ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN TÙNG LÂM NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC CÂY NGHIẾN GÂN BA (Excentrodendron tonkinensis) TẠI XÃ YÊN LẠC, HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN KHÓA LUẬN TỐT[.]
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Cơ sở khoa học
Sự phát triển kinh tế xã hội đã làm gia tăng mối quan tâm đến bảo tồn đa dạng sinh học Đô thị hóa, ô nhiễm môi trường và chặt phá rừng đang gây suy giảm diện tích rừng và đa dạng sinh học, đẩy nhiều loài động thực vật quý vào nguy cơ tuyệt chủng Do đó, cần có các chương trình và dự án cụ thể từ cộng đồng để bảo tồn kịp thời Trong số đó, loài Nghiến, với giá trị kinh tế cao, đang bị khai thác mạnh mẽ, dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng trong tương lai gần Cần tiến hành nghiên cứu về đặc tính sinh học của loài này để đề xuất các biện pháp bảo tồn hiệu quả.
Về cơ sở sinh học
Nghiên cứu các loài cây rừng đòi hỏi chúng ta phải hiểu rõ đặc điểm sinh học của từng loài Việc nắm bắt đặc tính sinh học giúp áp dụng biện pháp tác động phù hợp, sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm, từ đó nâng cao hiểu biết về thiên nhiên sinh vật.
Về cơ sở bảo tồn
Biến đổi khí hậu và nạn chặt phá rừng đang đẩy nhiều loài động, thực vật vào nguy cơ tuyệt chủng Do đó, công tác bảo tồn loài và bảo tồn đa dạng sinh học ngày càng trở nên quan trọng và được chú trọng hơn bao giờ hết.
Chính phủ Việt Nam đã công bố Sách đỏ Việt Nam dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, nhằm hướng dẫn và thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên.
Nhiều loài động thực vật tại Việt Nam được xếp vào các cấp bảo tồn CR, EN và VU, cần được bảo tồn để gìn giữ nguồn gen quý giá cho đa dạng sinh học Cây Nghiến gân ba, mặc dù có khu phân bố rộng, nhưng đang bị khai thác mạnh mẽ, với hơn 50% số cá thể trưởng thành đã bị chặt phá Việc khai thác này chủ yếu nhằm lấy gỗ cho xây dựng và xuất khẩu trái phép qua biên giới.
Bể, Vườn quốc gia Phia Đén – Phia oắc, Vườn quốc gia Xuân Sơn, Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, … và các Khu bảo tồn thiên nhiên Pà Cò -
Hang Kia, Hữu Liên, Na Hang, Bắc Mê, Bát Đại Sơn, Phong Quang, Tây Côn Lĩnh, Kim Hỷ, Nam Xuân Lạc, Thần Sa - Phượng Hoàng là những địa điểm đang bị khai thác trộm, khiến nhiều loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao ngoài tự nhiên Đây là cơ sở khoa học quan trọng cho việc thực hiện khóa luận tốt nghiệp của tôi.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
2.2.1.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài cây
Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cây, bao gồm hình thái và sinh học, đã được thực hiện rộng rãi trên thế giới và được coi là bước đầu tiên cho các nghiên cứu khoa học khác Nhiều công trình nghiên cứu đã được tiến hành, tập trung vào mô tả và phân loại các loài cây, tạo nền tảng cho ngành nghiên cứu thực vật toàn cầu Một số công trình tiêu biểu như Thực vật chí Vân Nam (1977), Thực vật chí Australia (1866), và Thực vật chí rừng Tây Bắc cùng vùng trung tâm Ấn Độ đã đóng góp quan trọng vào lĩnh vực này.
(1874), Thực vật chí Ấn Độ 7 tập (1872 - 1897), Thực vật chí Hong Kong
Các tài liệu như Thực vật chí Miến Điện (1861), Thực vật chí Malaysia (1892 - 1925) và Thực vật chí Hải Nam (1972 – 1977) đã đóng góp quan trọng vào việc xây dựng cơ sở khoa học cho nghiên cứu hình thái, phân loại và đánh giá tính đa dạng sinh học ở các khu vực khác nhau Những tài liệu này giúp nâng cao hiệu quả và thuận lợi cho công tác nghiên cứu khoa học.
Nhà khoa học Nga, Tolmachop A.I, nhận định rằng số loài trong hệ thực vật ở vùng nhiệt đới ẩm thường dao động từ 1500 đến 2000 loài Ông nhấn mạnh rằng cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để phản ánh sự phong phú của môi trường sống mà không bị ảnh hưởng bởi sự phân hóa địa lý, và gọi đó là hệ thực vật cụ thể.
2.2.1.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học
Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái của cây là rất quan trọng để đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh rừng Các nhà khoa học đang áp dụng lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc và tái sinh rừng để nghiên cứu đặc điểm của từng loài cụ thể.
Các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm trong sinh thái học thực vật giúp hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa các loài thực vật và điều kiện môi trường nơi chúng sinh trưởng Trong tác phẩm “Thực nghiệm sinh thái học” của Stephen D Wratten và Gary L A ry (1980), cùng với W Lacher (1987), các tác giả đã chỉ ra sự thích nghi của các loài thực vật với các yếu tố như dinh dưỡng khoáng, ánh sáng, chế độ nhiệt, độ ẩm và nhịp điệu khí hậu.
Học thuyết về hệ sinh thái, dựa trên các thuật ngữ của Tansley A.P (1935), đã được Odum E.P hoàn thiện vào năm 1971 Ông phân chia sinh thái học thành hai nhánh: sinh thái học quần thể và sinh thái học cá thể Sinh thái học cá thể tập trung nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, đặc biệt chú trọng đến chu kỳ sống, tập tính và khả năng thích nghi với môi trường.
Lacher W (1978) đã chỉ ra rằng việc thích nghi với các điều kiện dinh dưỡng khoáng, nhiệt độ, độ ẩm và nhịp điệu khí hậu là vấn đề quan trọng trong nghiên cứu sinh thái thực vật (theo Nguyễn Thị Hương Giang 2009) [8].
Trong rừng nhiệt đới, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến sự phát triển của cây con, nhưng tác động đến sự nảy mầm thì không rõ ràng (Vansteenis, 1956) Số lượng đơn vị loài cây và mật độ tái sinh trong rừng nhiệt đới thường lớn, do đó, việc đánh giá chính xác tình hình tái sinh rừng là cần thiết để có biện pháp tác động phù hợp, tránh ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái Phương pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng, được David và P.W Risa (1933-1934) đề xuất, hiện vẫn được sử dụng, nhưng chỉ minh họa cách sắp xếp theo hướng thẳng đứng trong diện tích hạn chế Cusen (1951) đã cải tiến phương pháp này bằng cách vẽ các dải kề nhau, tạo ra hình tượng không gian ba chiều.
R Sampion Gripfit (1948) đã đề xuất phân cấp cây rừng thành 5 cấp Trong khi đó, Richards P.W (1952) đã phân chia rừng ở Nigeria thành 6 tầng dựa trên chiều cao, từ 6-12m đến 36-42m, tuy nhiên, đây chỉ là phân loại theo chiều cao Odum E.P (1971) đã bày tỏ nghi ngờ về sự phân tầng của rừng rậm ở độ cao dưới 600m tại Puerto Rico, cho rằng không có sự tập trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào.
Khi nghiên cứu cấu trúc hình thái của rừng mưa nhiệt đới, Richards P.W (1968) đã chỉ ra rằng đặc điểm nổi bật của loại rừng này là phần lớn cây cối đều là cây thân gỗ và có nhiều tầng khác nhau.
“Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kì nhất về mặt cấu tạo và phong phú nhất về mặt loài cây”
Nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên đang chuyển từ mô tả định tính sang định lượng nhờ vào sự hỗ trợ của thống kê toán học và công nghệ thông tin Rollet B.L (1971) đã sử dụng các hàm hồi quy để biểu diễn mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính, đồng thời áp dụng các dạng phân bố xác suất để phân tích đường kính ngang ngực và đường kính tán Để mô hình hóa cấu trúc đường kính thân cây của loài thông, Balley cũng đã có những đóng góp quan trọng.
Năm 1972, hàm Weibull đã được áp dụng, nhưng việc sử dụng các hàm toán học vẫn chưa đủ để phản ánh đầy đủ mối quan hệ sinh thái giữa các cây rừng và môi trường xung quanh Do đó, các phương pháp nghiên cứu cấu trúc này thường không được áp dụng trong các khóa luận.
Nghiên cứu tại Thái Lan, Philippines và Malaysia cho thấy nhiều giống cây trồng địa phương đang bị thay thế bởi các giống cây nhập nội Theo báo cáo của FAO (1996), một nghiên cứu ở Hàn Quốc chỉ ra rằng 74% giống của 14 loài cây trồng phổ biến đã bị thay thế từ năm 1985 đến 1993 Tại Châu Phi, suy thoái và phá hủy rừng là nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm nguồn gen.
Mỹ La tinh đang đối mặt với sự suy giảm nguồn gen của các loài cây lâm nghiệp có giá trị kinh tế Cấu trúc rừng phản ánh mối quan hệ tương tác giữa các loài thực vật và môi trường sống Nghiên cứu cấu trúc rừng giúp hiểu rõ hơn về các mối quan hệ sinh thái trong quần xã, từ đó cung cấp cơ sở để đề xuất các biện pháp tác động phù hợp nhằm bảo vệ và phát triển rừng.
Vấn đề duy trì và điều tiết rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên nhiệt đới, đã được thảo luận lâu dài với nhiều quan điểm khác nhau Nhiều phương thức lâm sinh, như phương thức chặt cải thiện (RIF, 1927), đã được thử nghiệm trên toàn cầu Baur G.N (1962) đã nghiên cứu sâu về các nhân tố cấu trúc và kiểu xử lý lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên, đóng góp quan trọng vào cơ sở sinh thái học kinh doanh rừng mưa.
Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
Yên Lạc là một xã thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam
Xã có địa hình kéo dài theo chiều bắc - nam, giáp với xã Văn Lãng ở phía đông bắc, xã Phú Đô ở phía đông, xã Tức Tranh ở phía đông nam và nam, một đoạn nhỏ giáp với xã Phấn Mễ ở phía tây nam Phía tây, xã giáp với xã Động Đạt, Phú Lương, và phía tây bắc giáp với hai xã Yên Ninh và Yên Đổ Phía bắc Yên Lạc là xã Quảng Chu thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc.
2.3.1.2 Điều kiện địa hình Địa hình của xã tương đối phức tạp, độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 100 m đến 400m Các xã này có nhiều núi cao, độ cao trung bình từ
Vùng địa hình từ 300 m đến 400 m có độ dốc chủ yếu trên 200, với thảm thực vật dày và tán che phủ cao, phần lớn lá rừng xanh quanh năm Đây là đặc điểm của khu vực trung du, nơi có nhiều đồi và ít ruộng.
2.3.1.3 Điều kiện khí hậu thời tiết: Điều kiện khí hậu thời tiết của xã đều cùng chung điều kiện khí hậu của huyện Phú Lương Khí hậu Phú Lương mang tính chất nhiệt đới gió mùa với hai mùa nóng, lạnh rõ rệt Mùa lạnh (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) nhiệt độ xuống thấp, có khi xuống tới 30 C, thường xuyên có các đợt gió mùa đông bắc hanh, khô Mùa nóng (từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm) nhiệt độ cao, nhiều khi có mưa lớn và tập trung Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22 °C, với tổng tích nhiệt khoảng 8.000 °C Trong mùa nóng, nhiệt độ cao nhất đạt 27,2 °C, đặc biệt tháng 7 có thể lên tới 28 °C - 29 °C Ngược lại, trong mùa lạnh, nhiệt độ thấp nhất là 20 °C, với tháng 1 ghi nhận mức thấp nhất là 15,6 °C Trung bình, khu vực này có 1.628 giờ nắng mỗi năm và năng lượng bức xạ đạt khoảng 115 kcal/cm².
Lượng mưa trung bình ở Phú Lương dao động từ 2.000mm đến 2.100mm mỗi năm, với hơn 90% tổng lượng mưa rơi từ tháng 4 đến tháng 10 Tháng 7 ghi nhận lượng mưa lớn nhất, trung bình từ 410mm đến 420mm, và có số ngày mưa nhiều nhất, từ 17 đến 18 ngày Ngược lại, tháng 11 và tháng 12 có lượng mưa thấp, chỉ khoảng 24 đến 25mm mỗi tháng, với 8 đến 10 ngày mưa Năm 1960, Phú Lương ghi nhận lượng mưa cao nhất là 3.008,3mm, trong khi năm 1985 có lượng mưa thấp nhất là 977mm Lượng bốc hơi trung bình hàng năm khoảng 985,5mm, và trong mùa lạnh, lượng bốc hơi thường lớn hơn lượng mưa, dẫn đến độ ẩm dưới 0,5, gây ra tình trạng khô hạn thường xuyên.
2.3.1.4 Về đất đai thổ nhưỡng:
Có ba loại đất chính: đất fe-ra-lít vàng đỏ trên thạch sét, đất fe-ra-lít màu vàng nhạt trên đá cát, và đất nâu đỏ trên đá mácmabazơ Những loại đất này tương đối phù hợp cho việc trồng cây công nghiệp dài ngày như chè, cà phê, và cây ăn quả, đồng thời khuyến khích sản xuất theo hướng nông - lâm kết hợp.
Xã Yên Lạc nằm gần các khu du lịch nổi tiếng của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, bao gồm Núi Đuổm, Núi Chúa, Núi Sơn Cẩm và Đền Thắm Những địa điểm này là các khu du lịch tâm linh thu hút đông đảo du khách đến hành lễ và tham quan hàng năm.
Yên Lạc không chỉ có hai tuyến đường chính là quốc lộ 3 và tỉnh lộ 254, mà còn có tuyến đường liên xã Tức Tranh - Yên Lạc - Yên Đổ thuộc dự án giao thông nông thôn của huyện Phú Lương Dự án này có tổng đầu tư gần 45 tỷ đồng, với chi phí xây lắp trên 28 tỷ đồng, được tài trợ từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, ngân sách Nhà nước và các nguồn vốn khác Tuyến đường được thiết kế với chiều rộng nền 5m và mặt đường 3,5m, đáp ứng tiêu chuẩn đường giao thông nông thôn loại A, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy giao lưu, buôn bán và trao đổi giữa các xã.
2.3.1.7 Điều kiện kinh tế xã hội:
Theo Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 1999-2003, xã Yên Lạc có diện tích 43,5 km² và dân số 6.872 người, với mật độ cư trú đạt 158 người/km² Xã Yên Lạc bao gồm 23 xóm, bao gồm: Yên Thịnh, Hang Neo, xóm Ó, xóm Đẩu, Đồng Xiền, Đồng Mỏ, Làng Lớn, Phân Bơi, Cầu Đá, Mương Gằng, Cây Thị, Ao Lác, Tiên Thông A, Tiên Thông B, Na Mụ, Viện Tâm, Kim Lan, Đồng Bòng, Yên Thủy 1, Yên Thủy 2, Yên Thủy 3, Yên Thủy 4, và Yên Thủy 5.
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian: đề tài được tiến hành từ tháng 1/2019 đến tháng 6/2019.
Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu, khóa luận nghiên cứu các nội dung chính sau:
3.3.1 Tìm hiểu đặc điểm sử dụng và sự hiểu biết của người dân về loài cây
- Điều tra thực trạng khai thác và sử dụng của loài cây Nghiến gân ba
3.3.2 Nghiên cứu đặc điểm nổi bật về hình thái của loài Nghiến gân ba 3.3.3 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của loài Nghiến gân ba
- Đặc điểm khí hậu nơi có Nghiến gân ba phân bố
- Đặc điểm đất nơi loài cây Nghiến gân ba phân bố
3.3.4 Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi có loài nghiến gân ba phân bố
- Đặc điểm cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây cao
- Đặc điểm tổ thành cây tái sinh tự nhiên tại khu vực nghiên cứu
- Đặc điểm cấu trúc tầng thứ và độ tàn che
3.3.5 Xác định trữ lượng cây Nghiến gân ba tại khu vực nghiên cứu
3.3.6 Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển loài
Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung
Phương pháp kế thừa bao gồm việc sử dụng các kết quả nghiên cứu trước đây liên quan đến điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu và loài Nghiến gân ba, cả trong và ngoài nước Điều này bao gồm việc xem xét các đặc điểm sinh học cơ bản, điều kiện lập địa và khả năng sinh trưởng của loài này.
Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát ngoài thực địa, chúng tôi tiến hành khảo sát theo các tuyến điều tra và lập các Ô tiêu chuẩn (OTC) điển hình tạm thời để thu thập số liệu liên quan đến nội dung của đề tài.
Phương pháp chuyên gia là yếu tố then chốt trong việc xác định tính chính xác của đối tượng nghiên cứu ngoài thực địa, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả nghiên cứu Do đó, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sẽ hợp tác với các chuyên gia từ trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực thực vật, lâm sinh học và điều tra rừng.
- Sử dụng các phần mềm xử lý thống kê chuyên dụng EXCEL, GIS, để tổng hợp và đánh giá kết quả điều tra
3.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu
Trong quá trình thực hiện, đề tài đã kế thừa các số liệu, tài liệu sau:
Các nghiên cứu và tài liệu về đặc điểm sinh thái, hình thái, tái sinh và giá trị sử dụng của loài Nghiến gân ba đã được thực hiện cả trong nước và quốc tế.
- Các số liệu, tài liệu, bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng tại huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu
3.4.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Lập 9 OTC điển hình để nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng có cây Nghiến gân ba phân bố Ô tiêu chuẩn phải bố trí tại những nơi phát hiện có loài Nghiến gân ba phân bố, tại các vị trí có tính đại diện cao ở khu vực nghiên cứu Địa hình trong ô phải tương đối đồng đều, các loài cây phân bố tương đối đều, cây sinh trưởng bình thường, ô tiểu chuẩn không đi qua các khe, qua đỉnh hoặc có đường mòn hay ô tô chạy qua
Phương pháp lập OTC bao gồm việc sử dụng địa bàn và thước dây để đo đạc Tổng số OTC là 9, với mỗi OTC có diện tích 1000m² (25m x 40m) Để thuận tiện cho việc đo đếm, đề tài tiến hành lập OTC với chiều dài song song với đường đồng mức và chiều rộng vuông góc với đường đồng mức.
* Điều tra cây bụi thảm tươi:
Phương pháp lập ô dạng bản (ODB) trong OTC bao gồm việc thiết lập 5 ô để khảo sát cây bụi và thảm tươi theo vị trí Cụ thể, 1 ô được đặt ở tâm và 4 ô ở 4 góc của ô tiêu chuẩn, như thể hiện trong hình vẽ.
Hình 3.1 Sơ đồ nghiên cứu OTC và ô dạng bản
- Lập ODB để điều tra cây bụi, thảm tươi Diện tích mỗi ODB là 25 m2 (5m x 5m) Số ODB ở khu vực 1 là 9 x 5 = 45 ô
3.4.2.3 Phương pháp nghiên cứu phân loại học Để xác định, làm quen và nhận rõ loài khi triển khai nghiên cứu thực địa thì việc nghiên cứu phân loại loài rất quan trọng Nghiên cứu này thực hiện tốt giúp nhà nghiên cứu không nhầm lẫn đối tượng nghiên cứu Ngoài ra, nó cũng chỉ rõ vị trí phân loại của loài trong các hệ thống phân loại Để thực hiện được nội dung này, đề tài đã tiến hành nghiên cứu các tài liệu liên quan về hệ thống học của chi và họ Đay trên thế giới và trong nước, đồng thời tiến hành kiểm tra và được Th.S La Quang Độ hướng dẫn cách nhận biết cây Nghiến gân ba ngoài thực địa để không bị nhầm lẫn với các cây khác Các đặc điểm hình thái của loài cũng được ghi chép để phục vụ nghiên cứu hình thái loài
Sau khi thu thập thông tin cơ bản về hình thái và phân bố của loài, đề tài sẽ tiến hành xác định vị trí trên bản đồ khu vực cần điều tra Mục đích của việc điều tra sơ thám là
- Nhận diện chính xác loài và xác định sơ bộ khu vực nghiên cứu của loài Nghiến gân ba
- Xác định sơ bộ tuyến điều tra sao cho đảm bảo đi qua các loại rừng đại diện, nơi có loài Nghiến gân ba phân bố
3.4.2.5 Phương pháp điều tra thu thập số liệu ngoài hiện trường a) Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái
Phương pháp quan sát mô tả trực tiếp đối tượng đại diện, kết hợp với phương pháp đối chiếu và so sánh với tài liệu hiện có, là một phương pháp phổ biến trong nghiên cứu thực vật học (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001) [11].
Quan sát và xác định kích thước các bộ phận của cây Nghiến gân ba bao gồm thân cây, vỏ cây, sự phân cành, lá, hoa và hạt Để đo chu vi thân cây, sử dụng thước dây tại vị trí D1.3 Đối với lá và quả, chọn những bộ phận sinh trưởng bình thường, không bị sâu bệnh hay biến dạng, sau đó dùng thước kẻ hoặc thước dây để đo chiều dài và rộng, ghi lại các thông số vào bảng Thước kẹp cũng có thể được sử dụng để đo kích thước quả với độ chính xác cao và tiện lợi.
Việc lấy mẫu tiêu bản không chỉ giới hạn ở loài nghiên cứu mà còn bao gồm các loài khác trong quần xã để hỗ trợ cho việc định danh loài Các mẫu vật thu được cần được so sánh với các tiêu bản trước đây hoặc những loài cây có hình thái tương tự nhằm đảm bảo tính chính xác trong việc xác định loài (Nguyễn Hoàng Nghĩa 2001) [11].
Để đánh giá sự hiểu biết và sử dụng các loài Nghiến gân ba trong khu vực nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng các dụng cụ như máy ảnh, thước dây, ống nhòm, thước đo độ cao và GPS Phương pháp phỏng vấn được thực hiện với những người đã từng khai thác và sử dụng các loài cây gỗ trong khu vực, bao gồm cả những người đã nấu dầu từ Nghiến gân ba Chúng tôi cũng phỏng vấn các cụ già, cán bộ tuần rừng và kiểm lâm địa bàn để thu thập thông tin về giá trị sử dụng và phân bố của loài cây này Mẫu phiếu phỏng vấn được sử dụng thống nhất, với số lượng điều tra là 30 phiếu cho mỗi xã.
Để điều tra cây cá thể, cần thực hiện khảo sát trong cộng đồng với sự hỗ trợ của lãnh đạo xã và cán bộ kiểm lâm Việc này bao gồm việc dẫn dắt để tìm kiếm các cây cá thể còn tồn tại trong vườn nhà của người dân Quá trình điều tra sẽ sử dụng mẫu bảng thống nhất và phỏng vấn người dân, đồng thời cung cấp hình ảnh cụ thể của các loài cây để thu thập thông tin về giá trị sử dụng và phân bố của chúng.
Phương pháp thu hái và xử lý mẫu là nhiệm vụ quan trọng, đóng vai trò nền tảng trong việc xác định tên loài và taxon, cũng như xây dựng bảng danh lục thực vật một cách chính xác và đầy đủ.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đặc điểm khai thác, sử dụng và sự hiểu biết của người dân về loài cây Nghiến gân ba
4.1.1 Đặc điểm khai thác, sử dụng và sự hiểu biết của người dân về loài Nghiến gân ba Để xác định được những hiểu biết của người dân về loài Nghiến gân ba tại khu vực nghiên cứu, đề tài tiến hành phỏng vấn 30 hộ dân trong đó có 17 hộ dân ở xóm Đồng Xiền và 13 hộ dân ở xóm Ó theo mẫu câu hỏi được trình bày ở phần 3 về phương pháp nghiên cứu Kết quả phỏng vấn được tổng hợp ở bảng 4.1 dưới đây:
Bảng 4.1 Sự nhận biết của người dân về loài cây Nghiến gân ba ở xóm Đồng Xiền Địa danh phỏng vấn
Nhận biết của người dân về loài nghiến
Số hộ dân còn khai thác
Nhận biết về việc sử dụng loài Nghiến
Tác động tới loài nghiến
Tác động tới loài nghiến ở quy mộ rất nhẹ
Bảng 4.2 Sự nhận biết của người dân về loài cây Nghiến gân ba ở xóm Ó Địa danh phỏng vấn
Nhận biết của người dân về loài nghiến
Số hộ dân còn khai thác
Nhận biết về việc sử dụng loài Nghiến
Tác động tới loài nghiến
Xóm Ó 13 9 4 0 Không còn sử dụng
Theo bảng 4.1 và 4.2, các hộ dân quanh khu vực Nghiến gân ba đã giảm thiểu việc khai thác và sử dụng cây này một cách bừa bãi Đặc biệt, tại xóm Ó, người dân không còn khai thác cây Nghiến gân ba, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn và phát triển loài cây này Tại xóm Đồng Xiền, chỉ có 29,41% hộ dân vẫn khai thác, chủ yếu là những người có hoàn cảnh khó khăn, phụ thuộc vào rừng để sinh sống Do đó, chính quyền địa phương cần hỗ trợ kinh tế cho họ, nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát triển loài Nghiến gân ba cũng như các loài cây gỗ quý khác tại xã Yên Lạc.
4.1.2 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác bảo tồn và phát triển cây Nghiến gân ba tại xã Yên Lạc
Dựa trên số liệu từ bảng 4.1 và bảng 4.2, chúng tôi đã tiến hành điều tra phỏng vấn để tìm hiểu về đặc điểm khai thác, sử dụng và sự hiểu biết của người dân về loài cây Nghiến gân ba Qua đó, chúng tôi đã tổng hợp được những thuận lợi và khó khăn trong công tác bảo vệ và phát triển cây Nghiến gân ba tại xã Yên Lạc.
- Công tác bảo tồn các loài cây gỗ quý nói chung và Nghiến gân ba nói riêng rất được chính quyền địa phương chú ý quan tâm
- Người dân ở quanh khu vực có ý thức cao trong việc gìn giữ và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
- Các cơ quan quản lý nhà nước về Lâm nghiệp có trình độ chuyên môn cao
- Có nguồn tài nguyên thiên nhiên lớn
- Có hệ thực vật tương đối phong phú và đa dạng
- Địa hình núi đá tương đối phức tạp gây khó khăn cho công tác chăm sóc và bảo vệ cây gỗ quý
- Vẫn còn một số hộ dân ý thức còn chưa tốt trong việc tham gia quản lý và bảo vệ rừng
- Địa bàn rộng nhưng cán bộ Kiểm lâm địa bàn có ít
- Việc xây dựng các công trình phục vụ giao thông khiến cho công tác bảo tồn trở nên khó khăn.
Một số đặc điểm nổi bật về hình thái của loài Nghiến gân ba
4.2.1 Đặc điểm hình thái thân, lá, cành, hoa, quả, hạt
Trong quá trình điều tra 12 cây Nghiến gân ba tại xã Yên Lạc, Huyện Phú Lương, nghiên cứu đã thu thập được nhiều dữ liệu về đặc điểm hình thái của loài này Kết quả được tổng hợp trong bảng 4.3.
Bảng 4.3 Kích thước cây nghiến gân ba tại khu vực nghiên cứu
TB Max Min TB Max Min
Cây nghiến trong khu vực nghiên cứu có chiều cao từ 6 đến 18 m và đường kính thân cây từ 5 đến 11 cm Đường kính trung bình D1.3 của cây là 8,25 cm, trong khi chiều cao trung bình Hvn là 7,33 m Thân cây thẳng, tròn, với vỏ màu xám tro và có nốt sần sùi.
Hình 4.1 Hình thái thân cây Nghiến gân ba
Một số đặc điểm sinh thái của loài nghiến gân ba tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
4.3.1 Vị trí nơi có Nghiến gân ba phân bố
Dựa trên kết quả điều tra tại 9 khu vực OTC có sự phân bố của loài Nghiến, chúng ta nhận thấy một số đặc điểm nổi bật về địa hình nơi loài Nghiến gân ba sinh sống.
Cây Nghiến có sự phân bố rộng rãi trong các khu vực sinh thái, thường xuất hiện ở độ cao dưới 400m, với độ dốc nhỏ hơn 50° và chủ yếu hướng về phía Tây - Bắc.
4.3.2 Đặc điểm khí hậu nơi có Nghiến gân ba phân bố
Quá trình kế thừa tài liệu nghiên cứu về đặc điểm khí hậu tại xã Yên Lạc đã được công bố trên cổng thông tin điện tử của Huyện Phú Lương Đặc điểm khí hậu trong khu vực có sự phân bố của cây Nghiến gân ba được tổng hợp trong bảng dưới đây.
*Đặc điểm về nhiệt độ và lượng mưa khu vực nghiên cứu:
Bảng 4.4 Đặc điểm về nhiệt độ và lượng mưa nơi có cây Nghiến phân bố Nhiệt độ (°C) (TB/ năm) Lượng mưa (mm) (TB/năm)
TB Max Min Tổng lượng mưa Max Min
Kết quả ở bảng 4.4 cho thấy: Trong khu vực nghiên cứu, Nghiến phân bố ở nơi có biên độ nhiệt độ tương đối rộng Nhiệt độ trung bình năm là khoảng
Nhiệt độ trung bình là 22°C, với nhiệt độ tối đa đạt 33°C và tối thiểu là 15,6°C Nghiến phân bố ở khu vực có tổng lượng mưa hàng năm là 2045 mm, trong đó lượng mưa cao nhất ghi nhận là 481,1 mm và thấp nhất là 9,6 mm.
4.3.3 Đặc điểm đất nơi loài cây Nghiến gân ba phân bố
Trong quá trình khảo sát thực địa dưới sự hướng dẫn của thầy La Quang Độ và cán bộ Kiểm Lâm, chúng tôi đã đánh giá đặc điểm đất tại khu vực có loài Nghiến gân ba phân bố Kết quả điều tra và mô tả phẫu diện đất được trình bày trong bảng 4.12.
Bảng 4.5 Đặc điểm lý tính của đất
OTC Độ dày trung bình tầng đất(cm)
Màu sắc Độ ẩm Độ xốp Tỷ lệ đá lộ đầu, đá lẫn (%)
1 Đá lộ đầu >95% chỉ có đất mùn thô màu xám đen, ẩm, tơi xốp, kết cấu viên, tập trung ở trong các khe và hốc đá
2 Đá lộ đầu >90% chỉ có đất mùn thô màu xám đen, ẩm, tơi xốp, kết cấu viên, tập trung ở trong các khe và hốc đá
3 3 20 50 Nâu Xám Ẩm Xốp 50 5 10 kết cấu viên
4 Đá lộ đầu >95% chỉ có đất mùn thô màu xám đen, ẩm, tơi xốp, kết cấu viên, tập trung ở trong các khe và hốc đá
5 Đá lộ đầu >95% chỉ có đất mùn thô màu xám đen, ẩm, tơi xốp, kết cấu viên, tập trung ở trong các khe và hốc đá
6 Đá lộ đầu >90% chỉ có đất mùn thô màu xám đen, ẩm, tơi xốp, kết cấu viên, tập trung ở trong các khe và hốc đá
7 Đá lộ đầu >90% chỉ có đất mùn thô màu xám đen, ẩm, tơi xốp, kết cấu viên, tập trung ở trong các khe và hốc đá
8 Đá lộ đầu >95% chỉ có đất mùn thô màu xám đen, ẩm, tơi xốp, kết cấu viên, tập trung ở trong các khe và hốc đá
9 Đá lộ đầu >95% chỉ có đất mùn thô màu xám đen, ẩm, tơi xốp, kết cấu viên, tập trung ở trong các khe và hốc đá
Kết quả từ bảng 4.5 cho thấy Nghiến gân ba chủ yếu phân bố ở những khu vực núi đá, nơi có đá lộ đầu trên 90% Loại đất ở đây ẩm, tơi xốp, có kết cấu viên và thường tập trung trong các khe và hốc đá.
Bảng 4.6 Đặc điểm hóa tính của đất
Khu vực Mã mẫu/OTC
Qua bảng 4.6 ta thấy tỷ lệ phần trăm của Nito TS, P2O5 TS, K2O và mùn trong 9 OTC chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, độ pH KCL dao động từ 3,38-5,4
Dựa trên mẫu tiêu chí đánh giá chất lượng đất từ bảng 3.1 và kết quả phân tích trong bảng 4.6, chúng tôi tiến hành tổng hợp số liệu đã xử lý vào bảng dưới đây.
Bảng 4.7 Bảng tiêu chí chất lượng đất
Khu vực Mã mẫu/OTC
1 TB TB Chua Khá TB
2 TB TB Chua Khá TB
3 TB TB Chua nhiều Khá TB
4 TB Khá Chua Khá TB
5 Khá Giàu Chua Khá TB
6 TB Khá Chua ít TB TB
7 TB TB Chua Khá Khá
8 TB Giàu Chua nhiều Khá TB
9 Giàu Giàu Chua nhiều Giàu Giàu
Kết quả phân tích cho thấy loài Nghiến gân ba chủ yếu phân bố ở khu vực có chỉ số Nitơ trung bình và P2O5 ở mức trung bình Tại khu vực nghiên cứu, loài này sinh trưởng ở nơi có chỉ số pH trung bình là 4,27, chủ yếu là đất chua, với chỉ số K2O ở mức khá và chỉ số mùn ở mức trung bình.
Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật nơi loài Nghiến gân ba phân bố tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
4.4.1 Cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ
4.4.1.1 Công thức tổ thành tầng cây gỗ
Phân tích bảng số liệu tầng cây gỗ tại các OTC nơi có cây Nghiến phân bố cho phép xác định công thức kết cấu tổ thành loài cây Việc này giúp hiểu rõ mối quan hệ giữa loài cây nghiên cứu và các loài cây khác, bao gồm cả quan hệ hỗ trợ và cạnh tranh Nhận diện các loài cây đi kèm sẽ hỗ trợ trong việc điều tra và đưa ra biện pháp lâm sinh phù hợp nhằm phát triển loài cây Nghiến.
Dựa vào kết quả nghiên cứu tổ thành rừng tự nhiên có Nghiến phân bố:
Hệ số tổ thành tính theo số cây ta có cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ như sau:
Bảng 4.8 Hệ số tổ thành tầng cây gỗ
Ví trí OTC Hệ số tổ thành
2 17.78Sau+16.42Map+11.12Hav+10.32Sux+6.49Lah+6.0
6 17.16Sau+14.91Sen+13.32Dou+11.22Hav+9.69Ddx+6.8
8 14.23Lmn+13.73Sau+10.97Mum+7.69Hav+6.83Xot+5.1
3 15.71Duo+13.14Lmn+11.90Sau+9.21Mum+7.87Hav+5.2
5 29.04Map+13.77Hav+7.99Ddx+6.79Sau+6.33Max+5.37
9 11.93Xot+11.71Dou+9.17Lah+8.47Deg+7.46Nho+7.13T mt+5.30Vaa+5.05Sau+33.79Lk 1,41 Đỉnh
1 15.24Sen+13.34Duo+10.29Dim+7.78Ddx+6.38Lah+5.14
4 17.97Map+17.62Sau+9.84Duo+8.30Vaa+7.36Tmt+6.07
7 19.01Sux+16.00Map+10.68Hav+7.93Sau+7.09Trm+6.23
Ghi chú về các loại cây bao gồm: Lai (Cây lai), Cor (Cọc Rào), Ddx (Dâu da xoan), Deg (Dẻ gai), Duo (Dướng), Hav (Han Voi), Lah (Lát hoa), Map (Mạy Puôn), Max (Mạy Xả), Ngh (Nghiến), Sau (Sấu), Sen (Sến), Tmt (Thổ Mật Tù), Vaa (Vàng anh), Lmn (Lộc mại lá nhỏ), Dim (Đinh Mật), Sux (Sung Xè), Nho (Nhội), Xon (Xoan Nhừ), Mum (Mùm Mụp), Xot (Xoan Ta), Tbc (Trám Ba Cạnh), và Trm (Trám Mao).
Kết quả từ bảng cho thấy tổ thành tự nhiên tại Nghiến gân ba rất đa dạng, với các loài chủ yếu như mạy puôn, sấu, dâu da xoan, lát hoa, và dướng Số loài tham gia vào công thức tổ thành ở chân núi dao động từ 5 đến 7 loài, trong khi ở sườn núi là từ 5 đến 8 loài, và ở đỉnh núi là từ 6 đến 7 loài Điều này cho thấy sự biến động số loài ở chân, sườn, và đỉnh núi không lớn Bên cạnh đó, phần trăm chỉ số IVI của nghiến cũng có sự thay đổi, với giá trị thấp nhất là 1,29% tại OTC 1 và cao nhất tại OTC khác.
4.4.1.2 Mật độ tầng cây gỗ của lâm phần và nghiến
Trong quá trình điều tra ngoài thực địa và xử lý số liệu, mật độ tầng cây gỗ của lâm phần và loài Nghiến gân ba đã được tổng hợp và trình bày trong bảng 4.9.
Bảng 4.9 Mật độ tầng cây gỗ của lâm phần và Nghiến
Số lượng cây trong OTC
Số cây Nghiến trong OTC
Mật độ Nghiến (cây/ha)
Từ kết quả ở bảng 4.9 cho thấy: Mật độ của tầng cây gỗ và Nghiến trong các OTC có sự khác nhau Cụ thể:
Mật độ tầng cây gỗ trong các OTC có sự khác biệt rõ rệt Cụ thể, trong OTC 1, mật độ đạt 460 cây/ha, trong đó cây Nghiến chiếm 20 cây/ha Tương tự, OTC 6 có mật độ 510 cây/ha với 30 cây Nghiến/ha Ở OTC 8, mật độ cây gỗ là 480 cây/ha, nhưng cây Nghiến chỉ đạt 10 cây/ha.
4.4.1.3 Độ tàn che của tất cả các ô tiêu chuẩn có Nghiến gân ba phân bố Độ tàn che của tầng cây gỗ ở các trạng thái có Nghiến phân bố được tổng hợp trong bảng 4.10:
Bảng 4.10 Đặc điểm về độ tàn che của tầng cây gỗ nơi có Nghiến phân bố OTC
Trị số các lần đo trên các ODB Trị số
Từ kết quả ở bảng 4.10 cho thấy: OTC có độ tàn che thấp nhất là OTC số
1, 3, 6, 8 với trị số là 0,3 OTC số 2, 5, 7 có độ tàn che lớn nhất là 0,5 Độ tàn che bình quân là 0,39
Qua đó ta thấy Nghiến là loài cây ưa sáng, thường phân bố tại những khu vực có độ tàn che thấp
4.4.2 Tổ thành cây tái sinh nơi có Nghiến gân ba phân bố
4.4.2.1 Nguồn gốc, chất lượng và mật độ tái sinh loài Nghiến gân ba
Việc điều tra cây tái sinh loài Nghiến đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng kế hoạch bảo tồn và phát triển loài cây này Do đó, quá trình xác định cây tái sinh là khâu thiết yếu nhất Kết quả điều tra được trình bày trong bảng 4.11.
Bảng 4.11 Bảng tái sinh của loài Nghiến gân ba
OTC Số cây Chất lượng Nguồn gốc
Tốt Xấu TB Hạt Chồi
Qua bảng 4.11 ta thấy số lượng cây tái sinh của loài Nghiến gân ba trong
9 OTC có sự khác biệt OTC số 5 có lượng cây tái sinh lớn nhất với 36 cây,
Trong khu vực OTC số 1, 2, 4, 7, không có cây Nghiến gân ba tái sinh nào Cây Nghiến gân ba chủ yếu tái sinh bằng hạt, chiếm tới 65,26%, trong khi tái sinh bằng chồi chỉ đạt 34,74% Chất lượng cây tái sinh của loài Nghiến gân ba có tỷ lệ trung bình cao nhất với 43,15%, tiếp theo là cây tái sinh có chất lượng xấu với 30,53%, và cây tái sinh có chất lượng tốt chiếm tỷ lệ thấp nhất là 26,32%.
Mật độ tái sinh của cây Nghiến gân ba đã được tổng hợp qua quá trình điều tra thực địa và áp dụng các phương pháp nghiên cứu, như thể hiện trong bảng 4.12.
Bảng 4.12 Mật độ tái sinh của loài Nghiến gân ba
TT OTC Số cây tái sinh Diện tích ODB Mật độ
Kết quả ở bảng 4.12 cho thấy: mật độ của tầng cây gỗ và Nghiến trong các OTC khác nhau là khác nhau Cụ thể:
Trong các khu vực OTC 1, 2, 4, và 7 không có cây Nghiến gân ba tái sinh, trong khi các khu vực OTC khác đều có sự hiện diện của cây tái sinh Khu vực OTC số 5 ghi nhận mật độ tái sinh cao nhất với 360 cây/ha, trong khi khu vực OTC số 9 có mật độ thấp nhất chỉ với 80 cây/ha.
4.4.2.2 Cây tái sinh triển vọng của loài Nghiến gân ba
Cây tái sinh triển vọng là những loài cây có mục đích, phát triển tốt và có chiều cao lớn hơn 2m so với lớp cây bụi thảm tươi trong khu vực Danh sách cây tái sinh triển vọng của loài Nghiến gân ba được trình bày trong bảng 4.13.
Bảng 4.13 Cây tái sinh triển vọng của loài Nghiến gân ba
STT OTC Tổng số cây tái sinh Số cây tái sinh triển vọng
Theo bảng 4.13, số lượng cây tái sinh triển vọng trong 9 OTC rất ít, chỉ chiếm 7,37% tổng số cây tái sinh OTC số 5 có số lượng cây tái sinh triển vọng nhiều nhất với 4 cây, chiếm 4,21%, trong khi OTC số 1, 2, 4, 6 và 7 không có cây tái sinh triển vọng nào.
4.4.3 Đặc điểm cây bụi thảm tươi nơi có loài nghiến gân ba phân bố Điều tra cây bụi thảm tươi ở ngoài thực địa được tiến hành như sau: Trong một OTC lập 5 ODB để điều tra cây bụi, thảm tươi theo vị trí: 1 ô ở tâm, 4 ô ở 4 góc của ô tiêu chuẩn Diện tích mỗi ODB là 25 m2 (5m x 5m) Số
ODB ở khu vực 1 là 9 x 5 = 45 ô Kết quả của quá trình điều tra cây bụi thảm tươi được tổng hợp ở bảng 4.14:
Bảng 4.14 Thành phần loài cây bụi nơi có loài Nghiến gân ba phân bố ở các OTC
OTC Dạng sống Loài cây Độ che phủ TB (%)
1 Cây bụi Dóng Xanh, Ta Me, Trứng cua ,Cỏ lào, Cà dại,
2 Cây bụi Mật Xạ, Cỏ lào, Ta Me, Nhót Vàng 10
3 Cây bụi Mật Xạ, Ta Me, Cỏ lào 10
4 Cây bụi Ta me, Nhót Vàng, Mật Xạ, Han Tía, Dóng Xanh 15
5 Cây bụi Ta Me, Han Lình, Mật Xạ, Thường Sơn, Dóng xanh, Tử Trâu đỏ, Trứng cua 12
6 Cây bụi Dóng Xanh, Ta me, Trứng cua, Cỏ lào, Cà dại, Huyết
7 Cây bụi Mật Xạ, Cỏ lào, Ta Me, Nhót Vàng 14
8 Cây bụi Mật Xạ, Ta Me, Cỏ lào 13
9 Cây bụi Ta me, Nhót Vàng, Mật Xạ, Han Tía, Dóng Xanh 11
Bảng 4.15 Thành phần loài thảm tươi và dây leo nơi có Nghiến gân ba phân bố ở các OTC
OTC Dạng sống Loài cây Độ che phủ TB (%)
1 Thảm tươi và dây leo
Dương xỉ, Ráy len Trung Quốc, Xà phong đòn gánh, Ráy,
2 Thảm tươi và dây leo Cỏ rác lông, Dương xỉ, Ráy, Chít 20
3 Thảm tươi và dây leo Cỏ rác, Dương xỉ, Ráy, Cỏ lau, Thài lài 28
4 Thảm tươi và dây leo
Ráy đứng, Dương xỉ, Ráy, Rau Pơlu, Ráy leo Trung Quốc,
5 Thảm tươi và dây leo
Dảo cổ lam, Ráy leo lá rách, Dương xỉ, Rau chua, Ráy,
6 Thảm tươi và dây leo
Dương xỉ thường, Ráy len Trung Quốc, Xà phong đòn gánh, Ráy,
7 Thảm tươi và dây leo Cỏ rác lông, Dương xỉ, Ráy, Chít 21
8 Thảm tươi và dây leo Cỏ rác, Dương xỉ, Ráy, Cỏ lau, Thài Lài 30
9 Thảm tươi và dây leo
Ráy đứng, Dương xỉ, Ráy, Rau Pơlu, Ráy leo Trung Quốc,
Kết quả từ bảng 4.14 và 4.15 cho thấy rằng cây bụi thảm tươi tại khu vực có Nghiến gân ba chủ yếu là các loài cây ưa sáng và mọc nhanh, bao gồm Cỏ lào, Mật xạ, và Bùm bụp Độ che phủ trung bình của cây bụi dao động từ 10% đến 20%, trong khi một số loài như Dương xỉ, Ráy len, và Cỏ rác có độ che phủ thảm tươi khá cao, với mức trung bình khoảng 25,56%.
Đặc điểm trữ lượng cây Nghiến gân ba tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Trong quá trình điều tra thực địa tại xã Yên Lạc, nhóm chúng tôi đã thu thập số liệu thô về trữ lượng cây Nghiến gân ba và áp dụng phương pháp ước lượng khoảng trong thống kê toán học để xử lý dữ liệu Dựa trên kết quả điều tra mẫu, chúng tôi đã ước lượng trữ lượng gỗ Nghiến gân ba cho từng khu vực (huyện) với độ chính xác 95% Kết quả xử lý số liệu được trình bày trong bảng 4.16.
Bảng 4.16 Bảng tổng hợp một số nhân tố điều tra liên quan
Trữ lượng nghiến gân ba
Tiết diện ngang (m 2 ) Trữ lượng (m 3 )
G Lp /ha G Ngh /ha M Lp /ha M Ngh /ha
Trữ lượng loài Nghiến gân ba tại 9 OTC dao động từ 0,06 m³ đến 1,09 m³, chiếm từ 0,12% đến 2,31% tổng trữ lượng lâm phần, cho thấy tỷ lệ này rất nhỏ Tiết diện tại lâm phần có loài Nghiến gân ba phân bố từ 0,03 m² đến 0,254 m², với giá trị trung bình là 0,082 m².
Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển loài
Mục đích nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố và tình trạng của loài cây Nghiến gân ba là nhằm bảo tồn và phát triển loài tại địa phương Sau khi thu thập và phân tích dữ liệu, cần thiết phải đề xuất các giải pháp bảo vệ và phát triển loài Hiện nay, Nghiến gân ba được xếp vào danh mục gỗ nhóm IIA, là loài thực vật quý hiếm với số lượng còn lại rất ít, do đó, việc đưa ra các giải pháp bảo tồn và phát triển là vô cùng cần thiết.
Cán bộ Kiểm Lâm cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các tổ chức liên quan, tập trung vào công tác bảo tồn loài và bảo vệ nguồn gen quý, đặc biệt là cây Nghiến gân ba trong khu vực.
Cần theo dõi thường xuyên sự sinh trưởng, phát triển và tái sinh của loài để kịp thời áp dụng các biện pháp bảo vệ, đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của nguồn gen quý hiếm này.
- Nghiêm cấm các hành vi khai thác trái phép gây ảnh hưởng đến sự tồn tại, sinh trưởng và phát triển của loài
- Nâng cao hơn vai trò của người dân trong công tác quản lý và bảo vệ rừng bằng các cách như tuyên truyền, đi dân vận,
- Gắn chặt quyền lợi của những hộ dân sống quanh rừng để nhằm lôi kéo họ tham gia vào công tác quản lý và bảo vệ rừng
Để nâng cao công tác bảo tồn loài Nghiến và phát triển cây Nghiến trong khu vực nghiên cứu, việc tăng cường tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức của người dân là rất quan trọng Các giải pháp được đề xuất sẽ góp phần tích cực vào việc này.
Công tác bảo tồn và phát triển loài Nghiến gân ba cùng với các loài cây quý khác trong khu vực cần được thực hiện hiệu quả và thành công.