1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc cho giống sắn KM98 7 tại trường đại học nông lâm thái nguyên

94 737 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc cho giống sắn KM98 7 tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm - Thái Nguyên
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 290,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rất hay và bổ ích !

Trang 1

Trong xu thế hiện nay, sự tồn tại của cây sắn ở một số vùng sản xuất đãnói lên được tầm quan trọng của nó Trên thực tế sản xuất, sắn được trồng chủyếu trên đất dốc, đất nghèo dinh dưỡng, điều kiện sản xuất khó khăn mà tại đócác cây trồng khác phát triển kém, khi đó, cây sắn vẫn chiếm ưu thế Hiệnnay, diện tích đất trồng sắn ở nước ta ngày càng bị thu hẹp do đất bạc màu,sức ép tăng dân số…, người dân chỉ còn diện tích canh tác nhỏ Do đó, họmong muốn có một phương thức canh tác thích hợp cho điều kiện khí hậu củavùng Trong nhiều năm trở lại đây, Việt Nam đã đạt tiến bộ kỹ thuật nhanhnhất Châu Á về chọn tạo và nhân giống sắn Tiến bộ này là do nhiều yếu tố màyếu tố chính là thành tựu trong chọn tạo và nhân giống sắn lai Năng suất vàsản lượng của nhiều tỉnh đã tăng gấp đôi do trồng các giống sắn mới năng suấtcao và áp dụng kỹ thuật canh tác sắn thích hợp, bền vững Năm 2010, diện tíchcanh tác các giống sắn mới toàn quốc hiện đạt khoảng 496.000 ha, trong đó cógiống KM98-7, năng suất trung bình đạt 17,2 tấn/ha, sản lượng đạt 8521,7nghìn tấn (http://faostat.fao.org,2011) [33].

Giống KM98-7 không chỉ có tiềm năng năng suất cao mà còn có khảnăng thích ứng rộng với các điều kiện môi trường sinh thái: Có khả năng chịukhô hạn kéo dài 150 ngày, với bộ rễ ăn sâu tới 2,5m để hút nước, dinh dưỡng,

Trang 2

cây phát triển được ở chế độ mưa dao động từ 1000 - 3000mm, sắn có khảnăng chịu được đất nghèo dinh dưỡng, đất chua, đất có hàm lượng mangancao, không đòi hỏi kỹ thuật phức tạp, mức đầu tư thấp và ít bị sâu bệnh Nó cókhả năng hấp thu dinh dưỡng để hình thành nên năng suất ở những vùng đấtnghèo dinh dưỡng mà các cây trồng khác không thể cho năng suất GiốngKM98-7 có khả năng thích ứng rộng song việc lựa chọn lượng phân bón phùhợp nói chung và lượng đạm (N) bón thúc nói riêng cho năng suất cao ở cácvùng sinh thái khác nhau là thay đổi Cùng với kali, đạm luôn được coi lànguyên tố dinh dưỡng quan trọng bậc nhất để tăng sinh trưởng và năng suất sắn.Thực tế ở Việt Nam hiện nay, việc bón phân, nghiên cứu và khuyến cáo phânbón cho cây trồng nói chung và cho sắn nói riêng vẫn theo phương pháp tĩnh.Điều đó có nghĩa là khuyến cáo phân bón cho cây trồng theo một liều lượngchung cho một vùng hay địa phương nào đó, không căn cứ vào tình hình sinhtrưởng của cây trước khi bón phân Ở nhiều nước phát triển cho thấy, bón phânthúc cho cây theo một liều lượng chung dẫn tới thừa phân ở ruộng này nhưng lạithiếu phân ở ruộng khác Kết quả là năng suất cây trồng thấp, hiệu suất sử dụngphân bón không cao và đặc biệt là gây ô nhiễm môi trường.

Để khắc phục tình trạng trên, phương pháp tính toán lượng phân bónthúc dựa vào tình hình sinh trưởng và dinh dưỡng của cây trồng trước khi bón

đã được nghiên cứu và sử dụng ở một số nước phát triển như Mỹ, Canada,Nhật Bản Tuy nhiên, ở nước ta chưa được nghiên cứu nhiều

Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc cho giống sắn

KM98-7 tại trường Đại học Nông lâm - Thái Nguyên” để đưa ra được mức bón đạm

thích hợp nhất cho năng suất tinh bột cao làm nguyên liệu cho công nghiệp tinhbột sắn của tỉnh Thái Nguyên và một số tỉnh ở trung du và miền núi phía Bắc

1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

So sánh, đánh giá đặc điểm sinh trưởng, năng suất và chất lượng củacác công thức bón thúc đạm đối với giống sắn KM98-7 trong thí nghiệmnhằm chọn ra các công thức cho năng suất cao, phẩm chất tốt đáp ứng đượcnhu cầu sử dụng làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến đồng thời phù hợpvới điều kiện sinh thái ở Thái Nguyên cũng như các tỉnh trung du miền núiphía Bắc

2

Trang 3

1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- So sánh một số đặc điểm về sinh trưởng, phát triển của giống sắnKM98-7 với các mức bón thúc đạm khác nhau trong thí nghiệm

- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất và chất lượngcủa các công thức thí nghiệm

- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Giúp sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đãhọc, áp dụng vào thực tế tạo điều kiện cho sinh viên học hỏi thêm kiến thứccũng như kinh nghiệm trong sản xuất

- Trên cơ sở học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn đãgiúp cho sinh viên nâng cao được chuyên môn, nắm được phương pháp và

tổ chức tiến hành nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vàosản xuất

1.4.2 Ý nghĩa trong sản xuất

Góp phần tìm ra các công thức bón thúc đạm có năng suất cao, chấtlượng tốt đưa vào sản xuất đại trà nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất của tỉnhThái Nguyên cũng như các tỉnh trung du miền núi phía Bắc

Trang 4

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Nguồn gốc, phân loại, giá trị kinh tế cây sắn

2.1.1 Nguồn gốc

Cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Châu Mỹ La tinh (Crantz, 1776)

và được trồng cách đây khoảng 5000 năm (CIAT, 1993) Trung tâm phát sinhcủa cây sắn được giả thiết tại vùng Đông Bắc nước Brazil thuộc lưu vực sôngAmazon, nơi có nhiều chủng loại sắn trồng và sắn hoang dại (De Candolle,1886; Rogers, 1965) Trung tâm phân hóa phụ có thể tại Mexico và vùng venbiển phía Bắc của Nam Mỹ Bằng chứng về nguồn gốc sắn trồng là những ditích khảo cổ ở Venezuela niên đại 2700 năm trước Công Nguyên, di vật thểhiện củ sắn ở vùng ven biển Peru khoảng 2000 năm trước Công Nguyên,những lò nướng bánh sắn trong phức hệ Malabo ở phía Bắc Colombia niênđại khoảng 1200 năm trước Công Nguyên, những hạt tinh bột trong phân hóathạch được phát hiện tại Mexico có tuổi từ năm 900 đến năm 200 trước CôngNguyên và được tìm thấy trong những hang động của thung lũng Têhucan,bang Pueblo (Rogers, 1963, 1965) Ngoài ra, lịch sử bộ lạc Maya chỉ rõ sắnđối với họ quan trọng hơn là người ta vẫn tưởng (Trịnh Xuân Ngọ, Đinh ThếLộc,2004) [21]

Cây sắn được người Bồ Đào Nha đưa đến Congo của Châu Phi vào thế

kỷ XVI Tài liệu nói tới sắn ở vùng này là của Barre và Thevet viết năm 1558

Ở Châu Á, sắn được du nhập vào Ấn Độ khoảng thế kỷ XVII (P.G.Rajendran

et al, 1995) và Sri Lanka đầu thế kỷ XVIII (W.M.S.M Bandara và MSikurajapathy, 1992) Sau đó, sắn được trồng ở Trung Quốc, Myanma và cácnước Châu Á khác ở cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX (Fang Baiping, 1992;

U Thun Than, 1992) Cây sắn được du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế

kỷ XVIII (Phạm Văn Biên, Hoàng Kim, 1991) Hiện chưa có tài liệu chắcchắn về nơi trồng và năm trồng đầu tiên Sắn được canh tác phổ biến tại hầuhết các tỉnh của Việt Nam từ Bắc đến Nam Diện tích sắn trồng nhiều nhất ởvùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, vùng núi và trung du phía Bắc và ven biểnNam Trung Bộ, vùng ven biển Bắc Trung Bộ (Trịnh Xuân Ngọ, Đinh Thế Lộc, 2004) [21]

4

Trang 5

2.1.2 Phân loại

Theo một số tài liệu của CIAT và các nhà phân loại thực vật, đặc biệt làcông trình nghiên cứu rất đầy đủ của Rogers và Appan (1973) thì cây sắn cótên khoa học là Manihot Esculenta Crantz, thuộc chi (Manihot), thuộc họ thầudầu (Euphorbiaceae), lớp 2 lá mầm, bộ ba mảnh vỏ (Euphorbiales) Đặc điểmcủa họ thầu dầu thường là hay có mạch nhựa mủ Tất cả các loài trong chiManihot đều có số lượng nhiễm sắc thể 2n = 36 Rogers và Appan (1973) đãxây dựng một bảng phân loại cho 98 loài, phân thành 17 nhóm Sự nhận dạngcác loài và các nhóm dựa trên sự phân tích nhiều mặt của nhiều đặc điểm hìnhthái ở các bộ phận trên mặt đất Nhờ vào bảng phân loại trên, người ta đã lậpđược một bảng nhận dạng các loài trong chi (Trần Ngọc Ngoạn,2007)[24]

2.1.3 Giá trị kinh tế

Sắn là cây trồng có nhiều công dụng trong chế biến công nghiệp, thức

ăn gia súc và lương thực thực phẩm Củ sắn được dùng để chế biến tinh bột,sắn lát khô, bột sắn nghiền hoặc dùng để ăn tươi Từ sắn củ tươi hoặc từ cácsản phẩm sắn sơ chế tạo thành hàng loạt các sản phẩm công nghiệp như bộtngọt, rượu cồn, mì ăn liền, gluco, xiro, bánh kẹo, mạch nha, kỹ nghệ chất dính(hồ vải, dán gỗ), bún, miến, mì ống, mì sợi, bột khoai, bánh tráng, hạt trânchâu (tapioca), phụ gia thực phẩm, phụ gia dược phẩm, chất giữ ẩm cho đất

Củ sắn cũng là nguồn nguyên liệu chính để làm thức ăn gia súc Thân sắndùng để làm giống, nguyên liệu cho công nghiệp xenlulô, làm nấm, làm củiđun Lá sắn non dùng làm rau xanh giàu đạm Lá sắn dùng trực tiếp để nuôitằm, nuôi cá Bột lá sắn hoặc lá sắn ủ chua dùng để nuôi lợn, gà, trâu bò, dê,

… Hiện tại, sản phẩm sắn ngày càng thông dụng trong buôn bán, trao đổithương mại quốc tế (P.Silvestre, M.Arraudeau,1991) Việt Nam là nước đứngthứ ba trên thế giới về xuất khẩu tinh bột, sau Thái Lan và Singapore

Về mặt giá trị dinh dưỡng, theo số liệu công bố của FAO, hàm lượngdinh dưỡng trong củ sắn (tính trên 100gam phần ăn được) như sau:

Trang 6

Trong protein của sắn có tương đối đầy đủ các axitamin (nhất là 9axitamin không thay thế được cần thiết cho con người), đặc biệt hai axitaminquan trọng là Lizin và Triptophan có đủ để cung cấp cho nhu cầu của cả trẻ

em và người lớn

Theo Keliku (1970) thì thành phần các chất trong củ sắn bao gồm:

- Hydrat cacbon: Chiếm 88 - 91% trọng lượng khô của củ

Ngoài ra, lá sắn cũng có hàm lượng protein cao (20 - 25%), hàm lượngđáng kể các chất Canxi, Caroten, Vitamin B1, C (Tera 1984) Chất đạm của lásắn có khá đầy đủ các acid amin cần thiết, giàu lysin nhưng thiếu methionin.Trong lá sắn ngoài các chất dinh dưỡng, cũng chứa một lượng độc tố [HCN]đáng kể Các giống sắn ngọt có 80 - 110mg HCN/1kg lá tươi Các giống sắnđắng chứa 160 - 240mg HCN/ 1kg lá tươi Lá sắn ngọt là một loại rau rất bổdưỡng nhưng cần chú ý luộc kỹ để làm giảm hàm lượng HCN Lá sắn đắngkhông nên luộc ăn mà nên muối dưa hoặc phơi khô để làm bột lá sắn phối hợpvới các bột khác làm bánh thì hàm lượng HCN còn lại không đáng kể (TrịnhXuân Ngọ,Đinh Thế Lộc,2004) [21]

Sắn dễ trồng, hợp nhiều loại đất, vốn đầu tư thấp, hợp khả năng kinh tế vớinhiều hộ gia đình nông dân nghèo, thiếu lao động, tận dụng đất để lấy ngắn nuôidài Cây sắn cũng có khả năng cạnh tranh cao vì sử dụng hiệu quả tiền vốn, đấtđai, tận dụng tốt các loại đất nghèo dinh dưỡng Sắn đạt năng suất cao và lợi

6

Trang 7

nhuận khá nếu biết dùng giống tốt và trồng đúng quy trình canh tác sắn bềnvững Sắn được nông dân ưu trồng vì có khả năng sử dụng tốt các đất đã kiệtdinh dưỡng: Cho năng suất cao và ổn định, chi phí đầu tư thấp và sử dụng ítnhân công, thời gian thu hoạch kéo dài nên thuận lợi cho rải vụ.

2.2 Tình hình sản xuất sắn trên thế giới và Việt Nam

2.2.1 Tình hình sản xuất sắn trên thế giới

Sắn là cây trồng nhiệt đới, được trồng trên phạm vi rất rộng từ 300 Bđến 300N, ở 89 nước nhiệt đới thuộc Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Á - Thái BìnhDương Theo số liệu thống kê của FAO, tính đến năm 2010, diện tích sản xuấtsắn trên toàn thế giới là 18,46 triệu ha với năng suất bình quân đạt 12,44 tấn/ha

và tổng sản lượng đạt được là 229,54 triệu tấn (http://faostat.fao.org,2010) [33]

Diện tích, năng suất, sản lượng sắn trên thế giới có chiều hướng tăngtrong giai đoạn 2001 - 2010, thể hiện ở bảng 2.1

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng sắn trên

thế giới giai đoạn 2001 - 2010

(triệu ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Qua số liệu ở bảng 2.1 cho thấy:

Diện tích trồng sắn trên toàn thế giới ngày càng được mở rộng tronggiai đoạn năm 2001 - 2010 Năm 2010 tăng 8,07% (tương ứng 1,49 triệu ha),

Trang 8

năng suất tăng 12,3% (tương ứng 1.53 triệu tấn/ha), sản lượng tăng 19.3%(tương ứng 44,31 triệu tấn) so với năm 2001 Có được những kết quả đó là dochiến lược phát triển lương thực toàn cầu đã thực sự tôn vinh giá trị của cây sắn

là cây lương thực dễ trồng, thích hợp với đất nghèo dinh dưỡng và là cây lươngthực có khả năng cạnh tranh với nhiều cây công nghiệp khác; sự hội nhập mởrộng thị trường sắn, tạo nên những cơ hội chế biến tinh bột, tinh bột biến tính,sắn lắt, sắn viên để sử dụng trong công nghệ thực phẩm, thức ăn gia súc, rượucồn, nguyên liệu trong các ngành công nghiệp và dược liệu

Trong giai đoạn năm 2001 - 2002, diện tích trồng sắn tăng từ 16,97triệu ha lên 17,30 triệu ha nhưng năng suất giảm từ 10,91 tấn/ha xuống 10,80tấn/ha và sản lượng tăng thêm 1,72 triệu tấn Là nhờ áp dụng các biện phápthâm canh cao, sử dụng giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt

Trong giai đoạn năm 2003 - 2009, sản xuất sắn tăng cả diện tích, năng suất

và sản lượng Diện tích tăng 8% (tương ứng 1,55 triệu ha), năng suất tăng 12,9%(tương ứng 1,63 tấn/ha), sản lượng tăng 20% (tương ứng 48,14 triệu tấn)

Trong giai đoạn năm 2009 - 2010, sản xuất sắn giảm cả diện tích, năng suất

và sản lượng Diện tích giảm 3,09% (tương ứng 0,59 triệu ha), năng suất giảm1,58% (tương ứng 0,2 tấn/ha), sản lượng giảm 4,74% (tương ứng 11,44 triệu tấn)

Phổ thích nghi của sắn rộng nhưng giữa các châu lục có diện tích, năngsuất và sản lượng khác nhau

Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng sắn các

châu lục trên thế giới năm 2010

(triệu ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

(http://faostat.fao.org, 2011)[33]

Qua số liệu ở bảng 2.2 cho thấy:

Châu Phi là châu lục có diện tích, sản lượng lớn nhất nhưng lại là châulục có năng suất thấp nhất (năng suất đạt 10,22 tấn/ha) Ở nơi này, sắn là

8

Trang 9

nguồn lương thực chính Nó chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lương thực củangười dân, bình quân khoảng 9,6 kg/người/năm.

Châu Á có diện tích lớn thứ hai và có năng suất cao nhất trên thế giới.Năm 2009, tổng diện sắn là 3,89 triệu ha với năng suất 19,21/ha và sản lượngđạt 121,36 triệu tấn Diện tích sắn chưa cao do ở Châu Á có nhiều diện tíchđất nghèo dinh dưỡng, đất bị xói mòn rửa trôi Bên cạnh đó, nơi đây còn thiếucác nhà máy chế biến công nghiệp lớn, trình độ canh tác thấp, đầu tư chưacao, quy mô sản xuất hộ gia đình

Châu Mỹ là cái nôi phát sinh của cây sắn nhưng diện tích trồng sắnthấp (năm 2010, 2,68 triệu ha), năng suất bình quân 12,4 tấn/ha và sản lượngđạt 74,78 triệu tấn Năng suất thấp là do trình độ thâm canh chưa cao, côngnghệ chế biến tinh bột sắn chậm phát triển, chủ yếu tiêu thụ tươi và làm thức

ăn cho gia súc

Theo thống kê của FAO, buôn bán sắn trên thế giới năm 2006, thế giới

đã xuất khẩu 5,51 triệu tấn trong đó đứng đầu là Châu Á với 5,38 triệu tấn,đứng thứ hai là Châu Mỹ xuất khẩu 100,2 nghìn tấn và thứ 3 là Châu Âu 15,5nghìn tấn Thế giới đã nhập khẩu 5,59 triệu tấn chủ yếu là tinh bột, bột sắn,sắn lát, sắn viên Nước nhập khẩu nhiều sắn nhất thế giới là Trung Quốc dùnglàm cồn sinh học (bio-ethanol), tinh bột biến tính…

Viện nghiên cứu chiến lược Lương thực thế giới (TFPRI) đã tính toánnhiều mặt và dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn toàn cầu với tầm nhìnđến năm 2020 sản lượng sắn toàn cầu ước đạt 275,10 triệu tấn Mức tiêu thụsắn ở các nước đang phát triển dự báo đạt 254,60 triệu tấn so với các nước đãphát triển là 20,5 triệu tấn Khối lượng sản phẩm sắn toàn cầu sử dụng làmlương thực thực phẩm dự báo nhu cầu là 176,3 triệu tấn và thức ăn gia súc53,4 triệu tấn Tốc độ tăng hàng năm của nhu cầu sử dụng sản phẩm sắn làmlương thực, thực phẩm và thức ăn gia súc đạt tương ứng là 1,98% và 0,95%.Châu Phi vẫn là khu vực dẫn đầu toàn cầu về sản lượng sắn với dự báo năm

2020 sẽ đạt 168,6 triệu tấn Trong đó, khối lượng sử dụng làm lương thựcthực phẩm là 130,2 triệu tấn (77,2%), làm thức ăn gia súc là 7,5 triệu tấn(4,4%) Châu Mỹ - La Tinh giai đoạn 1993 - 2020 ước độ tiêu thụ sản phẩmsắn tăng hàng năm là 1,3% so với Châu Phi là 2,24% và Châu Á là 0,84% -0,96% Cây sắn vẫn giữ vai trò quan trọng ở nhiều nước Châu Á, đặc biệt là

Trang 10

các vùng Đông Nam Á, nơi cây sắn đứng thứ 3 sau lúa và ngô (Trần NgọcNgoạn,2007) [24] Chiều hướng sản xuất sắn phụ thuộc vào khả năng cạnhtranh cây trồng Vì vậy, giải pháp chính làm tăng năng suất bằng cách ápdụng giống mới và các biện pháp kỹ thuật.

2.2.2 Tình hình sản xuất sắn trong nước

Đối với Việt Nam, sắn là một loại cây nhập nội được đưa vào trồng cuốithế kỷ XVIII Cây sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân nghèo

do sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh thái và điều kiện kinh tếnông hộ Sắn chủ yếu dùng để bán (48,6%) kế đến dùng làm thức ăn gia súc(22,4%), chế biến thủ công (16,8%), chỉ có 12,2% dùng tiêu thụ tươi (Vũ CôngHậu và Trịnh Thường Mai,1990)[7]

Ở nước ta trong 20 năm từ 1960 đến 1980, sắn được sản xuất nhiều Sau

đó, giảm sút trong các năm từ 1980 đến 1990 Trong những năm cuối thế kỷ

XX đầu thế kỷ XXI, diện tích sắn nước ta ổn định tương đối khoảng 220 - 280nghìn ha Tuy nhiên, từ năm 2005 đến nay, diện tích sắn đã tăng đáng kể(xem bảng 2.3)

Bảng 2.3 Diện tích, năng suất, sản lượng sắn

Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010

(nghìn ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

Trang 11

Qua số liệu ở bảng 2.3 cho thấy:

Diện tích sắn Việt Nam trong giai đoạn 2001 - 2010 tăng 203,7 nghìn

ha tương ứng 69,7% Năm 2008, diện tích và năng suất cao nhất kéo theo sảnlượng cũng tăng lên Từ sau năm 2001, với định hướng của ngành nôngnghiệp thêm một số nông sản tham gia vào xuất khẩu (mía đường, vừng, sắn,măng tre, bột giấy,…) đã tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu kỹ thuậtnông nghiệp nông thôn Cây sắn có sự chuyển đổi vị trí từ cây lương thựctruyền thống sang cây hàng hóa Do đó, diện tích sắn ngày càng được mởrộng khoảng những năm 2001 - 2010 tăng từ 292,3 nghìn ha đến 496,0 nghìn

ha Năng suất năm 2010 tăng 1,43 lần với tổng sản lượng đạt 8521,7 nghìntấn, tăng 5012,5 nghìn tấn so với năm 2001 Theo Tổng cục Thống kê, năm

2010, năng suất sắn vẫn đạt ở mức cao 17,5 tấn/ha nhưng diện tích giảmxuống chỉ còn 496 nghìn ha Do đó, sản lượng sắn cả nước năm 2010 chỉ đạt8,52 triệu tấn, tức giảm 0,4% so với năm 2009 Theo kế hoạch năm năm 2011

- 2015, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa ra chủ trương giảm diệntích và nâng cao năng suất sắn Theo đó, diện tích trồng sắn Việt Nam năm

2011 duy trì ổn định khoảng 500 nghìn ha, năng suất đạt khoảng 17,8 tấn/ha

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dự kiến trong năm 2011 sản lượngsắn cả nước đạt 8,9 triệu tấn nhờ mở rộng diện tích ở Phú Yên, trong đó, 8,12triệu tấn sẽ phục vụ nhu cầu trong nước

Ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung nước ta những năm trước đây ở một

số vùng, sắn được xem là loại lương thực quan trọng, nhưng những năm gầnđây, sản xuất lúa ở nước ta phát triển tốt, lượng lúa gạo sản xuất ngày mộtnhiều hơn, cho nên vai trò làm lương thực của sắn giảm dần Ngược lại, ở cáctỉnh phía Nam và Nam Trung Bộ, sắn hiện nay trở thành loại cây cung cấpnguyên liệu cho công nghiệp chế biến Ở các tỉnh này, các sản phẩm chế biến

từ sắn như tinh bột, bột ngọt, tapioca, ethanol,… đã cung cấp cho thị trườngtrong nước và một phần đã xuất khẩu ra thị trường thế giới Một khối lượngsản phẩm sắn được cung cấp cho các nhà máy chế biến thức ăn gia súc (công

ty C.P, Charoen Pokphand, Cagill,…)

Một số vùng trồng sắn của nước ta có diện tích trồng sắn tương đối lớn.Đứng đầu của cả nước là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung năm 2010

Trang 12

có tổng diện tích là 155.000 ha, năng suất đạt 168,2 tạ/ha với sản lượng bìnhquân 2.607.600 tấn Vùng có diện tích lớn đứng thứ hai là Tây Nguyên vớidiện tích là 133.200 ha, năng suất 171,4 tạ/ha và sản lượng đạt 2.283.300 tấn.

Do khu vực Đông Nam Bộ sử dụng giống có năng suất cao và áp dụng nhữngtiến bộ khoa học hiện đại cơ giới hoá sản xuất ngành trồng sắn Sắn vùngđồng bằng Sông Cửu Long có diện tích nhỏ nhất với 6.000 ha, sản lượng bìnhquân 82.300 tấn Ngoài ra, còn một số vùng trồng sắn với diện tích lớn đó là:Trung du và miền núi phía Bắc, … (FAO, 2008) Trong những năm tới cùngvới vai trò của các sản phẩm từ sắn được nâng lên, công nghiệp chế biến sắnphát triển, cây sắn trở thành một loại cây công nghiệp có nhiều tiềm năng pháttriển ở nước ta

Toàn quốc hiện có 60 nhà máy chế biến tinh bột sắn với tổng công suấtkhoảng 3,8 triệu tấn củ tươi/năm và nhiều cơ sở chế biến sắn thủ công rãi ráctại hầu hết các tỉnh trồng sắn Việt Nam hiện sản xuất mỗi năm khoảng 800 -

1200 nghìn tấn tinh bột sắn, trong đó, trên 70% xuất khẩu và gần 30% tiêu thụtrong nước Sản phẩm sắn xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là tinh bột, sắn lát

và bột sắn Thị trường tiêu thụ chính là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản,

Singapo, Hàn Quốc,…(Báo Hoàng Kim,2008)[9] Năm 2009 đem đến kỳ

vọng sắn trở thành một ngành hàng xuất khẩu chủ lực có kim ngạch đạt 573,8triệu USD, tăng 56,5% so với năm 2008 Tuy nhiên, năm 2010, tổng lượngxuất khẩu sắn và các sản phẩm sắn của Việt Nam giảm tới 48,8% so với năm

2009, nhưng giá trị xuất khẩu chỉ giảm 2,6% do giá sắn tăng mạnh Sự sụtgiảm này không phải do ngành sắn suy giảm mạnh về sản lượng hay giá trịxuất khẩu thấp mà do nhu cầu sử dụng sắn cho nhiều ngành công nghiệptrong nước tăng cao, khiến nguồn cung xuất khẩu bị thu hẹp Theo số liệu củaTổng cục Hải quan, năm 2010, Việt Nam xuất khẩu được 1.677 nghìn tấn sắn

và các sản phẩm sắn, thu về 556 triệu USD Trong cơ cấu các sản phẩm sắnxuất khẩu của Việt Nam năm 2010, sắn lát chiếm khoảng 56,8% Tinh bột sắnchiếm khoảng 42,9%, các sản phẩm khác chiếm một tỷ lệ rất nhỏ So với năm

2009, sắn lát đã giảm tới 13,5% về tỷ trọng còn tinh bột sắn lại tăng tới 15,4%

về tỷ trọng trong tổng lượng xuất khẩu Diễn biến xuất khẩu sắn theo hướngtăng tỷ trọng sản phẩm tinh, giảm tỷ trọng sản phẩm thô được cho là một tín

12

Trang 13

hiệu tốt Trong bối cảnh hiện nay, nhiều ngành sản xuất trong nước có liênquan đến sắn như thức ăn chăn nuôi, ethanol đang cần nguyên liệu và giá tinhbột sắn có xu hướng tăng mạnh trên thị trường thế giới Trung Quốc tiếp tục

là thị trường đầu ra lớn nhất cho các sản phẩm sắn xuất khẩu của Việt Nam.Trong năm 2010, chiếm tới 94,8% tổng kim ngạch xuất khẩu sắn lát (tươngđương 196,5 triệu USD) và 90% tổng kim ngạch xuất khẩu tinh bột sắn(tương đương 315,4 triệu USD) Trong 5 tháng đầu năm 2011, xuất khẩu sắn

và sản phẩm đạt 638 triệu USD, tăng 109,4% so với cùng kỳ năm trước.Riêng trong tháng 5/2011, giá sắn lát khô biến động không đáng kể và có xuhướng giảm giá theo giá sắn lát thế giới Và đến 95% sản lượng sắn được xuấtkhẩu sang Trung Quốc (http://faostat.fao.org,2011) [33] Trong bối cảnh đó,với mức sản lượng 8,9 triệu tấn, sẽ xảy ra tình trạng tranh mua nguyên liệugiữa các nhà máy sản xuất ethanol, với các nhà máy thức ăn chăn nuôi, nhàmáy sản xuất tinh bột sắn và lượng sắn xuất khẩu Sự phát triển của ngành sắnhiện nay cho thấy nhu cầu cấp bách trong công tác hoạch định chiến lược pháttriển dài hạn, trong đó có tính đến các khía cạnh cân đối cung cầu về xuấtkhẩu, nguồn cung nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, sản xuất ethanol, quỹ đất…

Đầu tư nhà máy chế biến bio-ethanol là một hướng lớn triển vọng Theo

“Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025”,quyết định số 177/2007/QĐ-TTg ngày 20/11/2007, với mục tiêu: Phát triểnnhiên liệu sinh học, một dạng năng lượng mới, tái tạo được để thay thế mộtphần nhiên liệu hóa thạch truyền thống, góp phần bảo đảm an ninh nănglượng và bảo vệ môi trường (Báo Hoàng Kim,2008) [9] Nhu cầu sắn cho sảnxuất ethanol rất lớn Để sản xuất 100 triệu lít ethanol cần trung bình 250.000tấn sắn lát khô, quy ra khoảng 600.000 tấn củ tươi Theo đề án phát triểnnguyên liệu ethanol sinh học đến năm 2015 thì Việt Nam cần 750 triệu lítethanol, tương đương 4,2 triệu tấn sắn tươi, chiếm 42% sản lượng sắn cảnước Việt Nam hiện có 6 nhà máy sản xuất ethanol công xuất lớn trên 100triệu lít/năm (Nguyễn Quốc Huân,2011) [10]

Những yếu tố cơ bản tạo nên sự đột phá về năng suất của Việt Namtrong những năm vừa qua là do:

Trang 14

1 Toàn quốc hiện có 60 nhà máy chế biến tinh bột sắn với tổng côngsuất đạt 2,2 - 3,8 triệu tấn củ tươi/năm tạo thuận lợi cho sản xuất sắn.

2 Các giống sắn mới (KM94, LM98-5, KM98-1, KM140, KM98-7) cónăng suất bột cao gần gấp đôi so với các giống sắn địa phương, mang lại năngsuất và lợi nhuận cho người trồng sắn

3 Sắn Việt Nam có nhu cầu thị trường xuất khẩu và tiêu thụ lớn đứngthứ 3 trên thế giới sau Thái Lan và Indonesia

4 Sắn dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp với điều kiện sinhthái, kỹ thuật nông hộ Nông dân Việt Nam tích cực áp dụng giống mới vàtiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất

Tình hình sản xuất với tầm nhìn 2020, chính phủ Việt Nam chủ trươngđẩy mạnh việc sản xuất sắn ở những vùng, những vụ có điều kiện phát triển.Thị trường xuất khẩu sắn lát và tinh bột sắn tại Việt Nam dự báo thuận lợi và

có thế cạnh tranh cao một số mặt hàng: bio-ethanol, bột ngọt, thức ăn giasúc, sản phẩm tinh bột biến tính Diện tích sắn của Việt Nam dự kiến ổnđịnh khoảng 450 nghìn ha nhưng sẽ tăng năng suất, sản lượng sắn bằng cáchchọn tạo và phát triển giống sắn tốt có năng suất củ tươi và hàm lượng tinhbột cao, xây dựng và hoàn thiện kỹ thuật canh tác sắn bền vững và thích hợpvùng sinh thái

Bên cạnh đó, thị trường Trung Quốc cũng đang tạo lực hút rất lớn đốivới sắn Việt Nam, chiếm hơn 90% lượng sắn xuất khẩu Theo báo cáo củaAgroMonitor, với mức sản lượng 8,9 triệu tấn trong năm 2011, tổng nhu cầu

củ sắn tươi dành cho ngành công nghiệp trong nước ước khoảng 8,12 triệutấn; còn lại khoảng 780.000 tấn để xuất khẩu Tuy nhiên, số liệu từ Tổng cụcHải quan cho thấy tính đến 15/03/2011, thị trường Trung Quốc đã hút khoảng884,457 tấn sắn Việt Nam (Nguyễn Quốc Huân) [10]

2.2.3 Tình hình sản xuất sắn tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc với nhiều tiềmnăng phát triển nông, lâm nghiệp Đời sống nông dân còn gặp nhiều khókhăn Cây sắn từ lâu là cây lương thực và cũng là một trong những cây trồngchú trọng phát triển của tỉnh sau cây chè, lúa, ngô Trong những năm gần đây,cây sắn đang chuyển dần từ cây lương thực sang cây công nghiệp

14

Trang 15

Diện tích, năng suất, sản lượng sắn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006

-2010 được thể hiện trong bảng 2.4 dưới đây:

Bảng 2.4: Diện tích, năng suất, sản lượng sắn ở Thái Nguyên

giai đoạn 2006 - 2010

(nghìn ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

Chính sách phát triển sắn của tỉnh chú trọng tăng năng suất thông quađầu tư giống năng suất cao, áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến Bêncạnh đó, điều kiện khí hậu Thái Nguyên thuận lợi cho cây sắn phát triển tốtnhư: Mưa nhiều với tổng lượng mưa 1500 - 1700 mm/năm; nhiệt độ trungbình không quá lạnh từ 17 - 290C

2.3 Tình hình nghiên cứu sắn trên thế giới

2.3.1 Tình hình nghiên cứu dinh dưỡng sắn trên thế giới

Trên thế giới, công tác nghiên cứu phân bón sắn được các nhà khoa họcquan tâm nghiên cứu Theo kết quả nghiên cứu của tác giả R.Howeler(R.H.Howeler, 1985) [36] cho thấy,sắn là cây trồng có tiềm năng sinh học cao,sau một năm trồng, năng suất củ khoảng 15 tấn củ tươi và 15 - 18 tấn thân lá.Cây sắn lấy đi một lượng dinh dưỡng rất lớn Tính trung bình để đạt 1tấn củ/hacây lấy đi từ đất 4,5kg N; 2,5kg P2O5; 7,5kg K2O; 1,0kg Ca và 5kg MgO Và để

có được 1 tấn củ tươi sắn cần 4,9 kg N; 1,1 kg P2O5; 5,8 kg K2O; 1,8 kgCa; 0,8kgMgO cho toàn bộ cây

Trang 16

Cây sắn có yêu cầu chế độ dinh dưỡng trong đất không cao, hay có thểnói là rất thấp so với nhiều cây trồng khác Đối với canxi trao đổi sắn chỉ yêucầu Ca > 0,25 mep/ 100 g đất khô; hàm lượng lân dễ tiêu chỉ > 5 ppm, kalitrao đổi > 0,17 mep/ 100g Sắn đặc biệt mẫn cảm với sự thiếu hụt kẽm (Zn) vàthường có biểu hiện thiếu ở giai đoạn sớm Hàm lượng kẽm trong đất cần > 1ppm Zn; mangan > 5 ppm Mn, lưu huỳnh > 8 ppm S Với năng suất khoảng37,5 tấn củ tươi/ ha, cây sắn lấy đi từ 1 ha đất số lượng dinh dưỡng sau(R.Howeler, 1985) [36]:

- Riêng phần củ tươi: 67kg N; 17kg P2O5; 102kg K2O; 8kg MgO; 16kgCaO; 7kg S; 900g Fe; 60g Mn; 170g Zn; 30g Cu; 70g B

- Toàn thể cây sắn: 198kg N; 31kg P2O5; 220kg K2O; 47kg MgO; 143kgCaO; 19kg S; 1090g Mn; 660g Zn; 80g Cu; 200g B

Qua số liệu trên, chúng ta đã thấy rằng cây sắn là cây trồng có khả năng hấpthu dinh dưỡng ở điều kiện đất xấu song nhanh chóng dẫn đến đất mất khả năngsản xuất

Theo các tác giả Nijod (1935), Cours (1953), Dufournet và Goarin (1957),Kanapathy (1976) nếu năng suất ở trong giới hạn 20 - 60 tấn/ha thì tính trungbình có thể ước lượng 1 tấn củ/ha huy động 4,5kg N; 2,5kg P2O5; 7,5kg K2O;2,5kg CaO và 1,5kg MgO [1]

Theo Paula và các cộng sự (1983), nếu năng suất đạt 33,9 tấn/ha thì tínhtrung bình 1 tấn củ/ha cây huy động 16,1kgN; 1kg P2O5; 5,3kg K2O; 1,6kgCaO và 1,2kg MgO, nhưng khi năng suất đạt 27,6 tấn củ/ha thì 1 tấn củ/hacây cần 10kgN; 0,87kg P2O5; 10,7kg K2O; 1,5kg CaO và 1,3kg MgO

Tuy nhiên, khó tính chính xác lượng chất khoáng cây sắn lấy đi từ đất

vì một mặt lá già rụng xuống trả lại một phần những chất đã lấy đi, mặt kháctùy theo môi trường, khả năng hút N, P và đặc biệt là K thay đổi

2.3.2 Tình hình nghiên cứu kỹ thuật bón phân, trồng xen sắn với cây trồng khác trên thế giới

Ngày nay, phân hữu cơ được sử dụng nhiều Trong phân hữu cơ chứa rấtnhiều nguyên tố dinh dưỡng Bón với lượng vừa đủ với nhu cầu của cây, cảithiện lý tính cho đất Nhưng khi bón quá thừa phân chuồng dẫn đến cây không

16

Trang 17

hấp thụ hết sẽ gây ô nhiễm môi trường Trong một thí nghiệm của NkoglontoD.K về bón phân chuồng đã kết luận rằng: Không nên bón quá mức 20 tấnphân chuồng/ha, một tấn phân chuồng chỉ tăng lên 0,3 tấn củ tươi Trong khibón 10 - 20 tấn phân chuồng/ha thì một tấn phân chuồng sẽ tăng 1 - 1,5 tấn củtươi Do vậy, khi sử dụng phân chuồng hợp lý sẽ có tác dụng cải thiện tính chấthóa học, vật lý, tăng hàm lượng dinh dưỡng cho đất, kích thích sự phát triển vàtăng năng suất.

Mặt khác, phân chuồng có độ khoáng hóa chậm Do đó, để canh tác sắnbền vững ngoài bón phân hữu cơ ta cần phải phối hợp với phân vô cơ Vìtrong quá trình sinh trưởng, sắn lấy đi một lượng dinh dưỡng lớn từ đất phânchuồng không bù đắp kịp Việc bổ sung phân vô cơ làm tăng độ khoáng hóa,tăng khả năng sinh trưởng và phát triển của sắn Cây sắn là cây trồng có tốc

độ sinh trưởng nhanh, do đó, nhu cầu dinh dưỡng cũng rất lớn Đạm, lân, kali

là ba nguyên tố dinh dưỡng được hút nhiều nhất và cũng là những yếu tố hạnchế năng suất

Tìm hiểu về nhu cầu dinh dưỡng đạm, lân, kali qua nhiều thí nghiệmngười ta thấy rằng, sắn có phản ứng rất tốt với đạm, đặc biệt là ở thời kì đầu

và có ảnh hưởng lớn đến năng suất Nếu bón nhiều đạm, thân lá phát triểnmạnh Bên cạnh đó, lân cũng là yếu tố dinh dưỡng hết sức quan trọng, đứngsau kali và đạm, nhưng cũng không thể thiếu được vì nó thúc đẩy sự ra rễ,tăng khả năng hút đạm…

Các thí nghiệm ở Ấn Độ cho thấy, khi bón 90kg N, 90kg P2O5, 180kg

K2O, năng suất sắn tăng 92% Nhưng khi bón 120kg N, 150kg P2O5, 170kg

K2O, năng suất chỉ đạt 34% Như vậy, tỷ lệ N:P:K cho sắn nơi này là 1:1:2

Tuy nhiên trong thực tế, sản xuất sắn chủ yếu trên đất dốc nên vậnchuyển một lượng lớn phân chuồng là hết sức khó khăn, đòi hỏi gia cônglao động nên hiệu quả sản xuất thấp Vì vậy, sử dụng phân hữu cơ tại chỗcho sắn là rất cần thiết Dùng nguồn thân lá cây phân xanh và một số câytrồng xen với sắn vừa có tác dụng che phủ đất, chống xói mòn vừa tăng thunhập từ cây trồng xen

Theo nghiên cứu của tiến sĩ Howeler (1992) ở Indonesia cho thấy: Trồngxen với lúa nương, đậu, ngô, đỗ với sắn làm giảm xói mòn 12% Năng suấttrồng xen cây phân xanh khá cao và ổn định, thường đạt 11 - 16,5 tấn/ha

Trang 18

2.4 Tình hình nghiên cứu sắn trong nước

2.4.1 Tình hình nghiên cứu phương thức trồng xen cây trồng khác với sắn

Sắn có thời gian sinh trưởng dài (8 - 24 tháng), tốc độ tăng trưởng ở giaiđoạn đầu từ 2 - 3 tháng sau trồng chậm, khả năng che phủ ở giai đoạn này thấp(50 - 60%) (Nguyễn Thế Đặng,2001)[5] Hơn nữa, ở miền Bắc Việt Nam, sắnchủ yếu được trồng trên đất dốc nên đất rất dễ bị rửa trôi Vì vậy, phương thứctrồng xen là một hướng quan tâm nghiên cứu của các nhà nông học, vừa cảithiện dinh dưỡng trong đất vừa bảo vệ đất canh tác lâu dài Nguyễn Thế Đặng

đã nghiên cứu sự xói mòn đất trên nương sắn ở vùng núi và trung du phía Bắcvới độ dốc 5-15% đã xác định được (Nguyễn Thế Đặng,1997) [2] tổng lượngđất bị xói mòn trong một năm khoảng 778 - 2.932 kg/ha, kéo theo tổng lượngchất dinh dưỡng bị cuốn trôi là 37,7 - 141,5 kg N; 17,9 - 45,5 kg P2O5 và 85,3

- 343,7kg K2O/ha

Việc chống xói mòn trên đất dốc trồng sắn bao gồm sự lựa chọn và tổnghợp của các giải pháp:

1) Mô hình trồng sắn xen đậu, ngô, lúa cạn

2) Mô hình trồng sắn xen cây phân xanh phủ đất kết hợp với làm đấttối thiểu

3) Mô hình trồng băng cây phân xanh chống xói mòn và canh tác sắn theođường đồng mức

4) Mô hình canh tác sắn bền vững trên đất dốc với sự tham gia củangười dân

Trong số các loại cây trồng xen với sắn thì lạc là cây trồng xen phổ biếnnhất và được ứng dụng nhiều nhất trên thế giới cũng như ở Việt Nam Tạimiền núi và trung du phía Bắc (Trần Ngọc Ngoạn,2003) [22], kỹ thuật trồngsắn xen lạc tốt nhất là xen hai hàng lạc vào giữa hai hàng sắn Khoảng cáchtrồng lạc: 0,40 m x 0,10 m x 1 hạt Khoảng cách trồng sắn: 1m x 1m hoặc 1,2

x 0,8m Tổng lượng phân bón cho cả 2 cây trồng trên 1 ha là 15-20 tấn phânhữu cơ + (40 - 60)kg N + 40kg P2O5 + 80kg K2O Trong đó, bón cho cây sắn10-15 tấn phân chuồng + 70%N + 30%P2O5 +50%K2O/ha và bón cho cây lạc

5 tấn phân chuồng + 30%N + 70%P2O5 +50%K2O/ha

18

Trang 19

Theo (Trịnh Phương Loan và ctv,1998) [20], đã kết luận: Mô hình trồngsắn xen lạc nhờ có sự che phủ của lạc nên đã hạn chế được khả năng rửa trôiđất do mưa, vì vậy lượng đất mất đi thấp hơn hẳn so với sắn trồng thuần Sảnphẩm chất hữu cơ từ thân lá lạc được hoàn trả lại cho đất nên đã góp phần duytrì độ phì nhiêu của đất trồng sắn Công thức trồng sắn xen lạc đạt hiệu quảkinh tế cao nhất và đất bị cuốn trôi ít hơn so với sắn trồng thuần hoặc sắn xenvới: Đậu tương, đậu xanh, đậu đen Mô hình trồng sắn xen lạc cũng đã đượckết luận là giải pháp kỹ thuật thâm canh sắn thích hợp tại vùng Đông Nam Bộ

và Duyên hải Trung Bộ (Nguyễn Hữu Hỷ,2002) [14]

Trồng băng cốt khí để chống xói mòn tỏ ra rất thích hợp đối với miềnnúi và trung du phía Bắc Đây là kết luận của hội nghị SALT tổ chức tại tỉnhThái Nguyên năm 1994 Báo cáo của tác giả Hoàng Văn Phụ (Hoàng VănPhụ,1994) [27] cho thấy việc trồng băng cây cốt khí theo đường đồng mức đãnâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế của hệ thống cây trồng, bảo vệ đất,hạn chế xói mòn trên đất dốc trồng sắn (Nguyễn Thế Đặng và Đinh NgọcLan, 2000) [4] sử dụng băng cốt khí chống xói mòn cho sắn đã kết luận lượngđất bị xói mòn giảm so với sắn trồng thuần là 56 - 58%

Theo (Nguyễn Thế Đặng và Đinh Ngọc Lan,1999) [3] về hiệu lực củacác loại băng cây xanh theo đường đồng mức đến sinh trưởng, năng suất sắn

và xói mòn đất trên đất dốc tại Thái Nguyên cho thấy: Băng cốt khí, cỏVectiver và nhất là băng kép cỏ Vectiver + cốt khí trả lại cho đất một khốilượng chất xanh từ 1,54 - 5,61 tấn/ha/năm, là nguồn phân xanh tại chỗ cungcấp cho đất dốc có tác dụng duy trì độ phì nhiêu đất; khi sử dụng các loạibăng trên đặc biệt là băng kép cỏ Vectiver + cốt khí đã thúc đẩy sinh trưởng,phát triển của sắn góp phần làm tăng năng suất sắn và nâng cao hiệu quả kinh

tế trong sản xuất sắn lâu bền trên đất dốc

Trần Thị Tâm, La Nguyễn, Thái Phiên kết luận trồng băng chắn đồngthời bón phân hợp lý đã làm giảm xói mòn đối với đất trồng sắn 29 - 87%

và tăng năng suất sắn 65 - 104% Công thức trồng băng cây xanh sử dụng

cỏ Vetiver và dứa lai đã cho hiệu quả kinh tế cao nhất (Trần Ngọc Ngoạn

và ctv,2004) [23] đã xây dựng mô hình canh tác sắn trên đất dốc có các

Trang 20

băng cốt khí, cỏ Vetiver, cây phân xanh chống xói mòn tại xã Thượng Ấm

- Sơn Dương - Tuyên Quang Sau 3 năm, năng suất sắn tăng từ 8 tấn đến 20tấn củ tươi/ha

2.4.2 Tình hình nghiên cứu đất trồng, dinh dưỡng và cách bón phân sắn

Trước những năm 1980, các nghiên cứu về dinh dưỡng sắn còn ít, nước ta

có một số tài liệu điều tra về giống sắn và có một số thí nghiệm cũng như trìnhdiễn nhỏ thu được 60 - 80 tấn củ tươi/ha, khi trồng sắn có bón phân xanh, phân giasúc kết hợp bón phân vô cơ và tưới nước

Theo (Hoàng Minh Châu,1998) [1] cho thấy, đất trồng sắn cho năngsuất tối hảo khi có pH = 4,5 - 7,5; Al trao đổi < 80% lượng bão hòa; lân hữudụng > 5ppm; Ca trao đổi > 0,25 mep/100g đất khô; K trao đổi > 0,17mep/100g đất khô; độ ẩm < 0,5 mmhos/cm; Na trao đổi < 2,5% lượng bãohòa; Zn và Mn hữu dụng > 1ppm và 5 ppm; Sulfate-S lớn hơn 8ppm

Kết quả nghiên cứu của (Thái Phiên và Nguyễn Công Vinh,1998) [25]cho thấy: Hậu quả của tập quán sản xuất sắn độc canh nhiều năm đã làm chođất mất sức sản xuất Sự thoái hóa đất dẫn đến độ chua của đất tăng, hàm lượngmùn trong đất giảm kéo theo độ phì, lý tính hóa tính của đất bị suy giảm

Theo kết quả nghiên cứu của (Trần Công Khanh và Nguyễn VănLong ,1998) [15], cho thấy: Bón phân NPK cân đối cho sắn có hiệu lực rõ rệt

so với không bón phân hoặc bón mất cân đối, đồng thời ở các công thức bóncho 1ha: 160kg N + 80kg P2O5 + 100kg K20 và 120kg N + 80kg P205 + 160Kg

K20 đem lại hiệu quả cao nhất trên đất nâu đỏ ở Bình Long

Theo kết quả nghiên cứu của (Nguyễn Thế Đặng,1997) [2], (Thái Phiên

và cộng sự,1997) [25]; (Hoàng Văn Tám,1997) [30] bón phân khoáng hợp lýcho sắn có tác dụng tốt đến việc cải thiện các đặc tính lý - hoá của đất cũngnhư nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế sản xuất sắn

Theo tác giả (Thái Phiên và Nguyễn Công Vinh,1998) [25], khi trồngsắn 3 năm liên tục trên cùng một diện tích đất ở miền Bắc Việt Nam thì năngsuất sắn giảm xuống chỉ còn 10 tấn/ha nếu không bón phân, ngược lại năngsuất sắn tăng lên đến 20 tấn/ha khi cung cấp đầy đủ N; P; K và đặc biệt khibón K ở mức cao

20

Trang 21

Theo tác giả (Lê Hồng Lịch và Võ Thị Kim Oanh,2000) [18], lượngphân khoáng bón cho đất trồng sắn tại Đắc Lắc (đất phiến thạch sét và đấtbazan nâu đỏ) là 70kg N + 50kg P2O5 + 100kg K2O/ha năng suất sắn tăng vàđạt hiệu quả kinh tế cao nhất.

Theo (Nguyễn Hữu Hỷ và cộng sự,2000) [13], trên đất đỏ và đất xám ởmiền Đông Nam Bộ, sắn phản ứng mạnh với các mức bón phân N; P; K đặcbiệt là đối với N, K Công thức bón phân N; P; K thích hợp cho sắn đạt năngsuất củ và hiệu quả kinh tế cao trên đất đỏ và đất xám ở Đông Nam Bộ là[80kg N + 40kg P2O5 + 80kg K2O]/ha và [160kg N + 80kg P2O5 + 160kg

K2O]/ha với tỷ lệ bón kết hợp giữa N; P; K là 2: 1: 2

Một số công trình nghiên cứu thực hiện tại miền Bắc Việt Nam trên đất

đỏ vàng của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và một số địa điểmkhác trên ruộng của nông dân (Đỗ Thị Thanh Ren,2011) [28] cho thấy rõphản ứng của cây sắn với N và K Trong các nguyên tố đa lượng thì K là yếu

tố hạn chế năng suất sắn Thí nghiệm bón N, P, K hàng năm trên đất đỏ vàngcủa Đại học Nông Lâm Thái Nguyên chỉ ra rằng nếu bón N, K mà thiếu P thìnăng suất sắn vẫn cao, nhưng khi bón N, P mà không bón K năng suất sắngiảm Một thí nghiệm khác tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên khibón tổ hợp N; P; K trên đất bạc màu có độ dốc (Nguyễn Duy Hoàng,2004) [8]cho thấy công thức bón 80kgN + 40kgP2O5 + 80kgK2O/ha cho sắn đạt năngsuất thực thu cao và ổn định nhất

Nhiều kết quả nghiên cứu của các tác giả khác nhau cho thấy bón phânhữu cơ làm giảm dung trọng đất, tăng độ xốp, điều hoà được chế độ nhiệt và ẩm

độ trong đất, dung tích hấp thu của đất được cải thiện, nhờ đó khả năng trao đổiion và khoáng chất của đất được tốt hơn Phân hữu cơ còn có tác dụng chuyểnlân từ dạng khó tiêu thành dạng dễ tiêu cho cây trồng (Nguyễn Thế Hùng,2001)[11], (Đinh Ngọc Lan,1999) [16], (Lê Hồng Lịch và Lương Đức Loan,1997)[17], (Lương Đức Loan và cộng sự,1997) [19]

Từ các nghiên cứu trên cho thấy, các liều lượng phân bón khác nhaucho sắn trên mỗi loại đất khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến sinh trưởng

và năng suất sắn Từ đó, ta thấy rằng:

Trang 22

- Nhu cầu dinh dưỡng của sắn rất lớn, đặc biệt các nguyên tố N, P, K.

Để sinh trưởng mạnh, đạm là yếu tố cần thiết với sắn, là nguồn tạo ra các chấtdinh dưỡng đồng hóa vận chuyển về củ Kali có vai trò rất quan trọng trên đất

sa thạch, làm tăng khả năng chống chịu, tăng hiệu lực phân đạm Kali là yếu

tố hạn chế đến năng suất, nếu như ta bón kali và bón đạm cao liên tục từ 4năm trở lên thì năng suất sắn chỉ tương đương và thậm chí thấp hơn bón cácloại phân khoáng Ngoài ra, sắn cần một lượng nhỏ các nguyên tố trung và vilượng: Ca, Mg, Mn,…)

- Nhu cầu dinh dưỡng của sắn phụ thuộc vào điều kiện đất đai và điều kiệnsinh thái của từng vùng Các kết quả nghiên cứu trên cho ta thấy có rất nhiều liềulượng và tỷ lệ phân bón khác nhau cho sắn, tỷ lệ N:P:K có thể như sau: 2:1:2,1:1:2, 2:1:3, 2:1:3 hoặc 1:2:3

- Khi năng suất càng tăng cao thì lượng dinh dưỡng cây hút trên mỗiđơn vị năng suất cũng tăng theo, nên mức đầu tư phân bón trên một đơn vịnăng suất cũng không thể tăng một cách máy móc, mà phải tăng theo một cáchluỹ tiến Rõ ràng rằng, cây sắn không cần nhiều lân, nhưng rất cần đạm và kali,nhất là khi ta trồng sắn liên tiếp nhiều vụ trên cùng mảnh đất

22

Trang 23

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng

- Đối tượng nghiên cứu: Liều lượng đạm bón thúc cho giống sắnKM98-7

3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Nghiên cứu từ tháng 3/2011 - 1/2012

- Địa điểm: Thí nghiệm được bố trí trên đất sa thạch, đất đồi trồng sắnlâu năm tại Trung tâm thực hành thực nghiệm, Trường Đại học Nông LâmThái Nguyên

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Theo dõi quá trình sinh trưởng, phát triển của giống sắn tham gia thínghiệm (tốc độ tăng trưởng chiều cao cây, tốc độ ra lá, tuổi thọ lá)

- Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất (số củ/gốc,chiều dài củ, đường kính củ, năng suất củ tươi)

- Nghiên cứu chất lượng của giống sắn ở các công thức bón đạm khácnhau (tỉ lệ chất khô, năng suất củ khô, tỷ lệ tinh bột, năng suất tinh bột)

- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm

3.4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 24

Thúc lần 2

(90 ngày sau trồng)

Thúc lần 1

(45 ngày sau trồng)

Thúc lần 2

(90 ngày sau trồng)

Trang 25

+ Bón lót toàn bộ phân chuồng + phân lân khi trồng

+ Bón thúc lần 1 sau trồng 45 ngày: N + 1/2K2O, kết hợp làm cỏ lần 1

và vun cho sắn

+ Bón thúc lần 2 sau trồng 90 ngày: N + 1/2K2O, kết hợp làm cỏ và vuncao cho sắn

3.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

* Theo dõi sinh trưởng:

- Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây: Cố định bằng cọc/cây/ô thí nghiệmtheo đường chéo góc, 10 ngày đo chiều cao cây 1 lần lấy số liệu trung bình ởmỗi giai đoạn sinh trưởng

- Tốc độ ra lá: Tiến hành trên 5 cây đã đo chiều cao, 10 ngày đếm số

lá mới ra một lần, dùng phương pháp đánh dấu lá để biết số lá mới ra lấy sốliệu trung bình

- Tuổi thọ lá: Theo dõi 5 cây/ô thí nghiệm theo phương pháp đánh dấu

lá Tuổi thọ lá tính từ khi lá non phát triển đầy đủ khi lá chuyển hoàn toànsang màu vàng sau đó lấy số liệu trung bình

- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của giống sắn tham gia thí nghiệm:Theo dõi một lần trước khi thu hoạch, theo dõi 5 cây theo đường chéogóc, đo đếm lấy số liệu trung bình

+ Chiều cao cuối cùng: Đo chiều dài thân chính + chiều dài phân cành.+ Chiều cao cây: Đo từ mặt đất đến ngọn lá chưa xoè

+ Đường kính gốc dùng thước kẹp panme đo cách gốc 15cm

+ Tổng số lá trên cây: Đếm tổng số lá (sẹo lá)/5 cây đã đánh dấu

* Các yếu tố cấu thành năng suất:

- Chiều dài củ, đường kính củ: Phân thành 3 nhóm (dài, trung bình,ngắn) Mỗi loại chọn 10 củ đề đo chiều dài và đường kính củ, sau đó, lấy giátrị trung bình

- Số củ/gốc: Mỗi ô thí nghiệm thu hoạch 10 cây đếm tổng số củ thuhoạch sau lấy giá trị trung bình

Trang 26

- Khối củ/gốc: Cân tổng khối lượng củ thu hoạch của 10 cây chia chotổng số cây (10 cây), sau đó, lấy giá trị trung bình.

* Năng suất và chất lượng củ sắn:

- Năng suất thân lá (NSTL): Cân toàn bộ khối lượng thân lá của cây thuhoạch được trong từng ô thí nghiệm

- Năng suất củ tươi (NSCT): Khối lượng củ/gốc x số cây/ha

- Năng suất sinh vật học (NSSVH): Năng suất thân lá + năng suất củ tươi

Y = A x 158,3 - 142,0

A - BTrong đó:

Y: tỷ lệ chất khô(%)

A: khối lượng củ tươi trong không khí (g)

B: khối lượng củ tươi cân trong nước (g)

- Tỷ lệ tinh bột (TLTB): Được xác định bằng cân Reiman của CIAT

- Năng suất củ khô (NSCK): Được xác định theo công thức:

NSCK = NSCT x TLCK

- Năng suất tinh bột (NSTB): Được xác định theo công thức:

NSTB = NSCT x TLTB

- So sánh hiệu quả kinh tế của các công thức bón thúc đạm.

3.4.3 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu

- Tính các giá trị trung bình và một số thống kê cơ bản bằng chươngtrình phần mềm trong bảng Excel

26

Trang 27

- Các kết quả nghiên cứu được xử lý thống kê bằng phần mềmIRRISTAT.

Trang 28

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Đặc điểm khí hậu thủy văn của tỉnh Thái nguyên năm 2011

Đặc điểm thời tiết, khí hậu là một vấn đề rất quan trọng Nó phản ánh

và ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất, chất lượng cây trồng nói chung và câysắn nói riêng Tầm quan trọng của thời tiết, khí hậu được B Đaccutraep kháiquát như sau: “Đất và khí hậu là những yếu tố cơ bản và quan trọng nhất củanông nghiệp, là những điều kiện trước tiên không thể thiếu để có thu hoạchnăng suất cao và ổn định” Đối với tất cả các loại cây trồng thì sự biểu hiệncác tính trạng kiểu hình ra bên ngoài là kết quả của sự tương tác giữa kiểugen và môi trường MenĐel cũng đã nghiên cứu và khẳng định: Kiểu hình =kiểu gen + môi trường (Hoàng Minh Tấn, 2000) [31] Qua sự biểu hiện này cóthể đánh giá mức độ thích nghi của mỗi loại cây trồng với điều kiện ngoạicảnh Cây sắn là một cây khá mẫn cảm với điều kiện ngoại cảnh, đặc biệt là

sự phát triển của bộ phận kinh tế (năng suất củ tươi), trong điều kiện pháttriển thành số củ của cây sắn cần nhiệt độ cao và số giờ chiếu sáng nhiều

Thái Nguyên là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc, nằm trong khu vựcnhiệt đới gió mùa có đặc điểm khí hậu đặc trưng như: Lượng mưa phân bốkhông đều trong năm, mùa đông đến sớm cộng thêm nhiệt độ thấp Diễn biếnthời tiết, khí hậu tỉnh Thái Nguyên năm 2011 được thể hiện trong bảng 4.1

* Nhiệt độ:

Cây sắn có nguồn gốc nhiệt đới nên yêu cầu nhiệt độ cao Nhiệt độthích hợp cho cây sắn sinh trưởng, phát triển từ 24 - 270C, giai đoạn sinhtrưởng thân lá thích hợp từ 24 - 270C (Nguyễn Như Hà,2005)[6] Nếu nhiệt độtăng 20 - 240C thì tuổi thọ của lá tăng lên, còn tăng từ 24 - 270C thì tuổi thọcủa lá giảm, nhưng tổng số lá mới tăng lên, vì giữa giống và điều kiện ngoạicảnh có sự tương tác lẫn nhau dẫn đến sự thay đổi về tuổi thọ lá Từ đó, ảnhhưởng đến quá trình quang hợp, hô hấp và năng suất sắn

Qua bảng số liệu 4.1 cho thấy, sự dao động nhiệt độ ở các tháng mùađông (tháng 10 đến tháng 1) mạnh hơn các tháng mùa hè (tháng 6, 7 và 8).Nhiệt độ thấp chủ yếu vào cuối đông (tháng 12 đến tháng 2) Nhiệt độ cao

28

Trang 29

nhất tập trung trong các tháng mùa hè (tháng 6, 7 và 8) Nhìn chung, diễn biếnnhiệt độ của tỉnh tương đối thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của sắn.

Cụ thể là:

Nhiệt độ của tỉnh từ tháng 3 đến tháng 11 dao động trong khoảng 16,7 29,50C thích hợp cho cây sắn sinh trưởng, phát triển Đặc biệt là từ tháng 6đến tháng 8, nhiệt độ cao nên tốc độ ra lá cao, tăng quá trình tích lũy vật chấtquang hợp vào củ tạo tiền đề cho tăng năng suất sau này Nhiệt độ sau đógiảm dần, do đó tuổi thọ lá tăng lên nhưng sinh trưởng chiều cao cây, tốc độ

-ra lá giảm đi (xem bảng 4.2, 4.3 và 4.4)

Bảng 4.1 Thời tiết, khí hậu của tỉnh Thái Nguyên năm 2011

Yếu tố

Tháng

Nhiệt độ trung bình ( 0 C) Ẩm độ không khí trung bình (%) Tổng lượng mưa (mm) Tổng số giờ nắng (giờ)

Sắn được xem như là cây chịu hạn và thường được trồng ở những vùng

có lượng mưa thấp Tuy vậy, sắn trồng trong điều kiện đủ ẩm độ mới chonăng suất cao Lượng mưa trung bình hàng năm 1000 - 2000mm thích hợpcho sự sinh trưởng, phát triển củ cây sắn (Lương Đức Loan và cs, 1997) [19]

Trang 30

Tổng lượng mưa của Thái Nguyên năm 2011 khoảng 1400 mm Điềunày cho thấy, đó là một điều kiện rất thích hợp cho sắn sinh trưởng, phát triển.Mùa mưa năm 2011 tương đối kéo dài (tháng 5 đến tháng 10), lượng mưa rảitương đối đều giữa các tháng trong mùa mưa Tháng có lượng mưa lớn nhất làtháng 9 (284,7 mm) và tháng 8 (268 mm).

Hình 4.1 Biểu đồ diễn biến lượng mưa tỉnh Thái Nguyên năm 2011

Ở mỗi giai đoạn sinh trưởng khác nhau, sắn cần lượng nước khác nhau.Sau khi trồng (tháng 3), hom ra rễ và bắt đầu sinh trưởng, nhu cầu nước thấp,nhưng phải đủ độ ẩm Với lượng mưa 93,3mm trong tháng 3 đủ để cung cấpcho hom ra rễ và bắt đầu sinh trưởng Thời kỳ sinh trưởng thân lá yêu cầu vềlượng nước cao Nhưng đối với cây sắn, thời kỳ này có khả năng chịu hạn caohơn (vì lá có khả năng đóng mở khí khổng tốt) Thời kỳ phát triển nhu cầu vềnước lớn hơn nhưng thời kỳ này cũng có khả năng chịu được hạn tương đốidài, ẩm độ thích hợp là 70 - 80% Trong giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 7, làgiai đoạn phát triển rễ củ, định hình số củ/cây Giai đoạn này phát triển thân

lá có chiều hướng giảm dần và vật chất khô tích lũy trong củ tăng lên Tronghai yếu tố cấu thành năng suất, trọng lượng củ có ảnh hưởng nhiều hơn số

30

Trang 31

lượng củ Tuy nhiên, trọng lượng củ của cây sắn phụ thuộc nhiều vào đặcđiểm giống, kỹ thuật trồng, chế độ chăm sóc, nước, Lượng mưa giai đoạn nàyrất lớn (tháng 5: 226,3mm, tháng 6: 237,5mm, tháng 7: 144 mm) thuận lợicho quá trình tăng trọng lượng củ, nhưng chế độ mưa không đều cho các ngàytrong tháng, do đó phần nào hạn chế năng suất sắn Các tháng còn lại cólượng mưa giảm dần Và thấp nhất là tháng 11, với 4,3mm.

Nhìn chung, ở Thái Nguyên, lượng mưa thích hợp với cây sắn song dochế độ mưa không đều nên cũng gây ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triểncây sắn

* Ánh sáng:

Sắn là cây ưa sáng Nếu được dãi nắng nhiều thì cây mới sinh trưởngtốt, củ phát triển thuận lợi Nếu giảm bức xạ ánh sáng mặt trời thì chiều dàilóng tăng lên, tốc độ ra lá mới giảm, tuổi thọ lá, diện tích lá cũng như lượngvật chất khô vận chuyển tích lũy về rễ củ cũng giảm Theo CIAT (1973), nếugiảm 1/2 lượng chiếu sáng thì phần chất khô đi về rễ củ giảm 30% Về ảnhhưởng của thời gian chiếu sáng trong một ngày đối với sự hình thành củ,Lowe và cộng sự (1976) cho biết: Trong điều kiện chiếu sáng 8 giờ ánh sáng/ngày, sự hình thành củ sắn sớm hơn so với điều kiện chiếu sáng 14 và 20 giờánh sáng/ngày, nhưng không có ảnh hưởng tới số lượng củ sau 14 tuần lễ.Ngược lại, Nair và cộng sự (1968) gợi ý là ngày dài làm tăng số lượng củnhưng sau đó không thuận cho củ lớn lên (Trần Ngọc Ngoạn,2003) [22] Sắn

là cây trồng có khả năng tích lũy đường, tinh bột mạnh hơn rất nhiều so vớicây trồng khác Cây sắn rất cần ánh sáng, nếu giảm cường độ chiếu sáng và sốgiờ chiếu sáng thì chiều dài của lá tăng lên dẫn đến lá rụng sớm, thân nhỏ,phân hóa củ giảm rõ rệt (Nguyễn Như Hà,2005) [6] Trong điều kiện khí hậuThái Nguyên, số giờ nắng từ tháng 3 đến tháng 12 tương đối cao, dao độngtrong khoảng 10 - 183,2 giờ Điều đó rất thuận lợi cho sự tăng trưởng chiềucao cây, tốc độ ra lá, tuổi thọ lá Sự phân hóa củ cũng như hình thành củ, pháttriển củ và số củ/cây từ 2 - 4 tháng sau trồng mà số giờ nắng từ những thángnày cao (số giờ nắng từ tháng 6 - tháng 9 lần lượt là 132,1; 181,8; 183,2;143,1 giờ) Do đó, thuận lợi cho cây quang hợp, tích lũy vật chất về củ

Trang 32

4.2 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến sinh trưởng thân, lá của giống sắn KM98-7

Sinh trưởng là sự tăng lên về chiều cao, kích thước, khối lượng của câytrồng Do đó, theo dõi tốc độ tăng trưởng của sắn thông qua hai chỉ tiêu chủyếu, đó là chiều cao cây và tốc độ ra lá

Đại bộ phận cây trồng có cơ quan thu hoạch được hình thành từ hoa vàlớn lên trong giai đoạn phát triển Ở cây sắn, cơ quan thu hoạch là củ, đượchình thành từ phần gỗ, đặc biệt là các rễ mọc tự nhiên được chuyển thành củ.Bên cạnh đó, củ được lớn lên cùng với giai đoạn sinh trưởng cũng như sựvươn cao của thân và sự tăng lên của lá Chính vì vậy, sinh trưởng thân lá làchỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng tổng hợp dinh dưỡng làm tiền đềhình thành năng suất sinh vật học Đối với cây sắn, sinh trưởng thân lá tốt làbiểu thị khả năng đồng hóa các yếu tố của điều kiện sống (dinh dưỡng, nước,ánh sáng, không khí,…) Chúng đã trở thành một trong những lợi thế bởi vì

nó sẽ là tiền đề quan trọng như tác giả Kawano (1985) đã kết luận: “Năng suấtsinh vật học của cây sắn đóng vai trò quan trọng ở cả môi trường năng suấtthấp và môi trường năng suất cao” (Nguyễn Viết Hưng,2002) [12]

Do đó, việc sinh trưởng tốt của giống sắn ở các mức đạm bón thúctrong thí nghiệm là biểu thị khả năng thích ứng của chúng ở môi trường nhấtđịnh Năng suất thân, lá của sắn cao là kết quả khả năng đồng hóa các yếu tốcủa điều kiện sống Đây là cơ sở để tạo ra được khả năng đạt năng suất kinh tếcao Nên việc theo dõi sinh trưởng thân, lá sẽ giúp chúng ta đánh giá gián tiếptiềm năng năng suất của giống ở các mức bón đạm trong nghiên cứu

4.2.1 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây

Cây sắn là cây thuộc lớp 2 lá mầm nên sự tăng trưởng chiều cao cây vàđường kính thân được quyết định bởi mô phân sinh đỉnh làm cho cây lớn lên

về chiều cao Mô phân sinh tượng tầng hoạt động sẽ làm cho cây lớn lên vềchiều ngang Sự tăng trưởng chiều cao cây quyết định lượng vật chất hữu cơđược đồng hóa và tích lũy trong thân lá Tốc độ trưởng chiều cao cây phụthuộc vào điều kiện sinh thái, trình độ thâm canh, mật độ trồng Khi mật độquá dày cây sẽ thiếu ánh sáng làm giảm quang hợp dẫn đến thân sắn cao, gầy

32

Trang 33

yếu và dễ bị gẫy Nhưng trong cùng một điều kiện như: Giống, mật độ, chămsóc thì chiều cao cây được quyết định bởi phân bón Sự tăng trưởng chiều caocây ở các công thức bón đạm kết quả được trình bày ở bảng số liệu 4.2.

Bảng 4.2 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến tốc độ

tăng trưởng chiều cao cây giống sắn KM98-7

TT

Chỉ tiêu CT

Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây ở các tháng sau trồng (cm/ngày)

Chiều cao cây cuối cùng (cm)

Hình 4.2 Biểu đồ ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến chiều cao

cây cuối cùng giống KM98-7

Trang 34

Qua bảng số liệu 4.2 và biểu đồ hình 4.2, chúng ta thấy: Sinh trưởngchiều cao cây không ngừng tăng lên và tăng dần theo chiều tăng của các mứcbón đạm Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây ở các mức bón đạm đạt giá trị cựcđại ở tháng thứ 4 sau trồng Sau đó, sinh trưởng ổn định Như vậy, cây có tốc

độ tăng trưởng chiều cao giảm thì lượng vật chất do quá trình quang hợp tạo

ra có chiều hướng thiên về tích lũy dinh dưỡng vào củ Do đó, có nhiều sảnphẩm tích lũy vào củ dẫn đến có tiềm năng năng suất cao Trong đó, các côngthức từ 1 đến 5 có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây giảm ít (dao động trongkhoảng 0,3 ÷ 0,4 cm/ngày) Ngược lại, từ công thức 6 đến 12 có tốc độ tăngtrưởng chiều cao cây giảm mạnh (dao động trong khoảng 0,35 ÷ 0,43cm/ngày) Điều đó cho thấy rằng, bón đạm cao (40N, 80N) ở giai đoạn đầugiúp tăng trưởng chiều cao cây mạnh, lượng vật chất do quang hợp tích lũycao nhưng được phân bố nhiều cho sự phát triển thân lá Giai đoạn sau, tốc độtăng trưởng chiều cao cây giảm, lượng vật chất được tích lũy phân bố nhiềucho bộ phận thu hoạch Sự phân phối sản phẩm tích lũy cân đối sẽ là cơ sở tạonên năng suất cao sau này Cụ thể:

Giai đoạn sau trồng 4 tháng: Các công thức bón đạm đều có tốc độ tăngtrưởng chiều cao cây cao hơn công thức N0-0 (như N3-3: 1,08 cm/ngày, N2-3:1,09 cm/ngày, N3-1: 1,04 cm/ngày, N3-2: 1,08cm/ngày, N2-2: 1,08 cm/ngày, N2-1:1,03 cm/ngày,…) Và các công thức này có sự tăng trưởng cao hơn so vớicông thức không bón từ 0,07 ÷ 0,34 cm/ngày (trừ công thức N0-1) Các côngthức chỉ được bón đạm một lần sau trồng 90 ngày có tốc độ tăng trưởng chiềucao cây thấp hơn các công thức bón hai lần

Giai đoạn sau trồng 6, 7 tháng: Các công thức có tốc độ tăng trưởngchiều cao cây giảm nhưng các công thức bón đạm đều có tốc độ tăng trưởngchiều cao cây cao hơn công thức không bón (N0-0) (trừ công thức N0-1) Đó là:

Ở tháng thứ 6, tốc độ tăng trưởng chiều cao cây từ 1,09 cm/ngày (N0-2) đến1,39 cm/ngày (N2-3), các công thức này có tốc độ tăng trưởng chiều cao câycao hơn hẳn công thức N0-0 Ở tháng thứ 7, các công thức N2-3, N3-1, N3-3 caohơn hẳn N0-0 từ 0,28 ÷ 0,36 cm/ngày

34

Trang 35

Qua nghiên cứu, phân tích số liệu bảng 4.2 và biểu đồ hình 4.2 chúng tathấy rằng, bón phân đạm cho sắn ảnh hưởng rất lớn tới sinh trưởng chiều caocây Liều lượng đạm thay đổi theo mức tăng từ No đến N3 trên nền cố định là

40 kgP2O5 + 80 kgK2O qua các công thức bón một hoặc hai lần sau trồng chothấy, công thức 1 (N0-0) - không bón đạm, có chiều cao cây cuối cùng thấpchỉ đạt 217,33 cm Các công thức chỉ bón một lần sau trồng 90 ngày có chiềucao cây cuối cùng tăng dần theo lượng đạm bón(trừ công thức N0-1) (côngthức N0-1: 203,33 cm, công thức N0-2: 226 cm, công thức N0-3: 268 cm) Có sựchênh lệnh về chiều cao cây cuối cùng giữa ba công thức 4 (N0-3), 7 (N2-2), 9(N3-0) Các công thức này có tổng lượng đạm bón như nhau (80 kgN) nhưnglượng được bón ở mỗi lần sau trồng 45 ngày hoặc 90 ngày khác nhau Tronghai công thức được bón đạm một lần sau trồng 90 ngày hoặc 45 ngày (N0-3,

N3-0), công thức 4 có chiều cao cây cuối cùng cao hơn, đạt 268 cm (cao hơn112,33 cm) Điều đó cho thấy rằng, giai đoạn đầu cây cần đạm nhiều cho sinhtrưởng thân lá nên khi được cung cấp đạm đã tạo đà cho tăng trưởng chiềucao mạnh và sự tăng trưởng chiều cao cây đã quyết định lượng vật chất hữu

cơ được đồng hóa Chiều cao cây cao là một trong những yếu tố tạo năng suấtcao sau này Do vậy, phân đạm nói riêng có ảnh hưởng rất lớn đến sinhtrưởng chiều cao cây Bón phân cân đối và hợp lý cho sắn là điều rất cần thiết

để có năng suất cao và ổn định

4.2.2 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến tốc độ ra lá

Đồng thời cùng với sự tăng trưởng chiều cao cây, giống KM98-7 liêntục ra các lá trong suốt quá trình sinh trưởng Hai quá trình này diễn ra đồngthời và tỷ lệ thuận với nhau Tốc độ ra lá liên quan đến tổng diện tích lá vàkhả năng quang hợp, ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng và phát triển củacây Lá sắn là cơ quan chính thực hiện chức năng quang hợp tạo ra vật chấthữu cơ cung cấp cho quá trình hình thành thân lá mới và tích lũy vào củ.Tổng diện tích lá cũng như khả năng quang hợp ảnh hưởng trực tiếp đếnnăng suất (củ to hay nhỏ, dài hay ngắn), phẩm chất củ (củ xơ hay không xơ).Tốc độ ra lá phản ánh tình hình sinh trưởng, đặc tính của giống, sự thích

Trang 36

nghi của giống với điều kiện môi trường và kỹ thuật canh tác Nếu tốc độ ra

lá quá cao, chỉ số diện tích lá quá lớn, các lá bị che lấp lẫn nhau thì qua trình

hô hấp lớn hơn quang hợp, dẫn đến tuổi thọ lá giảm Từ đó, hạn chế lượngvật chất tích lũy vào củ, ảnh hưởng đến năng suất Mặt khác, tốc độ ra lá caogiúp cây có độ che phủ lớn và như vậy sẽ có tác dụng tốt trong việc hạn chếxói mòn đất Chính vì vậy, nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bónthúc tới tốc độ ra lá của các công thức thí nghiệm, kết quả được trình bàytrong bảng số liệu 4.3

Bảng 4.3 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến

- Giai đoạn 4 tháng sau trồng:

Tốc độ ra lá ở các công thức có sự sai khác Các công thức đối chứngkhông bón và chỉ bón đạm một lần sau trồng 90 ngày đều có tốc độ ra lá thấphơn các công thức được bón hai lần và tăng dần theo chiều tăng của lượng

36

Trang 37

đạm bón, thể hiện từ công thức 1 đến công thức 5, dao động từ 0,98 - 1,08 lá/ngày Như: công thức 1 (N0-0): 0,98 lá/ngày, công thức 2 (N0-1): 0,99 lá/ngày,công thức 3 (N0-2): 1,06 lá/ngày, công thức 4 (N0-3): 1,08 lá/ngày và công thức

5 (N2-0): 1,08 lá/ngày Trong khi đó, các công thức còn lại được bón thúcngay từ đầu đã tạo đà cho cây sinh trưởng, phát triển mạnh nên tốc độ ra lánhanh hơn, dao động trong khoảng (1,04 - 1,13 lá/ngày) Tốc độ ra lá mạnhnhất trong tất cả các công thức là công thức 8 (N2-3) với 1,13 lá/ngày

- Giai đoạn 5 tháng sau trồng:

Tốc độ ra lá lúc này là mạnh nhất Tuy nhiên, các công thức bón mộtlần sau trồng 90 ngày (công thức từ 2 đến 4) có tốc độ ra lá thấp hơn các côngthức còn lại Công thức 8, 9, 10, 11, 12 có tốc độ ra lá mạnh nhất (công thức 8(N2-3): 1,3 lá/ngày, (công thức 9 (N3-0): 1,22 lá/ngày, công thức 10 (N3-1): 1,21lá/ngày, công thức 11 (N3-2): 1,21 lá/ngày, công thức 12 (N3-3): 1,28 lá/ngày).Điều này cho thấy rằng , bón đạm cao trên đất nghèo dinh dưỡng đã thúc đẩyquá trình hút dinh dưỡng, giúp cho cây sinh trưởng tốt

- Giai đoạn 6, 7 tháng sau trồng:

Nhìn chung, tốc độ ra lá vẫn tiếp tục tăng nhưng chậm hơn giai đoạntrước, dao động trong khoảng 0,74 - 1,13 lá/ngày Do vật chất tạo ra trong quátrình quang hợp chủ yếu tập trung cho sự phát triển củ

Tóm lại, bón phân cho sắn cả hai lần sau trồng 45 ngày và 90 ngày khôngchỉ tăng trưởng chiều cao cây mạnh mà còn thức đẩy tốc độ ra lá nhanh

4.2.3 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến tuổi thọ lá

Tuổi thọ lá là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sinh trưởng và tăng năngsuất sắn Vì nó phản ánh chỉ số diện lá, khả năng quang hợp và tích lũy chấtkhô Cây sắn sinh trưởng tốt phải đạt được tốc độ tăng trưởng chiều cao cây,tốc độ ra lá mạnh đồng thời phải có tuổi thọ lá cao để có được diện tích lá tốithích giúp cho quá trình quang hợp và đồng hóa dinh dưỡng của cây

Tuổi thọ lá được quyết định bởi các đặc tính giống (các yếu tố nội tại).Kích thước lá, diện tích lá, tuổi thọ lá có sự khác nhau giữa các giống (CIAT

1978 - 1979) Đồng thời, nó chịu được sự chi phối của nhiều yếu tố ngoạicảnh khác nhau như: Mật độ trồng, điều kiện chiếu sáng, nhiệt độ, độ ẩm,

Trang 38

phân bón… Nhìn chung, số lá mới hình thành ít hơn và tuổi thọ lá thấp hơn,tuổi thọ lá bị rút ngắn lại và rụng khi bị che tối 10 ngày.

Trong các yếu tố ngoại cảnh thì biện pháp canh tác và tình trạng dinhdưỡng có ảnh hưởng mạnh tới tuổi thọ lá Việc theo dõi tuổi thọ lá được tiếnhành song song với việc theo dõi tốc độ ra lá Chúng tôi đã tiến hành theo dõituổi thọ lá nhằm đánh giá nhiệm kỳ hoạt động và cung cấp vật chất của mỗi

lá Kết quả theo dõi tuổi thọ lá của các công thức thể hiện trong bảng 4.4

Bảng 4.4 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến

có tuổi thọ lá cao nhất đạt 100,6 ngày

Giai đoạn 5 tháng sau trồng là thời kỳ lượng vật chất do quang hợp tạo

ra tích lũy chủ yếu trong thân lá Do đó, song song với sự tăng mạnh chiềucao cây, tốc độ ra lá thì tuổi thọ lá, chỉ số diện tích lá cũng tăng Các côngthức chỉ bón một lần sau trồng 90 hoặc 45 ngày có tuổi thọ lá thấp hơn cáccông thức được bón hai lần từ 0,6 đến 12,2 ngày Trong các công thức được

38

Trang 39

bón đạm hai lần sau trồng, các công thức bón mức đạm cao không chỉ giúpcây tăng mạnh chiều cao cây, tốc độ ra lá mà tuổi thọ lá cũng tăng cao (N2-3:99,9 ngày, N3-1: 100,6 ngày, N3-2: 100,0 ngày, N3-3: 100,1 ngày).

Giai đoạn sau trồng 6, 7 tháng là thời kỳ lượng dinh dưỡng được tíchlũy vào củ nhiều nhất Vì vậy, tuổi thọ lá giai đoạn này sẽ ảnh hưởng đếnđường kính củ

Qua theo dõi ở giai đoạn 6 tháng sau trồng cho thấy, hầu hết các côngthức bón thúc đạm đều có tuổi thọ lá sấp xỉ hoặc cao hơn không đáng kể vớicông thức không bón đạm: (Công thức 12 (N3-3) đạt 73,8 ngày; công thức 3(N0-2) đạt 73,6 ngày; công thức 7 (N2-2) đạt 72,4 ngày; công thức 9 (N3-0) đạt72,2 ngày; công thức 5 (N2-0) đạt 71,2 ngày; công thức 8 (N2-3) đạt 70,8 ngày;công thức 11 (N3-2) đạt 70,7 ngày; công thức 6 (N2-1) đạt 70,3 ngày; công thức

2 (N0-1) đạt 69,4 ngày) Công thức 2 có tuổi thọ lá thấp nhất do không bónđạm ở thời kỳ đầu, thời kỳ sau được bón rất ít (20N) Với lượng đạm đó, cây

có tốc độ tăng trưởng chiều cao và tốc độ ra lá chậm nên ở công thức này cótuổi thọ lá thấp Công thức 10 đạt chỉ số tuổi thọ lá cao nhất (77,1 ngày)

Giai đoạn 7 tháng sau trồng: Nhìn chung, tuổi thọ lá của các công thứcgiảm so với giai đoạn trước nhưng còn tương đối cao Riêng công thức 10 cóchỉ số tuổi thọ lá cao nhất (đạt 75,0 ngày), cao hơn công thức không bón N0-0

là 6,5 ngày

Công thức 7 (N2-2), 10 (N3-1) có chỉ số tuổi thọ lá tương đối ổn định sovới các công thức khác trong suốt quá trình sinh trưởng Do bón thúc đạm cânđối cả hai thời kỳ sau trồng 45 ngày và 90 ngày Mặc dù công thức 10 sautrồng 90 ngày bón với lượng đạm ít (20N) nhưng tuổi thọ lá vẫn đạt mức cao.Điều này cho thấy rằng, sắn cần nhiều đạm giai đoạn đầu tạo đà cho sinhtrưởng thân lá, trong đó có tuổi thọ lá, tạo tiền đề tăng năng suất

Tuổi thọ lá của các công thức thí nghiệm có mối tương quan với chỉ sốdiện tích lá và phụ thuộc vào đặc tính giống, chế độ trồng trọt; năng suất củacác công thức phụ thuộc vào tuổi thọ lá ở các giai đoạn Nhìn chung, tất cảcác công thức bón đạm có tuổi thọ lá ở các giai đoạn khác nhau đều có sự saikhác và trị số cao nhất vào tháng thứ 5 sau trồng

Trang 40

4.2.4 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến đường kính gốc

Cây sắn cũng như cây trồng khác, sự sinh trưởng của cây thể hiện sựtăng trưởng của chiều cao cây và sự lớn lên của kích thước Sự tăng trưởngnày nhờ hoạt động của mô phân sinh đỉnh và mô phân sinh tượng tầng

Để đánh giá sự phát triển của cây ta dựa vào chỉ tiêu chiều cao cây vàđường kính gốc Cây có chiều cao và đường kính gốc lớn, chứng tỏ trong suốtquá trình sinh trưởng và phát triển đã được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng Khicây có chiều cao và đường kính gốc lớn sẽ có một bộ rễ và thân lá khỏe, giúpcây hút được nhiều dinh dưỡng và quang hợp tốt, tạo ra nhiều vật chất cho hoạtđộng sống của cây, một phần được tích lũy dưới dạng củ Tuy nhiên, đườngkính gốc càng to, chiều cao cây càng cao thì khối lượng thân lá càng lớn.Đường kính gốc của sắn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Giống, phân bón…Vìvậy, các công thức bón đạm khác nhau dẫn đến đường kính gốc ở các côngthức là khác nhau Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc tới đường kính gốcđược thể hiện trong bảng số liệu 4.5 và hình 4.3

Bảng 4.5 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến

Ngày đăng: 16/05/2014, 21:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Diện tích, năng suất, sản lượng sắn trên  thế giới giai đoạn 2001 - 2010 - Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc cho giống sắn KM98 7 tại trường đại học nông lâm   thái nguyên
Bảng 2.1. Diện tích, năng suất, sản lượng sắn trên thế giới giai đoạn 2001 - 2010 (Trang 7)
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất, sản lượng sắn  Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 - Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc cho giống sắn KM98 7 tại trường đại học nông lâm   thái nguyên
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất, sản lượng sắn Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 (Trang 10)
Bảng 4.1. Thời tiết, khí hậu của tỉnh Thái Nguyên năm 2011 Yếu tố - Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc cho giống sắn KM98 7 tại trường đại học nông lâm   thái nguyên
Bảng 4.1. Thời tiết, khí hậu của tỉnh Thái Nguyên năm 2011 Yếu tố (Trang 29)
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến tốc độ  tăng trưởng chiều cao cây giống sắn KM98-7 - Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc cho giống sắn KM98 7 tại trường đại học nông lâm   thái nguyên
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây giống sắn KM98-7 (Trang 33)
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến  tốc độ ra lá giống sắn KM98-7 - Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc cho giống sắn KM98 7 tại trường đại học nông lâm   thái nguyên
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến tốc độ ra lá giống sắn KM98-7 (Trang 36)
Bảng 4.4. Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến  tuổi thọ lá giống sắn KM98-7 - Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc cho giống sắn KM98 7 tại trường đại học nông lâm   thái nguyên
Bảng 4.4. Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến tuổi thọ lá giống sắn KM98-7 (Trang 38)
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến  các yếu tố cấu thành năng suất của giống sắn KM98-7 - Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc cho giống sắn KM98 7 tại trường đại học nông lâm   thái nguyên
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống sắn KM98-7 (Trang 42)
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến năng suất thân lá,  NS củ tươi, NS sinh vật học và hệ số thu hoạch giống sắn KM98-7 TT      Chỉ tiêu - Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc cho giống sắn KM98 7 tại trường đại học nông lâm   thái nguyên
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến năng suất thân lá, NS củ tươi, NS sinh vật học và hệ số thu hoạch giống sắn KM98-7 TT Chỉ tiêu (Trang 45)
Bảng 4.8. Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến tỷ lệ chất khô,  tỷ lệ tinh bột, NS tinh bột và NS củ khô giống sắn KM98-7 - Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc cho giống sắn KM98 7 tại trường đại học nông lâm   thái nguyên
Bảng 4.8. Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến tỷ lệ chất khô, tỷ lệ tinh bột, NS tinh bột và NS củ khô giống sắn KM98-7 (Trang 49)
Bảng 4.9. Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc  đến hiệu quả kinh tế giống sắn KM98-7 - Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc cho giống sắn KM98 7 tại trường đại học nông lâm   thái nguyên
Bảng 4.9. Ảnh hưởng của liều lượng đạm bón thúc đến hiệu quả kinh tế giống sắn KM98-7 (Trang 52)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w