ tungphấn đến phun râu là 1 - 2 ngày
4.2.3 Giai đoạn chín sinh lý
Đây là giai đoạn cuối cùng trong vòng đời của cây ngô Giai đoạn nàylượng nước trong hạt ngô giảm dần, thân lá chuyển sang màu vàng, lá bi khô,chân hạt xuất hiện vết chấm đen Vụ Đông năm 2011 nhiệt độ và lượng mưatháng 12 và tháng 1 đều giảm, đặc biệt tháng 1 lại có mưa phùn và mưa rảirác làm cho thời gian chín sinh lý của cả hai giống ngô đều bị kéo dài Số liệubảng 4.2 cho thấy, các công thức thí nghiệm có thời gian sinh trưởng từ 132đến 134 ngày (giống LVN99); từ 133 - 134 ngày (giống LVN14) Công thức
3 có thời gian sinh trưởng dài hơn công thức đối chứng 1 ngày (giốngLVN99); giống LVN14 không có sự thay đổi Công thức 4 có thời gian sinhtrưởng dài nhất là 134 ngày ở cả 2 giống, dài hơn đối chứng 2 ngày (giốngLVN99); 1 ngày (giống LVN14)
4.3 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến tốc độ tăng trưởng chiều cao của một số giống ngô lai, vụ Đông 2011
Để thấy rõ hơn về khả năng sinh trưởng của cây ngô qua từng giaiđoạn, chúng tôi tiến hành đo chiều cao cây khi cây có 4 - 5 lá (khoảng 20ngày sau trồng), sau đó 10 ngày tiến hành 1 lần cho tới khi cây đã đạt chiều
Trang 40cao gần tuyệt đối (lúc chuẩn bị trỗ cờ) Thông qua các lần đo chiều cao cây ở
20, 30, 40, 50, 60 ngày sau trồng sẽ xác định được tốc độ tăng trưởng của 2giống ngô lai trong thí nghiệm Kết quả theo dõi thể hiện trong bảng 4.3
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón trước trỗ 10 ngày đến tốc
độ tăng trưởng chiều cao của một số giống ngô lai, vụ Đông năm 2011
LVN9 9
LVN1 4
LVN9 9
LVN1 4
LVN9 9
LVN1 4
LVN9 9
LVN1 4