Ch-ơng 2: Phật giáo và một số lĩnh vực đời sống văn hoá tinh thần ở huyện An D-ơng hiện nay Ch-ơng 3: Sinh hoạt tôn giáo của các Phật tử ở An D-ơng:... Số ng-ời đi tu đ-ợc đào tạo qua c
Trang 1đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Trang 2Đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Luận văn thạc sĩ triết học
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS- TS Nguyễn Quang H-ng
Hà Nội - 2009
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn “Ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá tinh thần ở huyện An Dương- Hải Phòng hịên nay” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu trong luận văn được sử dụng và chú thích nguồn trung thực
Hà Nội, tháng 10 năm, 2009
Tác giả Phạm Văn Hùng
Trang 5Ch-ơng 2: Phật giáo và một số lĩnh vực đời sống văn hoá tinh
thần ở huyện An D-ơng hiện nay
Ch-ơng 3: Sinh hoạt tôn giáo của các Phật tử ở An D-ơng:
Trang 6Mở đầU
1 Lý do chọn đề tài
Hải Phòng là một trong những nơi Phật giáo du nhập và phát triển khá sớm Qúa trình du nhập và phát triển Phật giáo ở Hải Phòng gắn liền với những b-ớc thăng trầm của lịch sử Phật giáo Việt Nam Phật giáo Hải Phòng
đã để lại những dấu ấn đậm nét trong lối sống của ng-ời dân đất biển từ x-a
đến nay
Cũng nh- thành phố Hải Phòng, huện An D-ơng là nơi hội tụ hầu hết các tôn giáo lớn trong đó có Phật giáo Trong một vài năm gần đây, Phật giáo phát triển mạnh ở An D-ơng đ-ợc thể hiện trên nhiều ph-ơng diện nh-: số l-ợng ng-ời đi lễ chùa chiền ngày càng đông, lễ hội Phật giáo, sinh hoạt Phật giáo ngày càng phong phú và có vai trò lớn trong đời sống xã hội Số ng-ời đi
tu đ-ợc đào tạo qua các tr-ờng Phật học ngày càng nhiều, các cơ sở thờ tự, chùa chiền đ-ợc th-ờng xuyên đ-ợc tu bổ và xây mới…
Phật giáo có chức năng xã hội cần thiết cho một bộ phận nhân dân trong huyện An D-ơng nói riêng cũng nh- nhiều địa ph-ơng khác mà những nhân
tố và chức năng xã hội khác là không thể thay thế đ-ợc Đứng trên ph-ơng diện quản lý xã hội, các cơ quan chức năng cần nhìn nhận đúng vị trí và vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội, hạn chế mặt tiêu cực, phát huy mặt tích cực của nó trong việc xây dựng một xã hội tiến bộ hài hoà, bao dung, giàu
có cả về đời sống vật chất và đời sống tinh thần
Tr-ớc tình hình đó, việc đi sâu nghiên cứu ảnh h-ởng của Phật giáo ở huyện An D-ơng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội để rút ra những bài học
bổ ích, thiết thực cho công tác tôn giáo, vạch ra ph-ơng h-ớng và giải pháp nhằm phát huy những giá trị đạo đức nhân văn của Phật giáo và khắc phục những ảnh h-ởng tiêu cực của nó là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn thiết thực
Trang 7Với lý do trên, ng-ời viết chọn vấn đề “ảnh h-ởng của Phật giáo đến
đời sống văn hoá tinh thần ở huyện An D-ơng - Hải Phòng hiện nay” làm
đề tài luận văn thạc sĩ triết học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tín ng-ỡng, tôn giáo trong đó có Phật giáo là vấn đề liên quan đến t- t-ởng, đạo đức, xã hội do đó, đ-ợc d- luận và giới nghiên cứu quan tâm Khó
có thể đ-a ra một tổng quan chính xác về các kết quả nghiên cứu đối với vấn
đề này mà chỉ có thể khái quát một số loại hình nghiên cứu chủ yếu có liên quan đến đề tài nh- sau:
Các công trình nghiên cứu khảo sát của Viện nghiên cứu tôn giáo (thuộc Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia) tham gia ch-ơng trình KX- 04- 13 cấp nhà n-ớc về tôn giáo Trong đó có các công trình khảo sát tôn giáo, tín ng-ỡng ở Hải Phòng Ch-ơng trình khoa học công nghệ cấp nhà n-ớc KX-
07 Đề tài: KX- 07- 03" do Nguyễn Tài Th- chủ biên: "ảnh h-ởng của các hệ t- t-ởng và tôn giáo đối với con ng-ời Việt Nam hiện nay"
Võ Minh Tuấn: "Một vài hiện t-ợng tôn giáo mới ở Hải Phòng" (Báo cáo kết quả nghiên cứu tôn giáo- Hà Nội năm 2005) Lê Trung Vũ trong báo cáo về đợt điều tra tôn giáo "Sinh hoạt Phật giáo và các tín ng-ỡng tôn giáo ở Hải Phòng" cho rằng nhiều ng-ời dân đã tự nguyện đến với Phật giáo, lấy các nguyên tắc từ bi, luân hồi quả báo của Phật để tu luyện mình và giúp đỡ ng-ời
Các công trình thống kê, khảo sát về tình hình tôn giáo của các ban, ngành thành phố Hải Phòng và huyện An D-ơng với các tiêu chí khác nhau
Đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Phạm Thế Hùng và Nguyễn Huy Hảo: "Tình hình Phật giáo Hải Phòng" (Báo cáo của Ban tôn giáo thành phố Hải Phòng năm 2007) Hai tác giả đã có những nhận định và đánh giá ban đầu
Trang 8về thực trạng sinh hoạt Phật giáo cũng nh- một số ảnh h-ởng của Phật giáo trong đời sống xã hội ở Hải Phòng
Ngoài các công trình chủ yếu ở trên, còn một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đề cập d-ới nhiều góc độ khác nhau về tôn giáo, tín ng-ỡng ở các
địa ph-ơng ở Hải Phòng đều là những công trình khoa học có liên quan đến luận văn này với t- cách là những tài liệu tham khảo bổ ích
Các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập đến một số khía cạnh ảnh h-ởng Phật giáo trong đời sống xã hội ở Hải Phòng Tuy vậy, ch-a một công trình nào nghiên cứu chi tiết sự ảnh h-ởng của một tôn giáo cụ thể nh- Phật giáo đến đời sống văn hoá tinh thần ở một huyện trực thuộc thành phố trong
đó có huyện An D-ơng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ thực trạng ảnh h-ởng của Phật giáo, trong đó nhấn mạnh tác động của đạo đức Phật giáo và các sinh hoạt Phật giáo đến đời sống văn hoá tinh thần của ng-ời dân huyện An D-ơng Từ đó, đề xuất một số giải pháp cụ thể làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho công tác tôn giáo ở huyện
Để đạt đ-ợc mục đích trên luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Khái quát về Phật giáo và Phật giáo Việt Nam
- Phân tích ảnh h-ởng của Phật giáo đến một số lĩnh vực trong đời sống văn hoá tinh thần ở huyện An Duơng
- Tìm hiểu diễn biến sinh hoạt Phật giáo của các Phật tử ở An D-ơng Từ đó,
đề xuất một số giải pháp cho công tác tôn giáo đối với Phật giáo tại địa ph-ơng
4 Cơ sở lý luận và ph-ơng pháp nghiên cứu
+ Cơ sở lý luận
Trang 9Luận văn đ-ợc thực hiện trên cơ sở lý luận của triết học Mác – Lênin; t- t-ởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà n-ớc về tôn giáo, văn hoá, xã hội để phân tích những vấn đề đặt ra
+ Ph-ơng pháp nghiên cứu
Ph-ơng pháp đ-ợc sử dụng trong luận văn chủ yếu là ph-ơng pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời còn sử dụng các ph-ơng pháp nh- phân tích và tổng hợp, so sánh, lịch sử và logic, thống kê xã hội học
5 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn này chủ yếu đi sâu phân tích ảnh h-ởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá tinh thần ở địa bàn huyện An D-ơng – Hải Phòng hiện nay Do
điều kiện không cho phép nên luận văn ch-a nghiên cứu cụ thể ảnh h-ởng của Phật giáo ở một làng, một xã mà chủ yếu nghiên cứu tác động của Phật giáo tới đời sống văn hoá tinh thần trên phạm vi chung của huyện
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ ảnh h-ởng của Phật giáo bao gồm những mặt tích cực có giá trị và phù hợp với công cuộc xây dựng đời sống mới, tiến bộ ở huyện An D-ơng nói riêng và thành phố Hải Phòng nói chung, đồng thời chỉ
ra những mặt cần khắc phục Trên cở sơ đó, luận văn nêu lên một số giải pháp làm cơ sở khoa học, thực tiễn cho việc hoạch định và thực hiện công tác tôn giáo tại địa ph-ơng Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu Phật giáo ở Hải Phòng nói riêng và Việt Nam nói chung
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đ-ợc kết cấu thành ba ch-ơng:
Trang 10Ch-ơng 1: Tổng quan về Phật giáo và Phật giáo Việt Nam
Ch-ơng 2: Phật giáo và một số lĩnh vực đời sống văn hoá tinh thần ở
huyện An D-ơng hiện nay
Ch-ơng 3: Sinh hoạt tôn giáo của các Phật tử ở An D-ơng: vấn đề và giải pháp
Trang 11Nội Dung
Ch-ơng 1: Tổng quan về Phật giáo và phật giáo Việt Nam
1.1 Vài nét về thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo
Phật giáo hình thành ở ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ V tr-ớc công nguyên Ng-ời sáng lập là Thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddhartha Gautama), con vua Tịnh Phạn Phật giáo ra đời trong xã hội ấn Độ cổ đại đã có sự phân biệt khắc nghiệt giữa các đẳng cấp, trình độ sản xuất kém phát triển, ng-ời lao
động sống trong sự cùng khổ, không lối thoát tr-ớc những khó khăn mà cuộc sống xã hội đ-a lại Từ thực tế đó, đã nảy sinh những khát vọng v-ợt qua khổ
đau, bất hạnh và xuất hiện những quan niệm tiến bộ về con ng-ời cũng nh- t- t-ởng giải thoát con ng-ời
Hiện nay, Phật giáo có khoảng 400 triệu tín đồ, tập trung chủ yếu ở các n-ớc châu á Phật giáo đã góp phần làm phong phú thêm cho nền văn hoá dân tộc của các quốc gia mà nó hiện diện trên nhiều lĩnh vực nh- tâm lý dân tộc,
đạo đức, lối sống Phật giáo đã phát triển rộng khắp ở nhiều nơi trên thế giới
và khi du nhập vào quốc gia nào thì tự nó cũng có những biến đổi để phù hợp, hài hoà với cộng đồng, phong tục tập quán cũng nh- trình độ nhận thức của mỗi dân tộc, hình thành nên Phật giáo bản xứ
Phật giáo không công nhận có th-ợng đế, không thừa nhận sự cách biệt giữa các đẳng cấp trong xã hội và không tán thành đấu tranh giành quyền lực, quyền lợi bằng vũ lực Phật giáo chủ tr-ơng lấy tâm làm gốc "Nhất thiết duy tâm tạo" Nó nhận xét mọi việc và sự vật bằng nhân duyên, vô th-ờng Tiếp thu có chọn lọc thuyết "luân hồi nhân quả" của đạo Bàlamôn, Phật giáo chủ tr-ơng đề cao từ, bi, hỉ, xả, vô ngã vị tha, mở rộng cõi Niết bàn cho mọi ng-ời l-ơng thiện chứ không chỉ dành riêng cho tầng lớp quý tộc Các tầng lớp xã
Trang 12hội bị áp bức bóc lột, nghèo đói nhận thấy Phật giáo đứng về phía mình, an ủi, bảo vệ mình, gần gũi mình hơn đạo Bàlamôn và các đạo khác
Là tôn giáo có nguồn gốc á Đông, Phật giáo có nhiều điểm khác biệt với các tôn giáo độc thần nh- Ki Tô giáo, Islam giáo "Trong khi ấn Độ giáo
và nhiều tôn giáo khác cho rằng vũ trụ có tạo vật chủ, thì ng-ợc lại, Phật giáo chủ tr-ơng vô thần" [24, tr 232] Theo Phật giáo, vũ trụ tự nó, không do ai sinh ra, không ai có thể tiêu diệt, không một thế lực nào có thể dùng ý muốn của mình mà chi phối đ-ợc sự vận hành của nó; vũ trụ là không sinh, không diệt, vô thuỷ vô chung Con ng-ời sống trong vũ trụ ấy nh-ng ở con ng-ời tồn tại ba cảnh giới là Dục giới, Sắc giới, Vô sẵc giới Phật giáo cho rằng thế giới luôn tọn t³i “v³n ph²p” hay “h´ng h¯ sa sỗ c²c ph²p” “Ph²p” (tiễng Ph³n- Dharma) trong triết học Phật giáo có ý nghĩa quan trọng đến mức, hệ thống Phật giáo với ý nghĩa đã biết, có thể gọi là thuyết dharma Đây chính là đặc tr-ng riêng biệt của triết học Phật giáo, khiến nó khác những khuynh h-ớng khác của triết học ấn Độ
Ng-ời ta th-ờng nói về Pháp theo nhiều ý nghĩa khác nhau Trong tác phẩm “Đ³o Phật ng¯y nay”, t²c gi° Nikkyo Niwano định nghĩa Ph²p như sau:
“Trưỡc hễt như đ± đước biều thị b´ng c²c tú thữc tưỡng cùa tất cả các sự vật, Pháp nghĩa là tất cả các sự vật hiện t-ợng trong vũ trụ và tất cả các sự kiện xảy
ra trên thế giới Thứ hai, Pháp nghĩa là một chân lý duy nhất thâm nhập vào tất cả các sự vật Thứ ba, Pháp nghĩa là quy luật nh- một luật tắc đ-ợc thiết lập khi chân lý xuất hiện, nh- là một hiện t-ợng mà chúng ta có thể nhìn thấy
đước b´ng mắt v¯ nghe b´ng tai Thử tư, Ph²p nghĩa l¯ gi²o lý vẹ chân lý” [25,
tr 78] Ph²p m¯ đửc Phật d³y l¯ “quy luật khiễn cho mói sữ vật hiến hừu Chúng ta không hiện hữu một cách ngẫu nhiên mà hiện hữu và sống nhờ Pháp này" [Dẫn theo 25, tr 429] Pháp truyền sức sống cho tất cả sự vật hiện hữu trong vð trũ Phật d³y: “H±y đễn vỡi ta v¯ thữc h¯nh Ph²p như ta vậy Sau đõ chắc hẳn các vị sẽ hiểu gi² trị cùa Ph²p” [Dẫn theo 25, tr 451]
Trang 13Trong vũ trụ, vạn sự, vạn vật đ-ợc Phật giáo gọi là vạn pháp không phải
do một đấng thiêng nào sáng tạo ra bằng những phép màu huyền bí, mà chúng
đước t³o nên bời nhừng phần vật chất nhà bẽ nhất, đõ chính l¯ cối gỗc, l¯ “b°n thề”, l¯ thữc tưỡng cùa thế giới vạn pháp Các pháp thì có sinh có diệt, còn bản thể thì bất biến, không sinh không diệt Các sự vật, hiện t-ợng, các pháp trong
vũ trụ không đứng yên mà luôn vận động, biến đổi gọi là vô th-ờng Vạn pháp vô th-ờng tức là không gì tồn tại vĩnh cửu mà tất cả tuân theo chu trình: thành
- trụ - hoại - không (đối với các pháp vô tình), hay sinh - trụ - dị - diệt (đối với các pháp hữu tình) Nh- vậy, con ng-ời và vạn vật trong đời này luôn luôn thay đổi từng giờ, từng phút, từng satna Mọi pháp là vô th-ờng nh-ng không
có gì là hoại diệt, không phải sự vật hiện t-ợng sinh ra mới gọi là sinh, chết đi mới gọi là diệt, mà trong sự sống có sự chết, chết không phải là hết mà chết là
điều kiện của một sinh thành mới Sinh, diệt là hai quá trình xảy ra đồng thời trong một sự vật, hiện t-ợng cũng nh- trong toàn bộ vũ trụ rộng lớn Nói cách khác là sự thành - trụ của pháp này, thế giới này là sự hoại - không của pháp khác, thế giới khác Cứ nh- vậy mà vạn pháp sinh, diệt tiếp diễn không ngừng, không dứt Vô th-ờng là một tiến trình tự nhiên của mọi sự vật, vạn pháp trong thế giới Nếu nhìn cách tác động của mọi sự vật, vạn pháp, qua những tác động mãi mãi không cùng, trùng trùng điệp điệp thì thấy tính cách trùng trùng duyên khởi của vạn pháp Đó là thế giới của mọi sự vật trong không gian
và thời gian t-ơng đối Điều kỳ diệu của cuộc đời là cái tuyệt đối không bao giờ tách lìa cái t-ơng đối
Vạn pháp trong vũ trụ không có tự tính (không có bản tính riêng của mình) mà chỉ là sự hoà nhập của nhân duyên "Nhân là nguyên do chính , những nhân tố phụ gọi là duyên" [1, tr 470] Các sự vật chuyển động, biến đổi
đều do nhân duyên chi phối Nhân là mầm tạo quả, duyên là ph-ơng tiện, điều kiện - vạn pháp do nhân duyên mà thành Nhân duyên hoà hợp thì sự vật sinh, nhân duyên tan rã thì sự vật diệt Tuỳ theo nhân duyên kết hợp mà hình thành
Trang 14nên các sự vật, hiện t-ợng khác nhau Một sự vật hiện t-ợng không phải do một nhân duyên mà do nhiều nhân duyên Do đó, các sự vật hiện t-ợng quan
hệ mật thiết với nhau, tác động chi phối lẫn nhau
Trong quan niệm của Phật giáo, thế giới đầy những nhân duyên Mỗi sự vật từ khi sinh ra đến khi diệt đều tạo ra những nhân, duyên mới bổ sung vào thế giới Trong quá trình vận động, nhân duyên liên tục kết hợp, liên tục tan rã nên các sự vật, hiện t-ợng cũng liên tục sinh, liên tục diệt
Vạn pháp trong vũ trụ là vô ngã Vô ngã tức là không có cái ta, không
có cái gì vĩnh hằng vì vạn pháp do nhân duyên hoà hợp và trong trạng thái vô th-ờng, bất định Mọi sự vật, hiện t-ợng đều liên hệ với nhau Kinh Pháp Hoa viết: “C²c sữ vật hiến hừu trong quan hế lẫn nhau tuứ thuốc lẫn nhau” Nguyên lý này đ-ợc thể hiện là khi cái này có thì cái kia cũng có; khi cái này hiện thì cái kia cũng hiện; khi cái này không có thì cái kia cũng không có; khi cái này ngừng thì cái kia cũng ngừng Phật giáo đ-a ra thuyết sắc - không để
lý giải việc nhận thức thế giới Sắc dùng để chỉ sự vật ở trạng thái có hình t-ớng trong không gian mà con ng-ời nhận biết đ-ợc, còn gọi là có Không dùng để chỉ sự vật hiện t-ợng ở trạng thái không có hình t-ớng mà con ng-ời không nhận biết đ-ợc Theo thuyết sắc - không, thế giới luôn chuyển động, biến đổi nên không phải chỉ khi sự vật tồn tại ở trạng thái có hình t-ớng (sắc) mới là có, ở trạng thái không (diệt) mới là không Thực ra cái gọi là không đã
kỷ nhân quả Sự vật, hiện t-ợng mà con ng-ời nhận thức qua thần sắc, hình
Trang 15t-ớng chỉ là giả tạm, không có thực t-ớng Nói cách khác, đối với con ng-ời thì thế giới khách quan đang tồn tại chỉ là h- ảnh, không có thực
T- t-ởng về tam giới, nhân duyên, vô th-ờng, vô ngã là cốt lõi của thế giới quan Phật giáo Từ những t- t-ởng này đã quyết định đến việc hình thành quan điểm của Phật giáo về nhân sinh
Giáo lý nền tảng của Phật giáo là Tứ diệu đế (Tứ thánh đế hay bốn chân
lý huyền diệu) Đây là quan điểm cốt lõi về nhân sinh và cũng là định h-ớng cơ bản nhất của những t- t-ởng triết học Phật giáo
Tứ diệu đế bao gồm: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế
Thứ nhất, Khổ đế (Dukkha)
Dukkha - ariyasacca, nõi chung đước dịch l¯ “Chân lý m¯u nhiếm vẹ
đau khồ” v¯ nõ đước lý gi°i l¯ cuốc đội, theo Phật chì l¯ đau khồ v¯ khồ n³n Hạnh phúc, đau khổ là t-ơng đối Cuộc sống không chỉ là hạnh phúc hay đau khổ Trong quan điểm của Phật giáo thì hạnh phúc đ-ợc đề cập ở nhiều hình thức khác nhau nh- hạnh phúc của đời sống gia đình, đời sống cô độc, của các khoái cảm, của sự từ bỏ và sự phân ly, hạnh phúc thể chất và hạnh phúc tinh thần Mọi thứ đau khổ nh- sinh, lão, bệnh, tử, liên kết với những ng-ời khó chịu hay lệ thuộc vào những điều khó chịu, chia ly với những ng-ời yêu th-ơng hay mất đi những điều kiện thích thú, không đạt đ-ợc những cái mình muốn, đau khổ than khóc, tuyệt vọng - tất cả những hình thức đau khổ t-ơng
tự về thể chất và tinh thần đ-ợc mọi ng-ời nhìn nhận là sự đau khổ đều nằm trong dukkha hiểu theo nghĩa sự đau khổ thông th-ờng
Cuộc đời, chính bản thân nó là sự vận động Cuộc đời và sự vận động không bao giờ là sự tách rời Dù cuộc đời chứa đựng sự đau khổ, nh-ng con ng-ời không đ-ợc ủ ê, không đ-ợc bực mình và sốt ruột Một trong những tệ xấu đầu tiên trong cuộc đời, theo t- t-ởng Phật giáo là sự chán ghét hay căm thù Chán ghét (pratigha) đ-ợc giải thích nh- là sự ác tâm đối với sinh linh tr-ớc đau khổ và là cái có liên quan tới sự đau khổ: Chức năng của nó là tạo ra
Trang 16cơ sở cho một trạng thái bất hạnh, một hành vi xấu xa Vì thế, sốt ruột với sự
đau khổ là một sai lầm Dù sốt ruột, bực bội cũng không làm nó biến mất
đ-ợc Trái lại, điều đó chỉ làm tăng mối sầu não của chúng ta, chỉ làm cho một hoàn cảnh vốn đã nặng nề càng trầm trọng và càng cay đắng Điều cần phải làm là tránh không để mình rơi vào sự sốt ruột, bực bội, và trái lại phải hiểu
đ-ợc sự đau khổ, hiểu đ-ợc nó từ đâu đến, làm thế nào để có thể từ bỏ nó đi và làm việc này một cách kiên nhẫn, thông minh, quyết tâm đầy nghị lực
Thứ hai, Tập đế (nguồn gốc Dukkha)
Quan niệm về nguồn gốc của dukkha th-ờng thấy ở nhiều chỗ trong các văn bản gốc, nh- sau:
Chính “dục vọng“ (ham muốn mạnh mẽ) sản sinh ra sự tồn tại lại và sự sinh thành lại, gắn với một lòng tham say mê và không ngừng tìm thấy một sự h-ởng thụ mới khi ở đây, khi ở kia, tức là dục vọng về các lạc thú giác quan; dục vọng về tồn tại và sinh thành; dục vọng về sự không tồn tại (tự huỷ diệt) Chính dục vọng, ham muốn, lòng tham và lòng ham của thể hiện bằng nhiều cách, đẻ ra tất cả mọi hình thức đau khổ và tính liên tục của các thực thể Nh-ng không nên coi đó là nguyên nhân đầu tiên vì theo Phật giáo, mọi cái
đều là t-ơng đối và phụ thuộc lẫn nhau Ngay cả dục vọng (tanha) đ-ợc coi là nguyên nhân, là nguồn gốc dukkha, thì sự xuất hiện của nó cũng phụ thuộc vào một điều khác đó là cảm giác; và sự xuất hiện của cảm giác lại phụ thuộc vào tiếp xúc; và cứ nh- thế mà làm quay cái vòng đ-ợc gọi là thập nhị nhân duyên, tức là sự sinh sản bị quy định
Theo sự phân tích của Phật, tất cả những bất hạnh, tất cả những xung
đột trên thế giới này đều bắt nguồn từ dục vọng Tất cả những bất hạnh đều do ham muốn ích kỷ đẻ ra
Thứ ba, Diệt đế (sự kết thúc của dukkha)
Chân lý mầu nhiệm thứ ba là có một sự giải phóng, giải thoát khỏi đau khổ, khỏi tính liên tục của dukkha Nó đ-ợc gọi là chân lý mầu nhiệm về sự
Trang 17kết thúc (tịch diệt) của dukkha Đó là Nirvana, ng-ời ta phải trừ khử gốc rễ chính cùa nõ, “dũc vóng” (tanha), như ta đ± thấy trên đây Chính vệ thễ m¯ Nirvana cðng đước biễt tỡi vỡi nghĩa l¯ “trú bà dũc vóng” (diết dũc)
Nirvana là gì? Đó là sự đình chỉ hoàn toàn của dục vọng, từ bỏ nó, tự giải thoát khỏi nó, tách khỏi nó Nirvana, đó là làm dịu lắng tất cả những gì bị quy định, từ bỏ mọi xú ố, trừ khử dục vọng, là cắt đứt, là sự kết thúc
Thứ t-, Đạo đế (lối đi dẫn tới sự kết thúc của dukkha)
Chân lý màu nhiệm thứ t- là chân lý về lối đi dẫn tới sự kết thúc của dukkha Nõ đước biễt tỡi vỡi tên gói “lỗi giừa” vệ tr²nh đước hai cữc: mốt cữc
là theo đuổi hạnh phúc trong sự lệ thuộc vào các lạc thú giác quan, đó là cách thấp hèn, không có ích lợi và là cách của những kẻ bình th-ờng; cực kia là tìm kiếm hạnh phúc ng-ợc lại, dựa vào hành xác theo những hình thức khổ hạnh khác nhau, đó là cách đau đớn, không đáng và cũng không có ích lợi Do tự bản thân mình nếm thử cả hai cực ấy và do nhận ra đ-ợc làm nh- thế chẳng có ích lợi gì, Phật đã bằng thể nghiệm cá nhân khám phá ra lối giữa đem lại thấy
và hiểu, dẫn tới thanh tịnh, tới nhìn thấy sâu, tới Ngộ, tới Nirvana Nói chung, ng-ời ta gọi lối giữa ấy bằng tên gọi Bát chính đạo vì nó bao gồm tám phạm trù hay tám bộ phận: 1 hiểu đúng, 2 nghĩ đúng, 3 nói đúng, 4 hành động
đúng, 5 ph-ơng tiện kiếm sống đúng, 6 nỗ lực đúng, 7 chú tâm đúng, 8 tập trung đúng
Để có một ng-ời hoàn thiện theo quan niệm của Phật giáo phải có hai phẩm chất, ng-ời đó phải phát huy theo lối kết hợp và ngang nhau là đồng cảm và trí năng ở đây, đồng cảm bao gồm yêu th-ơng, từ thiện, hảo tâm, khoan hoà, tất cả những phẩm chất cao cả của trái tim, đó là mặt tình cảm; còn trí năng là mặt trí tuệ, là những phẩm chất của tinh thần Nếu có mặt tình cảm phát triển, mà mặt trí tuệ bị xem nhẹ thì ng-ời ta sẽ trở thành một kẻ khờ dại tốt bụng Trái lại, nếu chỉ phát triển về mặt trí tuệ mà xem th-ờng mặt tình cảm thì ng-ời ta sẽ trở thành một kẻ trí thức khô héo, không hề có tình cảm
Trang 18với ng-ời khác Sự hoàn thiện đòi hỏi cả hai mặt ấy đều đ-ợc phát triển nh- nhau
Hành vi đạo đức dựa vào yêu th-ơng và đồng cảm gồm ba nhân tố của Bát chính đạo là nói đúng, hành động đúng, và những ph-ơng tiện kiếm sống
đúng
Nói đúng nghĩa là không nói dối, nói xấu, vu khống và không nói mọi lời nói có thể gây ra căm ghét, hiềm khích, chia rẽ, bất hoà giữa các cá nhân hay các nhóm ng-ời; không nói lời nói khắc nghiệt, thô bạo, vô lễ, ác ý hay lăng nhục và cuối cùng là không ba hoa nhàn rỗi vô ích và ngớ ngẩn Khi không phạm vào tất cả các hình thức nói sai lạc và có hại ấy, ng-ời ta phải nói
sự thật, phải dùng từ ngữ thân thiện và hảo ý, dễ chịu và hiền lành, những từ ngữ có ý nghĩa và có ích Không bao giờ đ-ợc nói cẩu thả, mà phải nói vào lúc v¯ v¯o nơi thích hớp Nễu chàng cõ ích gệ đề nõi ra c°, ph°i giừ mốt sữ “im lặng cao quý”
Hành động đúng nhằm đề x-ớng một hành vi đạo đức, đáng trọng và hoà bình Chúng ta phải tự nhủ đừng phá huỷ sự sống, đừng ăn cắp, đừng buôn bán bất l-ơng, đừng có những quan hệ tính dục không chính đáng và phải giúp ng-ời khác sống một cuộc sống yên lành và đáng trọng theo con đ-ờng đúng
đắn
Những ph-ơng tiện kiếm sống đúng có nghĩa là phải giữ mình để đừng kiếm sống theo một nghề nghiệp có hại cho ng-ời khác, nh- buôn bán vũ khí, những dụng cụ giết chóc, buôn bán các thứ r-ợu và thuốc độc, giết chết các thú vật, gian lận… phải sống bằng nghề nghiệp đáng trọng, không thể chê trách và không thể làm hại ng-ời khác
Kỷ luật tinh thần bao gồm sự nỗ lực đúng, chú tâm đúng và tập trung
đúng Nỗ lực đúng là có ý chí kiên quyết để ngăn cản sự xuất hiện của những trạng thái tính xấu xa và dơ bẩn; để từ bỏ những trạng thái tệ hại đã có ở con
Trang 19ng-ời; để làm xuất hiện những trạng thái tinh thần tốt và lành mạnh ch-a có;
để phát triển và hoàn thiện những trạng thái tinh thần tốt và lành mạnh đã có
Sự chú tâm đúng là sự chú tâm tỉnh táo, có ý thức cẩn thận về những hoạt động của thân thể; về các giác quan và các xúc cảm; về những hoạt động của tinh thần và về những ý t-ởng, ý nghĩ, quan niệm và về các sự vật
Về thực hành tập trung vào hơi thở là một trong những tập luyện quen thuộc có liên quan với thân thể nhằm để phát triển tinh thần Còn có nhiều cách khác để phát triển sự chú ý có liên hệ với thân thể, nh- những cách thức thiền định Về các cảm giác và các xúc cảm, phải có ý thức rõ ràng về tất cả những hình thức gây thích thú, gây khó chịu hay trung tính của chúng, biết chúng xuất hiện trong chúng ta nh- thế nào và biến đi nh- thế nào
Về những hoạt động tinh thần, phải hiểu xem tinh thần có bị thèm muốn quấy nhiễu không, xem nó có rơi vào sự căm ghét hay không, xem nó
có bị một ảo ảnh đánh lừa hay không, xem nó có đãng trí hay, trái lại, đ-ợc tập trung Nh- vậy, phải chú ý tất cả mọi vận động của tinh thần, hiểu đ-ợc cách xuất hiện và biến mất của những vận động ấy Cuối cùng, về các ý t-ởng,
ý nghĩ, quan niệm và sự vật, phải hiểu đ-ợc bản tích của chúng, biết chúng xuất hiện nh- thế nào, bị xoá bỏ hay bị huỷ diệt nh- thế nào…
Tập trung đúng, cái dẫn tới bốn giai đoạn của dhyana: trong giai đoạn
đầu, những ham muốn đam mê, một số ý nghĩ không lành mạnh nh- ác ý, bạc nh-ợc, phiền muộn, hoài nghi bị đẩy ra, nh-ng những tình cảm vui mừng, hạnh phúc cũng nh- những hoạt động tinh thần nào đó đ-ợc giữ lại Vào giai
đoạn hai, tất cả mọi hoạt động tinh thần đều biến mất, còn sự thanh thản và sự
“cỗ định thỗng nhất” cùa tinh thần thệ ph²t triền lên; trong giai đo³n thử ba, tình cảm vui mừng, một cảm giác tích cực cũng biến đi, còn t- thế hạnh phúc với một sự bình thản có ý thức thì vẫn đ-ợc duy trì Cuối cùng, vào giai đoạn thứ t-, mọi cảm giác, ngay cả hạnh phúc hay đau khổ, vui hay buồn đều biến
đi, chỉ còn lại sự thanh thản và sự chú ý thuần tuý Nh- vậy, tinh thần đ-ợc nỗ
Trang 20lực đúng, chủ tâm đúng, tập trung đúng, rèn luyện khép vào kỷ luật và phát huy
Tứ diệu đế là nội dung cốt lõi của Phật giáo Phật Thích ca đã nõi: “Ta chì d³y mốt điẹu: Khồ v¯ diết khồ” Cuốc đội l¯ khồ, nguyên nhân cùa nổi khổ triền miên trong cảnh luân hồi đ-ợc cụ thể hoá bằng thập nhị nhân duyên
Luật m-ời hai nhân duyên
Xét d-ới góc độ phổ cập, luật m-ời hai nhân duyên mô tả cuộc sống qua những thời kỳ kế tiếp nhau trong cuộc đời
Cuộc sống quá khứ
1 Vô minh (Avidya) - Việc một ng-ời nào đó không tìm đ-ợc khát
muốn của mình, không hiểu cái gì cần phải làm, cái gì không, muốn sống trong vòng xoáy của cuộc đời - đ-ợc gọi là lầm lạc hay vô minh Vì vô minh
mà các yếu tố kết hợp lại tạo ra con ng-ời và cái mà con ng-ời đó xúc cảm Vì vô minh mà các yếu tố trên không thể an lạc đ-ợc mà tiếp tục dao động, tiếp tục liên kết tạo thành vật chất cho việc hình thành một cá thể ở thời điểm hiện tại, sự dao động không ngừng các yếu tố của cuộc sống đã qua, nh- vậy là do
sự tồn tại tiếp theo
2 Hành (Sanskara, Karma) - Đó là cái hình mẫu mà ng-ời đó đã sống
qua tức đã hoạt động, đã nói, đã suy nghĩ theo, hay nói cách khác tức là những ''hành vi'' của ng-ời đó ở cuộc sống đã qua, sẽ ảnh h-ởng đến các uẩn của cuộc sống mới tiếp theo mà hình mẫu của cuộc sống này đ-ợc tiền định bởi các mẫu hình của cuộc sống đã qua
Hai yếu tố vừa nói trên: Vô minh và Hành là những động lực, nhờ đó
mà sau khi cuộc sống chấm dứt bằng cái chết, các nguyên tố nằm trong thành phần bản thể của ng-ời chết, sau những l-u tồn giao thời sẽ bắt đầu kết hợp lại
Cuộc sống hiện tại
Trang 213 Thức (Vijnana) - Thời điểm đầu tiên của cuộc sống mới - sự thức tỉnh
của thức Cái tồn thể đó còn trong trạng thái thai nghén hài nhi, tuy còn ở dạng liên kết nh-ng đã có đủ các yếu tố Vì thức có vai trò -u thế, nên thời
điểm đầu tiên của cuộc sống mới đ-ợc gọi là ''thức''
4 Danh sắc (Nama - rupa) - Những yếu tố danh và sắc tuy đã có nh-ng
còn ở dạng ch-a liên kết một thời gian nữa Vì vậy mà thai nhi không có một xúc cảm nào Đây là thời kỳ hiện diện giản đơn của tất cả các nguyên tố của con ng-ời trong trạng thái thai nhi
5 Lục nhập (Sadayantana) - Sáu quan năng bắt đầu đ-ợc xác định
Chúng phát triển nh-ng còn ch-a hoạt động
6 Xúc (Sparsa) - Sự tác động qua lại của tất cả cấc yếu tố bắt đầu từ tiếp
xúc, thức nhập và liên kết với các ''quan năng'' với các yếu tố khách thể Giai
đoạn này là thời kỳ thứ sáu trên con đ-ờng sống của sinh thể, bắt đầu từ khi còn trong trạng thái bào thai Trong bụng mẹ, cái sinh thể đó bắt đầu xúc cảm cái gì đó của khách thể, tức nó có nhìn, nghe,… Nh-ng không tổng hợp đ-ợc tính chất của các cảm xúc Thời kỳ này là thời kỳ không cảm xúc và theo lý thuyết Phật giáo, còn tiếp tục một thời gian nữa, sau khi sinh thể đó đ-ợc sinh
ra
7 Thọ (Vêdana) - Chỉ hai năm sau khi sinh, ng-ời ta bắt đầu có ý thức
trong những xúc cảm thích, không thích hoặc trung tính Thời kỳ này là thời
kỳ của những cảm xúc giản đơn nhất và kéo dài khá lâu
8 ái ('Trisna) - Chỉ đến tuổi 16, 17 ng-ời ta bắt đầu đ-ợc kích thích bởi
một yếu tố mới - dục cảm hay khát dục
9 Thủ (Upadana) - Vào khoảng thời gian đó, ở con ng-ời bắt đầu có
những khát vọng nhất định đến những mục đích này khác Con ng-ời đó trở thành ng-ời lớn và đã b-ớc vào cuộc sống với đầy đủ ý nghĩa của từ đó
10 Hữu (Bhava) - Thời kỳ này là sự phát triển của cuộc đời: thực sự là
những yếu tố mới không xuất hiện, nh-ng vào thời điểm này con ng-ời bắt
Trang 22đầu sống tích cực hơn Trong suốt cả cuộc đời, cho đến lúc chết, con ng-ời ta càng chìm sâu vào dòng xoáy sinh tồn Ngoài ra bằng những hành động của mình, con ng-ời ta lại tạo ra trong mình một đặc điểm nhất định Sự việc tồn tại và hình thức của nó là hai yếu trùng hợp với sự phát triển của cuộc sống và
là b-ớc chuyển tiếp sang cuộc sống tiếp theo
Cuộc sống t-ơng lai
11 Sinh (Jati) - Sinh thể ''sinh ra'' Sự sinh này không phải là cái gì khác
mà nh- là thời điểm đầu tiên của sự thụ thai, tức là thời điểm đầu tiên khi nhận thức đ-ợc thức tỉnh Thành phần thứ 11 này phù hợp với kỳ thứ ba ''Vijnana'' của cuộc sống tr-ớc
12 Lão, tử (Jara - marana) - Sinh thể bắt đầu già từ thời điểm sinh
Nh- vậy, lão tử bao trùm toàn bộ cuộc đời mà trong suốt nấc cuối cùng của cuộc đời đó, năng lực lại tích tụ lại để hiện tồn; một lần nữa, tạo ra sự tổng hợp các ''hành động'' ("Kama") để lại đến với cuộc sống mới Cứ nh- thế sinh: trụ, dị, diệt với mọi khổ đau cứ lặp lại trong vòng sinh hoá bất tận Tìm đ-ợc lối thoát khỏi vòng sinh hoá bất tận là mục đích của Phật pháp
Phật giáo chủ tr-ơng mỗi ng-ời phải tự giải thoát cho mình Ng-ời
đ-ợc giải thoát, theo Phật giáo, là ng-ời đã giác ngộ, tức là đã đạt đến trạng thái Niết bàn Từ Niết bàn (Nirvana) gồm hai phần: "Nir" là không, mang tính phủ định "Vana" là ái dũc “Gói l¯ niễt b¯n vệ đây l¯ sữ dửt bà, sữ t²ch rội khỏi ái dục, tách rội khài sữ thèm kh²t ²i dũc” [24, tr 459] Ngày nào con ng-ời còn bị ái dục trói buộc thì còn tạo thêm nghiệp mới và cái nghiệp mới này lại nảy sinh quả mới d-ới một hình thức nào đó trong vòng sinh tử, khi mọi hình thức ái dục chấm dứt thì năng lực của nghiệp tái tạo cũng chấm dứt, con ng-ời sẽ thoát khỏi vòng sinh tử, chấm dứt luân hồi "Trạng thái Niết bàn chỉ có thể chứng ngộ bằng tuệ giác nh- một đối t-ợng tinh thần" [13, tr 59]
Tất cả những t- t-ởng chủ yếu về thế giới quan, nhân sinh quan Phật giáo nói trên đã từng là triết lý sống của một bộ phận đông đảo ng-ời ấn Độ
Trang 23trong một giai đoạn lịch sử nhất định Những t- t-ởng đó phần nào đã giải thoát về mặt tinh thần khỏi những khổ đau của ng-ời ấn Độ cổ đại khi phải
đối mặt với thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt, với xã hội bất bình đẳng nghiệt ngã
Học thuyết Phật giáo, dựa trên tâm lý con ng-ời, h-ớng dẫn con ng-ời h-ớng thiện, giúp con ng-ời thoát khỏi các cám dỗ của dục vọng thấp hèn làm hại phẩm giá con ng-ời, giúp con ng-ời sử dụng toàn diện khả năng của mình
để đ-ợc giác ngộ giải thoát Với ý nghĩa tích cực của nó, học thuyết Phật giáo
đã ảnh h-ởng lan rộng đến nghiều quốc gia dân tộc
1.2 Tổng quan về Phật giáo Việt Nam
Phật giáo có hai phái lớn là Tiểu thừa (Theravada) và Đại thừa (Mahayana) Tiểu thừa là từ ấn Độ sang các n-ớc Đông Nam á rồi vào miền Nam n-ớc ta Đại thừa từ ấn Độ sang Trung Quốc rồi vào miền Bắc n-ớc ta Ngoài ra còn phải kể đến phái Mật Tông (Lạt Ma) phát triển mạnh ở Tây Tạng, Mông Cổ và một số n-ớc Trung á cũng du nhập vào Việt Nam Phật giáo ấn Độ vào n-ớc ta qua đ-ờng giao l-u kinh tế giữa Việt Nam và ấn Độ vào những thế kỷ đầu Công nguyên Các thiền s- ấn Độ biết tôn trọng phong tục, tập quán và tín ng-ỡng dân gian nên truyền đạo đ-ợc mọi ng-ời đồng tình, gây dựng đ-ợc ít nhiều cơ sở ban đầu, nhất là vùng Luy Lâu (Bắc Ninh)
Từ cuối thế kỷ III, Phật giáo bắt đầu đ-ợc truyền bá sâu rộng trong nhân dân, h-ớng Phật giáo vào Việt Nam chủ yếu từ phía Bắc Tuy nhiên về sau, các nhà s- ấn Độ sang Việt Nam truyền đạo không nhiều và vai trò của các nhà truyền giáo ấn Độ cũng giảm dần Bởi vậy, Phật giáo truyền vào n-ớc ta chủ yếu là Phật giáo Đại thừa với cả ba tông phái là Tịnh Độ Tông, Mật Tông và Thiền Tông
Trang 24Mật Tông (Chân Ngôn Tông) do một số nhà s- ấn Độ khai lập khoảng thế kỷ II sau Công nguyên Mật Tông đ-ợc hình thành trên nền tảng t- t-ởng của Phật giáo Đại thừa, nh-ng cách tổ chức, tu tập lại mang màu sắc của ấn
Độ giáo có tính chất huyền bí, nặng về ẩn chú phù phép, lễ thức thờ phụng t-ơng đối phức tạp Mật Tông đề cao vai trò của ng-ời xuất gia tu hành Dù
đ-ợc truyền vào Việt Nam rất sớm, nh-ng Mật Tông vẫn không tồn tại với t- cách một giáo phái độc lập Tuy vậy, Mật Tông đã ảnh h-ởng lớn đến Phật giáo Việt Nam, nhất là thời nhà Lý (thế kỷ XI) Phật giáo Mật Tông đáp ứng
đ-ợc nhu cầu tâm linh luôn đặt niềm tin vào sự che chở của thánh thần, cầu mong có những bùa phép để chế ngự ma quỷ, đem lại yên bình cho cuộc sống của ng-ời dân Việt Nam lúc đó
Tịnh Độ Tông do nhà s- Tuệ Viễn sáng lập ở Trung Quốc vào cuối thế
kỷ IV Tịnh Độ Tông chủ tr-ơng thờ Tam bảo (A Di Đà, Quan Thế Âm, Đại Thế Chí) và niệm Phật, dựa vào Phật lực để giải thoát là chủ yếu Đây là tông phái mang tính phổ quát, dân giã nên thu hút đông đảo tín đồ Cũng nh- Mật Tông, Tịnh Độ Tông có những nét rất gần gũi với ng-ời dân lao động Với trình độ t- duy có hạn, ng-ời dân không thấu hiểu đ-ợc sự cao siêu của giáo
lý Phật giáo, bằng tấm lòng thành kính, họ mong đ-ợc Phật chứng giám để phù hộ che chở, giúp họ có đ-ợc sức mạnh, niềm tin để có thể chiến thắng
đ-ợc trở ngại trong cuộc sống trần thế, dắt họ vào cõi cực lạc
Thiền Tông vào n-ớc ta từ những thế kỷ đầu công nguyên, nh-ng mãi
đến thế kỷ VI vai trò của nó mới thể hiện rõ và phát triển thành các hệ phái: Tỳ-ni-đa-l-u-chi do thiền s- Tỳ-ny-đa-l-u-chi đến Việt Nam lập ra năm 580 Dòng Thiền Tông Tỳ-ny-đa-l-u-chi đã ảnh h-ởng lớn và tồn tại ở Việt Nam
đến năm 1216; Phái Thiền Tông Vô Ngôn Thông do Thiền s- Trung Quốc là Vô Ngôn Thông truyền vào Việt Nam năm 820, đây là dòng Thiền thứ hai ở Việt Nam Phái thiền thứ ba đ-ợc truyền vào Việt Nam là Thảo Đ-ờng do Thiền s- Thảo Đ-ờng ng-ời Trung Quốc lập ra vào thời Lý (thế kỷ XI), Lý
Trang 25Thánh Tông là s- tổ thứ hai của phái thiền này Đây là dòng thiền riêng của thời Lý, dòng thiền thuần Việt Nam này đã tồn tại và ảnh h-ởng lớn ở Việt Nam cho tới đầu thế kỷ XIII Ngoài ra còn có các phái thiền Trúc Lâm Yên
Tử, Lâm Tế, Tào Động
Thiền Tông lấy thiền định làm pháp tu (tu thiền: yên lặng mà suy nghĩ) Chủ tr-ơng của Thiền Tông là không câu nệ vào sách vở (bất lập văn tự) mà chủ yếu dựa vào thiền định để giác ngộ Phật tính cho mình Thiền Tông quan niệm Phật tại tâm (trực chỉ nhân tâm), Phật có ở mọi nơi, ai cũng có thể thành Phật Giáo lý của Thiền Tông gần gũi với chúng sinh, làm cho con ng-ời tin vào mình, tin vào công lao tu d-ỡng để thành công trong việc tiếp cận chân lý Ngoài ra, Thiền Tông còn có một số yếu tố khác dễ dàng thu hút nhiều tăng chúng theo nh- lấy việc phục vụ xã hội làm điều kiện tu hành, chấp nhận sự bần khổ và xem lao động cũng là cách tu chân chính Quan niệm này đã làm cho Thiền Tông dễ dàng đi sâu vào tầng lớp quần chúng lao động
Trong thời gian đất n-ớc ta bị đô hộ, giai cấp phong kiến Việt Nam hình thành và đến thế kỷ X họ đã lãnh đạo nhân dân đánh đuổi quân xâm l-ợc, giải phóng đất n-ớc Các nhà s- Việt Nam đã gắn bó với giai cấp phong kiến dân tộc, cho nên từ buổi đầu của nền độc lập dân tộc, Phật giáo Việt Nam
đã giữ vai trò quan trọng trong lĩnh vực t- t-ởng văn hoá Thời Lý (1010- 1225), Trần (1225- 1400), Phật giáo trở thành quốc giáo Nó ảnh h-ởng lớn
đến các công việc triều chính cũng nh- các hoạt động của cộng đồng Đến thế
kỷ XV, giai cấp phong kiến Việt Nam đã sử dụng Phật giáo để gây ảnh h-ởng,
uy tín và lấy Nho giáo làm chỗ dựa t- t-ởng chính trị cho mình
Phật giáo Việt Nam luôn gắn bó với dân tộc, với nhân dân Nhân dân thực sự là nguồn lực, là sức sống của Phật giáo Việt Nam Nếu tăng ni, phật tử thoát khỏi truyền thống tu hành gắn liền với tấm lòng yêu n-ớc thì chuốc lấy
sự thờ ơ, lạnh nhạt của nhân dân, uy tín của Phật giáo sẽ giảm sút Trong thời
kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ xây dựng đất n-ớc, Phật giáo Việt
Trang 26Nam luôn giữ đ-ợc ph-ơng châm "tốt đời đẹp đạo" và thực hiện "đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội" Đặc tr-ng này đã làm cho Phật giáo Việt Nam khác với Phật giáo ấn Độ và Trung Hoa, tuy rằng nó có chịu ảnh h-ởng lớn về nhiều mặt, cả về giáo lý cũng nh- cách tu hành
Phật giáo Việt Nam không rập khuôn theo con đ-ờng Phật giáo của các n-ớc, kể cả các n-ớc láng giềng đang coi đạo Phật là quốc giáo Phật giáo Việt Nam không ham chuộng sự bay bổng hoặc thực tiễn thái quá nh- Phật giáo ấn Độ và cũng không duy lý, nặng tính thần bí, mê tín nh- Phật giáo Trung Quốc, Mông Cổ Phật giáo Việt Nam gắn liền với dân tộc, với làng quê
và thôn xóm Đó là tâm linh, tín ng-ỡng của số đông các tầng lớp trong xã hội không có phân biệt giàu nghèo, giai cấp thống trị hay bị trị Phật giáo Việt Nam chung sống hoà đồng với các đạo khác nh- đạo Nho, đạo Lão và các hình thức tín ng-ỡng dân gian ở Việt Nam
Tr-ớc khi Phật giáo du nhập, ở Việt Nam đã có tín ng-ỡng dân gian nh- thờ cúng tổ tiên, thần linh Cùng với quá trình tiếp thu và phát triển Phật giáo, nhân dân ta đã kết hợp để cùng phát triển với tín ng-ỡng dân gian và phù hợp với đời sống tâm linh của dân tộc mình Phật giáo và tín ng-ỡng dân gian n-ơng tựa vào nhau cùng phát triển Tục thờ mẫu gắn liền với chùa làng, nhiều chùa có ban thờ mẫu để tiện cho các tín đồ và đông đảo ng-ời ng-ỡng mộ vừa
có thể đi chùa, vừa đi lễ phủ Các nhân thần Việt Nam cũng đ-ợc thờ trong một số chùa Không ít ng-ời quy y Phật khi qua đời cũng đ-ợc để ảnh hoặc bài vị ở một khu thờ riêng trong chùa
Phật giáo là triết lý cuộc sống, điểm tựa tinh thần và là nơi gửi gắm niềm tin, sự cứp giúp trong gần 2000 năm lịch sử Việt Nam Các vua thời Lý- Trần là những ng-ời khai dòng thiền học Việt Nam Lý Thánh Tông với phái Thiền Thảo Đ-ờng, Trần Nhân Tông với phái Thiền Trúc Lâm Thiền học Việt Nam không chỉ ngồi tụng kinh, niệm Phật xa đời, lánh tục mà đi theo con
đ-ờng "nhập thế", tích cực hoạt động phụng sự chúng sinh và đất n-ớc, dùng
Trang 27đạo để h-ớng dẫn đời, dùng đời để hành đạo Phật giáo Việt Nam là Phật giáo hành động, tôn chỉ này đ-ợc thể hiện rất rõ trong cuộc đời và sự nghiệp của các thiền s- thời đó Nhà s- Vạn Hạnh đã có công đào tạo Lý Công Uẩn "một ng-ời phi th-ờng có thể cứu đời, yêu dân" trở thành một ông vua tài đức song toàn Thiền s- Cửu Chi chủ tr-ơng "vô nhị pháp" đ-ợc vua Lý Thánh Tông coi trọng T- tuởng của Trần Nhân Tông là đỉnh cao của triết học Phật giáo Việt Nam thể hiện tinh thần thực tiễn, táo bạo, gắn đạo với đời Theo Trần Nhân Tông, đạo Phật là có ích, nó khởi động và củng cố chân tính đạo đức nhân ái của con ng-ời Đối với xã hội, nó góp phần tích cực làm h-ng thịnh quốc gia, giữ gìn đạo đức, nếp sống truyền thống của dân tộc
Có thể xem xét Phật giáo ở hai ph-ơng diện cốt yếu là phần nghi lễ tôn giáo và phần t- t-ởng lý luận Phần nghi lễ dành cho việc cúng bái sao cho thể hiện đ-ợc đúng cách tu hành, ng-ỡng mộ và bày tỏ lòng thành kính với Phật
tổ, Bồ Tát Phần t- t-ởng lý luận là phần quan trọng nhất với nội dung phong phú và mang tính triết học sâu sắc
Qua thực tiễn phát triển Phật giáo Việt Nam có thể khẳng định rằng Phật giáo ở Việt Nam có những nét riêng mà nhiều n-ớc khác không có Đây
là sự sáng tạo của nhân dân ta, tr-ớc hết phải kể đến công lao của giới tăng ni, phật tử Phật giáo ấn Độ và nhiều n-ớc khác không chủ tr-ơng nhập thế, mà
là một tôn giáo xuất thế Trong lịch sử phát triển Phật giáo Việt Nam cũng có thời kỳ nh- vậy nh-ng nhìn chung, Phật giáo Việt Nam là Phật giáo nhập thế Phật giáo xuất thế nhấn mạnh "đời là bể khổ" và con đ-ờng thoát khỏi bể khổ
là tu tập kiên trì để đạt tới cõi Niết bàn không còn đau khổ và bất công Phật giáo Việt Nam nhấn mạnh nguyên nhân của nỗi khổ là do chính con ng-ời và xã hội nên Phật giáo Việt Nam th-ờng coi việc đạo chính là cuộc đời Con
đ-ờng thoát khổ là con đ-ờng đấu tranh diệt ác, tu nhân tích đức thành ng-ời l-ơng thiện và khuyến khích con ng-ời làm việc thiện d-ới nhiều hình thức phù hợp với hoàn cảnh của mỗi ng-ời Những việc ích n-ớc lợi dân, những
Trang 28vấn đề quan hệ tới quốc gia, dân tộc thì Phật giáo Việt Nam không bao giờ
đứng ngoài cuộc Phật giáo Việt Nam coi trọng tâm, đức phù hợp với giá trị
đạo đức truyền thống của văn hoá dân tộc Việt Nam
Trang 29Ch-ơng 2: Phật giáo và một số lĩnh vực đời sống văn hoá tinh thần ở huyện An D-ơng hiện nay
2.1 Tổng quan về Phật giáo ở An D-ơng hiện nay
An D-ơng là vùng đất có điều kiện tự nhiên rất phong phú, đa dạng Dân c- đã về đây sinh sống từ lâu đời Lớp lớp dân c- đã đến khai phá, tạo lập cơ nghiệp ở đây không chỉ do sức hút từ những tiềm năng còn ẩn dấu trong sự phong phú đa dạng của điều kiện tự nhiên mà còn do chính sách phòng thủ quốc gia Đại Việt tự chủ "Từ cuối thế kỷ XV, trong "D- địa chí", cuốn lịch sử
địa lý đầu tiên của n-ớc ta, Nguyễn Trãi đã viết: Tỉnh Đông (Sau đó gọi là tỉnh Hải D-ơng) tức bộ D-ơng Tuyền là trấn thứ nhất trong trong bốn kinh trấn và
đứng đầu phên giậu phía đông… Hai huyện An D-ơng và An Lão có sản vật là giống gà chọi Ngay thời xa x-a, ng-ời An D-ơng đã có kinh nghiệm sản xuất phong phú, khắc phục chua mặn, trồng lúa n-ớc, dệt lụa…" [Dẫn theo 23, tr 27]
Hải Phòng đ-ợc xây dựng từ thời thuộc địa "Năm 1887, Pháp lập ra tỉnh Hải Phòng bao gồm ba huyện Nghi D-ơng, An Lão, An D-ơng Tháng 10 năm 1888, vua Đồng Khánh cắt hoàn toàn tỉnh Hải Phòng cho Pháp, từ đó thành phố Hải Phòng ra đời và huyện An D-ơng bị thu hẹp lại" [ 23, tr 31] Cũng từ đây, miền đất này bị cuốn vào quá trình phát triển kinh tế xã hội khác hẳn tr-ớc đây
Về vị trí, tài nguyên và môi tr-ờng tự nhiên: An D-ơng nằm ở phía Tây
bắc thành phố Hải Phòng, và gần nh- ôm lấy khu vực nội thành của thành phố với diện tích 97,6 km2 Phía Bắc giáp quận Hồng Bàng và huyện Thuỷ Nguyên - miền đất nối liền với tỉnh Quảng Ninh trên con đ-ờng giao th-ơng với Trung Quốc; phía Tây giáp với Hải D-ơng - miền đất nối liền với Hà Nội; phía Đông giáp với quận Lê Chân; phía Nam giáp với quận Kiến An và huyện
An Lão Với vị trí này đã tạo điều kiện cho ng-ời An D-ơng không những hội
tụ đ-ợc những phẩm chất tốt đẹp của dân tộc và các n-ớc trong khu vực trên
Trang 30các con đ-ờng giao thoa văn hoá mà còn có tính kiên c-ờng, luôn có xu h-ớng v-ơn lên
Địa hình huyện An D-ơng là vùng đồng bằng gắn liền với hệ thống sông ngòi t-ơng đối dày đặc Sự tác động mạnh mẽ của biển đã tạo lên kiểu khí hậu nhiệt đới ẩm với hai mùa rõ rệt: mùa lạnh, nhiệt độ trung bình từ 15-
20 độ C, ít m-a, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3; mùa nóng, nhiệt độ trung bình từ 30- 35 độ C, m-a nhiều kèm theo gió lớn thất th-ờng Địa hình, vị trí
địa lý và khí hậu nhiệt đới ẩm có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và
đời sống ng-ời dân, nh-ng cũng th-ờng xuyên gây biến động về nhiệt độ, l-ợng m-a, giông bão, lũ lụt lớn th-ờng xảy ra Với đặc điểm tự nhiên và vị trí chiến l-ợc đó đòi hỏi các thế hệ ng-ời An D-ơng phải v-ợt lên sự khắc nghiệt của nắng gió, đất đai chua mặn và đấu tranh chống ngoại xâm
Về dân c-: Trong quá trình khai phá và phát triển vùng đất này, rất
nhiều lớp dân c- đã tới nơi đây định c- Ngay từ thời Hùng V-ơng đã có một
số cuộc di dân vào vùng đất An D-ơng cổ Ngoài ng-ời An D-ơng gốc còn có ng-ời dân ở nhiều địa ph-ơng khác đến đây làm ăn sinh sống nh- ng-ời Thái Bình, Nam Định, Hải D-ơng, Quảng Ninh, Hà Tây cũ… Qúa trình nhập c- này
đã tác động không nhỏ đến văn hoá, lối sống của ng-ời bản địa An D-ơng
Dân số An D-ơng có khoảng 148.000 ng-ời, phân bố t-ơng đối đồng
đều ở 15 xã và 1 thị trấn Nơi có dân số đông nhất là xã An Đồng với 11.700 ng-ời, nơi có số dân ít nhất là thị trấn An D-ơng với 5.250 ng-ời (năm 2008)
Về lực l-ợng lao động: Hiện nay, An D-ơng có khoảng 67.000 ng-ời
trong độ tuổi lao động Trong một vài năm gần đây trình độ của ng-ời lao
động không ngừng đ-ợc nâng cao nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đặc biệt là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở Hải Phòng nói chung và An D-ơng nói riêng Nh-ng thực
tế cho thấy có tới 2/3 số lao động có trình độ thấp thuộc khu vực sản xuất nông nghiệp, dịch vụ đơn giản, công nghiệp mang tính thủ công nh- may
Trang 31mặc, da giầy Nhìn chung, trình độ nhận thức của lực l-ợng lao động này về các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội cũng nh- pháp luật còn yếu vì nhiều lý do khác nhau
An D-ơng nằm trên một vị trí thuận lợi, cơ động nh-ng cũng không kém phần khắc nghiệt Con ng-ời nơi đây đã sớm có kiến thức và tạo dựng nên truyền thống khai hoang, lấn biển và canh tác lúa n-ớc Nằm ở vị trí ven
đô, tiếp giáp với nhiều địa ph-ơng khác có tốc độ phát triển kinh tế xã hội năng động nên cùng với thành phố Hải Phòng, trong thời gian gần đây An D-ơng có những b-ớc chuyển mình quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế xã hội Tốc độ đô thị hoá diễn ra khá mạnh, các khu công nghiệp không ngừng
đ-ợc xây dựng tạo nên bộ mặt đầy năng động của huyện
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, An D-ơng có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội Với những tiềm năng và điều kiện tự nhiên đa dạng…
sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển ngành nông nghiệp, xây dựng các khu công nghiệp cũng nh- phát triển giao thông vận tải thuỷ bộ… Đặc biệt, nhân dân An D-ơng có truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động Đây là những
điều kiện để ng-ời An D-ơng khắc phục những khó khăn và không ngừng v-ơn lên
An D-ơng là địa ph-ơng có nhiều tín ng-ỡng, tôn giáo, trong đó Phật giáo là tôn giáo có ảnh h-ởng lớn nhất đến đời sống văn hoá tinh thần của con ng-ời nơi đây Phật giáo du nhập vào An D-ơng từ khoảng thế kỷ X An D-ơng đã từng là một trong những nơi Phật giáo phát triển rất mạnh của xứ
Đông Theo lịch sử để lại thì chùa Đào Yêu, chùa Tràng Duệ đã đ-ợc đón thiền s- Pháp Loa, thiền s- Huyền Quang đến để khai tâm thuyết giảng Phật pháp ở An D-ơng, thịnh hành nhất là Thiền phái Trúc Lâm vì nơi đây chịu
ảnh h-ởng trực tiếp của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Phật giáo ở đây thể hiện rõ tính chất dung thông với Nho giáo và Đạo giáo và có sự hoà đồng với một số tín ng-ỡng dân gian của ng-ời bản địa, do đó gần gũi với ng-ời lao
Trang 32động Sự hoà quyện đó biểu hiện ở chỗ nhiều cơ sở Phật giáo trong huyện có Hạ ban, có điện thờ Thành Hoàng và nhiều nhất là có điện thờ Mẫu - một tín ng-ỡng điển hình và phổ biến nhất của c- dân nông nghiệp nói chung và của ng-ời An D-ơng nói riêng Hầu hết các chùa đều có ban hoặc gian riêng cho việc thờ các t-ợng thuộc hệ thống Khổng giáo và Đạo giáo
Hiện nay, Phật giáo ở An D-ơng đang có sự phát triển nhanh về tín đồ, kinh sách và cơ sở thờ tự Cụ thể là:
Về Tăng Ni: Toàn huyện An D-ơng có 37 vị Tăng, Ni (năm 1990 chỉ có
15 vị) bao gồm 32 Ni và 5 Tăng Cụ thể theo chức sắc, danh tính là: Tỳ kheo -
23 vị; Sadi Ni - 5 vị; Hình đồng - 9 vị Các nhà s- ở huyện An D-ơng, phổ biến đ-ợc đào tạo qua các ch-ơng trình đào tạo của tr-ờng cơ bản Phật học Hải Phòng (nay là tr-ờng trung cấp Phật học Hải Phòng), một số vị đ-ợc đào tạo thêm tại Học viện Phật học ở Hà Nội Từ tháng 5 năm 2006 có 13 vị Ni theo học khoá V (2006-2010) ở tr-ờng Trung cấp Phật học Hải Phòng
So với các quận, huyện trong thành phố Hải Phòng thì số Tăng Ni ở An D-ơng có số l-ợng khá đông
Bảng 2.1: Sự phân bố các nhà s- ở các địa ph-ơng của Hải Phòng
Trang 33(Nguồn: Báo cáo của Thành Hội Phật giáo Hải Phòng, năm 2008)
An D-ơng là huyện có số nhà s- đông thứ hai ở Hải Phòng, chỉ đứng sau huyện Thuỷ Nguyên Độ tuổi trung bình của các vị Tăng, Ni ở An D-ơng hiện nay là 29 (ng-ời cao tuổi nhất là 63, thấp tuổi nhất là 11 tuổi), đại đa số ở tuổi 25 đến 40 Sự trẻ hoá của các nhà s- trong công tác Phật pháp đã tạo nên nhiều sự thay đổi tích cực so với tr-ớc đây xuất phát từ sự năng động của họ
so với các nhà s- đã cao tuổi Tuy nhiên, ở độ tuổi trẻ nh- vậy họ cũng gặp không ít những khó khăn trong nghiên cứu và truyền thụ đến các Phật tử vì vốn Hán cổ và sự chiêm nghiệm về cuộc sống là ch-a nhiều Sự chênh lệch giữa Tăng và Ni là rất lớn, trong số 37 vị Tăng Ni thì chỉ có 5 vị Tăng, còn lại
có tới 32 vị là Ni Trong vài năm trở lại đây, số nữ đi tu ở huyện An D-ơng càng nhều hơn so với nam Đây cũng là một khía cạnh thể hiện tính nữ trội của Phật giáo ở An D-ơng bên cạnh việc ở đây Phật bà Quan âm đ-ợc thờ rất nhiều và các các Phật tử chủ yếu là nữ giới Tr-ớc đây, các nhà s- xuất thế cầu
an, n-ơng nhờ cửa Phật với tính giản dị, thanh đạm thì hiện nay họ có xu h-ớng tham gia ngày càng tích cực vào các hoạt động của đời sống xã hội, sử dụng các vật dụng sinh hoạt ngày càng đầy đủ và đắt tiền… Sự thay đổi này xuất phát từ sự phát triển kinh tế xã hội ở đây Do vậy, bên cạnh một số tác
động tích cực thì xu h-ớng này đang làm giảm đi tính thiêng trong tâm lý Phật
tử và những ng-ời dân đối với Phật giáo
Trang 34Trong công tác hoằng d-ơng chính pháp thì các nhà chùa th-ờng tổ chức ch-ơng trình thuyết giảng Phật pháp mỗi năm một lần vào dịp quy y Tam bảo cho Phật tử mới vào Việc thuyết giảng Phật pháp nh- vậy là ch-a
đáp ứng đ-ợc yêu cầu đặt ra, ch-a truyền tải đ-ợc những giáo lý cơ bản của
đức Phật, Phật tử ch-a nhận thức và nắm bắt đ-ợc bản chất của Phật pháp
Hoạt động th-ờng xuyên của các nhà s-, nhà chùa ở An D-ơng hiện nay là phần hoạt động lễ tiết phục vụ nhân dân trong các việc tang lễ, cầu siêu, cúng giải hạn, cầu may… Những hoạt động này vừa đáp ứng nhu cầu của đời sống, vừa phản ánh tính vận động hoà nhập để tồn tại và phát triển của Phật giáo trong những điều kiện mới Đây cũng là một trong những đặc điểm nổi bật của Phật giáo ngày càng mang tính dân gian, thể hiện sự gắn bó giữa đạo
và đời (Phật giáo nguyên thuỷ không có sự cúng bái này)
Trong những năm gần đây, các nhà s- ở huyện An D-ơng cũng nh- nhiều địa ph-ơng khác đã không ngừng nâng cao trình độ học vấn nh-ng nói chung còn thấp Nhiều Tăng, Ni ch-a học xong Trung học cơ sở Sau khi vào chùa họ mới tiếp tục theo học tiếp để có mức kiến thức chuẩn hoá nh- là khâu trung gian để có thể theo học ở các tr-ờng Phật học Chỉ tính trong số 13 vị Ni
đang theo học tại tr-ờng Trung cấp Phật học Hải Phòng thì có tới 7 vị thực chất chỉ đạt trình độ Trung học cơ sở Trong số các vị ấy không phải không có những ng-ời làm cho chúng ta suy nghĩ rằng họ cũng có mong muốn tìm kiếm
sự ổn định, an c- trong cuộc sống Có những biểu hiện cho thấy ở họ thiếu sự quyết tâm và điều kiện phát triển cao hơn để có thể hiểu và thuyết giảng đúng
đắn tinh thần của giáo lý nhà Phật cho các Phật tử
Hiện nay ở An D-ơng có 3 ng-ời d-ới danh nghĩa nhà s- đang hoạt
động trái phép Ngày 26.10.2008, Th-ợng Toạ Thích Quảng Tùng- Phó tr-ởng ban th-ờng trực Thành Hội Phật giáo Hải Phòng đã gửi công văn số 1026
CV/BTS "Về việc một số Tăng, Ni không phải là Tăng, Ni c- trú trái phép"
đến Phòng Tôn giáo huyện An D-ơng Công văn đã phản ánh những ng-ời
Trang 35này không phải là Tăng, Ni vì đã vi phạm giới luật, bỏ Thầy s-, không tham gia Giáo hội, hiện đang c- trú và hành đạo trái phép tại các cơ sở thờ tự, gây bức xúc cho Thành hội và địa ph-ơng Đó là 3 ng-ời sau đây:
- Lê Văn Lộc, tức Thích Thanh Nhẫn, c- trú ở chùa Tiên sa- xã Hồng Thái
- Đỗ Văn Tuệ, tức Thích Quảng Đại, c- trú ở chùa Hà Nhuận- xã An Hoà
- Nguyễn Văn Khoa, tức Thích Bản Trí, c- trú tại chùa L-ơng Quy- xã
Lê Lợi
Công văn đề nghị Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban mặt trận tổ quốc, Ban Tôn giáo, Sở công an, Ban dân vận thành phố Hải Phòng; Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban mặt trận tổ quốc, Phòng Tôn giáo, Ban dân vận huyện An D-ơng có biện pháp xử lý hữu hiệu để đảm bảo an ninh trật tự tại địa ph-ơng và thanh danh của Giáo hội Tuy nhiên, đến nay vấn đề này vẫn ch-a đ-ợc giải quyết triệt để
Do đó, những ng-ời này vẫn tồn tại d-ới danh nghĩa nhà s-, nhà chùa và đã có một số hoạt động gây ảnh h-ởng không tốt đến đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân
ở một số chùa bắt đầu nảy sinh vấn đề mâu thuẫn, gây bè phái giữa s- trụ trì với một số ng-ời thay mặt làng trông coi chùa tr-ớc đây Khi đời sống của ng-ời dân ngày càng đ-ợc nâng cao thì họ th-ờng xuyên đến chùa hơn,
điều đó cũng đồng nghĩa với việc đóng góp công đức của các Phật tử ngày càng nhiều nên đã thay đổi cuộc sống của giới tu hành so với tr-ớc đây Tr-ớc thực tế đó, đã có một bộ phận những chức sắc trụ trì tại một số chùa dùng phần lộc công đức của Phật tử vào những mục đích riêng làm mất đi ý nghĩa thiêng liêng của việc làm này
ở chùa Mục Đồng (xã Hồng Phong), chùa Đào Yêu (xã Hồng Thái) xảy ra hiện t-ợng tranh chấp đất đai giữa s- trụ trì và ng-ời dân địa ph-ơng và
Trang 36đã không ít lần những xung đột, cãi vã xảy ra làm mất đoàn kết cũng nh- xấu
đi hình ảnh của ng-ời xuất gia
Phật giáo ở An D-ơng dù mang tính quần chúng, gần gũi với ng-ời dân lao động và phổ biến nh-ng cũng chỉ ở cấp độ tâm lý tình cảm Phật giáo có
ảnh h-ởng lớn nhất nh-ng sự tác động đó cũng chỉ mang tính hình thức, biểu hiện bề ngoài mà ch-a đi vào thực chất bên trong Tâm lý quần chúng rất linh thiêng đất chùa và nhu cầu hành lễ theo kiểu Phật giáo cao hơn hẳn so với nhu cầu hiểu biết Phật pháp, nên mặc dù biết rõ những ng-ời không phải là s-, không thuộc thành phần Tăng, Ni của Thành hội Phật giáo nh-ng quần chúng Phật tử ở nhiều nơi vẫn chấp nhận họ Th-ợng toạ Thích Thanh Tùng trụ trì chùa Tràng Duệ (xã Lê Lợi) đã phải thừa nhận: Nhiều bà con dễ tin ng-ời, cứ
ai mặc áo nâu sòng là r-ớc về chùa
Về cơ sở thờ tự: Hiện nay ở huyện An D-ơng có 68 chùa phân bố ở 16
xã, thị trấn (tăng15 chùa so với năm 1985) Số chùa ở đây đứng thứ ba thành phố sau huyện Vĩnh Bảo là 81 chùa và huyện Thuỷ Nguyên là 80 chùa Số chùa trong huyện đ-ợc phân bố cụ thể nh- sau:
Bảng 2 2: Số l-ợng dân c- và các cơ sở thờ tự Phật giáo trong so sánh với
Công giáo ở các địa ph-ơng thuộc huyện An D-ơng
Cơ sở thờ tự của công giáo
Trang 37(Nguồn: Phòng tôn giáo huyện An D-ơng, năm 2008)
Tất cả các xã, thị trấn ở An D-ơng đều có chùa (Công giáo có 8 nhà thờ
ở 7 xã) Trung bình mỗi xã có tới 4 chùa, hầu hết làng nào cũng có chùa Tính
số dân trên số chùa thì cứ 2176 dân có 1 chùa So với số dân thì số chùa phân
bố không đồng đều giữa các xã; xã Đại Bản có 11.188 ng-ời nh-ng chỉ có 2 chùa (5594 ng-ời/1 chùa), trong khi xã Quốc Tuấn chỉ có 6.700 thì có tới 5 ngôi chùa (1340 ng-ời/1 chùa) Những nơi có nhiều chùa th-ờng là địa bàn kinh tế kém phát triển hơn, dân trí thấp, đời sống nhân dân khó khăn hơn so với những nơi khác và các chùa ở đó cũng nhỏ bé, ít đ-ợc tu bổ, những chùa này đều đã đ-ợc xây từ rất lâu, không có chùa nào đ-ợc xây mới
Trong khoảng 5 năm trở lại đây, có nhiều chùa ở huyện An D-ơng đ-ợc sửa chữa, có 4 chùa đ-ợc xây mới nh- Quang Minh Tự (xã Bắc Sơn), Long Sơn Tự (xã An Hoà) Đa số các chùa sau khi đ-ợc sửa chữa vẫn giữ đ-ợc cốt cách truyền thống Đây cũng là điểm khác so với các chùa trong nội thành Các chùa trong khu vực nội thành Hải Phòng hiện nay trong quá trình tu sửa
đã đ-ợc trang trí lộng lẫy, tính cổ kính, u tịch dần bị thay thế bằng sự trang hoàng, sắc màu lộng lẫy hơn
Trang 38So với các quận huyện trong thành phố Hải Phòng thì An D-ơng là địa bàn có nhiều chùa đ-ợc xếp hạng di tích lịch sử văn hoá và cách mạng cấp thành phố và quốc gia nh-: chùa Hà Đậu, chùa Bắc Sơn, chùa Tràng Duệ, chùa Đào Yêu, chùa Kinh Giao, chùa Phú La Đây là những cơ sở có nhiều
đóng góp cho công tác Phật sự và đặc biệt là sự đóng góp cho cách mạng giải phóng dân tộc và quá trình xây dựng đất n-ớc qua các thời kỳ lịch sử Tên, danh của các chùa này là những địa chỉ đỏ của phong trào cách mạng thời kỳ giành chính quyền, trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ Điều đó cho thấy Phật giáo ở đây luôn đồng hành cùng dân tộc trong tiến trình cách mạng
Chùa Bắc Sơn- Thiên Vũ tự, chùa đ-ợc xây dựng trên vùng đất thuộc thôn Nam Hà, xã Bắc Sơn Điểm nổi bật của chùa là sự hoạt động Phật pháp
đóng góp cho cách mạng, đây là cơ sở của cách mạng ngay từ những ngày chuẩn bị tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 Đầu năm 1945, nhà s- L-ơng Ngọc Trụ đã lấy chùa làm nơi nuôi giấu cán bộ, tổ chức các cuộc gặp bí mật
Trang 39giữa t- lệnh chiến khu Đông Triều- Nguyễn Bình với nhà s- Nguyễn Kiên Tranh và thị tr-ởng Hải Phòng là Vũ Trọng Khánh để thống nhất các lực l-ợng cho kế hoạch giành chính quyền đồng thời quyên góp tiền của phục vụ cho cách mạng và cứu đói năm 1945 Đội tự vệ "Tăng già cứu quốc" do nhà s- phụ trách đã chiến đấu kiên c-ờng chống sự càn quét của thực dân Pháp và nhiều nhà s- đã anh dũng hi sinh Sự biểu hiện hoà đồng giữa đạo và đời ở đây
đã làm nên những giá trị tốt đẹp gắn kết Phật giáo với cuộc sống ng-ời An D-ơng
Trong số 68 chùa ở An D-ơng có 2 chùa do cá nhân đứng ra xin phép chính quyền địa ph-ơng sở tại xây dựng mới hoàn toàn gồm: Sơn Linh tự do
ông Nguyễn Văn Khoát quyên góp tiền trong nhân dân và Quang Minh tự khánh thành năm 2006 do nhà s- Thích Diệu H-ơng tổ chức quyên góp xây dựng Chùa đ-ợc xây mới, trang trí lộng lẫy theo h-ớng bê tông hoá làm mất
đi tính cổ kính, trang nghiêm và u tịch ở nơi cửa Phật Sinh hoạt Phật giáo diễn
ra ở hai chùa diễn ra bình th-ờng và thu hút ngày càng nhiều hơn Phật tử và khách thập ph-ơng
Huyện An D-ơng có 68 chùa nh-ng chỉ có 37 vị Tăng, Ni nên có nhiều nhà s- phải kiêm nhiệm thêm chùa để đáp ứng nhu cầu của Phật tử Tình trạng nhiều chùa, ít s- đã tạo điều kiện cho một số ng-ời lợi dụng việc tu hành, hoạt
động Phật pháp, tín ng-ỡng để chiếm chùa Thực tế này đang ảnh h-ởng không tốt đến hoạt động của Phật giáo và tín ng-ỡng ở huyện An D-ơng
Về tín đồ Phật giáo: Việc xác định tín đồ Phật giáo là rất khó khăn vì
nếu chỉ dựa vào những ng-ời lên chùa thậm chí có niềm tin vào cái thiện, cái
ác, nghiệp báo, luân hồi theo cách hiểu bình dân thì khó có thể thống kê chính xác Số ng-ời chịu ảnh h-ởng về văn hoá, tín ng-ỡng Phật giáo hay ít nhiều có tâm linh Phật giáo, có cảm tình với Phật giáo là rất đông Hơn nữa, Phật giáo
có tổ chức lỏng lẻo vì bản chất của nó là tự nguyện, tự tâm và tín đồ Phật giáo vì một lẽ gì đó cũng không bị khai trừ, không bị rút phép thông công nh- tín
Trang 40đồ Công giáo, do đó không thể có một thống kê thật đầy đủ Ng-ời theo Phật giáo có hai loại: tu tại gia và xuất gia tu hành ở n-ớc ta quen gọi tín đồ tu tại gia là Phật tử Để trở thành tín đồ thuần nhất của Phật giáo phải thực hiện lễ
“quy y Tam b°o” tửc l¯ trờ vẹ nương tữa v¯o Phật, Ph²p, Tăng
Theo thống kê của Ban tôn giáo thành phố Hải Phòng, năm 2008 số tín
đồ Phật giáo của huyện An D-ơng là 17.890 ng-ời, chiếm khoảng 12,1% dân
số Trong đó, số tín đồ nữ là 13.820 ng-ời, phổ biến là ng-ời già và trung tuổi,
có trình độ học vấn không cao nh-ng rất nhiệt tình đến chùa sinh hoạt Phật giáo Số l-ợng tín đồ Phật giáo ở An D-ơng đứng thứ ba thành phố Hải Phòng nh-ng lại thuộc loại cao nhất nếu so với tỉ lệ dân c-
Bảng 2.3: Tỷ lệ tín đồ Phật tử so với số dân các địa ph-ơng ở Hải Phòng
Stt Quận, huyện Số tín đồ Phật giáo Dân số Tỷ lệ%