Hiểu biết sâu sắc về thời đại giúp ta tìm thấy xu hướngtất yếu trong vô vàn những hiện tượng phức tạp, mang tínhngẫu nhiên của đời sống xã hội, giúp ta nhìn xa trông rộng,nắm bắt khuynh
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Thế kỷ XXI, chúng ta đang bước vào thời kỳ chạy đuagiữa các nền kinh tế trên thế giới Kẻ nào mạnh sẽ nắm giữnhững giá trị cốt lõi và tiến lên, kẻ yếu sẽ tự bị đào thải rakhỏi vòng xoáy không ngừng vận động và phát triển
Hiểu biết sâu sắc về thời đại giúp ta tìm thấy xu hướngtất yếu trong vô vàn những hiện tượng phức tạp, mang tínhngẫu nhiên của đời sống xã hội, giúp ta nhìn xa trông rộng,nắm bắt khuynh hướng và quy luật phát triển của nhân loại
để vừa có thể lựa chọn được hướng đi phù hợp với sự pháttriển của lịch sử; lường trước được những thách đố phức tạp,tránh được những vấp váp sai lệch trên đường đi; từ đó sẽkhông bị chao đảo hoặc bị cuốn trôi trước phong ba bão tápcủa đời sống chính trị quốc tế V.I.Lênin đã từng chỉ rõ: ”Khiphân tích bất cứ vấn đề xã hội nào phải đặt trong bối cảnhlịch sử nhất định, vì chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết nhữngđặc điểm cơ bản của một thời đại, người ta mới có thể tínhđến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước khác.”
Do đó, việc nghiên cứu những lý luận về cải tổ, đổi mớiđất nước là điều vô cùng quan trọng trong giai đoạn hiệnnay Từ những kinh nghiệm thực tiễn, Đảng ta đã đúc kếtthành những văn bản mang tính nền tảng, là bước đệm cho
sự đi lên của chế độ Xã hội chủ nghĩa ở nước ta Trong đó,Đại hội VI năm 1986 là cột mốc đầu tiên đánh dấu cho sự
Trang 2chuyển mình của nền kinh tế - chính trị Việt Nam, là chiếc labàn mang tính định hướng lâu dài cho cả quá trình phát triểncủa nước ta Xuất phát từ thực tế đó, tác giả lựa chọn đề tài:
“QUYẾT ĐỊNH ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC CỦA ĐẠI HỘI ĐẢNG
TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI LÀ BƯỚC NGOẶT LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM NHIỆM VỤ CỦA SINH VIÊN TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY” làm
đề tài nghiên cứu tiểu luận của mình
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ vấn đề lý luận và thực tiễn của quá trình Đổimới đất nước tại Đại hội VI năm 1986
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thu thập thông xin và phân tích những nguyên nhân,hạn chế, nội dung của Đại hội VI năm 1986 Từ đó, đưa ranhận thức đúng đắn về nhiệm vụ xây dựng đất nước ta trongthời đại mới
2. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Phương pháp thu thập số liệu, phương pháp định tính,phương pháp định lượng, phương pháp phân tích và tổnghợp, phương pháp quy nạp và diễn giải, phương pháp lịch sử
và logic
3. Kết cấu tiểu luận
Trang 3Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tàiliệu tham khảo, tiểu luận gồm có 3 Chương và 6 Tiết.
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC CỦA ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ VI
1.1 Cơ sở lý luận:
1.1.1. V.I Lê-nin và cuộc đổi mới tư duy đầu tiên về chủ
nghĩa xã hội “Chính sách cộng sản thời chiến”
Nhà nước Xô-viết - chế độ xã hội chủ nghĩa đầu tiêntrên thế giới đã ra đời ở nước Nga sau Cách mạng ThángMười năm 1917 V.I Lê-nin cùng Đảng Cộng sản Nga đã lãnhđạo xây dựng CNXH từ một nền kinh tế lạc hậu và kiệt quệ,lại bị 14 nước tư bản đế quốc bao vây, các lực lượng phảnđộng ở trong nước chống phá
“Chính sách cộng sản thời chiến” (thực hiện từ năm
1918 đến đầu năm 1921) thực chất là một biện pháp tìnhthế, thích ứng với trạng thái ngặt nghèo, khi Nhà nước Xô-viết phải đương đầu với thù trong, giặc ngoài Để huy độngcác nguồn lực cho những nhu cầu cấp thiết, các biện phápmệnh lệnh hành chính thiên về việc sử dụng quyền lực nhànước để trưng thu lương thực, thực phẩm và các tư liệu sảnxuất, kiểm soát việc sản xuất và phân phối sản phẩm nhằmphục vụ cho nhu cầu quốc phòng và dân sinh đã được ban bố
và thực hiện Nhiều nguồn lực cho nhu cầu quốc phòng vàdân sinh cấp thiết đã được huy động, qua đó giúp củng cố vàphát triển sức mạnh của chính quyền Xô-viết Tuy nhiên, saumột thời gian thực hiện, phương pháp mệnh lệnh hành chính
Trang 5đã bộc lộ bất cập trong hoàn cảnh cụ thể của nước Ngađương thời Tình trạng trì trệ đã xuất hiện, thậm chí đã có cảnhững phản ứng gay gắt của xã hội, như “vụ nổi loạnCronxtat”.
V.I Lê-nin đã nhận ra, giải pháp tình thế chỉ đúng trongthời điểm ngặt nghèo, nay đã trở thành khuyết điểm khi nó
bị kéo dài quá mức Vấn đề nổi bật là, không thể dùng ý chíchủ quan để xây dựng CNXH mà không trải qua giai đoạnquá độ V.I Lê-nin nhận định: “Mùa xuân 1921, chúng ta thấy
rõ rằng chúng ta đã thất bại trong cái ý định dùng phươngpháp “xung phong”, nghĩa là dùng con đường ngắn nhất,nhanh nhất, trực tiếp nhất để thực hiện việc sản xuất vàphân phối theo nguyên tắc xã hội chủ nghĩa”[1]
Chính sách cộng sản thời chiến, có thể xem như thửnghiệm đầu tiên về mô hình CNXH đã gặp khủng hoảng vàtất yếu phải đổi mới
“Chính sách kinh tế mới” - bước tiến của lý luận
về chủ nghĩa xã hội.
Từ mùa xuân năm 1921, V.I Lê-nin đã khởi xướng cuộccải cách đầu tiên về mô hình và biện pháp xây dựng CNXHthông qua NEP Cần hiểu rằng, NEP không chỉ là một chínhsách quản lý vĩ mô về kinh tế, mà là một cải cách có tínhtổng thể về CNXH, gồm nhiều nội dung:
Một là, những bất hợp lý của “Chính sách cộng sản thờichiến” bị bãi bỏ, chế độ “trưng thu lương thực thừa” được
Trang 6thay bằng thuế lương thực với tư cách là “liệu pháp cấp tốc,cương quyết nhất, cấp thiết nhất” để phát triển sản xuất.Việc trao đổi hàng hóa trên cơ sở của nguyên tắc thị trườngđược thừa nhận và phục hồi, quan hệ hàng - tiền là “đònbẩy” kinh tế, là hình thức cơ bản của các mối liên hệ giữacông nghiệp với nông nghiệp, giữa thành thị với nông thôn.Lợi ích của người lao động được quan tâm và thực hiện, nôngdân được phép mua bán và trao đổi lương thực “thừa” củamình.
Hai là, phát triển “chủ nghĩa tư bản nhà nước” - mắtxích “trung gian quan trọng để xây dựng CNXH” V.I Lê-ninđặt câu hỏi, đồng thời khẳng định rằng: “Liệu có thể kết hợp,liên hợp, phối hợp Nhà nước Xô-viết, nền chuyên chính vôsản, với chủ nghĩa tư bản nhà nước được không? Tất nhiên làđược.”[2] Người nhận định: “Kinh tế nông dân, với tư cách làmột nền kinh tế tiểu nông, không thể đứng vững được, nếukhông có một sự tự do trao đổi nào đó, và không có nhữngquan hệ tư bản chủ nghĩa gắn liền với tự do trao đổi đó.”[3].Tìm cách ngăn cấm, triệt để chặn đứng mọi sự phát triển củatrao đổi tư nhân, của chủ nghĩa tư bản (CNTB) - một sự pháttriển không thể tránh được khi có hàng triệu người sản xuấtnhỏ, “chính sách ấy là một sự dại dột và tự sát đối với đảngnào muốn áp dụng nó” Và thái độ đúng đắn là “Chúng taphải lợi dụng chủ nghĩa tư bản (nhất là bằng cách hướng nóvào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước) làm mắt xíchtrung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, làm
Trang 7phương tiện, con đường, phương pháp, phương thức để tăngcường lực lượng sản xuất lên”[4] V.I Lê-nin đã đề xuất một
số hình thức CNTB nhà nước như chế độ tô nhượng, chế độhợp tác, chế độ đại lý thu mua, đại lý tiêu thụ, chế độ chothuê
Ba là, phải học tập và sử dụng những giá trị văn minhnhân loại được tạo ra từ CNTB; kiên quyết phản đối việc
“đem chủ nghĩa tư bản đối lập một cách trừu tượng với chủnghĩa xã hội” Theo V.I Lê-nin, ở một nước kinh tế lạc hậu thìgiải pháp hiện thực để có được kinh nghiệm, tri thức quản lýhiện đại là học hỏi bằng việc thuê và trả lương cao chochuyên gia tư sản
V.I Lê-nin cho rằng, không có sự chỉ đạo của cácchuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và cókinh nghiệm tổ chức quản lý, thì không thể nào chuyển lênCNXH được
Bốn là, chuyển trọng tâm của cách mạng sang tổ chức
và phát triển văn hóa V.I Lê-nin viết: “Chúng ta buộc phảithừa nhận là toàn bộ quan điểm của chúng ta về chủ nghĩa
xã hội đã thay đổi về căn bản Sự thay đổi căn bản đó là ởchỗ: trước đây đặt trọng tâm công tác của chúng ta vào đấutranh chính trị, vào cách mạng, vào việc giành lấy chínhquyền Ngày nay, trọng tâm ấy đã chuyển sang công táchòa bình tổ chức “văn hóa”[5] Chủ nghĩa xã hội không thể
ra đời từ “những cuộc xung phong” hay những sắc lệnh duy ý
Trang 8chí nữa, mà là tùy ở kết quả của việc có kết hợp được chínhquyền xô-viết với những tiến bộ mới nhất của CNTB
Năm là, củng cố chính quyền Xô-viết, tăng cường vai tròcủa quản lý, kết hợp chặt chẽ các biện pháp hành chính, tổchức với biện pháp kinh tế để xây dựng CNXH
Những quan niệm mới mẻ và đúng đắn của NEP đãđược thực tiễn xác nhận Nước Nga Xô-viết chỉ trong một thờigian ngắn đã có nhiều chuyển biến tích cực: từ năm 1922,thành thị đã có đủ lương thực - thực phẩm Năm 1925 sảnxuất nông nghiệp đạt 87%; công nghiệp đạt 75% sản lượngcủa năm 1913; đời sống nhân dân cải thiện rõ rệt, chính trị
ổn định, khối liên minh công nông được củng cố, phát triển.Song từ Đại hội XV của Đảng Cộng sản Liên Xô, tháng 12-
1927, với đường lối tập thể hóa nông nghiệp bằng con đườnghợp tác hóa sản xuất và tổ chức các nông trường quốc doanhlớn, với cơ chế quản lý kế hoạch hóa, tập trung NEP đã chấmdứt vai trò lịch sử của nó ở Liên Xô
1.1.2. NEP và đổi mới tư duy kinh tế ở Việt Nam
Một hạn chế trong tư duy về biện pháp xây dựng CNXH
ở Việt Nam, cũng tương tự như V.I Lê-nin đã vạch ra là, “đemchủ nghĩa tư bản đối lập một cách trừu tượng với chủ nghĩa
xã hội” Vấn đề lớn trong tư duy cũ là, chưa phân định rõ sởhữu tư nhân với sở hữu tư bản chủ nghĩa, kinh tế thị trườngvới tư cách là một trình độ của sản xuất hàng hóa với kinh tếthị trường là đặc trưng của kinh tế tư bản chủ nghĩa
Trang 9Từ một trạng thái tư duy như vậy, việc vận dụng kinh tếthị trường vào quá trình sản xuất, trao đổi và tiêu dùng làbước tiến lớn lao và có thể xem là tiêu biểu nhất trên lĩnhvực đổi mới tư duy kinh tế Tư duy này đã vận động từ chỗ kỳthị kinh tế thị trường, đến việc coi nó như một yếu tố mà kếhoạch hóa cần tham chiếu, sau đó coi thị trường là một cơchế để quản lý và đến nay là nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa được coi là mô hình kinh tế tổng quátcủa đất nước Bước tiến dài ấy cần có được những luậnchứng vững chắc của thực tiễn và của lý luận Chính những
tư tưởng của V.I Lê-nin về NEP đã tiếp sức và làm thành mộttrong những cơ sở lý luận cho đổi mới tư duy về con đường đilên CNXH ở Việt Nam
Cũng cần nói thêm rằng, NEP của V.I Lê-nin còn là “bảobối” để hỗ trợ tinh thần cho giới lý luận Việt Nam Một trongnhững trở lực lớn của việc đổi mới tư duy lý luận ở Việt Namthời kỳ trước đổi mới là những lo ngại về “mất lập trường”,
“sai quan điểm” Chính những lo ngại đó đã khiến cho đổimới tư duy lý luận không hề dễ dàng “Chúng ta phải đixuyên qua những dằn vặt tinh thần chưa từng có, phải vượtqua những cơn sốc tâm lý vốn không được chuẩn bị, mặtkhác, ngay cả những ý tưởng sáng tạo mới trong lý luận cũngphải trải qua những thử thách với không ít nghiệt ngã củathực tiễn và dư luận xã hội”(7)
Với tinh thần cầu thị, sáng tạo, xuất phát từ thực tiễn,những điểm nổi bật của NEP, Đảng Cộng sản Việt Nam đã
Trang 10khẳng định phương hướng phát triển kinh tế đất nước trongthời kỳ quá độ là: “Phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa Các thành phần kinh tế hoạt độngtheo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nềnkinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài,hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”(8).
Định hướng đó thể hiện tư duy biện chứng, cách mạngcủa người cộng sản, bảo đảm cho thành công của sự nghiệpxây dựng CNXH ở Việt Nam
tế trở thành xu thế nổi bật và tất yếu chi phối thời đại khôngngoại trừ một quốc gia, dân tộc nào, nếu muốn phát triểnbắt buộc phải mở cửa, hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.Cùng với toàn cầu hoá kinh tế, cuộc cách mạng khoa họccông nghệ mới lần thứ 3 diễn ra với nhịp độ ngày càng mạnh
mẽ, mà cốt lõi là dựa trên việc ứng dụng các phát minh khoahọc công nghệ, phát triển các ngành công nghệ cao, nhưcông nghệ truyền thông và tin học, công nghệ vật liệu mới,công nghệ sinh học
Trang 11Tình hình này trước hết tác động mạnh đến nền kinh tếthế giới Chẳng những các lực lượng sản xuất và cơ cấu kinh
tế thế giới có nhiều thay đổi theo hướng dựa vào tri thức vàkhoa học công nghệ, làm xuất hiện các ngành sản xuất mới
có hàm lượng R&D và giá trị gia tăng cao, ngành dịch vụngày càng có vai trò quan trọng và tỷ trọng lớn dần trong cơcấu kinh tế quốc dân
Mặt khác, nó làm thay đổi các quan hệ kinh tế và quản
lý kinh tế thế giới theo hướng:
- Trong các nước tư bản phát triển phát triển, sau cáccuộc khủng hoảng cơ cấu và dầu lửa, từ đầu những năm 80,
đã tiến hành chính sách điều chỉnh kinh tế Nội dung cơ bản
là điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng tập trung vào cácngành có hàm lượng Khoa học công nghệ cao, thực hiện điềutiết nền kinh tế chủ yếu thông qua các công cụ vĩ mô, thựchiện tư nhân hoá khu vực kinh tế nhà nước, tăng cường vaitrò của kinh tế tư nhân
- Các nước đang phát triển như Đông Á và Đông Nam Ácũng thực hiện cải cách kinh tế, trở thành khu vực phát triểnnăng động của thế giới Các cải cách ở đây bao gồm cải cách
cơ cấu và xác định đúng chiến lược kinh tế để nâng cao sứccạnh tranh và phát triển, mở cửa hội nhập và liên kết kinh tế,khuyến khích xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài -coi đây là động lực phát triển kinh tế
Trang 12- Các nước xã hội chủ nghĩa cũ trước các khó khănchồng chất đã tiến hành cải cách kinh tế nhằm khắc phục cơchế kế hoạch hóa hành chính chỉ huy, chuyển đổi sang kinh
tế thị trường Cải cách kinh tế Trung Quốc từ năm 1978 đãđạt được những thành tựu to lớn và là tấm gương cho ViệtNam tham khảo
Như vậy, có thể thấy làn sóng cải cách kinh tế rộngkhắp trên thế giới cùng với quá trình toàn cầu hoá, cuộc cáchmạng khoa học công nghệ lần thứ 3 đã tạo áp lực mạnh mẽcho công cuộc đổi mới về kinh tế ở Việt Nam
1.2.1.2 Tình hình Việt Nam trước đổi mới 1986.
Trải qua 21 năm chiến đấu gian khổ và anh hùng, cáchmạng miền Nam từng bước lớn mạnh và giành được nhiềuthắng lợi to lớn Với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy MùaXuân năm 1975, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn chiếntranh xâm lược của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thốngnhất tổ quốc
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nướcthống nhất, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới
- giai đoạn cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội
Trong 5 năm 1976 - 1980, trên mặt trận kinh tế, nhândân Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng: Khắcphục từng bước những hậu quả nặng nề của chiến tranh xâmlược do đế quốc Mỹ gây ra và của cuộc chiến tranh biên giới;khôi phục phần lớn những cơ sở công nghiệp, nông nghiệp,
Trang 13giao thông ở miền Bắc và xây dựng lại các vùng nông thôn ởmiền Nam bị chiến tranh tàn phá; củng cố kinh tế quốcdoanh và kinh tế tập thể ở miền Bắc, bước đầu cải tạo và sắpxếp công thương nghiệp tư doanh ở miền Nam, đưa một bộphận nông dân Nam Bộ, nông dân Nam Trung Bộ vào conđường làm ăn tập thể; bước đầu phân bố lại lực lượng laođộng xã hội; tăng cường một bước cơ sở vật chất- kỹ thuậtcủa nền kinh tế quốc dân.
Tuy nhiên, kết quả sản xuất trong 5 năm 1976 - 1980chưa tương xứng với sức lao động và vốn đầu tư bỏ ra;những mất cân đối của nền kinh tế quốc dân còn trầm trọng;thu nhập quốc dân chưa bảo đảm được tiêu dùng của xã hội;thị trường, vật giá, tài chính, tiền tệ không ổn định; đời sốngcủa nhân dân lao động còn khó khăn Lòng tin của quầnchúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhànước giảm sút
Ngay từ những năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ 2(1981-1985), nhiều Nghị quyết và Quyết định quan trọng củaĐảng và Chính phủ được ban hành nhằm từng bước sửa đổi
cơ chế quản lý đối với kinh tế nông nghiệp, công nghiệp,kinh tế tư nhân và xóa bỏ quan liêu bao cấp Trước đó, từ Đạihội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982), bước đầu có cách nhìnmới về nền kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận miền Bắctồn tại 3 thành phần kinh tế là quốc doanh, tập thể và cáthể; miền Nam tồn tại 5 thành phần kinh tế là quốc doanh,tập thể, công tư hợp doanh, tư bản tư nhân và cá thể Đó là
Trang 14bước khởi đầu thay đổi cơ cấu các chủ thể sản xuất kinhdoanh, tạo tiền đề cơ bản cho sự phát triển kinh tế thịtrường Tuy nhiên, nền kinh tế nói chung và sản xuất côngnghiệp vẫn tăng chậm, hơn nữa, có xu hướng giảm sút và rơivào khủng hoảng Trong khi nguồn viện trợ của bên ngoài,các nguồn vốn và hàng hoá vật tư, nguyên liệu và hàng hoátiêu dùng đã bị cắt giảm đáng kể, lại thêm bao vây cấm vậncủa đế quốc Mỹ ngăn cản Việt Nam bình thường hóa quan hệvới thế giới.
1.2.2 Nguyên nhân đổi mới đất nước 1986.
1.2.2.1 Nguyên nhân chủ quan (trực tiếp)
Sai lầm của đợt tổng cải cách giá - lương - tiền cuối năm 1985
Hậu quả của cuộc khủng hoảng do cuộc tổng điềuchỉnh giá - lương - tiền năm 1985 làm cho nền kinh tế ViệtNam càng trở nên khó khan Tiền phát hành ra không đủphục vụ lưu thông, các xí nghiệp, nhà máy không có vốn lưuđộng, không có tiền trả lương cho công nhân
Hàng loạt khó khăn, thiếu thốn đó đổ lên đầu lãnh đạocác cơ sở sản xuất, cán bộ lãnh đạo các địa phương - nhữngngười hằng ngày phải đối diện với người lao động, với ngườidân Nếu chấp hành đúng quy định thì cán bộ hoàn thànhnhiệm vụ nhưng người lao động thiếu đói; nếu làm khá, họ sẽ
bị kỷ luật vì vi phạm pháp luật, có thể mất chức và hơn nữa
có thể bị quy kết đi ngược lại chủ trương, đường lối
Trang 151.2.2.2 Nguyên nhân khách quan (gián tiếp)
Sự vận dộng không ngừng của thế giới
Đường lối đổi mới là cả một quá trình Đảng ta tìm tòi,nghiên cứu tổng kết từ thực tiễn cách mạng nước ta trên cơ
sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp thu có phêphán, chọn lọc kinh nghiệm của cách mạng thế giới, thamkhảo kinh nghiệm phát triển của nhiều nước, đặc biệt là cácnước trong khu vực
Đầu thập niên 70 - 80 của thế kỷ XX, trước những sựkiện, những nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội diễn ra với nhịp
độ dồn dập, tính chất phức tạp và với một qui mô to lớn chưatừng thấy, tất cả đang đặt ra yêu cầu bức thiết là cần phải có
sự phát triển, bổ sung lí luận cho phù hợp mà trước tiên phải
có cách nhìn mới, nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội Đâychính là cơ sở khách quan của đường lối đổi mới, cải cách mànhiều nước xã hội chủ nghĩa đã và đang tiến hành, trong đó
có Việt Nam