Giá trị kinh tế - xã hội của các loài thực vật cho LSNG thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, từ cung cấp lương thực thực phẩm, vật liệu xây dựng, nguyên liệu thủ công mỹ nghệ, dược phẩm
Trang 1FAO Food and Agriculture Organization of United Nations (Tổ
chức lương thực và Nông Nghiệp Liên Hiệp Quốc) ICRAF International Center for Research in Agroforestry
IUCN Internation Union for Covervation of Nature (Liên minh
Quốc tế về bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên) KT- SD Khai thác và sử dụng
USD United States Dollar (đơn vị tiền tệ chính thức của Hoa Kỳ)
VU Vulnerable (sẽ nguy cấp)
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG
4.1 Thống kê thành phần loài cây LSNG ở khu vực nghiên cứu 34 4.2 Danh lục các loài thực vật quý hiếm cho LSNG 35 4.3 Bảng thống kê các loài LSNG chia theo mục đích sử dụng 40 4.4 Bảng thống kê theo dạng sống của các loài LSNG 42 4.5 Bảng thống kê số loài theo bộ phận sử dụng 43 4.6 Đặc điểm cấu trúc rừng ở khu vực nghiên cứu 44 4.7 Thời gian khai thác của một số loài LSNG 50 4.8 Bảng giá sản phẩm một số loài theo nhóm sử dụng 51 4.9 Lựa chọn loài cây gỗ cho lâm sản ngoài gỗ 54
4.11 Thuận lợi, khó khăn để phát triển các loài cây LSNG 62
Trang 3DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm trước đây, khi tài nguyên gỗ của rừng Việt Nam còn nhiều, người dân chỉ tập trung khai thác gỗ, LSNG được coi như là sản phẩm phụ của rừng, do thu nhập từ nguồn lâm sản này thấp hơn so với gỗ thời điểm lúc đó Hiện nay, do số lượng và chất lượng rừng đang bị suy giảm mạnh, hơn nữa chính sách đóng cửa rừng của Nhà nước đã làm cho nguồn cung cấp gỗ ngày càng khan hiếm, điều này đã tác động mạnh đến thu nhập của người dân sống gần rừng, phụ thuộc vào rừng gặp khó khăn Do đó, hoạt động khai thác các sản phẩm từ rừng của người dân lại tập trung vào các loại LSNG Nhu cầu sản phẩm này ngày càng lớn không chỉ đối với thị trường trong nước mà nhu cầu cho xuất khẩu ngày một tăng Ngoài ra, LSNG còn có vai trò xã hội lớn, chúng mang lại công ăn việc làm cho hàng triệu người và góp phần tích cực trong chương trình xóa đói giảm nghèo ở các vùng nông thôn và miền núi Do
đó, cách nhìn nhận về vai trò của nguồn tài nguyên LSNG ở Việt Nam đã thay đổi LSNG ngày càng khẳng định vai trò của nó đối với sinh kế của người dân nông thôn, đặc biệt là người dân vùng cao, vùng sâu, vùng xa
Giá trị kinh tế - xã hội của các loài thực vật cho LSNG thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, từ cung cấp lương thực thực phẩm, vật liệu xây dựng, nguyên liệu thủ công mỹ nghệ, dược phẩm đến giải quyết công ăn việc làm, phát triển ngành nghề, bảo tồn và phát huy kiến thức bản địa, tôn tạo nét đẹp văn hóa, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhiều mặt của người dân, đặc biệt là những dân nghèo Tuy nhiên, thông tin về các loài thực vật cho LSNG
có giá trị kinh tế cao còn rất tản mạn và ít ỏi, nên chưa phát huy đầy đủ các chức năng có lợi của LSNG Vì vậy, cần tập trung nghiên cứu xác định các sản phẩm có khả năng mang lại thu nhập kinh tế cũng như kĩ thuật gây trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng chúng gắn với quản lý rừng bền vững, đồng thời cần xây dựng và quảng bá những mô hình trình diễn
Trang 5Các loài cây Lâm sản ngoài gỗ hiện nay ở rất phong phú và đa dạng có tác dụng bảo vệ môi trường và cải thiện môi sinh ngoài ra nó còn là nguồn dược liệu quan trọng trong cuộc sống cây lâm sản ngoài gỗ còn có ý nghĩa kinh tế và tác dụng phòng hộ Ngoài tác dụng về dược liệu hệ thống cây lâm sản này còn có tác dụng làm giảm nhiệt độ không khí của đất, ngăn chặn làm giảm tốc độ dòng chảy bề mặt đất tránh rửa trôi, giữ các chất dinh dưỡng cho cây, tăng độ ẩm tác động tích cực vào chu kỳ tuần hoàn nước Cung cấp khí ôxi và giảm tích lũy khí các bon Mặt khác còn làm hạn chế hạn chế ô nhiễm không khí hấp thu các chất có tính phóng xạ, làm giảm nồng độ bụi, giảm bớt lượng vi khuẩn trong không khí, có tác dụng tốt đến trạng thái tinh thần, cải thiện tình hình sức khỏe cho con người
Phú Lương là huyện vùng núi của tỉnh Thái Nguyên với diện tích rừng
và đất rừng 17.113ha trên tổng số diện tích toàn huyện 36.881ha; trước dây diện tích rừng tự nhiên còn nhiều, song do khai thác gỗ, phá rừng và chuyển đồi mục đích kinh doanh nên diện tích rừng tự nhiên suy giảm nhanh, trong khoảng 10 năm trở lại đây do nhận thức được vai trò của rừng và giá trị kinh
tế do rừng mang lại, được sư tuyên truyền và hỗ trợ nguồn lực của các cấp các ngành trong huyện, người dân ở đây đã nhận đất trồng rừng và nhận khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng do đó trên địa bàn diện tích đất trống đồi núi trọc được phủ xanh bởi rùng trồng keo tai tượng và keo lá tràm [42]
Do có sự thay đổi trong quy hoạch trên địa bàn của huyện nên một diện tích lớn rừng trồng Keo được khoanh lại và chuyển đổi sang rừng phòng hộ Quyết định này tạo ra những vấn đề cần giải quyết như: Keo là loài nhập nội, trồng với mục đích kinh doanh gỗ nguyên liệu giấy, dăm ở khu vực nên tuổi khai thác chỉ từ 5-7 năm, nhiều cây keo to ở khu vực bị rỗng ruột, nhiều cây
bị chết sau rét đậm do đó về lâu dài loài cây này không đáp ứng cho mục tiêu phòng hộ Hơn nữa, trên diện tích đất giao cho dân trồng keo nay
Trang 6chuyển sang quy hoạch rừng phòng hộ người dân sẽ không được khai thác
gỗ cũng như hưởng lợi khác từ rừng, điều đó gây khó khăn cho sinh kế của người dân địa phương
Trước vấn đề đặt ra như vậy, UBND huyện và các ban ngành thấy cần phải hỗ trợ dân lựa chọn và trồng các loài cây bản địa đa tác dụng cho các lâm sản ngoài gỗ vừa tạo rừng cây lâu năm, phát huy tốt tác dụng phòng hộ, vừa tạo việc làm và thu nhập ổn đinh lâu dài cho người dân địa phương Bởi các loài cây LSNG giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của các hộ gia đình dân cư trung du và miền núi Giá trị kinh tế - xã hội của LSNG thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau,, từ việc cung cấp lương thực phẩm; nguyên liệu làm thủ công mỹ nghệ; dược liệu, đến việc giải quyết công ăn việc làm, phát triển ngành nghề bảo tồn và kiến thức bản địa, tôn tạo nét đẹp văn hóa, xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống nhiều mặt cho người dân đặc biệt là dân nghèo vùng sâu vùng xa [42]
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: "Nghiên cứu chọn loài cây lâm sản ngoài gỗ thay thế rừng keo ở rừng phòng hộ tại xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên" với mục tiêu thông qua đánh giá thực trạng
tài nguyên cây lâm sản ngoài gỗ của địa phương làm cơ sở để lựa chọn được một số loài cây gỗ bản địa đa tác dụng và cây lâm sản ngoài gỗ thuộc các nhóm giá trị sử dụng khác nhau để trồng thay thế keo trên diện tích quy hoạch
là rừng phòng hộ để góp phần ổn định kinh tế địa phương và bảo vệ môi trường sinh thái của khu vực
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Những nghiên cứu về LSNG trên thế giới
Từ những năm 1980 trở lại đây có nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh được giá trị thực của thực vật cho LSNG, cũng như đã chỉ rõ vai trò to lớn của nó đối với sự nghiệp phát triển rừng bền vững Đầu tiên phải kể đến những phát hiện về khả năng đặc biệt của thực vật LSNG như phục hồi nhanh, cho thu hoạch sớm, năng suất kinh tế cao, ổn định, có thể kinh doanh liên tục và việc khai thác chúng thường ít phá hủy hệ sinh thái Vì vậy, bằng cách duy trì tính nguyên vẹn của rừng tự nhiên, việc bảo tồn có khai thác có thể nuôi dưỡng được tính đa dạng sinh học cơ bản và bảo vệ môi trường sinh thái Bảo tồn có khai thác sẽ cung cấp những sản phẩm cần thiết cho một bộ phận của xã hội một cách bền vững (Mendelsohn, 1992) Nghiên cứu của Mendelsohn (1992) đã chỉ rõ vai trò của thực vật LSNG, theo ông: thực vật LSNG quan trọng cho bảo tồn bởi việc khai thác chúng có thể luôn được thực hiện với sự tổn hại ít nhất đến rừng Thực vật LSNG quan trọng cho tính bền vững vì trong quá trình khai thác chúng vẫn đảm bảo cho rừng ở trạng thái tự nhiên Thực vật LSNG quan trọng trong đời sống bởi nó có thể cung cấp nhiều dạng sản phẩm như thực vật ăn được, nhựa, thuốc nhuộm, tanin, sợi, cây làm thuốc,… và ngoài sử dụng trực tiếp người thu hái có thể đem bán, trao đổi (một trong các yếu tố không thể thiếu của xã hội) Do đó, ông khẳng định rừng như là một nhà máy quan trọng của xã hội và thực vật LSNG là một trong những sản phẩm quan trọng của nhà máy này
LSNG được hiểu theo nhiều cách dựa vào định nghĩa của các nhà khoa học đưa ra ở các thời điểm khác nhau:
De Beer (1989) đã quan niệm LSNG là “Tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ mà chúng được khai thác từ rừng tự nhiên để phục vụ nhu cầu tiêu
Trang 8dùng của loài người LSNG bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa cây, keo dán, chất đốt và các nguyên liệu thô, song, mây, nứa, trúc,
Theo FAO (1999): “LSNG là các lâm sản có nguồn gốc sinh vật loại trừ
gỗ lớn có ở rừng, ở đất rừng và ở các cây bên ngoài rừng.” [44]
Năm 2000, JennH De Beer định nghĩa về LSNG như sau: “LSNG bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ được khai thác
từ rừng để phục vụ con người Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hoặc các sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre, nứa, song mây, gỗ nhỏ và sợi.” [44], [25]
Như vậy, việc định nghĩa cho rõ ràng thế nào là LSNG là vấn đề khó khăn và không thể có một định nghĩa duy nhất đúng Nó có thể thay đổi chút
ít phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, quan điểm và nhu cầu khác nhau của các địa phương cũng như các thời điểm Tuy nhiên qua các khái niệm trên
có thể đưa ra những cách nhìn chung về LSNG, và qua đó giúp chúng ta nhận thức một cách đúng đắn về giá trị của nó
Cũng đã có nhiều nghiên cứu cho thấy giá trị của LSNG về kinh tế rất lớn Nghiên cứu của Peter (1989) đã chỉ ra giá trị thu nhập hiện tại từ LSNG có thể lớn hơn giá trị thu nhập hiện tại từ bất kì loại hình thức sử dụng đất nào Hay như Balic và Mendelsohn (1992) đã khẳng định trong công trình nghiên cứu của mình ở một số nước nhiệt đới rằng: chỉ riêng thu nhập dược liệu từ 1ha
Trang 9rừng thứ sinh cũng có thu nhập cao hơn giá trị thu nhập từ các sản phẩm nông nghiệp trên cùng diện tích Ở một số vùng LSNG có thể mang lại nguồn tài chính hơn cả gỗ Nghiên cứu của Heinzman (1990) cho biết việc kinh doanh các sản phẩm từ các cây họ cau dừa ở Guatemala cho hiệu quả cao hơn nhiều
so với kiểu rừng kinh doanh gỗ Ở Zimbabwe có 237.000 người làm việc liên quan tới LSNG, trong khi đó chỉ có 16.000 người làm trong ngành lâm nghiệp, khai thác và chế biến gỗ (FAO, 1975) Cơ quan y tế thế giới (WHO) đánh giá
là 80% dân số các nước đang phát triển dùng LSNG để chữa bệnh và làm thực phẩm, vài triệu gia đình phụ thuộc vào những sản phẩm loại này của rừng để tiêu dùng và là nguồn thu nhập Nhưng theo nghiên cứu của CIFOR thì giá trị LSNG tính qua thu nhập phải theo cách nghĩ khác:
- Thứ nhất, LSNG quan trọng vì chức năng an toàn và sinh tồn, nhiều loại không chắc có giá trị về thu nhập
- Thứ hai, có loại LSNG có giá trị về thu nhập nhưng hiện thời chưa được đầu tư đúng mức, chưa có đủ điều kiện phát triển, ở nơi thiếu hạ tầng cơ
sở, thiếu thông tin và thị trường
- Thứ ba, những mục tiêu về bảo tồn chưa gắn chặt với mục tiêu phát triển Mặt khác, thực vật LSNG còn có ý nghĩa rất lớn trong việc xuất khẩu và tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cho nhiều quốc gia Đối với các nước Đông Nam Á, chỉ riêng hàng song mây thành phẩm đã có gần 3 tỉ USD trao đổi thương mại hàng năm Ở Thái Lan năm 1987 xuất khẩu LSNG dạng thô với giá trị bằng 80% xuất khẩu gỗ tròn và gỗ xẻ, chỉ khiêm tốn thì giá trị xuất khẩu của LSNG là 32 triệu USD Sản phẩm tre cũng là mặt hàng xuất khẩu quan trọng, theo Thammincha thì năm 1984 tre xuất khẩu có giá trị 3 triệu USD Thuốc chữa bệnh có nguồn gốc từ thực vật giá trị xuất khẩu năm 1979
là 17 triệu USD Ở Indonesia, giá trị LSNG xuất khẩu của họ đạt con số 238 triệu USD vào năm 1987 Ở nước này song mây là LSNG chủ yếu tính về giá
Trang 10trị xuất khẩu, là nước cung cấp song mây chủ yếu trên thế giới, ước tính chiếm từ 70- 90% thị trường toàn cầu Còn Malaysia thì năm 1986 đạt con số
11 triệu USD về xuất khẩu LSNG [25]
Ở Bắc Phi cây rừng là nguồn thực phẩm và dược liệu quan trọng Như ở Cameroon vỏ một loại cây Prunus (họ Rosaceae) làm thuốc được khai thác để xuất khẩu trong những năm 1990 có đến 3.000 tấn loại này xuất khẩu hàng năm cho giá trị khoảng 220 triệu USD/năm Ở Châu Mỹ, người dân những nước đang phát triển nằm trong khu vực rừng nhiệt đới cũng còn phụ thuộc rất nhiều vào rừng nói chung và LSNG nói riêng Một số sản phẩm quan trọng như hạt dẻ Brazil mang lại nguồn thu từ 10- 20 triệu USD hàng năm cho những người thu hái Ở Brazil còn có cây cọ Babacu được khai thác cho tiêu thụ tại chỗ và thương mại từ thế kỉ 17
Chính từ những nghiên cứu, phát hiện và lợi ích đó mà nhiều quốc gia, tổ chức đã thể hiện quan tâm đến thực vật LSNG bằng những hành động cụ thể Chẳng hạn như ở Châu Phi, dưới sự hỗ trợ của tổ chức FAO đã có những chương trình, dự án chú trọng tới việc phát triển loài LSNG mũi nhọn Hay như trung tâm nghiên cứu nông lâm kết hợp quốc tế (ICRAF) đã có những biện pháp chọn lọc và quản lý các loài cây cung cấp thực vật LSNG hoang dại
và xem chúng như là chìa khóa mở đường trong nhiều hoạt động và đã được
áp dụng ở một số mô hình nông lâm kết hợp như mô hình trồng song, mây dưới tán rừng ở Châu Á, mô hình một số loài cau dừa (đã thuần hóa và bán hoang dã) được gây trồng cùng các loài thân gỗ và thân thảo ở vùng nhiệt đới Nhìn chung, những nghiên cứu về LSNG đã cho thấy tiềm năng to lớn của nó ở các nước nhiệt đới Do vậy, kinh doanh thực vật LSNG đang mở ra triển vọng phát triển rừng bền vững, nó có thể kết hợp với kinh doanh rừng gỗ làm thành mô hình kinh doanh có hiệu quả trên mọi mặt
Trang 111.2 Những nghiên cứu về LSNG ở Việt Nam
Khái niệm về rừng phòng hộ: Theo Luật bảo vệ và phát triển rừng năm
2004 “Rừng phòng hộ là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu và bảo vệ môi trường”
Trồng rừng phòng hộ là một hoạt động sản xuất bằng việc áp dụng một
hệ thống các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm thiết lập nên rừng trồng với mục tiêu chính là cải tạo và bảo vệ môi trường, giảm nhẹ thiên tai [35]
LSNG từ xưa đến nay vẫn giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống hàng ngày của các gia đình dân cư vùng trung du và miền núi nước ta Gần đây, nhờ việc buôn bán qua biên giới những sản phẩm này được đánh giá cao hơn Nhưng thật đáng tiếc là chúng ta còn hiểu biết rất hạn chế về chúng, về cách thức khai thác và sử dụng của người dân bản địa đối với nguồn tài nguyên phong phú này Hầu như chưa có một công trình tổng quát và sâu sắc nào về loại sản phẩm này, trong khi những kiến thức bản địa được tích lũy từ xa xưa ngày đang bị mai một dần do sự ra đi của thế hệ già và nhiều nguyên nhân khác nữa
Cũng như các nước trong vùng nhiệt đới, Việt Nam có một tập đoàn thực vật LSNG rất đa dạng và phong phú Đó là điều kiện thuận lợi cho nhiều người nghiên cứu, tìm tòi cũng như áp dụng các kết quả đã được nghiên cứu
và thử nghiệm trên thế giới để phát huy hiệu quả nguồn tài nguyên này
Theo Hoàng Hòe (1998), nguồn tài nguyên LSNG ở nước ta rất lớn, có nhiều loài và có giá trị cao: số loài cây làm thuốc chiếm tới 22% tổng số loài thực vật Việt Nam, có khoảng trên 500 loài thực vật cho tinh dầu (chiếm 7,14% tổng số loài), khoảng trên 600 loài cho tanin và rất nhiều loài khác cho dầu nhờn, dầu béo, cây cảnh Bên cạnh đó, song mây, tre nứa (hiện nay, tổng diện tích tre của nước ta là 1.492.000 ha, với khoảng 4.181.800.000 cây)
Trang 12không chỉ là nguyên liệu xây dựng truyền thống quan trọng của nhân dân ta từ xưa tới nay mà còn là nguồn nguyên liệu rất quan trọng cho nghề thủ công mỹ nghệ, tạo ra những sản phẩm vô cùng đẹp mắt, có khả năng xuất khẩu mang lại giá trị cao
Phạm Xuân Hoàn (1997) đã nghiên cứu phân loại thực vật LSNG tại Phia Đén - Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng theo mục đích sử dụng Tác giả đánh giá tình hình khai thác thực vật LSNG thích hợp nhất là được thực hiện bởi người dân địa phương và đưa ra những đánh giá tình hình khai thác cũng như một số đề xuất phát triển bền vững tài nguyên thực vật LSNG
Lê Qúy Ngưu, Trần Như Đức (1998) đã tập trung mô tả về công dụng và
kĩ thuật thu hái chế biến các bài thuốc làm từ các loại thực vật trong đó có thực vật LSNG Ngoài ra Ninh Khắc Bản (2003) bước đầu nghiên cứu nguồn tài nguyên thực vật LSNG trong tự nhiên do khai thác quá mức là một trong những dấu hiệu thông báo về tình trạng chúng đang bị đe dọa Theo ông, chúng cần được bảo tồn nguyên vị và có kế hoạch bảo tồn chuyển vị nguồn gen trong vườn hộ gia đình hay trên trang trại theo hướng sử dụng bền vững
để giảm sức ép lên nguồn tài nguyên ngoài tự nhiên, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học
Bên cạnh đó còn có một số công trình nghiên cứu quan tâm đến phát triển tài nguyên tre ở Việt Nam (như Nguyễn Tưởng, 1995), một số nghiên cứu quan tâm đến tài nguyên cây thuốc ở rừng Việt Nam (Đỗ Nguyên Phương, Đào Viết Phú, 1997…), một số công trình nghiên cứu sơ bộ và hành động thực địa nhằm thử nghiệm các mô hình quản lý LSNG đã được triển khai song chưa mang tính đồng bộ (An Văn Bảy, Võ Thanh Giang, 2002) Các nghiên cứu này mới chỉ tập trung phát hiện loài, phản ánh đặc tính sinh thái, gây trồng, khai thác… và so sánh hiệu quả kinh doanh thực vật LSNG
Trang 13với các loại hình kinh doanh khác mà chưa đi sâu tìm hiểu kĩ những loài thực vật LSNG có triển vọng
Song song với những nghiên cứu đó, một số chương trình được triển khai tại địa phương như:
1 Dự án nghiên cứu một số vấn đề kinh tế xã hội và vai trò của phụ nữ trong chế biến song, mây, tre do Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam thực hiện từ 1993- 1995
2 Dự án nghiên cứu thị trường địa phương cho sản phẩm ngoài gỗ ở Bắc Thái do sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Bắc Thái thực hiện
3 Dự án trồng rừng đặc sản (được lồng ghép trong chương trình 5 triệu ha rừng) Hiện nay mô hình này ít được người dân quan tâm
4 Dự án sử dụng bền vững các LSNG do trung tâm nghiên cứu lâm đặc sản và tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) thực thi với sự cộng tác của trung tâm nghiên cứu tài nguyên môi trường (CRES), viện nghiên cứu sinh thái (ECO-ECO) Tuy nhiên, dự án này cũng chỉ mới đưa ra các khuyến nghị cho địa phương nơi tiến hành dự án, chưa thuyết minh được một cách thuyết phục bằng con số là những thực vật LSNG nào sẽ mang lại hiệu quả cao thực sự
Có thể nói, những chương trình phát triển và nghiên cứu trong nước đã thể hiện sự quan tâm đối với thực vật LSNG Tuy nhiên, việc nghiên cứu thực vật LSNG ở Việt Nam còn thiếu chiều sâu Do vậy, tuy đã có nhiều nghiên cứu, chương trình dự án tiến hành ở nhiều nơi song chưa có nơi nào thực sự phát huy cao được vai trò của thực vật LSNG
Tại huyện Phú Lương nghiên cứu về các loài cây bản địa chưa nhiều, tuy nhiên đã có một số chương trình dự án nhỏ có quan đến cây lâm sản ngoài gỗ thuốc nhóm cây thuốc và cây cho sợi như: Trước đây chương trình 661 đã đầu
tư trồng Mạy sao, một loài cây gỗ lớn bản địa sinh trưởng khá nhanh, nhưng
Trang 14không đều, hiện nay cây đạt chiều cao khảo 12-15m, đường kính 25-30cm,
Dự án phát triển trồng cây Thìa canh cung cấp dược liệu để sản xuất thuốc chữa bệnh của Trường đại học Dược do Trần Văn Ơn khởi xướng và triển khai, kết quả đã xây dựng được mô hình trồng Thìa canh chuyên canh theo hướng cung cấp dược liệu sạch cho một số cơ sở chế biến thuốc thành phẩm;
về kỹ thuật dự án nhỏ này áp dụng phương thức trồng thuần loài trên đất canh tác nông nghiệp của hộ gia đình Ngoài ra, Trạm khuyến nông huyện trước đây đã triển khai mô hình trồng Mây nếp phân tán và trồng dưới tán rừng, nhưng đến nay mô hình không nhân rộng được do hiệu quả kinh tế không cao
và nhiều diện tích được chuyển đổi sang mục đích sử dụng khác Gần đây Trạm khuyến nông đã cho một số hộ nông dân nhân giống Ba kích, Sưa để chuẩn bi trồng quy mô hộ gia đình Vì vậy, nghiên cứu thành phần các loài cây lâm sản ngoài gỗ bản địa (bao gồm cây gỗ và các dạng sống khác) cho sản phẩm lâm sản ngoài gỗ để phát triển gây trồng theo phương châm lấy ngắn nuôi dài và tạo thu nhập ổn định cho người dân trên diện tích rừng sản xuất và đặc biệt cho rừng phòng hộ là cần thiết cho cả vấn đề sinh kế và phòng hộ ở địa phương
Theo đánh giá của dự án “Phục hồi rừng nhiệt đới thông qua phát triển vườn ươm cây bản địa” tại 3 xã Động Đạt, Ôn Lương và Yên Lục của huyện Phú Lương (SRD-2015) với mục tiêu nâng cao việc quản lý rừng phòng hộ và rừng tự nhiên bền vững Thông qua phát triển nhân giống cây bản địa gồm cây gỗ và cây lâm sản ngoài gỗ để phục hồi rừng phòng hộ từ chỗ chỉ trồng keo sang phát triển trồng thay thế bằng cây bản địa đa tác dụng
Đây cũng chính là khoảng trống cần nghiên cứu để giúp địa phương đánh giá được thực trạng về thành phần loài cây LSNG và lựa chọn được loài cây LSNG cần ưu tiên phát triển trên đất trồng rừng phòng hộ thay thế keo ở địa phương
Trang 15Chương 2 MỤC TIÊU – ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNGPHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Góp phần phát triển gây trồng cây bản địa đa tác dụng ở địa phương để tạo thu nhập cho người dân và phát huy tốt tác dụng phòng hộ của rừng cũng như bảo tồn và phát triển các loài lâm sản ngoài gỗ
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
Xác định được thành phần loài, bộ phận sử dụng và giá trị sử dụng, tình hình tiêu thụ các loài thực vật cho LSNG tại địa phương
Lựa chọn được loài cây LSNG để phát triển gây trồng thay thế keo trên diện tích rừng phòng hộ ở địa phương
Đánh giá, phân tích những thuận lợi, khó khăn và đề xuất được các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên LSNG tại địa phương
2.2 Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Đối tượng: Là các loài thực vật bậc cao có mạch cho các sản phẩm
LSNG phân bố tự nhiên hoặc được gây trồng tại khu vực Phú Lương
Phạm vi nghiên cứu: đề tài triển khai nghiên cứu điểm tại 3 xa Động
Đạt, Ôn Lương và Yên Lạc
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nội dung 1: Tính đa dạng của thực vật cho LSNG tại Phú Lương
- Nội dung 2: Đặc điểm cấu trúc tổ thành ở một số trạng thái rừng ở Phú Lương
- Nội dung 3: Tình hình khai thác sử dụng và thị trường LSNG ở khu vực nghiên cứu
Trang 16- Nội dung 4: Lựa chọn loài cây LSNG trồng thay thế keo ở rừng phòng
hộ tại Phú Lương
- Nội dung 5: Phân tích khó khăn và đề xuất giải pháp cho trồng rừng phòng hộ của huyện Phú Lương
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp ngoại nghiệp
Để điều tra ngoài nghiệp cần chuẩn bị một số công cụ thực hiện đề tài như:
- Bản đồ hiện trạng rừng của huyện;
- Bảng biểu điều tra, bút, thước kẻ, thước dây;
Trang 17Hình 2.3: Điều tra LSNG cùng dân Hình 2.4: Thảo luận cùng người dân
Hình 2.5: Điều tra LSNG tại hiện trường
Trang 18Hình 2.6: Điều tra cùng người dân
2.4.1.1 Phương pháp áp dụng cho nội dung 1:
Phương pháp kế thừa tài liệu
Tiến hành thu thập các tài liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu các tài liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu;
hệ thống bản đồ, cơ sở dữ liệu liên quan đến tài nguyên rừng và LSNG Các tài liệu này, những thông tin hữu ích và quan trọng sẽ được kế thừa có chọn lọc
để phục vụ cho những nội dung như phân loại giá trị sử dụng, tình hình tiêu thụ, chế biến, gây trồng LSNG, công tác bảo tồn và phát triển LSNG hiện nay
Điều tra tuyến
- Bố trí tuyến điều tra đi qua các trạng thái rừng và địa hình khác nhau trong khu vực nghiên cứu điểm Mỗi tuyến chính dài khoảng 3km, đi qua các trạng thái rừng cà các đai cao khác nhau Bố trí 05 tuyến ở 3 xã còn nhiều
Trang 19rừng ở huyện: xã Đông Đạt: 02 tuyến; xã Ôn Lương: 02 tuyến; xã Yên Lạc:
01 tuyến, đây là những xã còn nhiều rừng của huyện
Trong quá trình điều tra có ghi lại theo bảng sau:
Mẫu bảng 1: Biểu điều tra theo tuyến
+ Phương pháp lấy mẫu:
Lấy các bộ phận trên cây như: cành, lá, thân, rễ để ép lại sau này hỏi người dân về tên địa phương và chuyên gia đi cùng về tên phổ thông Đối với những loài mà chưa xác định được tên ngay trên thực địa có ý nghĩa rất lớn trong việc lưu trữ mẫu, sau đó có thể hỏi các chuyên gia hoặc lấy mẫu về giám định tại phòng tiêu bản của Đại học Lâm nghiệp
+ Điều tra chi tiết trên các ô tiêu chuẩn:
Lập 9 OTC ở các trạng thái rừng: Rừng tự nhiên, Rừng phục hồi sau nương rẫy và Rừng cây gỗ xen Giang và Nứa Ở mỗi trạng thái rừng lập 3 OTC ở các vị trí: chân đồi, sườn đồi và đỉnh đồi
- Ô tiêu chuẩn (OTC) là ô dạng hình chữ nhật, lập góc vuông của ô tiêu chuẩn dựa và Định lý góc vuông của Pitago Các OTC có diện tích 1000m2 (40m x 25m) cạnh chiều dài của OTC song song với đường đồng mức cây cao với đường kính từ 6cm trở lên được tính vào tầng cây gỗ, OTC được chọn ngẫu nhiên và đại diện cho các khu vực khác nhau trong phạm vi nghiên cứu, mỗi trạng thái rừng lập từ 1 - 3 OTC theo các vị trí: chân đồi, sườn đồi, đỉnh đồi…
Trang 20Số liệu thu thập được lưu lại vào bảng:
Mẫu bảng 2: Biểu điều tra cây gỗ
Người điều tra:…… Ngày điều tra:……
STT Loài cây Chu vi
(cm) D 1.3 (cm)
H vn
(m)
Bộ phận cho LSNG Công dụng Ghi chú
1
2
Cách xác định:
+ Chu vi: đo bằng thước dây vòng quanh kín thân cây ở vị trí 1.3m
+ D1.3: Từ chu vi đổi ra đường kính bằng công thức: D1.3 = (chu vi/3.14) + Hvn : đo bằng sào đo cao
Mẫu bảng 3: Biểu điều tra cây tái sinh
Người điều tra:…… Ngày điều tra:…
Cấp chiều cao (m) Chất lượng Nguồn
gốc tái sinh
Công dụng
<1.5 1.5-2 >2 Tốt TB Xấu
1
2
3
Trang 21Mẫu bảng 4: Cây bụi, thảm tươi
Người điều tra:…… Ngày điều tra:…
TT
ODB Tên loài H tb (m)
Độ che phủ (%)
Xếp ưu tiên
2.4.1.2 Phương pháp áp dụng cho nội dung 2:
- Lập OTC: áp dụng như nội dung 1; cụ thể là sử dụng phương pháp và
số liệu thu thập được từ nội dung 1 để tính toán, phân tích cho nội dung 2
- Tính công thức tổ thành: dựa vào kết quả điều tra lập OTC để tính toán công thức tổ thành áp dụng trong lâm sinh của bộ môn Lâm sinh - Trường Đại học Lâm nghiệp, cụ thể trong luận văn tính công thức tổ thành theo mật độ cây gỗ và cây tái sinh
2.4.1.3 Phương pháp áp dụng cho nội dung 3:
Kế thừa
Để phân tích thị trường tiêu thụ LSNG, tiến hành phỏng vấn và thu thập các thông tin về loài LSNG được sử dụng, số lượng, giá cả và bộ phận sử
Trang 22dụng Đối tượng phỏng vấn là những người trực tiếp khai thác, người thu gom, người mua từ nơi khác đến, cán bộ lâm nghiệp, cán bộ xã, huyện Từ kết quả phỏng vấn, tổng hợp và ghi kết quả vào bảng 6
Mẫu bảng 6: Bảng tổng hợp phân tích thị trường LSNG
TT Loài LSNG Bộ phận
sử dụng Chất lượng
Đơn vị tính Giá cả Ghi chú
1
2
Phỏng vấn cá nhân
- Phiếu điều tra thu hái các LSNG dùng làm thực phẩm:
Mẫu biểu 1: Phiếu điều tra thu hái các LSNG dùng làm thực phẩm
Cán bộ điều tra: ……… Ngày điều tra: Chủ hộ: Giới tính:……… ….…… Tuổi: ……… Dân tộc: Nghề nghiệp……… Lao động chính Thôn:………, Xã……… Huyện
Sử dụng các lâm sản ngoài gỗ làm thực phẩm
1 Gia đình Ông/bà có sử dụng các loài rau rừng làm thực phẩm trong các bữa
ăn hàng ngày không? Có/không
Trang 235 Theo ông/bà thì các sản phẩm này ở địa phương trong thời gian qua như thế nào? (Tăng lên/không thay đổi/ít đi) Ngoài phục vụ gia đình, ông/ bà có lấy
để bán không? Nếu bán thì bán ở đâu? Bán cho ai?
Trang 24Mẫu biểu 2: Phiếu điều tra thu hái các LSNG khác
1 Ông/bà hay gia đình có thu hái các sản phẩm ngoài gỗ không? Lý do ông/bà lấy các sản phẩm này trong tự nhiên?
- Để sử dụng trong gia đình:
- Mua bán tại địa phương:
- Bán cho lái buôn:
2 Xin ông/bà cho biết tên các loài cây LSNG được thu hái trong rừng
tự nhiên?
Mẫu bảng 2.1: Bảng kê thông tin khai thác và
đơn giá các loài cây LSNG Tên loài Số lần thu hái/năm Khối lượng Đơn giá sử dụng
3 Ai là người thường đi thu hái các sản phẩm này? Ông/bà có kinh nghiệm gì
để thu hái sản phẩm có chất lượng tốt? Khi đi thu hái các sản phẩm đó thì sử dụng cụ gì? Thời gian đi thu hái các sản phẩm này là vào lúc nào? (Có thể quanh năm, vào những lúc nông nhàn)…
Khảo sát điểm: Kết hợp giữa khảo sát các điểm thu mua LSNG và phỏng vấn người bán, người thu gom và người tiêu dùng để tổng hợp thông tin về thị trườngLSNG (mẫu bảng 2.1)
Mẫu bảng 2.1: Bảng kê thông tin mùa, địa điểm khai thác,
giá trị sử dụng các loài cây LSNG Tên
phổ
thông
Tên địa phương
Mùa khai thác
Nơi khác thác
Mục đích sử dụng
Bộ phận sử dụng
Trang 252.4.1.4 Phương pháp áp dụng cho nội dung 4:
Kêt hợp thảo luận nhóm với đại diện dân và lập ma trận cho điểm chọn loài cây ưu tiên phát triển
Mẫu bảng 7 Cho điểm lựa chọn các loài LSNG ưu tiên phát triển
Tổng điểm
Xếp ưu tiên
Khi áp dụng công cụ ma trận cho điểm lựa chọn loài lâm sản ngoài gỗ để ưu tiên phát triển ở địa phương, cần chuẩn bị sẵn giấy Ao, bút dạ, băng dính
Khi thảo luận với đại diện thôn xóm (cộng tác viên) là người am hiểu về lâm sản ngoài gỗ của xóm, người hay đi khai thác, thu hái và buôn bán lâm sản ngoài gỗ, đại diện ban quản lý xóm và các chi hội, đoàn thể trong xóm
Tiêu chí do người dân đưa ra, khi cho điểm gợi ý cho dân so sánh các loài với nhau trong từng tiêu chí theo thang điểm 10, loài nào cao nhất là 10 Khi xếp ưu tiên loài nào cao điểm nhất được xếp ưu tiên nhất và tiếp tục loài có điểm thấp hơn
2.4.1.5 Phương pháp áp dụng cho nội dung 5:
Kết hợp kế thừa tài liệu với sơ đồ mảng để phân tích khó khăn, giải pháp cho phát triển cây lâm sản ngoài gỗ ở địa phương
2.4.2 Nội nghiệp
- Tìm đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm có thêm các thông tin và luận cứ để vận dụng trong quá trình phân tích đánh giá cũng như xây dựng các phương án
Trang 26- Các số liệu điều tra đƣợc tổng hợp vào máy tính và đƣợc xử lý phân tích bằng phần mềm Exel
Mẫu bảng 8: Danh lục cây LSNG tại khu vực nghiên cứu
TT Tên phổ thông Tên khoa
học
Tên Việt Nam
Bộ phận sử dụng
Giá trị sử dụng
Trang 27Mẫu bảng 9: Danh lục các loài thực vật quý hiếm tại khu vực nghiên cứu
TT Tên thường gọi Tên khoa học Họ Sách đỏ Việt Nam
Tổng hợp kết quả phỏng vấn hộ gia đình về giá trị sử dụng và phân loại thực vật cho LSNG theo công dụng: làm dược liệu, thực phẩm, đồ gia dụng, tannin, nguyên liệu theo bảng 10
Mẫu bảng 10: Điều tra giá trị sử dụng của LSNG tại khu vực nghiên cứu
N là tổng số cây điều tra được của 1 loài
n là tổng số cây điều tra
Những loài tham gia vào công thức tổ thành là những loài có N >= Ntb Cách ghi CTTT: theo quy định trong giáo trình Lâm Học thì: Nếu tỉ lệ loài từ 5% trở lên thì ghi dấu cộng (+), nếu nhỏ hơn 5% thì ghi dấu trừ (-), từ 1 trở lên mới ghi hệ số
Trang 28Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Phú Lương
3.1.1 Vị trí địa lý
Phú Lương là một huyện miền núi, nằm ở phía Bắc tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên 22 km, vị trí địa lý: phía Bắc giáp huyện Định Hóa và huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, Phía Đông giáp huyện Đồng Hỷ, phía Tây giáp huyện Đại Từ, phía Nam giáp thành phố Thái Nguyên Toàn huyện
có 16 đơn vị hành chính, 14 xã và 2 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên:
Trang 2936.894,65 ha, trong đó đất nông nghiệp: 30.503,12 ha (Đất sản xuất nông nghiệp: 13.389,86 ha; Đất lâm nghiệp: 17.113,26 ha) Trong đó có trên 3.550ha là rừng phòng hộ
Phú Lương có dạng địa hình là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi cao phía Bắc và vùng đồi gò đồng bằng phía Nam Độ cao giảm dần từ Tây sang Đông
3.1.3 Thổ nhưỡng
Phú Lương có ba loại đất chính: đất feralit vàng đỏ trên phần thạch sét, đất feralit mầu vàng nhạt trên đá cát và đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính tương đối phù hợp để trồng cây công nghiệp dài ngày, chủ yếu là các cây chè, cà phê, cây ăn quả và bố trí sản xuất theo hướng Nông - Lâm kết hợp Ba loại đất này chiếm trên 50% tổng diện tích tự nhiên của huyện
3.1.4 Khí hậu thủy văn
a Khí hậu:
Khí hậu Phú Lương mang tính chất nhiệt đới gió mùa với hai mùa nóng, lạnh rõ rệt Mùa lạnh (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) nhiệt độ xuống thấp,
Trang 30có khi xuống tới dưới 130C, thường xuyên có các đợt gió mùa đông bắc hanh, khô Mùa nóng (từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm) nhiệt độ cao, nhiều khi có mưa lớn và tập trung Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 220C, tổng tích nhiệt khoảng 8.0000C Nhiệt độ bình quân cao nhất trong mùa nóng 27,20
C (cao nhất là tháng 7 có năm lên tới 280
C – 290C) Nhiệt độ bình quân thấp nhất trong mùa lạnh là 200C, (thấp nhất là tháng 1: 15,60C) Số giờ nắng trung bình 1 năm là 1.628 giờ, năng lượng bức xạ khoảng 115 kcallo/cm2
1960, Phú Lương có lượng mưa cao nhất (3.008,3mm) Năm 1985 có lượng mưa thấp nhất (977mm) Lượng bốc hơi trung bình hàng năm ở Phú Lương khoảng 985,5mm, mùa lạnh lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa, độ ẩm (k) dưới 0,5 nên thường xuyên xảy ra khô hạn
Phú Lương có mật độ sông, suối bình quân 0,2km/km2, trữ lượng nước cao, phân bổ tương đối đều ở các xã trong huyện, thuận lợi cho phát triển thuỷ lợi, đủ nước cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư toàn huyện
Sông Cầu, xưa còn gọi là sông Phú Lương, là sông lớn nhất chảy trên địa bàn Phú Lương với tổng chiều dài 17 km qua các xã Phú Đô, Tức Tranh, Vô Tranh, Sơn Cẩm; là nguồn cung cấp nước chủ yếu đảm bảo cho sinh hoạt và sản xuất của các xã phía nam huyện Dưới thời thuộc Pháp, sông Cầu là tuyến giao thông thuỷ quan trọng của huyện Phú Lương và của tỉnh Thái Nguyên
Trang 31Hầu hết các sông ở Phú Lương đều hẹp và dốc, nên trong mùa nóng, mưa nhiều, thường xảy ra lũ lụt, xói mòn và sạt lở đất, gây nhiều thiệt hại cho sản xuất và đời sống, sinh hoạt của nhân dân
3.1.5 Hiện trạng đất và sử dụng đất
- Về đất đai, ở Phú Lương có một số loại đất như sau:
+ Đất phù sa
+ Đất dốc tụ
+ Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa
+ Đất nâu đỏ trên đá vôi
+ Đất feralit đỏ vàng trên đá phiến thạch sét
+ Đất đỏ nâu trên đá macma bazơ trung tính
+ Đất feralit vàng nhạt phát triển trên đá
+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ
Trong đó có ba loại đất chính đó là đất feralit đỏ vàng trên phần thạch sét, đất feralit màu vàng nhạt trên đá và đất nâu đỏ trên đá macma trung tính
Ba loại đất này chiếm hơn 50% diện tích đất toàn huyện
Huyện Phú Lương là huyện miền núi nằm ở phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên, gồm 14 xã và 02 thị trấn với nhiều tiềm năng, thế mạnh về khoáng sản, du lịch và cây công nghiệp
Đến 01/01/2012, tổng diện tích tự nhiên của huyện Phú Lương là: 36.894,65 ha Gồm các loại đất theo mục đích sử dụng:
a Nhóm đất nông nghiệp: Có diện tích là 30.503,12 ha, chiếm 82,68%
tổng diện tích tự nhiên Trong đó:
- Đất sản xuất nông nghiệp là 12.444,03 ha, chiếm 33,73% tổng diện tích tự nhiên
+ Đất trồng lúa là 4.080,47 ha, chiếm 11,06%;
+ Đất trồng cây lâu năm là 6.650,24 ha, chiếm 18,02%;
Trang 32- Đất lâm nghiệp là 17.113,26 ha, chiếm 46,40 % tổng diện tích tự nhiên + Diện tích đất rừng sản xuất: 13.553,86 ha chiếm 36,66% tổng diện tích
tự nhiên;
+ Đất rừng phòng hộ là 3.559,40 ha, chiếm 9,72% tổng diện tích tự nhiên, được khoanh vùng tại 6 xã phía Tây, Bắc và Đông của huyện như: Ôn Lương, Hợp Thành, Yên Ninh, Yên Lạc, Phú Đô, Động Đạt trên 700ha
- Đất nuôi trồng thuỷ sản là 945.83 ha, chiếm 2,56% tổng diện tích tự nhiên;
b Nhóm đất phi nông nghiệp: có diện tích là 5.775,52 ha, chiếm
15,65% tổng diện tích tự nhiên Trong đó:
- Đất ở có diện tích là 1.715,09 ha, chiếm 4,65% tổng diện tích tự nhiên + Đất ở tại nông thôn với diện tích 1.651,48 ha, chiếm 4,48%;
+ Đất ở tại đô thị với diện tích 63,61 ha, chiếm 0,17%;
- Đất chuyên dùng có diện tích 3.111,85 ha, chiếm 8,43% tổng diện tích
tự nhiên
+ Đất trụ sở cơ quan công trình sự nghiệp toàn huyện là 17,86 ha, chiếm 0,05% tổng diện tích tự nhiên, với đất dành cho trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp Nhà nước là 17,46 ha và đất dành cho trụ sở khác là 0,40 ha
+ Đất quốc phòng là 590,61 ha, chiếm 1,60%;
+ Đất an ninh là 438,69 ha, chiếm 1,19%;
+ Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp là 550,92 ha, chiếm 1,49% (trong đó đất khu công nghiệp là 29,58 ha, đất cơ sở sản xuất kinh doanh là 75,83, đất dành cho hoạt động khoáng sản là 380,01 ha, đất sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ là 65,50 ha);
+ Đất có mục đích công cộng là 1.513,77 ha, chiếm 4,10% tổng diện tích
tự nhiên (trong đó đất giao thông là 1.159,72 ha, đất thuỷ lợi là 216,39 ha, đất công trình năng lượng là 3,11 ha, đất cơ sở giáo dục - đào tạo là 69,96 ha, đất
Trang 33cơ sở về dịch vụ xã hội là 1,40 ha, đất có di tích danh thắng là 9,39 ha, đất bãi thải là 7,95 ha);
- Đất tôn giáo, tín ngưỡng: 8,15 ha, chiếm 0,02%
- Đất nghĩa trang, nghĩa địa: 75,10 ha, chiếm 0,20%
c Nhóm đất chưa sử dụng: Trên toàn huyện còn 616,01 ha, chiếm 1,67% Trong đó:
- Đất bằng chưa sử dụng là 144,46 ha, chiếm 0,39%;
- Đất đồi núi chưa sử dụng là 182,22 ha, chiếm 0,49%;
- Núi đá không có rừng cây là 289,33 ha, chiếm 0,78% (tập trung có ở các xã Yên Ninh, Yên Đổ, Động Đạt, Yên Lạc, Phú Đô)
(Nguồn: Số liệu thống kê của phòng TNMT huyện Phú Lương năm 2011)
3.2 Điều kiện xã hội
3.2.1 Dân số dân tộc, lao động
Tính đến quý 2 năm 2012, tổng số dân trên địa bàn huyện Phú Lương là 108.101 nghìn người Trên địa bàn huyện có nhiều thành phần dân tộc khác nhau cùng sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số, chiếm 54,2%, dân tộc Tày chiếm 21,1%, dân tộc Nùng chiếm 4,5%, dân tộc Sán Chay chiếm 8,5%, dân tộc Dao chiếm 4,4%, và dân tộc Sán Dìu chiếm 3,29%, ngoài ra còn một số ít các dân tộc khác cùng sinh sống trên địa bàn như dân tộc, Thái, H’Mông, Hoa
Đến đầu năm 2012 tổng số người trong độ tuổi lao động hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế trên địa bàn huyện là 59.491 người, trong đó 20.005 hộ làm nông nghiệp
3.2.2 Thực trạng kinh tế
Theo báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế năm 2011 thì tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 11,5%
Trang 34- Sản xuất nông lâm nghiệp ước đạt 286,3 tỷ đồng (GCĐ) = 100% kế hoạch, = 106% so cùng kỳ
- Giá trị sản xuất bình quân trên 1ha diện tích đất nông nghiệp trồng trọt (theo giá thực tế) đạt 58 triệu đồng/ha = 105,5% KH
- Tổng sản lượng lương thực cây có hạt cả năm đạt 43.303 tấn = 106,9%KH, = 103,2% so cùng kỳ
- Diện tích rừng trồng mới rừng sản xuất được 964,6 ha = 113% so KH
Trang 35chưa đồng đều, trình độ chuyên môn chưa cao, cơ sở vật chất và thuốc men còn thiếu nên công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân cũng như công tác tuyên truyền phòng chống dịch bệnh trong nhân dân còn hạn chế
Về giáo dục
Trên địa bàn huyện có 03 trường THPT và 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên; 17 trường Trung học cơ sở; 27 trường Tiểu học và 17 trường Mầm non
3.3 Cơ sở hạ tầng, giao thông
Giao thông
Địa bàn huyện Phú Lương có Quốc lộ 3 chạy dọc theo tuyến Bắc – Nam,
có mạng lưới giao thông nông thôn khá dày đặc với 574,5km (Gồm 126,5km đường liên xã và 448km đường liên thôn, liên xóm)
Tất cả các xã trong vùng đều đã có đường ô tô đến được trung tâm xã Tuy nhiên chất lượng đường chưa đảm bảo nên việc đi lại rất khó khăn, đặc biệt là trong mùa mưa lũ Ngoài ra còn hàng trăm km đường mòn, đường dân sinh trong các xã, thôn bản, mặt đường nhỏ hẹp, chất lượng xấu cần được nâng cấp cải tạo và làm mới
Thủy lợi
Địa bàn huyện bị chia cắt bởi hệ thống các khe, suối quanh co uốn khúc, được bắt nguồn từ các dãy núi; với đặc điểm là cạn về mùa đông, sẵn nước về mùa hè nhưng do địa hình dốc và hẹp nên dễ gây ra lũ nhanh và có cường độ lớn
Có sông lớn nhất là sông Đu, dài khoảng 45km, sông Đu được tạo bởi hai nhánh chính, một nhánh bắt nguồn từ Đông Bắc xã Hợp Thành, một nhánh bắt nguồn từ phía Bắc xã Đông Đạt, hai nhánh này hợp lưu ở phía trên thị trấn Đu, chảy dọc theo địa bàn huyện, qua thị trấn Giang tiên và đổ vào sông Cầu tại xã Sơn Cẩm
Trang 36Hiện nay, một số đoạn kênh mương đã xuống cấp và hiệu suất sử dụng các công trình này chưa cao Vì vậy chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất Thời gian tới cần kiểm tra, tu sửa, nâng cấp và xây dựng thêm hệ thống kênh mương để phục vụ sản xuất lương thực được hiệu quả
Điện nước sinh hoạt
- 100% số dân trong địa bàn huyện được sử dụng điện lưới quốc gia Bình quân hàng năm lượng điện do ngành điện tiêu thụ vào khoảng 25-27 triệu Kw/giờ, giá thành điện ổn định; tổng số trạm biến áp trên địa bàn huyện hiện nay
là 71 trạm
- Do điều kiện địa hình núi đá rất phức tạp nên chương trình nước sinh hoạt nông thôn đã được đầu tư xây dựng nhưng vẫn ở phạm vi hẹp Nhiều hộ gia đình vẫn phải tìm nguồn nước tự nhiên từ trong núi để phục vụ sinh hoạt hàng ngày
Trang 37Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Tính đa dạng thực vật cho lâm sản ngoài gỗ ở khu vực nghiên cứu
4.1.1 Tính đa dạng về thành phần loài
Qua điều số liệu điều tra thực địa , tổng hợp được các loài cây lâm sản ngoài gỗ kết quả điều tra qua mô tả của người dân kết hợp với điều tra thực địa tôi thống kê được danh lục tên các loài thực vật cho LSNG chủ yếu trong khu vực được thể hiện trong phụ lục 01 và tổng hợp ở bảng sau:
Bảng 4.1: Thống kê thành phần loài cây LSNG ở khu vực nghiên cứu
Trang 389 loài chiếm 5,03%,họ Đậu có 7 loài chiếm 3,91%,3, họ Cau 6 chiếm 3,35%,… Trong đó có 142 loài làm thuốc chiếm đến 78,89% giá trị sử dụng, làm thực phẩm 56 loài, cho sợi 17 loài, cho thuốc nhuộm 1 loài, cho dầu béo
5 loài, cho hương liệu 12 loài và nhóm khác 33 loài
Kết quả điều tra cho thấy các loài thực vật tại xã Động Đạt khá phong phú và đa dạng
4.1.2 Thực vật quý hiếm cho LSNG
Trong các loài LSNG đã thống kê được trong quá trình điều tra, sẽ tra xem những loài nào nằm trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 thì tổng hợp vào bảng 4.2
Bảng 4.2: Danh lục các loài thực vật quý hiếm cho LSNG
2 Cycas micholitzii Thiselton – Dyer Tuế lá xẻ VU II A
3 Cycas pectinata Buch.Ham Thiên tuế VU
4 Goniothalamus vietnamensis Ban Bổ béo lá đen VU
5 Cinnadenia paniculata Hook f Kháo xanh VU
RANUNCULIDAE MAO LƯƠNG
6 Fibraurea recisa Pierre Hoằng đằng VU
7 Stephania cepharantha Dids Bình vôi EN
Trang 39DILLENIIDAE LỚP SỔ
8 Gynostemma pentaphyllum (Thumb) Makini Giảo cổ lam EN
9 Ardisia silvestris Pitard Lá khôi VU
15 Melientha suavis Pierre Rau sắng VU
16 Rauvolfia verticillata (Lour.) Baill Ba gạc vòng VU
17 Strophanthus wallichii A DC Sừng trâu to EN
18 Morinda officinalis F C How Ba kích EN
19 Curculigo orchioides Gaertn Sâm cau VU
20 Disporopsis longifolia Craib Hoàng tinh hoa trắng VU IIA
Trang 40Qua bảng trên cho thấy các loài thực vật quý hiếm cho LSNG thuộc 3 ngành, có 17 họ, 19 chi và 20 loài, có 12 loài phân hạng cấp VU (sẽ nguy cấp), 8 loài phân hạng cấp EN (nguy cấp) Như vậy ta có thể thấy rằng ở xã Phú Lương còn nhiều loài thực vật nằm trong Sách đỏ Việt Nam
Diện tích rừng tự nhiên hiện nay còn ít và ngày càng giảm do chuyển đổi mục đích sử dụng từ khai thác rừng tự nhiên sang trồng Keo, Bạch đàn, Mỡ
và canh tác nông nghiệp cộng với việc nhiều người dân vào rừng khai thác, thu hái các loài LSNG nên đã làm giảm cả số loài cây và số lượng, chất lượng của mỗi loài
Trong số các loài LSNG quý hiếm đã được phát hiện, có một số loài đã được người dân đem về trồng ở vườn nhà như Lá khôi, Rau bò khai, Rau sắng, Hoàng tinh hoa trắng, Ba kích, Cát sâm là những loài cây thuốc quý hiếm thường mọc dưới tán rừng, đây không những chỉ là những loài có giá trị bảo tồn còn là những loài có giá trị sử dụng và kinh tế cao, chúng thường mọc dưới tán rừng và có khả năng chịu bóng tốt nên có thể đưa vào danh sách chọn lựa phát triển gây trồng ở địa phương Ngoài ra còn có một số loài cây
gỗ cho lâm sản ngoài gỗ thuộc nhóm này như Trám đen, Trầm hương có phân bố tự nhiên ở khu vực Sự xuất hiện phân bố tự nhiên của các loài ở Phú Lương là cơ sở khoa học để khẳng định khả năng thích nghi của các loài cây LSNG thuộc nhóm quý hiếm, nếu được chọn gây trồng sẽ sinh trưởng phát triển tốt trên địa bàn