Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân bố của các loài Lan (Orchidaceae spp) tại xã Yên Ninh huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân bố của các loài Lan (Orchidaceae spp) tại xã Yên Ninh huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân bố của các loài Lan (Orchidaceae spp) tại xã Yên Ninh huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân bố của các loài Lan (Orchidaceae spp) tại xã Yên Ninh huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân bố của các loài Lan (Orchidaceae spp) tại xã Yên Ninh huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân bố của các loài Lan (Orchidaceae spp) tại xã Yên Ninh huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân bố của các loài Lan (Orchidaceae spp) tại xã Yên Ninh huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân bố của các loài Lan (Orchidaceae spp) tại xã Yên Ninh huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ PHÂN BỐ
CỦA CÁC LOÀI LAN (Orchidaceae spp) TẠI XÃ YÊN NINH,
HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Quản lí tài nguyên rừng
Thái Nguyên – năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ PHÂN BỐ
CỦA CÁC LOÀI LAN (Orchidaceae spp) TẠI XÃ YÊN NINH,
HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Quản lí tài nguyên rừng
Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Văn Mạn
Thái Nguyên – năm 2017
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chƣa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, họ và tên)
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, thực tập là giai đoạn sinh viên tiếp xúc với thực tế, đây là thời gian để sinh viên làm quen với công tác điều tra nghiên cứu Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp và sự hướng dẫn của ThS.Nguyễn Văn Mạn, giúp tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân bố của các loài Lan (Orchidaceae spp) tại xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên’’
Trong thời gian nghiên cứu đề tài, được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của Th.S Nguyễn Văn Mạn các thầy cô giáo trong khoa cùng với sự phối hợp giúp đỡ của các cán
bộ, lãnh đạo các cơ quan ban ngành của UBND huyện Phú Lương, các xã trong huyện
và các hộ gia đình trong thôn đã tạo mọi điều kiện cho tôi thu thập thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu Qua đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đến các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt là Th.S Nguyễn Văn Mạn thầy hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Do trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế do vậy khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn đồng nghiệp để khóa luận này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, năm 2017
Sinh viên
Hoàng Trung Huấn
Trang 5iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Bảng đo nhiệt độ, độ ẩm tai nơi Lan phân bố 25
Bảng 3.2 Kết quả phẫu diện đất của các loài địa Lan 25
Bảng 3.3: Các chỉ tiêu để đánh giá đất 26
Bảng 4.1 Đặc điểm hình thái của các loài Lan 27
Bảng 4.2 Danh lục các loài Lan 35
Bảng 4.3 Cấp độ bảo tồn các loài Lan 36
Bảng 4.5 Phân bố theo độ cao 38
Bảng 4.6: Phân bố loài Lan theo trạng thái rừng 40
Bảng 4.8 Các loài cây chủ (giá thể) của các loài phong Lan sống cộng sinh 42
Bảng 4.9 Bảng độ tàn che loài Lan tại nơi phân bố 44
Bảng 4.10 Bảng nhiệt độ, độ ẩm không khí nơi Lan phân bố 45
Bảng 4.11 Đặc điểm lý tính đất của các loài địa Lan 46
Bảng 4.12 Đặc điểm hóa tính đất của các loài địa Lan 47
Trang 7v
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 3
2.2.1 Tình hình nghiên cứu thực vật quý hiếm trên thế giới 3
2.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 7
2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 17
2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 17
2.3.2 Những lợi thế để phát triển kinh tế xã hội 20
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
3.2 Nội dung nghiên cứu 21
3.2.1 Đặc điểm hình thái, phân loại và phân hạng bảo tồn các loài Lan 21
3.2.2 Đặc điểm phân bố của các loài Lan 21
3.2.3 Một số đặc điểm sinh thái của các loài Lan 21
Trang 8vi
3.2.4 Thuận lợi và khó khăn trong công tác bảo tồn và phát triển loài Lan tại khu
vực nghiên cứu 22
3.2.5 Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển loài Lan tại khu vực nghiên cứu 22
3.3 Phương pháp nghiên cứu 22
3.3.1 Các đối tượng rừng cần điều tra 22
3.3.2 Phương pháp phỏng vấn người dân 22
3.3.3 Phương pháp điều tra theo tuyến 22
3.3.4 Phân bố theo độ cao 23
3.3.5 Mô tả đặc điểm sinh vật học các loài Lan 23
3.3.6 Điều tra đặc điểm sinh thái học 23
3.3.7 Phương pháp xác định nhiệt độ và độ ẩm 24
3.3.8 Lấy mẫu, bảo quản và phân tích đất 25
3.4 Phương pháp nội nghiệp 26
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 27
4.1 Đặc điểm hình thái, phân loại và phân hạng bảo tồn các loài Lan 27
4.1.1 Đặc điểm hình thái các loài lan 27
4.1.2 Danh lục loài Lan 34
4.1.3 Phân hạng bảo tồn các loài Lan 36
4.2 Đặc điểm phân bố của các loài Lan 37
4.2.1 Phân bố theo tuyến 37
4.2.2 Phân bố theo độ cao 38
4.2.3 Phân bố theo trạng thái rừng 39
4.2.4 Các loài Lan người dân trồng 41
4.3 Một số đặc điểm sinh thái của các loài phong Lan 41
4.3.1 Các loài cây chủ (giá thể) của các loài phong Lan thường cộng sinh 41
4.3.2 Đặc điểm về ánh sáng nơi các loài Lan phân bố 43
Trang 9vii
4.3.3 Đặc điểm nhiệt độ, độ ẩm không khí nơi các loài Lan phân bố 45
4.3.4 Đặc điểm về tái sinh của loài 46
4.3.5 Đặc điểm đất nơi loài cây nghiên cứu phân bố 46
4.4 Thuận lợi và khó khăn trong công tác bảo tồn và phát triển loài 47
4.4.1 Thuận lợi 47
4.4.2 Khó khăn 47
4.5 Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển loài 48
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Kiến nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
PHỤ LỤC 55
Trang 101
Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Hoa phong Lan là một trong những loài hoa mang vẻ đẹp kiêu sa, kiều
diễm nhưng cũng rất hoang dại Loài hoa này mang trong mình những nét đẹp cuốn hút làm say mê biết bao người, hoa Lan có hàng trăm loại khác nhau được phân bổ khắp mọi nơi trên thế giới Và Việt Nam cũng là một quốc gia có nhiều
loài hoa Lan cư trú
Hoa phong Lan tại Việt Nam khá đa dạng, chúng có nhiều chủng loại, hình dáng và màu sắc khác nhau Để phân chia chủng loại Lan các nhà nghiên cứu dựa trên những đặc điểm sinh học của chúng, hiện nay phong Lan Việt Nam có 2 loại chính là phong Lan và địa Lan Nếu loài hoa phong Lan sống dựa trên việc bám vào các thân cây chủ mọc trên núi cao hoặc trong rừng thì địa Lan lại sống nhờ vào mặt đất, chúng mọc nhiều ở các khu vực gần bờ suối, sườn núi hoặc dưới những tán
ẩm, thạch Lan là Lan đá sống chủ yếu ở các khe hay trên sườn núi đá có nhiều rêu xanh Còn phong Lan sinh trưởng cộng sinh trên những thân cây khỏe mạnh khác
Do có giá trị kinh tế cao, được nhiều người ưa thích, các loài Lan rừng đã bị khai thác kiệt quệ
Để tìm hiểu một số đặc điểm sinh học, phân bố của các loài Lan trong điều kiện sinh cảnh tự nhiên ở tỉnh Thái Nguyên phục vụ công tác bảo tồn và phát triển
các loài Lan rừng, tôi nghiên cứu khóa luận: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và phân bố của các loài Lan (Orchidaceae spp) tại xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”
Trang 112
Trên cơ sở phân tích các số liệu thu được, đề xuất phương pháp khai thác hợp lý, góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên quý này
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài thực hiện nhằm đạt mục tiêu sau:
Xác định phân bố của các loài Lan tại khu vực nghiên cứu và tìm hiểu đặc điểm sinh học, sinh thái học trên cơ sở đó đưa ra một số biện pháp để bảo tồn và phát triển các loài Lan
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Việc nghiên cứu và đánh giá đặc điểm sinh thái, tình trạng phân bố của các loài Lan nhằm đề xuất một số giải pháp bảo tồn
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Giúp tôi hiểu thêm về sự phân bố và các đặc điểm sinh thái các loài Lan trong khu vực nghiên cứu
- Ưng dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn
- Biết được tầm quan trọng của các loài thực vật quý hiếm nói chung và các loài Lan nói riêng
- Biết được tầm quan trọng của công tác bảo tồn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng hiện nay
Trang 123
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học
Về cơ sở sinh học
Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài Việc hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật
Về cơ sở bảo tồn
Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính phủ
Việt Nam cũng công bố Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo
vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên, trong đó có rất nhiều loài Lan Sách đỏ Việt Nam (2007) phần II thực vật
Nghị định 32/NĐ-CP ngày 30/3/2006: Về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Đã đưa vào phụ lục dang lục quản lý một số loài thực vật
và động vật rừng quý, hiếm, có nguy cơ tuyệt củng cao Đặc biệt có nhiều loài Lan thuộc nhóm IA và IIA có nhiều loài Lan rừng đang có nguy cơ tuyệt chủng trên
khắp lãnh thổ Việt Nam
2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu thực vật quý hiếm trên thế giới
* Tổng quan về công tác bảo tồn nguồn gen
Sự suy thoái nhanh chóng của diện tích rừng nhiệt đới trên toàn cầu với tốc
độ ước tính khoảng 12,6 triệu ha mỗi năm, tương đương 0,7% tổng diện tích rừng nhiệt đới (FAO, 2001) đã gây ra những tác hại to lớn về kinh tế, xã hội và môi
trường Rừng nhiệt đới được xem như những “kho chứa” về tính đa dạng sinh học
(ĐDSH) của thế giới (Kanowski và Boshier, 1997) [17] nên sự suy thoái về số lượng lẫn chất lượng của rừng nhiệt đới đồng nghĩa với sự suy giảm tính ĐDSH Vì vậy,
Trang 134 việc phát triển những chiến lƣợc hiệu quả nhằm bảo tồn, khôi phục và phát triển tính ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang nhận đƣợc sự quan tâm của nhiều tổ chức quốc tế và nhiều dự án bảo tồn ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang đƣợc tiến hành trên quy mô toàn cầu Bảo tồn các tài nguyên sống có ba mục tiêu chủ yếu, đó là (1) Bảo vệ các hệ sinh thái (bảo tồn thiên nhiên), (2) Bảo tồn sự đa dạng di truyền (bảo tồn nguồn gen) và (3) Bảo đảm sử dụng lâu bền các nguồn tài nguyên Nhƣ vậy có thể dễ dàng nhận thấy vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của bảo tồn nguồn gen trong chiến lƣợc bảo vệ đa dạng sinh học (FAO, 1983) Bảo tồn nguồn gen thực chất là bảo tồn đa dạng di truyền tồn tại bên trong mỗi loài và giữa các loài
Đặc điểm của nguồn gen các loài Lan rừng nhiệt đới là có rất nhiều chủng loại, trong đó có một số lớn là chƣa có ích hoặc chƣa biết giá trị sử dụng của chúng,
số loài đƣợc gây trồng và sử dụng không nhiều Nên ngoài nhiệm vụ bảo tồn tính đa dạng di truyền, bảo tồn nguồn gen các loài Lan rừng còn có nét đặc thù là phải gắn với nhiệm vụ bảo vệ thiên nhiên Phải có sự thỏa hiệp giữa các nhân tố sinh học với các nhân tố kỹ thuật, kinh tế và hành chính
Giữa bảo tồn nguồn gen với bảo vệ thiên nhiên tuy có quan hệ mật thiết với nhau, song lại có sự phân biệt quan trọng Theo Roche (1975) và Frankel (1975) thì bảo tồn thiên nhiên là nhằm bảo vệ các diện tích đại diện cho các sinh cảnh và các quần xã, những đối tƣợng có thể phân định đƣợc Còn bảo tồn nguồn gen thì đi xa hơn, nó quan tâm đến những khác biệt di truyền, những cái chỉ có thể đoán định chứ không thể phân biệt đƣợc
* Tổng quan về các loài Lan
Trang 145 hoa Lan (Orchidaceae) là một loài hoa đông đảo vào bậc thứ nhì sau hoa cúc (Asteraceae)
Người ta thường gọi lầm tất cả các loại hoa Lan là phong Lan Hoa Lan mọc
ở các điều kiện, giá thể khác nhau và được chia làm 4 loại:
1 Epiphytes: Phong Lan bám vào cành hay thân cây gỗ đang sống
2 Terestrials: Địa Lan mọc dưới đất
3 Lithophytes: Thạch Lan mọc ở các kẽ đá
4 Saprophytes: Hoại Lan mọc trên lớp rêu hay gỗ mục
Đối với các loài Lan (phong Lan và địa Lan), hầu như từ trước tới nay, người dân mới biết đến chúng là những loài được sử dụng làm cây cảnh trang trí
ở các hộ gia đình mà chưa biết rằng trong số hàng ngàn loài Lan đã phát hiện có một số loài còn có tác dụng cung cấp các hoạt chất sinh học làm nguyên liệu chế biến thuốc và thực phẩm chức năng Trong số những loài đó người ta đã phát hiện trong Lan Thạch hộc tía và Lan kim tuyến có chứa một loại hoạt chất để sản xuất thuốc chữa ung thư Chính vì vậy, giá thị trường hiện nay lên tới 7 triệu đồng/kg Lan Thạch hộc tía
- Phân bố
Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố nhiều
nơi trên thế giới Gần như có mặt trong mọi môi trường sống, ngoại trừ các sa mạc và sông băng Phần lớn các loài được tìm thấy trong khu vực nhiệt đới, chủ yếu là châu Á, Nam Mỹ và Trung Mỹ Chúng cũng được tìm thấy tại các vĩ độ cao hơn vòng Bắc cực, ở miền nam Patagonia và thậm chí trên đảo Macquarie, gần
với châu Nam Cực Nó chiếm khoảng 6-11% số lượng loài thực vật có hoa
Theo Helmut Bechtel (1982), hiện nay trên thế giới có hơn 750 loài Lan rừng, gồm hơn 25.000 giống được xác định, chưa kể một số lượng khổng lồ Lan lai không thể thống kê chính xác số lượng Lan rừng phân bố trên thế giới gồm 05 khu vực:
+ Vùng nhiệt đới Châu Á gồm các giống: Bulbophyllum, CaLanthe, Ceologyne, Cymbidium, Dendrobium, Paphiopedilum, Phaius, Phalaenopsis, Vanda, Anoectochillus…
Trang 156 + Vùng nhiệt châu Mỹ gồm các giống: Brassavola, Catasetum, Cattleya,
Cynoches, Pleurothaillis, Stanhopea, Zygopetalum, Spathoglottis
+ Châu Phi gồm các giống: Lissochilus, Polystachiya, Ansellia, Disa…
+ Châu Úc gồm các giống: Bulbophyllum, CaLanthe, Cymbidium,
Dendrobium, Eria, Phaius, Pholidota, Sarchochilus…
+ Vùng ôn đới của Châu Âu, Bắc Mỹ và Đông Bắc Châu Á gồm các giống: Cypripedium, Orchis, Spiranthes…
Danh sách dưới đây liệt kê gần đúng sự phân bố của họ Orchidaceae:
Nhiệt đới châu Mỹ: 250 - 270 chi
Nhiệt đới châu Á: 260 - 300 chi
Nhiệt đới châu Phi: 230 - 270 chi
Châu Đại Dương: 50 - 70 chi
Châu Âu và ôn đới châu Á: 40 - 60 chi
Bắc Mỹ: 20 - 25 chi
- Những nghiên cứu về Lan
Cây hoa Lan được biết đến đầu tiên từ năm 2800 trước công nguyên, trải qua lịch sử phát triển lâu dài, đến nay ở nhiều quốc gia đã lai tạo, nhân nhanh được nhiều giống mới đem lại giá trị kinh tế cao Chính vì vậy, việc nghiên cứu và sản xuất hoa Lan trên thế giới ngày càng được quan tâm, chú ý nhiều hơn, đặc biệt nhất
là Thái Lan
Thái Lan có lịch sử nghiên cứu và lai tạo phong Lan cách đây khoảng 130 năm (Arjan Germy, 2005), hiện nay là nước đứng đầu về xuất khẩu hoa phong Lan trên thế giới (kể cả cây giống và hoa Lan cắt cành) trong đó các giống phong Lan
thuộc chi Lan Hoàng Thảo Dendrobium chiếm 80%
Cây Lan biết đến đầu tiên ở Trung Quốc là Kiến Lan (được tìm ra đầu tiên ở
Phúc Kiến) đó là Cymbidium ensifonymum là một loài bán địa Lan Ở Phương Đông,
Lan được chú ý đến bởi vẻ đẹp duyên dáng của lá và hương thơm tuyệt vời của hoa Vì vậy trong thực tế Lan được chiêm ngưỡng trước tiên là lá chứ không phải màu sắc của hoa (quan niệm thẩm mỹ thời ấy chuộng tao nhã chứ không ưa phô trương sặc sỡ)
Trang 167
Lan đối với người Trung Hoa hay Lan đối với người Nhật, tượng trưng cho tình yêu và vẻ đẹp, hương thơm tao nhã, tất cả thuộc về phái yếu, quý phái và thanh lịch như có người đã nói “Mùi hương của nó tỏa ra trong sự yên lặng và cô đơn” Khổng Tử đề cao Lan là vua của những loài cây cỏ có hương thơm Phong trào chơi phong Lan và địa Lan ở Trung Quốc phát triển rất sớm, từ thế kỷ thứ V trước công nguyên đã có tranh vẽ về phong Lan còn lưu lại từ thời Hán Tông
Ở châu Âu bắt đầu để ý đến phong Lan từ thế kỷ thứ 18, sau Trung Quốc đến hàng chục thế kỷ và cũng nhờ các thuỷ thủ thời bấy giờ mà phong Lan đã đi khắp các miền của địa cầu Lúc đầu là Vanny sau đó đến Bạch Cập, Hạc Đính rồi Kiến Lan Lan chính thức ra nhập vào ngành hoa cây cảnh trên thế giới hơn 400 năm nay
Địa Lan (Cymbidium) hay còn gọi Thổ Lan là một loại hoa Lan khá phổ
thông, vì hội đủ điều kiện: có nhiều hoa, to đẹp, đủ màu sắc và lâu tàn, rất thông dụng cho việc trang trí trưng bày Hiện nay nước Mỹ có nhiều vườn địa Lan dùng cho kỹ nghệ cắt bông như Gallup & Tripping ở Santa Barbara nhưng cũng phải nhập hàng triệu đô la mỗi năm từ các nước Âu Châu và Á châu để cung ứng cho thị trường trong nước
Trước năm 1930, nước Mỹ không có nhiều giống Lan và cũng không có nhiều người thích chơi Lan hay vườn Lan Nói riêng về California thì chỉ có 2-3 vườn Lan ở OakLand và San Francisco, nhưng chỉ dùng cho kỹ nghệ cắt bông,
không có bán cây Lúc bấy giờ các vườn Lan chỉ có Cát Lan (Cattleya) hay địa Lan (Cymbidium) nhưng cũng không có nhiều giống Lan hay hoa đẹp, những giống này
được nhập cảng từ nước Anh
2.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
* Tổng quan nghiên cứu về sinh thái
Ý nghĩa của nghiên cứu sinh thái loài hết sức cần thiết và quan trọng, đây
là cơ sở cho việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, Ngăn ngừa suy thoái các loài nhất là những loài động, thực vật quý hiếm, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường
Trang 178 Khi nghiên cứu sinh thái các loài thực vật, Lê Mộng Chân (2000) [1] Đã nêu tóm tắt khái niệm và ý nghĩa của việc nghiên cứu Sinh thái thực vật nghiên cứu tác động qua lại giữa thực vật với ngoại cảnh Mỗi loài cây sống trên mặt đất đều trải qua quá trình thích ứng và tiến hoá lâu dài, ở hoàn cảnh sống khác nhau các loài thực vật thích ứng và hình thành những đặc tính sinh thái riêng, dần dần những đặc tính được di truyền và trở thành nhu cầu của cây đối với hoàn cảnh
Con người tìm hiểu đặc tính sinh thái của loài cây để gây trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng, sử dụng và bảo tồn các loài cây đúng lúc, đúng chỗ đồng thời lợi dụng các đặc tính ấy để cải tạo tự nhiên và môi trường Lê Mộng Chân (2000) [1]
Phan Kế Lộc (1970) [5] Đã xách định hệ thực vật miền bắc Việt Nam có
5609 loài thuộc 1660 chi và 240 họ, tác giả đã đề nghị áp dụng công thức đánh giá
tổ thành loài rừng nhiệt đới
Thái Văn Trừng (1978) [10] Thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi, 289 họ
Nguyễn nghĩa Thìn (1997) [8] Đã thống kê thành phần loài của VQG có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc 478 chi, 213 họ thuộc ngành: Dương xỉ, Hạt trần, Hạt kín, các loài này được xếp thành 8 nhóm
có giá trị khác nhau
Lê Ngọc Công (2004) [2] Nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ, 468 chi, 654 loài chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây quý như: Lim, Dẻ, Trai, Nghiến
Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1995) [3] Nghiên cứu thành phần loài, dạng sống sa van bụi vùng đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện loài thuộc 47 họ khác nhau Các nghiên cứu có liên quan
Đỗ Tất Lợi (1995) [6] trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” tái bản lần 3 có sửa đổi bổ sung đã mô tả nhiều loài thực vật bản địa hoang dại hữu ích làm thuốc, trong đó có nhiều bài thuốc hay
Trang 189
* Tổng quan về công tác bảo tồn nguồn gen
Năm 1987, Ủy ban KHKT Nhà nước (nay là Bộ Khoa học Công nghệ) đã ban hành Quy chế về Bảo tồn nguồn gen (1997) [12], làm cơ sở cho các nghiên cứu bảo tồn nguồn gen, trong đó có bảo tồn nguồn gen cây rừng ở nước ta Mười năm sau, vào năm 1997, Bộ Khoa học Công nghệ đã ban hành chính thức Quy chế này Viện Khoa học Lâm nghiệp được chỉ định làm cơ quan đầu mối của công tác bảo tồn nguồn gen cây rừng và là cơ quan chủ trì đề tài nghiên cứu “Bảo tồn nguồn gen
cây rừng” từ năm 1988 đến nay Nội dung các nghiên cứu bao gồm:
Do không thể bảo tồn tất cả các loài hiện có, mặt khác bảo tồn nguồn gen nhằm phục vụ mục tiêu lâu dài của công tác cải thiện giống, vì vậy công tác bảo tồn nguồn gen ở Việt Nam đã định hướng tập trung vào các loài cây ưu tiên theo 4 nhóm đối tượng chính, xếp theo thứ tự ưu tiên như sau:
- Các loài cây có ý nghĩa kinh tế cao, đang có nguy cơ bị diệt chủng
- Các loài cây có giá trị khoa học, đang có nguy cơ tuyệt chủng cao
- Các loài cây bản địa quý phục vụ trồng rừng, ưu tiên các loài bị đe dọa
- Các loài cây nhập nội quý phục vụ trồng rừng
Sách đỏ Việt Nam (2007) [16] phần II thực vật, đã công bố Việt Nam có 66 loài Lan thuộc nhóm bị đe doạ, gồm:
4 loài Lan có nguy cơ tuyệt chủng ở phân hạng: Rất nguy cấp - CR
52 loài Lan có nguy cơ tuyệt chủng ở phân hạng: Nguy cấp - EN
10 loài Lan có nguy cơ tuyệt chủng ở phân hạng: Sẽ nguy cấp -VU
Nghị định 32/NĐ-CP ngày 30/3/2006 [11]: Về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Đã đưa vào phụ lục dang lục quản lý một số loài thực vật và động vật rừng quý, hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng cao Đặc biệt có một số loài Lan thuộc nhóm IA (Thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng
vì mục đích thương mại) Gồm:
Tất cả các loài trong chi Lan kim tuyến - Anoectochilus spp
Tất cả các loài trong chi Lan hài - Paphiopedilum spp
Trang 1910
Nhóm IIA (Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) Gồm:
Tất cả các loài trong chi Lan một lá - Nervilia spp
Và loài Thạch hộc (Hoàng phi hạc)
Bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học là nhiệm vụ chiến lược lâu dài
và quan trọng, đã được Thủ tướng chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phê duyệt tại Quyết định số 1250/QĐ-TTg, ngày 31/7/2013 [13] Theo đó mục tiêu lâu dài là: Các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, loài, nguồn gen nguy cấp, quý, hiếm được bảo tồn và sử dụng bền vững nhằm góp phần phát triển đất nước theo định hướng nền kinh tế xanh, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu Tầm nhìn đến năm 2030, 25% diện tích hệ sinh thái tự nhiên có tầm quan trọng quốc tế, quốc gia bị suy thoái được phục hồi; đa dạng sinh học được bảo tồn và sử dụng bền vững mang lại lợi ích thiết yếu cho người dân và đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
* Tình hình tài nguyên rừng và công tác bảo tồn nguồn gen ở khu vực nghiên cứu
Thái nguyên là tỉnh trung du miền núi, tổng diện tích tự nhiên là 353.318,91
ha, trong đó đất lâm nghiệp có rừng là 185.525,89 ha Diện tích đất lâm nghiệp có rừng tự nhiên là 77.451,38 ha, diện tích rừng trồng là 95.039,73 ha, theo Quyết
định số 1044/QĐ-UBND (2015) [14] Diện tích rừng tự nhiên phân bố tập trung ở
các huyện: Võ Nhai (42.785,03 ha), Đại Từ (12.788,84 ha), huyện Định Hóa (11.585,82 ha)…
Về công tác bảo tồn nguồn gen, thực hiện Quyết định số 2150/QĐ-UBND, ngày 18/10/2013 [15], tỉnh Thái Nguyên đã triển khai một số nhiệm vụ quỹ gen
Cụ thể đã triển khai dự án bảo tồn nguồn gen cây Re hương, Cá Lăng chấm, cá Trạch sông, Dê cỏ Định Hóa, cá Chày mắt đỏ, Cá Nheo, Ếch ang Tam Đảo, cây Vù hương, các chủng vi sinh vật trong phòng chống bệnh cho cây chè ở tỉnh Thái Nguyên Một số dự án bảo tồn nguồn gen cấp Nhà nước và cấp bộ triển khai trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên: Dự án Khai thác và phát triển một số loài cây địa
Trang 2011 phương dùng làm men rượu phục vụ chế biến rượu đặc sản; Khai thác và phát triển nguồn gen giống bò H’mông; Khai thác nguồn gen ngựa Bạch; Khai thác và phát triển nguồn gen cây Hoàng đằng phục vụ nhu cầu làm thuốc; Bảo tồn nguồn gen cây râu mèo; Bảo tồn nguồn gen cây Bảy lá một hoa Các nhiệm vụ, dự án bảo tồn và khai thác nguồn gen đã góp phần bảo tồn lưu giữ được các nguồn gen qu ý hiếm, vật liệu khởi đầu cho công tác lai tạo giống mới và góp phần phát triển kinh
tế xã hội tại địa phương
* Tổng quan về các loài Lan rừng ở Việt Nam
Lan rừng Việt Nam - Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học [19], đã được rất
nhiều tác gia để cập đến Có thể tóm tắt Đặc điểm thực vật học của Lan rừng Việt
Nam theo tiêu trí chính sau
Rễ
- Rễ Lan có 2 nhiệm vụ
+ Hút nước và chất bổ dưỡng để nuôi cây
+ Giữ cho cây bám vào trên cành cây, hốc đá hay dưới đất
- Nếu rễ quá ít, cây sẽ không đủ nước, không bám cành cây hốc đá đươc, hoa sẽ không nhiều và không đẹp Nếu rễ không mọc được, bị thối, bị bệnh hay bi chết, cây sẽ thiếu nước, thiếu chất bổ dưỡng cây sẽ còi cọc và sẽ chết dần chết mòn
Phân tích cho kỹ rễ chia ra làm 5 phần: lõi rễ, thân rễ, vỏ rễ, lông rễ và đầu rễ
- Đầu rễ có nhiệm vụ hút nước và chất bổ dưỡng để nuôi cây Nếu vật liệu nuôi trồng khô ráo, rễ sẽ mọc dài ra để tìm nước Trái lại lúc nào cũng có sẵn nước ở bên, rễ sẽ không mọc thêm ra Ngay cả nhưng giống Lan cần tưới nhiều như Vanda, Renanthera chẳng hạn, cũng nên đợi một vài giờ sau cho khô rễ rồi mới tưới
Thân
- Lan có 2 loại thân đa thân và đơn thân Ở các loài Lan sống phụ có nhiều đoạn phình lớn thành củ giả (giả hành) đó là bộ phận dự trữ nước và các chất dinh dưỡng để nuôi cây khi điều kiện gặp khô hạn khi sống bám trên cao Củ giả hành đa dạng, hình cầu hay thuôn dài xếp sát nhau hay rải rác đều đặn hoặc hình trụ
Trang 2112 xếp chồng chất thành một thân giả, cấu tạo củ giả, gồm nhiều mô mềm chứa đầy dịch nhầy phía ngoài là lớp biểu bì, với vách tế bào dày, nhẵn bóng bảo vệ để trách
sự mất nước do mặt trời hun nóng Đa số củ giả đều xanh bóng để làm nhiệm
vụ quang hợp cùng với lá
Loại Lan đơn thân (Vanda - Chi Lan Vanda)
Loại Lan rừng Việt Nam đa thân (Dendrobium - Chi Lan Hoàng Thảo) Loại Lan thân giả hành (Odontoglossum- Chi Lan răng lưỡi)
- Phía ngoài cùng là 3 cánh đài, trong đó một cánh đài phía trên hay phía sau của hoa gọi là lá đài lý và hai cánh đài ở 2 bên gọi là lá đài cạnh Ba cánh đài giống nhau về hình dạng, kích thước, màu sắc Hầu hết các giống Lan, lá đài có cùng kích thước và giống như cánh hoa Tuy nhiên, trong một số giống, lá đài lý trở nên to lớn
và lòe loẹt, 2 lá đài cạnh thấp ở hai bên đôi khi hợp nhất lại thành ra một, và trong những giống khác tất cả 3 lá đài hợp nhất thành kết cấu hình chuông chung quanh hoa Trong một vài giống, các lá đài hoàn toàn lấn áp hoa thật.Nằm kề bên trong và xen kẽ với 3 cánh đài là 3 cánh hoa Cánh hoa bảo vệ bao bọc nụ hoa So với 2 cánh hoa hai bên sườn, cánh hoa phía dưới còn lại gọi là cánh môi Cánh môi đôi khi đặc biệt to lớn khác hẳn với 2 cánh kia Cánh môi thường sặc sỡ, viền cánh hoa dợn sóng hoặc dưới dạng một cái túi, trang hoàng với những cái mũ mào (như mào gà), những cái đuôi, cái sừng, những nốt màu, những cái lông,… Cánh môi quyết định
Trang 2213 giá trị thẩm mỹ của hoa Lan Trong một số trường hợp, cánh môi còn là một cái bẫy
dụ dỗ các côn trùng giúp thụ phấn
- Cơ quan sinh sản của hoa Lan kết hợp thành một trụ đơn không giống hình dạng tiểu nhị đực/túi phấn và nhuỵ cái/nướm như các loại hoa khác Đây là đặc điểm để nhận dạng đầu tiên của hoa Lan Ở trên đầu của trụ hoa là bao phấn bao gồm nhiều hạt phấn gọi là túi phấn Phía dưới túi phấn là nhuỵ cái, một shallow, vách thường ẩm ướt nơi mà hạt phấn rơi vào thụ tinh Có một bộ phận nhỏ
đó là vòi nhuỵ có tác động rào cản bảo vệ ngăn chận tự thụ phấn của chính hoa này
Để ngăn chặn việc tự thụ phấn, một số loài chúng có hoa đực và hoa cái riêng rẽ
* Cấu tạo hoa Lan
c Cánh môi hay cánh dưới
Cánh hoa thấp phía dưới của hoa Lan Hoa dùng cánh này để cung cấp một
“bãi đáp” dành cho những côn trùng thụ phấn
d Trụ nhụy
- Một cấu trúc giống ngón tay, đó là bộ phận sinh dục của hoa
- Đầu nhuỵ (nhụy cái) và phấn hoa (nhị đực) ở dưới đầu nắp bao phấn (nắp)
* Cấu tạo nhụy và nhị của hoa Lan
a Quả Lan
Sự tạo quả của hoa Lan trong tự nhiên rất khó do cấu tạo đặc biệt của hoa
và thường phải nhờ côn trùng Quả Lan thuộc loại quả nang, thời gian tạo quả đến khi quả chín kéo dài Đối với Cattleya phải từ 12 đến 14 tháng, Vanda 18 tháng hoặc hơn, Cypripedium 1 năm, Dendrobium từ 9 tới 15 tháng Khi chín quả nở ra theo 3 đến 6 đường nứt dọc mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phía đỉnh và phía gốc
Trang 2314
b Hạt Lan
Hạt Lan rất nhiều, nhỏ li ty Hạt cấu tạo bởi một khối chưa phân hóa, trên một mạng lưới nhỏ xốp chứa đầy không khí Phải trải qua 2 - 18 tháng hạt mới chín Hạt muốn nẩy mầm trong tự nhiên phải có sự cộng sinh của nấm Phizotonia
Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi về các yếu tố địa lý, khí hậu cũng như nhiệt độ, ẩm độ và ánh sáng, rất thích hợp với việc trồng phong Lan Rừng Việt Nam có nhiều loài phong Lan quý Do đó nếu chúng ta biết bảo vệ các loài Lan hiện
có và mở rộng việc trồng Lan cùng với sự giao lưu, trao đổi những giống Lan quí với các nước bạn thì giá trị khoa học cũng như giá trị kinh tế của các loài Lan ở nước ta sẽ tăng lên đáng kể Hiện nay, nhu cầu về hoa Lan trên thế giới rất cao, nghề nuôi trồng hoa Lan đã trở thành một bộ phận chủ yếu nhất của ngành trồng hoa cảnh xuất khẩu của nhiều nước
Việt nam là quê hương của khoảng 91 chi, 463 loài Lan và khoảng 1000 giống nguyên thủy Những cây Lan này phân bố tại vùng rừng, núi các tỉnh Thái Nguyên, Cao Bằng, Lào Cai, Huế, Hải Vân, Quy Nhơn, Kontum, Pleiku, Đắc Lắc,
Đà Lạt, Nam Cát Tiên Trong số Lan của Việt Nam có rất nhiều cây hiếm quý và
có những cây trước kia chỉ thấy mọc ở Việt nam như cây Lan nữ hài
Paphiopedilum delenati, cánh trắng môi hồng do một binh sĩ người Pháp đã tìm
thấy ở miền Tây Bắc Việt Nam vào năm 1913, sau đó đến năm 1922 đã phát hiện chúng có phân bố tại miền Trung Việt Nam và đến năm 1990-1991 phát hiện được ở Khánh Hòa
Việt Nam, dấu vết những nghiên cứu về Lan ở buổi đầu không rõ rệt lắm, có
lẽ người đầu tiên có khảo sát về Lan ở Việt Nam là Gioalas Noureiro - nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, Ông đã mô tả cây Lan ở Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1789
trong cuốn “ Flora cochin chinensis” gọi tên các cây Lan trong cuộc hành trình đến Nam phần Việt Nam là aerides, Phaius và Sarcopodium mà đã được Ben Tham và Hooker ghi lại trong cuốn “Genera pLante rum” (1862- 1883) (dẫn theo Nguyễn Hữu Huy - Phan Ngọc Cấp, 1995) Chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam
thì mới có những công trình nghiên cứu được công bố, đáng kể là F.gagnepain và
Trang 2415 A.gnillaumin mô tả 70 chi gồm 101 loài cho cả 3 nước Đông Dương trong bộ
"Thực vật Đông Dương chí" (Flora Genera Indochine) do H Lecomte chủ biên, xuất bản từ những năm 1932 - 1934.Ở nước ta đã biết được 897 loài thuộc 152 chi
của họ hoa Lan (dẫn theo Dương Xuân Trinh, et) Nguồn gen hoa phong Lan của
Việt Nam rất phong phú trong đó Lan Hoàng Thảo chiếm khoảng 30 - 40% trong
tổng số các loài Lan của Việt Nam (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2000) Nguyen Nghia
Thin, T V Tiệp (2000) [9] Trong điều kiện hội nhập, đầu tư phát triển công nghiệp, đô thị và du lịch với tốc độ cao, nhu cầu về hoa cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu gia tăng mạnh Hoa, cây cảnh mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người trồng hoa, đồng thời thúc đẩy du lịch, hội nhập và đời sống văn hóa tinh thần của quốc gia Đã có những công ty hàng năm sản xuất và tiêu thụ hoa Lan doanh thu lên hàng tỷ đồng như Sài gòn Orchidex, công ty hoa Hoàng Lan, song các công ty này chủ yếu buôn bán các giống Lan nhập nội
Hiện nay trong nước có nhiều người sưu tầm, nghiên cứu về Lan, có những Công ty trồng Lan để bán trong nước và xuất khẩu nhưng với số vốn hạn hẹp, kỹ thuật thô sơ nên không thể nào cạnh tranh nổi với các nước láng giềng như Thái Lan, Đài loan đã có mặt trên thị trường quốc tế từ lâu
Ngoài ra do luật quốc tế bảo vệ các giống động vật và cây hiếm quý do Hiệp ước Convention on International Trade in Endangered Species of wild fauna and flora (CITIES) đã cấm mua bán một số đặc sản, cho nên hoa Lan của Việt nam khó lòng được chính thức nhập khẩu vào Hoa kỳ Trong khi đó nhiều lái buôn đã thuê người vào rừng thẳm, núi cao để kiếm Lan bất kỳ lớn, nhỏ quý giá hay không đem bán cho các lái buôn Trung Quốc, Thái Lan hoặc Đài loan với giá: 2 - 3 USD/kg Những cụm Lan rừng vẫn được bầy bán tại các hội hoa Lan tại Santa Barbara hay
South Coast Plaza có thể là xuất xứ tại Việt Nam, (dẫn theo Bùi Xuân Đáng ), Tìm hiểu về hoa Lan [19] Hoa phong Lan là loài hoa với vẻ đẹp cao sang quý phái Hoa
phong Lan có đặc điểm mà có thể dễ dàng nhận ra mặc dù có rất nhiều giống loài với hàng ngàn đặc điểm khác nhau Phần lớn hoa Lan chỉ có 5 cánh bao bọc chung quanh một cái môi bằng lip, nhưng mỗi loài hoa lại có những dị biệt khác thường
Trang 2516
Hoa Lan có loại cánh tròn, có loại cánh dài nhọn hoắt,có loại cụp vào, có loại xoè
ra có những đường chun xếp, vòng vèo, uốn éo, có loại có râu, có vòi quấn quýt, có những hoa giống như con bướm, con ong Hoa Lan có những bông nhỏ như đầu chiếc kim gút nhưng cũng có bụi lớn Hương thơm của Lan cũng đủ loại những thường có hương thơm ngát, dịu dàng, thoang thoảng, ngọt ngào, thanh cao, vương giả Hoa Lan nếu được giữ đúng nhiệt độ và ẩm độ có thể còn đươc nguyên hương, nguyên sắc từ 2 tuần lễ cho đến hai tháng, có những loài lâu đến 4 tháng, có những loài nở hoa liên tiếp quanh năm, nhưng cũng có loài chỉ 1-2 ngày đã tàn phai hương sắc Mầu sắc của Lan cũng hết sức đa dạng nào là thắm tươi, từ trong như ngọc, trắng như ngà, êm mượt như nhung, mịn màng như phấn, tím sậm, đỏ nhạt, nâu, xanh, vàng, tía cho đến chấm phá, loang, sọc, vằn thấy đều không thiếu Nhiều người thấy Lan thường bám vào các cành cây, hốc đá nên nghĩ rằng Lan là một loại tầm gửi nhưng thực ra Lan không sống vào nhựa của cây Lan chỉ bám vào đó
mà sống, hấp thụ những tinh chất thiên nhiên do hoa, lá cây đã mục, phân chim và các tinh thể khác do nước mưa và gió vận chuyển tới Lan mọc ở khắp năm châu, bốn biển, từ miền gió tuyết lạnh lùng cho đến vùng sa mạc nóng bỏng, khô cằn, từ miền núi cao, rừng thẳm cho đến các đồng cỏ của miền bình nguyên và ngay cả các vùng sình lầy đâu đâu cũng có Lan Lan thuộc vào một loài hoa đông đảo với khoảng chừng 750 loài và 30,000 giống nguyên thủy và chừng độ một triệu đã được lai giống nhân tạo hay thiên tạo, hoa Lan (Orchidaceae) là một loài hoa đông đảo vào bậc thứ nhì sau hoa cúc (Asteraceae)
Nói đến Đà Lạt, không thể không nhắc đến địa Lan với hàng trăm loại cùng sinh sống và sinh trưởng với địa Lan ngoại nhập Theo các nhà nghiên cứu, hiện tại
Đà Lạt có khoảng 300 loài phong Lan và trên 300 giống địa Lan nội và ngoại nhập
cùng khoe sắc tỏa hương Trong đó Cymbidium còn gọi là kiếm địa Lan, phong phú đa dạng hơn cả Các loài địa Lan thuộc họ Cymbidium như: Lan Lô Hội,
Thanh Lan, Xích Ngọc, Gấm Ngũ Hồ, Bạch Lan, Mặc Lan, Bạch Hồng, Hoàng Lan, Tử Cán… Từ những năm 1990, Liên hiệp khoa học và sản xuất Đà Lạt đã thực hiện một số phương pháp lai ghép giữa các loài Lan, gieo hạt Lan trong ống
Trang 2617 nghiệm để duy trì nguồn Lan tự nhiên của địa phương Bên cạnh còn có một giống
Lan mà duy nhất chỉ có ở Đà Lạt đó là giống Lan Cymbidium Insigne var Dalatensis (Hồng Lan), đây là loài địa Lan vô cùng độc đáo, màu sắc hoàn toàn
khác biệt với những giống Lan đã biết, các nhà khoa học đang cho nhân giống, và
trồng rộng rãi, (dẫn theo Vietnam Records Books)
Viện Công nghệ Sinh học thực vật, trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam) đã thành công trong việc nghiên cứu một
số môi trường nhân nhanh một số giống phong Lan Hồ Điệp (Phalaenopsis), (Nguyễn Quang Thạch và cộng tác viên, 2005) [7]
Tóm lại: Những nghiên cứu về Lan rừng ở nước ta đã công bố nhận thấy:
1 Lan rừng Việt Nam rất đa dạng và phong phú về số loài, giống nguyên thủy;
2 Số liệu về chi, loài, giống không thống nhất Nguyên nhân do chưa có công trình nào điều tra nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống, vì vậy số liệu công bố có sự không thống nhất;
3 Đã có những công trình nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống (chủ yếu là nuôi cấy mô) cho một số loài đang được thị trường ưa chuộng như Lan Đai châu, một số giống Lan Hoàng thảo Chưa có công trình nào nghiên cứu về nhân giống bằng phương pháp giâm hom các loài Lan rừng đặc biệt là đối với những loài thân đốt
Những kết quả nghiên cứu trên đây của các tác giả đã công bố là cơ sở để Nhiệm vụ khoa học này lựa chọn phương pháp điều tra đem lại kết quả cao nhất, lựa chọn loài để nghiên cứu phương pháp nuôi cấy mô để tránh nghiên cứu trùng lặp với những kết quả đã công bố
2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
2.3.1.1 Vị trí địa lý
- Phú Lương giáp huyện Định Hóa về phía tây bắc, huyện Đại Từ về phía tây nam, huyện Đồng Hỷ về phía đông, thành phố Thái Nguyên về phía nam và huyện Chợ Mới (tỉnh Bắc Kạn) về phía đông bắc
Trang 2718
-Xã Yên Ninh là xã trung du miền núi cách trung tâm huyện Phú Lương 20km về phía Bắc, phía Đông giáp với tỉnh Bắc Cạn; phía Tây giáp với xã Yên Trạch; phía Nam giáp với xã Yên Đổ, Yên Lạc; phía Bắc giáp với huyện Định Hóa Địa bàn có tuyến giao thông Quốc lộ 3 dài 8 km đi qua trung tâm của xã và có sông Chu chảy qua dài 6 km
2.3.1.2 Điều kiện địa hình
Yên Ninh thuộc địa hình miền núi trung du với nhiều đồi núi nằm rải rác trên toàn bộ địa hình của xã tạo nên một địa hình tương đối phức tạp, với độ cao trung bình từ 45 - 350 m so với mặt nước biển Địa hình xã nói chung cao về phía Nam thấp dần về phía Bắc - Đông Bắc Nhìn chung địa hình của xã có những đồi núi đá cao bao bọc, xen kẽ là những thung lũng nhỏ và tập trung chủ yếu ở vùng trung tâm
xã, những thung lũng này có độ dốc khá lớn
2.3.1.3 Điều kiện khí hậu thời tiết
Theo số liệu quan trắc của Trạm khí tượng thủy văn Thái Nguyên qua một số năm gần đây cho thấy xã Yên Ninh nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm 4 mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông
+ Nhiệt độ không khí: TB năm 220
C + Độ ẩm không khí: TB năm 82%
Lượng mưa trung bình cả năm là 2000 mm, trong đó mùa mưa chiếm 91.6% lượng mưa cả năm, mưa nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8, nhiều khi có lũ sảy ra
Đặc điểm hướng gió thịnh hành chủ yếu vào mùa mưa là gió Đông Nam, vào mùa khô là gió Đông Bắc
Số ngày có sương mù trong năm là khoảng 4 - 5 ngày
2.3.1.4 Về đất đai thổ nhưỡng
Yên Ninh có tổng diện tích đất đai toàn xã theo địa giới hành chính là 4.751,86 ha Trong đó: Đất nông nghiệp 4.044,97 ha; đất phi nông nghiệp 649,64 ha; đất chưa sử dụng 57,25 ha Do địa bàn xã phần lớn là đất Pherarit, đất đỏ Badan, đất cát pha và đá vôi Đất Pherarit và đất đỏ Badan chủ yếu phân bố trên đồi núi và các gò cao với diện tích khoảng 3.197,25 ha bằng 67,29% tổng diện tích tự nhiên
Trang 2819 Đất cát pha 1.426,19 ha chiếm 30,01% tổng diện tích tự nhiên Núi đá vôi không trồng cây được 29,29 ha bằng 0,62% tổng diện tích toàn xã Đất sông, ngòi kênh, rạch, suối 99,18 ha bằng 2,08% tổng diện tích toàn xã
2.3.1.5 Về tài nguyên - khoáng sản
a) Tài nguyên rừng: Hiện nay huyện Phú Lương có 17.326 ha đất rừng, năm
2017 huyện có kế hoạch trồng rừng dự án 600ha, trồng cây phân tán 250ha Để làm tốt công tác phát triển rừng, huyện Phú Lương đã triển khai hỗ trợ cây lâm nghiệp cho Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn với tổng số lượng cây đã cấp trên 25.000 cây; thiết kế trồng 151,7/600 ha rừng sản xuất = 25,3% kế hoạch; thực hiện nghiêm công tác quản lý, khai thác và bảo vệ rừng Trong Quý tổng sản lượng gỗ đã khai thác là 3.251 m3; huyện cấp được 114 giấy phép khai thác lâm sản, xử lý 02 vụ vi phạm quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, tịch thu 4,299m3 gỗ tròn, tổng thu nộp ngân sách nhà nước trên 03 triệu đồng Hiện nay huyện Phú Lương tích cực chỉ đạo ngành Nông nghiệp và Chi cục Kiểm lâm hướng dẫn các địa phương quan tâm làm tốt công tác quản lý, khai thác và bảo vệ rừng
b) Tài nguyên khoáng sản: Phú Lương có nhiều loại khoáng sản Nhìn chung tài nguyên khoáng sản của huyện Phú Lương rất phong phú về chủng loại như:
+ Than mỡ ở Giang Tiên, Phấn Mễ
+ Thán đá ở Bá Sơn, Khánh Hòa
+ Quặng sắt ở Phấn Mệ
+ Quặng titan ở Phủ Lý, Động Đạt
+ Chì ở Phú Đô, Yên Lạc và nhiều nơi khác
+ Kẽm ở Phú Đô, Yên Lạc và nhiều nơi khác
+ Đá vôi, cát, sỏi ở Phú Đô, Yên Lạc…
2.3.1.6 Kết cấu hạ tầng
a, Hệ thống cung cấp điện: Tất cả các hộ dân trong xã hiện nay đã đang được
sử dụng nguồn điện lưới quốc gia
b, Giao thông: Xã Yên Ninh có tuyến giao thông Quốc lộ 3 đi dài 8 km đi qua trung tâm xã thuận lợi cho việc giao thương hàng hóa để phát triển kinh tế
Trang 2920
2.3.1.7 Nguồn nhân lực
Phú Lương là một huyện có nguồn nhân lực dồi dào
Phú Lương có tổng dân số có mặt đến 1/4/2009 là 105.152 người
Xã Yên Ninh có tổng số hộ dân trong xã là 1862 hộ (01/2016), tổng số nhân khẩu là 7093 người, trong đó nữ là 2070 người, được phân bố 16 xóm, xóm ít nhất
31 hộ, xóm nhiều nhất 212 hộ Trên địa bàn xã gồm có 6 dân tộc anh em sinh sống gồm: Tày (70%), Kinh (20%), Nùng, Dao,Sán Chí, Mường chiếm 10%, phong tục chủ yếu theo phong tục người Tày Phần lớn lao động học hết Trung học cơ sở Tỷ
lệ lao động đã qua đào tạo so với tổng số lao động còn thấp 30%
Cơ cấu lao động: Nông, lâm nghiệp chiếm 91% Tiểu thủ công nghiệp, xây dựng chiếm 4%, thương mại, dịch vụ chiếm 5%
2.3.2 Những lợi thế để phát triển kinh tế xã hội
Trong thời gian tới, Yên Ninh sẽ tiếp tục đẩy mạnh thực hiện xây dựng nông thôn mới theo Nghị quyết Trung ương 7 về nông nghiệp, nông thôn Toàn huyện sẽ tiếp tục nỗ lực vượt qua khó khăn, phát huy mạnh mẽ hơn nữa các tiềm năng, lợi thế
để tập trung phát triển kinh tế xã hội theo hướng tăng cường tỷ trọng thương mại - dịch vụ và công nghiệp - TTCN, giảm dần tỷ trọng nông - lâm nghiệp Tập trung nâng cao năng suất, chất lượng, tăng cường sử dụng các giống mới có năng suất cao, có khả năng kháng bệnh tốt; tập trung phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè, quan tâm xây dựng các làng nghề chè… Tập trung thực hiện các giải pháp đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp, thu hút đầu tư Ưu tiên phát triển các ngành nghề huyện có nhiều lợi thế như khai thác khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản, các sản phẩm may mặc, trồng rừng… Nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả của công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn và tăng cường các hoạt đông khuyến công, hỗ trợ xây dựng, phát triển các cơ sở sản xuất, làng nghề trên địa bàn Đồng thời, nghiên cứu và đề xuất một số tuyến du lịch tâm linh - lịch sử kết hợp với du lịch làng nghề
Trang 3021
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài Lan rừng (Orchidaceae spp)
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của các loài Lan làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài
* Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Đề tài được tiến hành từ tháng 1/1/2017 đến tháng 30/5/2017
- Địa điểm nghiên cứu: Tại xã: Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Đặc điểm hình thái, phân loại và phân hạng bảo tồn các loài Lan
- Hình thái thân cây, rễ, lá, hoa quả
- Danh lục loài Lan
- Cấp độ bảo tồn các loài Lan quý hiếm
3.2.2 Đặc điểm phân bố của các loài Lan
- Phân bố theo tuyến
- Phân bố theo độ cao
- Phân bố theo trạng thái rừng
- Các loài Lan người dân thu hái và gây trồng
3.2.3 Một số đặc điểm sinh thái của các loài Lan
- Các loài cây chủ (giá thể) của các loài Lan thường cộng sinh
- Đặc điểm về ánh sáng nơi các loài Lan phân bố
- Đặc điểm nhiệt độ, độ ẩm không khí nơi các loài Lan phân bố
- Đặc điểm về tái sinh của loài
- Đặc điểm đất nơi loài cây nghiên cứu phân bố
+ Đặc điểm lý tính
+ Đặc điểm hóa tính
Trang 3122
3.2.4 Thuận lợi và khó khăn trong công tác bảo tồn và phát triển loài Lan tại khu vực nghiên cứu
3.2.5 Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển loài Lan tại khu vực nghiên cứu
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Các đối tượng rừng cần điều tra
Các loài Lan chủ yếu phân bố trong các trạng thái rừng tự nhiên, đặc biệt là các trạng thái rừng IIIA1, IIIA2, IIIA3, IIIB và trạng thái IV hay trên các vách núi đá
có rừng Vì vậy, địa điểm điều tra nghiên cứu thu thập mẫu được tiến hành trên đối tượng rừng tự nhiên ở các trạng thái trên Cách tiếp cận nghiên cứu phải thực hiện theo phương pháp đa ngành (Phân loại thực vật, Điều tra rừng, Sinh lý thực vật, Sinh thái học, Công nghệ sinh học, Sinh vật cảnh…), từ mô tả đặc điểm hình thái đến đặc điểm di truyền, từ đặc điểm sinh lý, sinh thái đến kỹ thuật nhân giống và gây trồng để bảo tồn
3.3.2 Phương pháp phỏng vấn người dân
Để đánh giá và tìm hiểu sự hiểu biết và sử dụng các loài Lan trong khu vực nghiên cứu, chúng tôi tiến hành chọn các đối tượng phỏng vấn như sau: Những người được phỏng vấn gồm những người đã từng khai thác và sử dụng các loài cây
gỗ, cây thuốc trong khu vực để sử dụng cho sinh hoạt, phục vụ sản xuất cũng như
để trao đổi và mua bán, những người đã từng đi khác thác cây Lan bán cho thương lái Những người am hiểu các loài cây tại khu vực như các cụ già, các cán bộ tuần rừng, cán bộ Kiểm lâm trong khu bảo tồn … điều tra trong dân theo mẫu biểu thống nhất, khi phỏng vấn cho người dân xem cụ thể mẫu loài cây để thu thập các thông tin về giá trị sử dụng, phân bố, … theo phiếu phỏng vấn (phiếu phỏng vấn tại phụ lục 1) Số lượng điều tra 30 phiếu/ khu vực nghiên cứu
3.3.3 Phương pháp điều tra theo tuyến
Khác với đặc điểm phân bố của cây gỗ, các loài Lan phân bố trong rừng tự nhiên thường ở các khe núi, ven các suối nhỏ, nơi có độ tàn che lớn, độ ẩm không khí cao, không khí mát mẻ Một số loài Lan phân bố trên các đai cao, có khí hậu mang tính chất ôn đới
Trang 32- Các tuyến điều tra lan đã lập trong khu vực nghiên cứu gồm 34 tuyến, đi qua 2 xã: Yên Ninh, Yên Lạc (Bảng 5 – Phụ lục 5)
3.3.4 Phân bố theo độ cao
Khi điều tra phân bố lan theo độ cao, do Lan tập trung ở nhiều độ cao khác nhau Để thuận lợi cho nhận xét đánh giá chúng tôi chia độ cao tại khu vực nghiên cứu thành 3 cấp: Cấp I: <300 m, Cấp II: 300 - 400 m, Cấp III: >400 m
3.3.5 Mô tả đặc điểm sinh vật học các loài Lan
Để nhận biết và phân biệt được các loài Lan chúng ta dựa vào đặc điểm hình thái các loài Lan (rễ, thân, lá, màu sắc hoa) Số liệu thu thập được ở bảng ( mẫu bảng 3.1, phụ lục 3)
3.3.6 Điều tra đặc điểm sinh thái học
Trên tuyến khi bắt gặp các loài Lan tiến hành xác định tên loài (sơ bộ), chụp ảnh, điều tra các nhân tố: Ẩm độ, nhiệt độ, độ tàn che, độ cao tuyệt đối vị trí sống của Lan (dưới đất, trên cây sống, trên cây khô, trên kẽ đá ) Với loài Lan sống dưới đất (địa Lan) mô tả thêm chỉ tiêu độ ẩm đất, loại đất
- Nghiên cứu đặc điểm độ tàn che nơi có Lan phân bố tự nhiên: Tiến hành xác định độ tàn che bằng phương pháp xác định điểm
Điều tra theo 2 tuyến song song nhau, mỗi tuyến cách nhau 10m, tuyến dài tới 20m Tại những điểm bắt gặp Lan phân bố, sử dụng dụng cụ đo độ tàn che để xác định
Số liệu thu thập được ở bảng (mẫu bảng 02, phụ lục 4)
a, Điều tra đặc điểm vật hậu học
Tiến hành phỏng vấn (Số phiếu phỏng vấn là 30 phiếu), kết hợp quan sát các pha gồm: thời gian bắt đầu và kết thúc của các pha: ra chồi, ra lá non, ra nụ, nở hoa, thời gian tồn tại của hoa, mùi hương (nếu có) Đối tượng phỏng vấn là người dân
Trang 3324 sống trong rừng, ven rừng, các hộ chơi Lan cảnh, câu lạc bộ hoa phong Lan của các thuộc huyện Phú Lương
b, Thu thập mẫu
Sau khi hoàn thành các nội dung điều tra, mô tả tiến hành thu thập mẫu:
+ Chụp ảnh: Lựa chọn các khóm Lan có hình dáng đẹp, quan tâm chụp ảnh những loài đang nở hoa Số lượng ảnh chụp phải lớn gấp 2 - 3 lần số ảnh dự định làm Atlat ảnh để có điều kiện lựa chọn hình ảnh đẹp
+ Thu mẫu: Mẫu được lấy nguyên vẹn cả thân, lá, rễ, hoa, quả (nếu có) để xác định chính xác tên khoa học và một phần chất hữu cơ bám theo giò Lan Mẫu sau khi thu phải ghi ký hiệu và kẹp lên mẫu, các mẫu được xếp vào hộp cacton và vận chuyển
về khu thuần hóa, lưu giữ Lan (tại Trung tâm nghiên cứu thuỷ sản, Trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên)
c, Định danh loài
Các mẫu sau khi thu thập về tiến hành định danh chính xác tên loài, giống bằng tên khoa học và tên tiếng Việt Sau khi xác định danh tên loài phải mời các chuyên gia về lĩnh vực sinh học, thực vật rừng giám định lại tên loài
Việc định tên được sử dụng theo phương pháp hình thái so sánh Cơ sở để xác định là dựa vào các đặc điểm phân tích từ mẫu vật, các thông tin ghi chép ngoài thực địa, từ đó so sánh với các hình vẽ, bản mô tả trong các tài liệu như Cây cỏ Việt Nam, thực vật rừng Việt Nam, các loài Lan rừng Việt Nam…
3.3.7 Phương pháp xác định nhiệt độ và độ ẩm
Mỗi tháng 3 lần, đo cùng 1 địa điểm có loài Lan trong khu vực nghiên cứu Mỗi lần tiến hành đo nhiệt độ và độ ẩm vào buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều
- Buổi sáng tiến hành đo lúc 8h
- Buổi trưa tiến hành đo lúc 12h
- Buổi chiều tiến hành đo lúc 16h
Số liệu được ghi vào bảng sau:
Trang 3425
Bảng 3.1 Bảng đo nhiệt độ, độ ẩm tai nơi Lan phân bố
3.3.8 Lấy mẫu, bảo quản và phân tích đất
* Lấy mẫu và bảo quản đất
Phương pháp lẫy mẫu tại hiện trường, các dụng cụ lưu giữ mẫu, bảo quản mẫu, vận chuyển mẫu, tiếp nhận mẫu phải tuân thủ theo đúng hướng dẫn trong các TCVN tương ứng
Trong mỗi tuyến xuất hiện các loài Lan (địa Lan), chúng tôi tiến hành đào phẫu diện đất (tại nơi có Lan phân bố), phẫu diện đất mô tả các chỉ tiêu chính sau:
+ Độ dày trung bình tầng đất + Màu sắc
+ Độ ẩm + Độ xốp
+ Tỷ lệ đá lộ đầu, đá lẫn + Thành phần cơ giới
Bảng 3.2 Kết quả phẫu diện đất của các loài địa Lan
Thành phần cơ giới
Trang 355,1 - 5,5 chua ít
5,6 - 6,5 gần trung tính
pH: 7 trung tính
7,1 - 7,5 Kiềm ít 7,6 - 8 Kiềm > kiềm mạnh
3.4 Phương pháp nội nghiệp
Toàn bộ số liệu thu thập xử lý bằng Excel
Trang 3627
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 4.1 Đặc điểm hình thái, phân loại và phân hạng bảo tồn các loài Lan
4.1.1 Đặc điểm hình thái các loài lan
Qua điều tra, đo đếm và quan sát hình thái các loài Lan tại khu vực nghiên cứu ta có kết quả ở bảng 4.1
Bảng 4.1 Đặc điểm hình thái của các loài Lan
to 6 phân, cánh dầy và thơm )
Hoa lớn 2cm, màu đỏ tím có đốm đỏ.)
Hình 4.2 Lan đuôi cáo
Hinh 4.3 Lan phƣợng đỏ
Trang 37và bầu dài khoảng 3 cm Các lá đài hình bầu dục, đỉnh tù, dài 3 - 3,5
cm, rộng 1,2 - 1,3 cm Cằm ngắn, đỉnh tròn, dài khoảng 0,6 cm Cánh hoa hình trứng, mép xẻ răng nhỏ, dài 3 - 4 cm, rộng 1,5 - 1,6 cm Môi màu vàng, hình gần tròn, dài 3 - 3,2
cm, rộng 3,3 - 3,5 cm; mép xẻ răng sâu hoặc có diềm tua phân nhánh, ở giữa có một đốm lớn màu tím đỏ
Cột cao khoảng 0,5 cm, răng cột tù
có cánh hoa màu vàng nâu, mép viền màu vàng chanh Cánh môi màu vàng chanh, gốc màu trắng
Hình 4.5 Vanda rừng
Trang 38Hinh 4.6 Lan kiếm lô hội
Cụm hoa buông xuống, có 10 - 12 hoa Hoa lớn dài trên 3cm, thơm, màu trắng vàng nhạt với các vân đỏ (hoặc màu hồng với các vạch đỏ đậm) Cánh môi có đốm vàng lớn, thùy bên màu trắng với các vạnh màu sậm Cột nhị nhụy màu đỏ
Hình 4.8 Hoàng thảo hương
vani
Trang 39ở nách lá, ngắn có 1 - 2 hoa Hoa lớn màu tím hay pha hồng Cánh môi hình trái xoan, mép răn reo cộn lại, họng có đốm lớn màu đỏ đậm.)
Hinh 4.9 Hoàng thảo đùi gà
Đặc điểm nhận dạng: Lan phụ sinh
Thân dài 70 - 150 cm, hình trụ, dầy 0,5 - 0,8 cm, thõng xuống, lóng dài
2 - 3,5 cm Lá hình mác nhọn, dài
10 - 16 cm, rộng 2 - 4 cm (Cụm hoa bên mọc trên thân còn lá Lá bắc dài 0,5 cm Hoa màu vàng, đường kính 4 - 4,5 cm, cuống hoa
và bầu dài 4 - 5 cm Các lá đài hình mác, đỉnh hơi nhọn, dài 2,4 - 2,6
cm, rộng 1 - 1,2 cm Cằm ngắn, đỉnh tù tròn, dài 0,6 - 0,8 cm Cánh hoa hình trứng, dài 2,3 - 2,4 cm, rộng 1,4 - 1,5 Môi màu vàng hình phễu, khi trải phẳng có hình nửa tròn hoặc gần tròn, dài 2,6 - 2,8 cm, rộng 2,3 - 2,4 cm, ở giữa có 1 hoặc
2 đốm màu tím đỏ; bề mặt phủ lông
Hình 4.11 Hoàng thảo hoa
vàng
Trang 403 - 10cm, rộng 1,5cm Lá 1 chiếc ở đỉnh, cứng, dày thuôn, dài 6- 12cm, đầu tròn.( Cụm hoa mọc trên đốt củ giả, buông xuống, dài 20 - 30cm có
5 - 15 hoa Hoa lớn, 3cm, màu vàng tươi, cánh môi tròn, rộng, mép răn reo, màu vàng đậm hơn và màu cam ở giữa.)
- 3cm, rộng 0,8- 1,2cm (Cụm hoa ở nách lá, dài 1 - 2cm Hoa nhỏ, 1 - 2 chiếc, cánh hoa màu vàng có vạch
đỏ Cánh môi màu tắng nhạt, chia 3 thùy Thùy giữa nhọn, nạc, đỉnh có thùy dài dạng lông chim.) Hình 4.13 Râu ruồi