Từ đó, chủ nghĩa xã hội khoa học ngày càng gắn bó chặt chẽ với thực tiễn sản xuất và phong trào công nhân, vừa phản ánh, vừa soi sáng con đường giai cấp công nhân tiến lên hoàn thành sứ
PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Mác-Lênin, ra đời trên nền tảng các trào lưu xã hội chủ nghĩa không tưởng và được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn để gắn bó mật thiết với sản xuất và phong trào công nhân, vừa phản ánh vừa soi sáng con đường tiến lên của giai cấp công nhân nhằm chuyển biến từ hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa sang xã hội chủ nghĩa Trước khi có sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học, nền tư bản đã phát triển và bộc lộ những mâu thuẫn ngày càng sâu sắc, mở ra những tiền đề cho cách mạng xã hội chủ nghĩa; từ thực tiễn ấy, các nhà kinh điển của Mác đã có căn cứ khoa học và căn cứ thực tiễn để thành lập hệ tư tưởng này Nội dung của chủ nghĩa xã hội khoa học là nghiên cứu các quy luật và tính quy luật của quá trình hình thành và phát triển hình thái kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa, đồng thời xác định điều kiện, con đường, hình thức và phương pháp đấu tranh cùng các nguyên tắc cơ bản của giai cấp công nhân nhằm thực hiện sự chuyển biến lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848) đánh dấu sự hình thành chủ nghĩa xã hội khoa học, trình bày các nguyên lý nền tảng và đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong cách mạng vô sản, cũng như mối quan hệ của Đảng với các vấn đề xã hội như văn hóa, gia đình, tôn giáo và các trào lưu tư tưởng khác; Tuyên ngôn trở thành mốc lịch sử quan trọng ghi nhận sự hình thành chủ nghĩa xã hội khoa học.
Kể từ đó, chủ nghĩa xã hội khoa học đã có bước phát triển mạnh mẽ, chịu sự tác động và quy định bởi những biến đổi kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội của thời đại; sự phát triển ấy gắn với thực tiễn đấu tranh của giai cấp công nhân và phong trào công nhân quốc tế, đồng thời mang tính dân tộc và đối đầu với các trào lưu tư tưởng thù địch, sai trái Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa xã hội hiện thực và nguyên lý về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã được hình thành và ngày càng hoàn thiện, trở thành một nguyên lý then chốt trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.
Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các lực lượng tay sai, mục tiêu quan trọng nhất là tấn công hệ tư tưởng và lực lượng lãnh đạo, cầm quyền của Nhà nước và xã hội R Nich-xơn trong cuốn sách: “1999 – không đánh mà thắng” kết luận rằng sự cạnh tranh cuối cùng giữa các hệ thống xã hội được quyết định bởi tư tưởng, chứ không phải vũ khí Vì vậy, chủ nghĩa đế quốc vừa tiến hành chiến tranh xâm lược vừa thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm phá hoại hệ thống xã hội chủ nghĩa từ khi Liên Xô ra đời Tuy nhiên, khi các nước xã hội chủ nghĩa tiến hành cải cách, đổi mới, các thế lực thù địch tập trung tấn công bằng chiến lược “chiến tranh không có khói súng” và “diễn biến hòa bình” vào các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, nhắm vào hệ tư tưởng, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.
Vũ trang bằng học thuyết Mác–Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc từ tháng 8 năm 1945, đưa đất nước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược, đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế Sau công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, góp phần đưa Việt Nam từng bước chuyển hóa lên chủ nghĩa xã hội, với nhận thức và tư duy mới phù hợp thực tiễn Việt Nam; từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến, đất nước đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có nền kinh tế mở và vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới Những thành tựu của 25 năm đổi mới là minh chứng sống động cho chủ nghĩa xã hội khoa học và chủ nghĩa xã hội hiện thực; trong tiến trình đổi mới toàn diện do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, Đảng kiên định với chủ nghĩa Mác–Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời nghiên cứu, thử nghiệm và tổng kết thực tiễn để đề ra chiến lược, chủ trương, chính sách và những giải pháp phù hợp nhằm đưa đất nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Khảo sát thực tiễn công tác xây dựng đảng nhằm tổng kết kinh nghiệm, vận dụng đúng đắn và sáng tạo các nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học vào hoạt động cách mạng; ngăn ngừa các biểu hiện giáo điều, cơ hội cải lương trong công tác lý luận và thực tiễn, để chủ nghĩa xã hội khoa học luôn sống động và thực sự trở thành một học thuyết chính trị - xã hội, khoa học - cách mạng định hướng cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vì lý tưởng cao đẹp; đồng thời vận dụng những kinh nghiệm chủ yếu đó vào công tác xây dựng đảng, tiếp tục thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Với ý nghĩa đó, em chọn đề tài “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam” nhằm khẳng định một lần nữa vai trò lãnh đạo của Đảng và giúp mọi người nhận thức rõ vai trò của bản thân đối với đất nước — một trong những bài học kinh nghiệm được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng rút ra từ thực tiễn cách mạng Việt Nam; đồng thời liên hệ tới sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu Đề tài này là chủ đề nghiên cứu cho bài tiểu luận môn Lịch sử phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế.
Rất mong bài làm của em sẽ mang một giá trị nhất định!
Mục đích nghiên cứu
- Nhằm nắm vững, quán triệt được tư tưởng đúng đắn của Đảng.
- Không ngừng nâng cao hiểu biết về Đảng và vai trò to lớn của Đảng.
- Nhận thức về vai trò của bản thân đối với việc tiếp nối truyền thống vẻ vang của Đảng.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày về quá trình hình thành và phát triển của Đảng
- Nghiên cứu những thất bại của các phong trào yêu nước trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
Phân tích sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy một quá trình hình thành nhanh nhạy dựa trên nền tảng lý luận kiên định và tổ chức vững chắc Sự lãnh đạo kiên định và khả năng nắm bắt thời cơ lịch sử được thể hiện qua việc tập hợp lực lượng cách mạng, định hướng mục tiêu và huy động nhân dân tham gia Nhờ đó, đường lối cách mạng được cô đặc thành một cao trào thống nhất, dẫn tới thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945 Bài viết nhấn mạnh vai trò của sự nhận diện thời cơ và sự đoàn kết của toàn hệ thống chính trị và quần chúng, giúp Việt Nam thoát khỏi ách thống trị thực dân và bước vào kỷ nguyên độc lập và tự do.
- Tổng kết những kinh nghiệm lịch sử Đảng
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tiểu luận là hoàn cảnh lịch sử và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, một cách làm rõ cách Đảng nắm bắt cơ hội một cách tài tình để định hình dòng chảy lịch sử và quá trình đổi mới của đất nước Bài viết phân tích bối cảnh chính trị - xã hội Việt Nam ở các giai đoạn khác nhau, từ kháng chiến đến thời kỳ đổi mới, nhằm làm rõ sự nhất quán trong đường lối lãnh đạo và khả năng thích ứng trước các thách thức Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố nội lực và ngoại lực giúp Đảng nhận diện và tận dụng cơ hội lịch sử, từ đó đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội và củng cố vị thế quốc gia Kết quả phân tích cung cấp một cái nhìn có hệ thống về quá trình lãnh đạo đất nước và vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lịch sử Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này được xác định bằng hai giai đoạn chính của cách mạng Việt Nam: trước khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Mục tiêu là phân tích bối cảnh lịch sử, lực lượng tham gia và hoạt động của các phong trào ở mỗi thời kỳ, từ đó làm rõ sự chuyển biến về tổ chức, phương thức đấu tranh và hiệu quả của từng giai đoạn Việc phân chia phạm vi theo hai giai đoạn giúp làm nổi bật sự phát triển của phong trào cách mạng Việt Nam dưới sự ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự khác biệt giữa giai đoạn tự phát và giai đoạn có lãnh đạo tập trung.
Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận sử dụng đồng thời các phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp logic kết hợp với lịch sử và phương pháp so sánh để tiến hành nghiên cứu đề tài một cách có hệ thống Việc phân tích và tổng hợp làm rõ các yếu tố và hiện tượng cần xem xét, trong khi phương pháp logic đảm bảo trình tự luận cứ chặt chẽ Sự kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp so sánh giúp soi chiếu dữ liệu qua các thời kỳ và ngữ cảnh, tăng tính thuyết phục và khả năng đối chiếu của kết quả nghiên cứu.
Đóng góp của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa to lớn trong giáo dục truyền thống cách mạng, về chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính, cũng như nâng cao lòng tự hào đối với Đảng và dân tộc Việt Nam; nó còn có tác dụng bồi dưỡng ý chí chiến đấu cách mạng và thôi thúc người học noi gương các thế hệ đi trước, tiếp tục cuộc chiến đấu dũng cảm, kiên cường và sáng tạo để bảo vệ và phát triển những thành quả cách mạng mà Đảng và nhân dân ta đã dày công gây dựng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Cấu trúc của tiểu luận
Bài tiểu luận bao gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Trong đó phần nội dung bao gồm 3 chương:
CHƯƠNG I: CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRƯỚC KHI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI
CHƯƠNG II: SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - SỰ LÃNH ĐẠO VÀ NẮM BẮT THỜI CƠ TÀI TÌNH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT
NAM DẪN TỚI THÀNH CÔNG CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
CHƯƠNG III: TRÁCH NHIỆM CỦA THẾ HỆ TRẺ ĐỐI VỚI VIỆC TIẾP NỐI VÀ PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG VẺ VANG CỦA ĐẢNG
CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRƯỚC KHI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI.10 1 Tình hình xã hội Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
Phong trào đấu tranh của nhân dân ta trước khi Đảng ra đời
Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu dài, dân tộc ta sớm hình thành truyền thống yêu nước nồng nàn và tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất Từ năm 1858 đến trước năm 1930, hàng trăm khởi nghĩa và phong trào chống Pháp nổ ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau, điển hình là khởi nghĩa Trương Công Định, Thủ Khoa Huân; phong trào Cần Vương; phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy Tân; các cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học lãnh đạo Những cuộc khởi nghĩa đó vô cùng anh dũng, nhưng đã bị thực dân Pháp đàn áp tàn bạo và đều thất bại.
Nguyên nhân cơ bản dẫn tới thất bại của các phong trào đấu tranh là do các lãnh đạo chưa tìm được con đường cứu nước phản ánh đúng nhu cầu phát triển của xã hội Việt Nam Trước tình hình khủng hoảng và bế tắc về đường lối cứu nước, cách mạng nước ta đứng trước nhu cầu tìm một con đường đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và thời đại Việc xác định con đường cứu nước thích hợp được xem là nhu cầu cấp thiết của dân tộc lúc bấy giờ.
SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - SỰ LÃNH ĐẠO VÀ NẮM BẮT THỜI CƠ TÀI TÌNH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM DẪN TỚI THÀNH CÔNG CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Quá trình hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam
1.1 Bối cảnh lịch sử dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc; các nước tư bản đế quốc thực hiện cả hai mặt chính sách: bên trong tăng cường bóc lột người lao động và bên ngoài mở rộng xâm lược, áp bức các dân tộc thuộc địa Sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc khiến đời sống của lao động trên toàn cầu trở nên vô cùng khắc nghiệt, đồng thời mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và thực dân ngày càng gay gắt Trước thực tế đó, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa diễn ra mạnh mẽ và lan rộng.
Năm 1917, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã biến chủ nghĩa Mác – Lênin từ lý luận thành hiện thực, mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài người và trở thành ánh sáng dẫn đường cho các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.
Tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) ra đời đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Vào năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và từng bước thiết lập bộ máy thống trị nhằm biến nước ta từ một quốc gia phong kiến thành một xứ thuộc địa, khiến người dân bị xem như vong quốc nô và Tổ quốc bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác Cuộc chiếm đóng kéo dài đặt nền móng cho hệ thống cai trị thực dân, áp đặt ngoại bang và bóc lột tài nguyên, mở ra một giai đoạn đấu tranh giành độc lập của dân tộc.
Chính sách thống trị của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi.
Về kinh tế, thực dân Pháp phối hợp với giai cấp địa chủ thực hiện một chính sách bóc lột tàn bạo: cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền, đẩy mạnh khai thác tài nguyên và áp đặt một hệ thống thuế khóa nặng nề, vô lý Chính sách này được củng cố bằng việc xây dựng cơ sở công nghiệp và mở rộng mạng lưới đường giao thông, bến cảng nhằm phục vụ mục tiêu khai thác thuộc địa và tăng cường sự chi phối kinh tế của thực dân.
Trong thời kỳ thực dân Pháp, chính sách ngu dân được thực thi nhằm làm suy yếu nhận thức của người Việt và bưng bít, ngăn cản ảnh hưởng của văn hóa tiến bộ trên thế giới Chúng đồng thời khuyến khích các yếu tố văn hóa độc hại, xuyên tạc lịch sử và làm suy yếu giá trị văn hóa Việt Nam, dung túng và duy trì các hủ tục lạc hậu.
- Sự phân hóa giai cấp và mâu thuẫn xã hội diễn ra ngày càng gay gắt
Phần lớn địa chủ Việt Nam cấu kết với thực dân Pháp để ra sức bóc lột nông dân; tuy nhiên, có một bộ phận địa chủ mang lòng yêu nước tham gia đấu tranh chống Pháp dưới các hình thức khác nhau Các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội Việt Nam đều chịu thân phận người dân mất nước và bị thực dân áp bức, bóc lột, chèn ép, nên đều căm phẫn thực dân Pháp Do đó, mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam lúc ấy không chỉ là xung đột giữa nông dân và địa chủ/phong kiến mà đã nảy sinh mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa toàn thể nhân dân Việt Nam và thực dân Pháp xâm lược.
Các cuộc khởi nghĩa và phong trào đấu tranh của quần chúng chống thực dân Pháp diễn ra mạnh mẽ, thể hiện quyết tâm giành độc lập nhưng đều thất bại trước áp lực của chế độ xâm lược Pháp xâm lược diễn ra mạnh mẽ, gây ra khủng hoảng về đường lối cách mạng trong xã hội Việt Nam và đặt ra yêu cầu đổi mới tư tưởng, tổ chức và lãnh đạo để xác định một lộ trình đấu tranh hiệu quả hơn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, các cuộc khởi nghĩa và phong trào đấu tranh của nhân dân ta diễn ra mạnh mẽ nhưng thất bại do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến như Cần Vương kết thúc với thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1896); phong trào nông dân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài 30 năm nhưng không giành thắng lợi Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lương Văn Can lãnh đạo cũng rơi vào bế tắc Cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng thất bại, đưa cách mạng Việt Nam vào một khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.
Trong thời điểm ấy, Hồ Chí Minh, khi còn mang tên Nguyễn Tất Thành, đã rời Tổ quốc vào ngày 5 tháng 6 năm 1911 để tìm đường cứu nước Trên hành trình bôn ba khắp năm châu bốn biển, Người đã nghiên cứu sâu lý luận và kinh nghiệm của các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, đặc biệt là Pháp và Mỹ Theo Người, các cuộc cách mạng tư sản như ở Pháp và Mỹ là những cuộc cách mạng không đến nơi, không giải phóng nhân dân lao động.
Giữa lúc đang hoạt động sôi nổi để tìm ra con đường cho cách mạng Việt Nam, thì cuộc cách mạng tháng Mười Nga (1917) bùng nổ và giành được thắng lợi gây chấn động địa cầu Hồ Chí Minh đã hướng tới con đường của cách mạng tháng Mười Tháng 7, năm 1920, bản sơ thảo lần thứ nhất đề cương về vấn đề dân tộc, vấn đề thuộc địa của V.I.Lê-nin đến với Người Bản đề cương đó chỉ cho Người, cho cả đồng bào bị áp bức bóc lột của Người, con đường tự giải phóng, con đường giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào - đó là con đường tiến hành cuộc cách mạng vô sản Để làm được cách mạng vô sản thì giai cấp vô sản hay chính là giai cấp công nhân phải có một tổ chức Đảng lãnh đạo - Đảng Cộng sản Việt Nam
1.2 Nền tảng lí luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhận thức rõ chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân,
Hồ Chí Minh đã làm rõ vai trò của giai cấp công nhân trong thời đại ngày nay là lật đổ áp bức bóc lột và xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa Giai cấp công nhân Việt Nam mặc dù ít về số lượng, trình độ văn hoá khoa học kĩ thuật còn thấp nhưng vẫn là giai cấp cách mạng nhất Trong xu thế thời đại, học có đủ khả năng để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân thông qua chính Đảng của mình Thông qua việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, Người đã chỉ rõ con đường, mục tiêu, phương hướng cũng như phương pháp cách mạng mà giai cấp công nhân Việt Nam phải tiến hành, những tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh chính là tư tưởng cách mạng hướng đến phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng cách mạng vô sản, là cơ sở lý luận cho sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam.
Trên cơ sở tư tưởng lý luận của chủ tịch Hồ Chí Minh, ba tổ chức cộng sản đầu tiên ở Việt Nam, đó là Đông Dương Cộng Sản Đảng, An Nam Cộng Sản Đảng, Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn lần lượt ra đời chỉ trong vòng không đầy 4 tháng Cả ba tổ chức Đảng đều hoạt động trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Song sự tồn tại ba Đảng hoạt động biệt lập có nguy cơ dẫn đến sự chia rẽ lớn, yêu cầu đặt ra là phải thống nhất ba tổ chức Đảng thành một Đảng Cộng sản thống nhất trong cả nước Ngày 3/2/1930, ba tổ chức Cộng sản ở Việt Nam đã hoàn thành việc thống nhất thành một chính Đảng duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.
Những thành tựu vẻ vang của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam
Kể từ khi có Đảng lãnh đạo, cách mạng Việt Nam đã trải qua những chặng đường đấu tranh oai hùng và gặt hái những thắng lợi vẻ vang Những chặng đường ấy đã tích lũy kinh nghiệm và sức mạnh, từ đó đưa đất nước tiến tới độc lập và tự do Quá trình đấu tranh cũng mang lại những thành quả về đời sống cho nhân dân, hướng tới mục tiêu ấm no và hạnh phúc Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam tiếp tục phát triển, ổn định xã hội và xây dựng một đất nước giàu mạnh vì lợi ích của nhân dân.
2.1 Đảng lãnh đạo nhân dân ta giành chính quyền và bảo vệ nền độc lập dân tộc
2.1.1 Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền
Ngay khi vừa ra đời, với đường lối cứu nước đúng đắn, Đảng ta đã quy tụ và đoàn kết mọi giai cấp, mọi tầng lớp nhân dân yêu nước quanh mục tiêu giải phóng dân tộc Nhờ sức mạnh của sự đoàn kết ấy, nền lực lượng cách mạng được xây dựng to lớn và lan rộng khắp, và đồng thời kiên quyết đấu tranh chống thực dân Pháp và bè lũ phong kiến tay sai vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Qua 15 năm lãnh đạo cách mạng, trải qua các cuộc đấu tranh gian khổ, hy sinh, với ba cao trào cách mạng lớn (1930-1931, 1936-1939, 1939-1945); khi thời cơ đến, Đảng đã phát động cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã giành lại nền độc lập của dân tộc sau hơn 80 năm bị đô hộ Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á Dân tộc ta bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do, dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội.
2.1.2 Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng (1945- 1946)
Ngay từ khi ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đối mặt với ba giặc: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm Trong hoàn cảnh ngàn cân treo sợi tóc, Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, kịp thời đề ra các chủ trương và quyết sách toàn diện trên mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại Đối với các thế lực thù địch, Đảng vận dụng sách lược mềm dẻo, lợi dụng mâu thuẫn, phân hóa chúng và giành thời gian củng cố lực lượng Với đường lối chính trị sáng suốt, Đảng đã động viên được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, củng cố và giữ vững chính quyền, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp.
2.1.3 Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954)
Mặc dù mong muốn độc lập và hòa bình của Chính phủ và nhân dân ta, thực dân Pháp vẫn ngày càng lấn tới nhằm cướp nước ta lần nữa; dân tộc ta buộc phải chiến đấu để bảo vệ nền độc lập Đêm ngày 19-12-1946, Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, và hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đồng lòng quyết tâm: thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính; vừa kháng chiến vừa kiến quốc Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bằng chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954).
Chiến thắng Điện Biên Phủ ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc son của thế kỷ XX, sánh với Bạch Đằng, Chi Lăng và Đống Đa trong truyền thống anh hùng của dân tộc Đây là sự thể hiện ý chí kiên cường và tầm chiến lược của Việt Minh, mở ra thời kỳ mới cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Chiến thắng này góp phần phá vỡ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ và là cú huých cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân trên toàn cầu, mở đường cho độc lập và tự do của nhiều quốc gia Từ Điện Biên Phủ, độc lập và tự do của dân tộc Việt Nam được củng cố và tiếp sức cho phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều nơi trên thế giới.
2.1.4 Đảng lãnh đạo nhân dân ta tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược (1954-1975)
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi, miền Bắc được giải phóng và tiến hành quá độ lên chủ nghĩa xã hội; ở miền Nam, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã xóa bỏ Hiệp định Genève nhằm chia cắt đất nước ta lâu dài Đất nước tạm thời bị chia thành hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội đối lập nhau Đảng xác định con đường phát triển của cách mạng Việt Nam là tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược.
Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa vững mạnh của cách mạng cả nước.
Mỗi miền thực hiện một nhiệm vụ chiến lược riêng biệt nhưng liên kết chặt chẽ với nhau, tạo nên một hệ thống lãnh đạo đồng nhất cho cách mạng Việt Nam Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển toàn diện của phong trào cách mạng, định hình nhịp độ và phương hướng chung của cả nước Đồng thời, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quan trọng, có tác dụng trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đồng thời tiến hành hai cuộc cách mạng: ở miền Bắc là cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng xã hội công bằng và tiến bộ, ở miền Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nhằm giành độc lập, tự do và hạnh phúc cho nhân dân.
Tiến hành từ năm 1965, khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, cả nước đồng lòng kháng chiến chống Mỹ cứu nước dưới sự lãnh đạo của Đảng và tinh thần 'Không có gì quý hơn độc lập, tự do' Dân ta kiên cường vượt qua mọi khó khăn, ngăn chặn và đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ ở miền Nam và cuộc phá hoại bằng không quân, hải quân ở miền Bắc, với khẩu hiệu 'đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào' Nhờ Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân ta đã kết thúc cuộc kháng chiến, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và mở ra thời kỳ độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thắng lợi của cuộc đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng cho thấy một chân lý rõ ràng: trong điều kiện thế giới ngày nay, một dân tộc dù nhỏ bé, dưới sự lãnh đạo của đảng Mác - Lênin, có thể đoàn kết đứng lên, kiên quyết đấu tranh để giành độc lập và dân chủ và có thể chiến thắng một kẻ thù xâm lược.
2.2 Đảng lãnh đạo nhân dân ta xây dựng xã hội mới
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cách mạng Việt Nam vừa có những thuận lợi cơ bản vừa gặp phải nhiều khó khăn Khó khăn lớn nhất là nền kinh tế sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp và các di chứng chiến tranh còn nặng nề để lại Đồng thời, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động bên ngoài luôn tìm mọi cách bao vây, cấm vận và phá hoại nhằm cản trở tiến trình cách mạng ở nước ta.
Bắt đầu từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trải qua nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt là sau sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô, làm thay đổi căn bản cơ cấu tổ chức và chiến lược hoạt động Thời kỳ mới đặt ra thách thức về cách thức tập hợp lực lượng, vai trò của đại diện công nhân và quan hệ với các phong trào và tổ chức tầm cỡ quốc tế khác Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự thay đổi của thị trường lao động, phong trào buộc phải thích nghi, tái cấu trúc mục tiêu và phương tiện đấu tranh, đồng thời nhấn mạnh quyền lợi lao động, an toàn lao động và dân chủ tham gia quản trị Dù đối mặt với nhiều thách thức và sự phân hóa nội bộ, phong trào vẫn giữ được mục tiêu cơ bản là thúc đẩy công bằng xã hội và độc lập kinh tế, thông qua liên kết quốc tế chặt chẽ và hoạt động chủ động ở từng nước.
Liên Xô và Đông Âu.
Tình hình đó đã tác động, ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Trong 10 năm (1975-1985), cách mạng Việt Nam đã vượt qua khó khăn, trở ngại và gặt hái nhiều thành tựu quan trọng Chúng ta đã nhanh chóng hoàn thành thống nhất đất nước về mọi mặt, đánh thắng các cuộc chiến tranh biên giới và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Ở các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, nhân dân ta đã nỗ lực to lớn để khôi phục nền kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh và bước đầu ổn định sản xuất cùng đời sống của nhân dân.
TRÁCH NHIỆM CỦA THẾ HỆ TRẺ ĐỐI VỚI VIỆC TIẾP NỐI VÀ PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG VẺ VANG CỦA ĐẢNG
Trách nhiệm của sinh viên ngày nay đối với việc tiếp nối và phát huy truyền thống vẻ vang của Đảng
Truyền thống vẻ vang của Đảng ta xác định nhiệm vụ cách mạng nước ta trong giai đoạn mới là kiên định con đường độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội; tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trên cơ sở nhiệm vụ cách mạng của Đảng và thực tiễn công tác Đoàn và phong trào thanh niên hiện nay, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VIII đã xác định nhiệm vụ chính trị của thanh niên Việt Nam là: rèn luyện về lý tưởng, đạo đức cách mạng, về trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp, về thể chất, xung kích đi đầu tham gia phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc; xây dựng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh vững mạnh, mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên, góp phần xây dựng Tổ quốc Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Khẩu hiệu hành động là: "Tuổi trẻ Việt Nam thi đua học tập, rèn luyện, lao động sáng tạo, xung kích, tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".
Phong trào thi đua lớn là: "Thi đua, tình nguyện xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc", với 4 nội dung:
Thi đua học tập, đi đầu xây dựng xã hội học tập và tiến quân vào khoa học công nghệ.
Trong bối cảnh phát triển nhanh của khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức, việc học tập để bắt kịp các tiến bộ ấy trở thành yêu cầu sống còn và nhu cầu thiết yếu đối với mỗi thanh niên; học tập không chỉ giúp họ thích ứng với những thay đổi liên tục mà còn mở ra cơ hội nghề nghiệp, nâng cao kỹ năng và đóng góp cho sự phát triển của xã hội.
Tinh thần và thái độ học tập của thanh niên phải được thể hiện qua việc học để làm người, học để phụng sự Tổ quốc và phụng sự nhân dân; học không chỉ ở trường mà còn qua sách vở, sự học lẫn nhau, học từ nhân dân và đời sống thực tiễn; kiên trì học suốt đời và luôn đi đầu trong một xã hội học tập để cùng xây dựng và phát triển đất nước.
Đẩy mạnh học tập toàn diện với các nội dung văn hóa, chính trị, chuyên môn - nghiệp vụ, ngoại ngữ và tin học, nhằm phát triển toàn diện năng lực và tư duy người học; đồng thời tích cực nghiên cứu khoa học, tuyên truyền và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tiễn, hăng hái tham gia các hoạt động sáng tạo để thúc đẩy đổi mới và phát triển bền vững.
Thi đua lập nghiệp và lao động sáng tạo là động lực chủ đạo để chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế trong điều kiện mới Phong trào này thúc đẩy đổi mới công nghệ, tăng năng suất và hiệu quả sản xuất, đồng thời kết nối nguồn nhân lực từ trình độ đến lao động phổ thông và tạo nhiều cơ hội việc làm Nhờ sự linh hoạt và sáng tạo trong sản xuất và quản lý, nền kinh tế thích ứng tốt hơn với thị trường trong nước và toàn cầu, hướng tới tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế cạnh tranh.
Thi đua lập thân, lập nghiệp, xoá đói, giảm nghèo và vươn lên làm giàu chính đáng là động lực sống cho thanh niên; đồng thời cần lan tỏa mạnh mẽ phong trào sản xuất, kinh doanh giỏi và mở rộng phong trào tiết kiệm, tích luỹ trong giới trẻ Việc đẩy mạnh phong trào sản xuất kinh doanh giỏi giúp thanh niên nâng cao năng lực cạnh tranh, khởi nghiệp và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế địa phương, trong khi phong trào tiết kiệm và tích luỹ hình thành thói quen tài chính lành mạnh, ổn định đời sống Nhờ đó, thanh niên có cơ hội thực sự để vươn lên làm giàu chính đáng, góp phần xóa đói, giảm nghèo và xây dựng cộng đồng ngày càng phát triển.
Chúng ta đẩy mạnh hoạt động lao động sáng tạo dựa trên tri thức và công nghệ mới để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Đồng thời, phong trào "Sáng tạo trẻ" được mở rộng nhằm phát huy sáng kiến, thúc đẩy cải tiến kỹ thuật và tích cực áp dụng các công nghệ mới vào quy trình sản xuất.
Tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng, xung kích thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội Đặc biệt ở những lĩnh vực, địa bàn và đối tượng khó khăn
Việc tổ chức và tích cực tham gia các phong trào tình nguyện là nền tảng để lan tỏa trách nhiệm xã hội và tăng cường sự gắn kết cộng đồng Các hoạt động tình nguyện tại chỗ được tổ chức định kỳ, đi kèm ngày thứ bảy tình nguyện và chủ nhật xanh nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và cải thiện cuộc sống địa phương Thành lập các đội hình thanh niên tình nguyện đảm nhận những việc khó, việc mới và các vấn đề bức xúc của cộng đồng, từ đó phát huy vai trò xung kích của thanh niên Bên cạnh đó, tham gia tích cực bảo vệ môi trường và phòng ngừa, ứng phó với các thách thức môi trường là mục tiêu xuyên suốt, nhằm tạo nên sự chuyển biến bền vững cho cộng đồng.
Phong trào "30 chống thiên tai" nhằm nâng cao nhận thức và khả năng ứng phó của cộng đồng trước thiên tai bằng các hoạt động phòng tránh, ứng cứu và phục hồi Tình nguyện viên tích cực giúp đỡ người già, gia đình chính sách và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, thể hiện tinh thần đoàn kết, lan tỏa sự nhân ái trong xã hội Đồng thời, mọi người tham gia một cách tích cực và gương mẫu trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, góp phần nâng cao chất lượng đời sống cộng đồng và phát triển bền vững.
Xung kích tham gia thực hiện các chương trình, dự án nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đặc biệt là các dự án quốc gia về phát triển kinh tế biển đảo và hạ tầng giao thông Đoàn viên thanh niên tham gia tích cực vào các công trình trọng điểm như xây dựng đường Hồ Chí Minh và các cầu nông thôn mới, đồng thời đóng góp vào phát triển khu dân cư ở đồng bằng sông Cửu Long Với tinh thần chủ động, thanh niên đề xuất, nhận đảm nhận các dự án và phần việc liên quan, góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội và nâng cao đời sống người dân địa phương.
Xung kích bảo vệ Tổ quốc, đấu tranh phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội
Hăng hái tham gia các hoạt động xây dựng nền quốc phòng toàn dân và gương mẫu thực hiện luật nghĩa vụ quân sự là nền tảng củng cố an ninh quốc gia Việc tuân thủ nghiêm túc luật nghĩa vụ quân sự và tích cực tham gia tuyên truyền, tuyển dụng, huấn luyện giúp củng cố lực lượng vũ trang và tinh thần sẵn sàng chiến đấu Thường xuyên học tập để nâng cao nhận thức về tình hình trong nước và quốc tế, nắm bắt nhiệm vụ mới, tích cực rèn luyện ý thức cách mạng và trách nhiệm công dân Nhận rõ âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch để kiên quyết đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.
Việc tham gia tích cực vào các hoạt động giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và an toàn giao thông là yếu tố then chốt để bảo vệ cộng đồng Qua đó, chúng ta đồng thời đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội, nâng cao nhận thức và tăng cường sự phối hợp giữa người dân với lực lượng chức năng, giúp môi trường sống an toàn, văn minh và bền vững.
- Tham gia có hiệu quả phong trào "Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, “Khoẻ để giữ nước” và cuộc vận động “Nghĩa tình biên giới, hải đảo".
Phong trào Giành 3 đỉnh cao quyết thắng và cuộc vận động Thanh niên Quân đội mẫu mực xây dựng chính quy được triển khai mạnh mẽ nhằm nâng cao nhận thức và rèn luyện đoàn viên, thanh niên Nội dung cốt lõi gồm 5 yếu tố: mẫu mực về đạo đức, lối sống; mẫu mực về hành động theo điều lệnh; mẫu mực về lễ tiết, tác phong quân nhân; mẫu mực về nội vụ vệ sinh; và mẫu mực về kỷ luật tự giác, nghiêm minh Việc thực hiện các nội dung này giúp hình thành đội ngũ thanh niên Quân đội có phẩm chất, ý thức trách nhiệm và uy tín cao, sẵn sàng góp phần vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Các hoạt động và chuẩn mực này không chỉ củng cố tinh thần quân đội mà còn nâng cao hình ảnh và hiệu quả công tác của đơn vị trong mọi hoàn cảnh.
Trong thanh niên Công an, phong trào thi đua thực hiện 'Thanh niên Công an học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy' được cụ thể hóa bằng phong trào '2 thi đua, 2 tình nguyện' với 4 nội dung chính: thi đua rèn đức, luyện tài; thi đua xung kích lập công; tình nguyện tăng cường cho lực lượng trực tiếp chiến đấu, hướng về cơ sở; và tình nguyện chung sức cùng cộng đồng Các hoạt động này nhấn mạnh tinh thần xung kích, rèn luyện bản lĩnh và nâng cao năng lực chuyên môn của thanh niên; đồng thời gắn kết lực lượng trẻ với thực tiễn cơ sở và cộng đồng, góp phần tăng cường an ninh trật tự và trách nhiệm xã hội.
Để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thanh niên phải là người có lý tưởng và đạo đức cách mạng; có lối sống văn hóa; có ý chí tự tôn, tự cường dân tộc; có trình độ học vấn, giỏi về chuyên môn, nghề nghiệp; có sức khỏe tốt; có năng lực tiếp cận và sáng tạo công nghệ mới; có ý chí chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Vì vậy, mỗi đoàn viên, thanh niên cần phải không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ, trưởng thành về trí tuệ và thể chất; phát huy tinh thần đoàn kết, ý thức phục vụ cộng đồng, sẵn sàng tiếp nhận và áp dụng khoa học công nghệ vào đời sống và lao động, đóng góp vào mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.
PHẦN KẾT LUẬN
Trong 91 năm qua, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã vươn lên thành một quốc gia độc lập và tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân từ thân phận nô lệ đã trở thành chủ nhân của đất nước và của xã hội; đất nước ta đã thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, với vị thế ngày càng được khẳng định trong khu vực và trên thế giới.
Nhìn lại chặng đường đấu tranh oanh liệt của Đảng Cộng sản Việt Nam suốt 91 năm qua, chúng ta ôn lại những khó khăn, gian khổ và sự hy sinh vô bờ bến cùng những thắng lợi vẻ vang mà nhân dân ta đã giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng; từ đó càng trân trọng quá khứ, nâng niu và gìn giữ những thành quả cách mạng, cũng như công ơn trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng thời càng thấu hiểu, tin yêu và tự hào về dân tộc ta — một dân tộc anh hùng, vị tha, thông minh và sáng tạo — và về Đảng ta, Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh; thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam trong 91 năm qua đã chứng minh rằng sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi cách mạng nước ta, và chính trong quá trình lãnh đạo ấy Đảng được tôi luyện, trưởng thành, ngày càng xứng đáng với vai trò, sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân; vì lẽ đó, bao thế hệ người dân Việt Nam đã dành trọn niềm tin, niềm kính yêu vô hạn cho Đảng quang vinh bằng ngôn từ giản dị: “Đảng ta”.
Quá trình lãnh đạo cách mạng đã tôi luyện Đảng và giúp Đảng ngày càng trưởng thành Đảng xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, đồng thời nhận được sự tin cậy và kỳ vọng của nhân dân.
Thực tiễn khẳng định một chân lý: ở Việt Nam, không có lực lượng chính trị nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.