1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Day chinh ta cho hs lop 3

21 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dạy phân môn chính tả cho học sinh lớp 3
Tác giả Lý Thị Phương Loan
Trường học Tiểu học Trưng Vương Lê Chân
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2011 - 2012
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phßng gi¸o dôc vµ ®µo t¹o quËn Lª Ch©n Phßng gi¸o dôc vµ ®µo t¹o quËn Lª Ch©n Tr­êng tiÓu häc TR­ng v­¬ng ************** Chuyªn ®Ò "D¹y ph©n m«n chÝnh t¶ cho häc sinh líp 3" Gi¸o viªn Lý ThÞ Ph­¬ng Lo[.]

Trang 1

Phòng giáo dục và đào tạo quận Lê Chân

Trờng tiểu học TRng vơng

**************

Chuyên đề

"Dạy phân môn chính tả cho học sinh lớp 3"

Giáo viên : Lý Thị Phơng Loan

TRờng : Tiểu học Trng vơng

Lê Chân - Hải Phòng

năm học 2011 - 2012

Trang 2

Đặt vấn đề

I Lý do chọn đề tài :

Chính tả là một hệ thống cách quy tắc về cách viết thốngnhất các từ của một ngôn ngữ Nói cách khác chính tả là nhữngchuẩn mực của ngôn ngữ viết, đợc thừa nhận trong toàn xã hội,mục đích của nó làm phơng tiện thuận tiện cho việc giao tiếpbằng chữ biết, đảm bảo cho ngời viết và ngời đọc đều hiểuthống nhất những điều đã viết

ở tiểu học, chính là một phân môn có vị trí đặc biệt làquan trọng nhằm thực hiện mục tiêu của môn Tiếng Việt là rènluyện và phát triển năng lực tiếng mẹ đẻ cho học sinh, trong

đó có năng lực viết chữ Phân môn chính tả dạy cho học sinhtri thức và kỹ năng chính tả, phát triển năng lực sử dụng ngônngữ ở dạng viết vào hoạt động giao tiếp Chính tả dạy cách tổchức, kết hợp các chữ đúng quy ớc của xã hội để làm thànhchất liệu hiện thực hoá ngôn ngữ Dạy tốt chính tả cho họcsinh tiểu học là góp phần rèn luyện một trong bốn chức năngcơ bản là các em cần đạt tới

Đó là kỹ năng viết đúng, muốn viết đúng đợc câu văn,

đoạn văn thì trớc hết học sinh phải viết đúng đơn vị từ Việcrèn luyện các quy tắc chính tả, sẽ góp phần hình thành kỹnăng viết đúng đơn vị từ cho học sinh dần dần dẫn đến việcviết đúng câu văn, đoan văn Khi học sinh đã viết đúng, viếtchính xác thì mới có điều kiện học tốt các môn học khác Vàtrên cơ sở đó mà rèn luyện kỹ năng sử dụng Tiếng Việt có hiệuquả trong suy nghĩ và trong giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp

bằng "Ngôn ngữ viết".

Trong thực tế hiện nay, kỹ năng và thói quen viết chính tảcủa học sinh tiểu học cha tốt Một trong những nguyên nhâncơ bản đa đến hiện trạng viết sai chính tả nên hiện nay làhọc sinh đọc, nói sao viết vậy Các em không nắm vững quytắc ghi âm của chữ quốc ngữ và càng ít đợc biết đến một số

Trang 3

mẹo luật của chính tả cơ bản mà đơn giản nên đa số họcsinh tiểu học hay mắc sai lỗi chính tả.

Trong việc thực hiện chơng trình thay sách lớp 3 các mônhọc, các môn học nói chung, môn chính tả nói riêng ở lớp 2 cũngluôn đợc chú trọng Với giáo viên, việc dạy chính tả chỉ dừng ởmức độ truyền đạt hết nội dung của sách giáo khoa qua bàiviết, cha chú trọng đến đặc điểm phơng ngữ từng vùng,từng nơi đang ở

Vậy để giải quyết một phần mâu thuẫn của vấn đề này

trong phạm vi trờng đang dạy, tôi chọn đề tài "Dạy phân môn

Hình thành cho học sinh kỹ xảo chính tả nghĩa là giúpcho học sinh viết đúng chính tả một cách tự động hoá, khôngcần phải trực tiếp nhớ tới các quy tắc chính tả, không cần đến

sự tham gia của ý chí Để đạt đợc điều này, có thể tiến hànhdạy chính tả theo hai cách có ý thức và không có ý thức

- Cách không có ý thức (còn gọi là phơng pháp máy móc,

cơ giới), chủ trơng dạy chính tả không cần biết đến các quy

tắc chính tả, không cần hiểu mối quan hệ giữa ngữ âm vàchữ viết, những cơ sở từ vựng và ngữ pháp của chính tả, màchỉ đơn thuần là việc viết đúng từng trờng hợp từng từ cụthể Phơng pháp này hình thành kỹ xảo chính tả, chính tảdựa trên việc lặp lại các hành động không cần hiểu lý do quyluận của hành động Phơng pháp này nhằm củng cố trí nhớmáy móc ở mức độ nhất định, nhng cách này tốn nhiều thờigiờ, công sức và không thúc đẩy sự phát triển t duy

- Cách có ý thức (còn gọi là phơng pháp có ý thức, có tính

tự giác) chủ trơng cần phải bắt đầu từ việc nhận thức các quy

tắc, các mẹo luật chính tả Trên cơ sở đó, tiến hành luyện từ

và từng bớc đạt tới các kỹ xảo chính tả Phơng pháp này giữ vị

Trang 4

trí quan trọng trong việc giúp học sinh nắm vững các quy tắc,các mẹo luật và quy luật của những cách viết chính tả khácnhau.

Việc hoàn thành các kỹ xảo chính tả bằng con đờng có

ý thức sẽ tiết kiệm đợc thời gian công sức Đó là con đờngngắn nhất mà hiệu quả đem lại cao hơn

Nói tóm lại, hai phơng pháp trên đều có u và nhợc điểmnhững u điểm bên này sẽ khắc phục do nhợc điểm bên kia vàngợc lại Do đó, trong giảng dạy chính tả ở trờng tiểu học cầnphối hợp cả hai phơng pháp, trên cơ sở xác định trọng điểmchính tả của địa phơng để việc rèn chính tả cho học sinh

đạt hiệu quả cao và vững chắc hơn

2/ Cơ sở ngôn ngữ học :

a) Vài nét về chữ viết Tiếng Việt:

- Các dân tộc trên thế giới có nhiều chữ viết khác nhau,song có hai loại hình chữ viết là : chữ viết ghi ý và chữ viếtghi âm

- Chữ viết ghi ý là chữ viết cổ nhất của loài ngời Chữ viếtghi ý không có quan hệ về mặt âm thanh mà chỉ quan hệ vềmặt ý nghĩa của ngôn ngữ Quan hệ giữa ý nghĩa và chữviết ở đây là trực tiếp

VD : Các chữ số 1, 2, 3, …

Các dấu +, -, x, …Thông thờng một chữ ghi ý biểu thị trực tiếp ý nghĩa của

từ, do đó về nguyên tắc có bao nhiêu từ thì phải đặt ra bấynhiêu ký hiệu để ghi Số lợng từ của một ngôn ngữ rất lớn Vìvậy, số lợng ký hiệu để ghi ý nghĩa của nó nhiều vô kể màkhả năng ghi nhớ của con ngời thì có hạn Đây chính là hạn chếcơ bản của kiểu chữ này

Chữ ghi âm : Các chữ tợng hình tuy ít nhiều có tính ghi

âm, về cơ bản vãn là tợng hình biểu ý và con chữ viết ghi

âm thì chỉ chú ý đến việc phá mặt âm thanh của ngônngữ Chữ ghi âm lại có thể chia làm 2 loại : trong ghi âm tiếtgồm các con chữ ghi nguên vẹn các âm tiết trong các chữ tợnghình

Trang 5

VD : Tiếng Nhật.

Trong ghi âm vị gồm các chữ gi từng đơn vị ngữ âm.Chữ viết Tiếng Việt đặt ra dựa trên cơ sở những con chữ LaTinh Chữ Tiếng Việt là chữ ghi âm vị

b) Quan hệ giữa Tiếng Việt và âm :

Nhìn chung chữ viết của Tiếng Việt theo gần sát với ngữ

âm Tiếng Việt Vì thế chữ Việt dễ học, dễ nhớ, dễ viết

c) Những điểm bất hợp lý của bộ chữ viết Tiếng Việt :

- Do lịch sử, ảnh hởng của chữ cái La Tinh, các cố đạo dựavào 26 chữ cái và sáng tạo bằng cách :

+ Dùng những ký hiệu nguyên âm của bộ chữ La Tinh thêmcác dấu phụ vào những ký hiệu đó để tạo thêm những ký hiệukhác

d) Các bất hợp lý cơ bản trong chữ viết chính tả :

Nói chung có nhiều bất hợp lý nhng cơ bản nhất là phụ âm

đầu Do có 1 con chữ biểu thị 2 âm vị

Ví dụ : g /z/ (gì)

/g/ (gà)

Trang 6

Do 1 âm vị biểu diễn nhiều con chữ :

yê : khi có âm đệm, có âm cuối VD : nguyệt

iê : khi có âm đệm và âm cuối VD : tiên/uô/ uô : khi có âm cuối VD : luôn.

ua : khi không có âm cuói VD : mua…

Nh đã nói ở trên, về cơ bản, chính tả Tiếng Việt là chínhtả ngữ âm nghĩa là mỗi âm vị đợc ghi bằng một con chữ Nóicách khác, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với nhau Đọc

nh thế nào sẽ viết thế ấy Trong giờ chính tả, học sinh sẽ xác

định đợc cách viết đúng (đúng chính tả bằng việc tiếp nhận

chính xá âm thanh của lời nói) Viết đúng phải dựa trên cơ sở

đọc đúng

Giữa đọc và viết, giữa tập đọc và viết chính tả có mốiquan hệ mật thiết với nhau, nhng lại có quy trình học sinh tráingợc nhau Nếu tập đọc là chuyển hoá văn bản viết thành âmthanh thì chính tả lại là sự chuyển hoá văn bản dới dạng âmthanh thành văn bản chữ viết Tập đọc có cơ sở chuẩn mực làchính âm, còn chính tả cơ sở là chính tự

Chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm học, về nguyêntắc chung giữa cách đọc và cách viết thống nhất với nhau, nh-

ng thực tế sự biểu hiện của mối quan hệ giữa đọc (phát âm)

và viết (chính tả) khá phong phú đa dạng Cụ thể, chính tảTiếng Việt không dựa hoàn toàn vào cách phát âm thực tế củamột phơng ngữ nhất định nào

Vì vậy, việc xác định những trọng điểm chính tả theo

ph-ơng ngữ của từng vùng là việc làm cần thiết và quan trọng trongviệc rèn luyện chính tả cho học sinh

Trang 7

đọc trớc khi viết chính tả.

Nhìn chung các bài viết đều có số lợng tơng đối phù hợp

với mức độ của học sinh lớp 3 (bài viết khoảng 60 chữ/15 phút).

Sau mỗi bài viết đều có bài luyện tập rất phong phú, đa dạng

để tránh sự đơn điệu, nhàm chán, đồng thời hình thànhcách nói, cách nghĩ, cách làm mềm dẻo, linh hoạt ở học sinh

VD : Điền một ký hiệu vào chỗ trống để hoàn chỉnh 1tiếng (tr hay ch : cuộn òn, ân thật, chậm ễ)

+ Điền một tiếng vào chỗ trống để hoàn chỉnh một từ(rong, dong hay giong: … ruổi, chơi, thong , trống cờmở)

+ Điền một ký hiệu, một tiếng hoặc từ vào chỗ trống đểhoàn chỉnh một câu thơ, câu văn :

Hoa u …ở đầy một vờn đỏ …ắng

… ũ bớm vàng …ơ đãng …ớt bay qua

+ Tìm trong bài đọc (ngoài bài đọc) những tiếng chứacác âm, vần dễ lẫn…

2/ Thực tiễn dạy của giáo viên :

Tiết chính tả ở lớp 3 (thay sách) tuy có sự thay đổi ítnhiều về hình thức và nội dung học Song về quy trình thìkhông có gì thay đổi nhiều Vì vậy, qua các tiết dự giờ thamkhảo, hầu hết các tiết dạy của phân môn chính tả cha đợcgiáo viên đầu t cao mà chủ yếu dựa vào sách giáo khoa làchính Đa số giáo viên đều không chú trọng đến đặc điểmphơng ngữ của vùng miền đang ở và không xác định rõ các lỗichính tả cơ bản của học sinh trong lớp nên việc rèn luyện chính

Trang 8

tả không đi vào trọng điểm ở lớp một số giáo viên ít củng cố

và khắc sâu cho học sinh việc nắm các quy luật, các mẹo luậtchính tả qua bài viết hoặc trong các luyện tập chính tả nên kỹnăng viết đúng chính tả của các em còn rất thấp, nên dẫn

đến những hạn chế về học và viết chính tả của học sinh

3/ Thực tiễn việc học của học sinh :

Trên thực tế, đối với học sinh việc viết chính tả là việc giảimã âm thanh thành chữ viết Các em mới đợc viết chính tả saukhi đã đợc học các âm vần ở lớp 1 và lớp 2, 3, các em đợc rèn kỹnăng viết chính tả với số lợng chữ nhiều hơn Các em cha có ýthức và thói quen viết đúng chính tả nhất là trong các môn tậplàm văn, luyện từ và câu …

ở lớp 3, các em cha có khái niệm nhiều về luật chính tả,mẹo luật và nghĩa của từ nên viết sai chính tả ở các môn họcrất nhiều Ngoài ra, do phát âm cha đúng, nghe cha chuẩn nênkhi viết hay sai Mặt khác, một số em cha cẩn thận khi viết nêncòn để thừa hoặc thiếu nét, thiếu dấu làm tăng lên số lỗichính tả ở bài viết

4/ Thực trạng lỗi chính tả ở địa ph ơng :

Qua dự giờ một lớp 3 của trờng sau khi chấm kiểm tra một

số bài chính tả ở các lớp, tôi đã thống kê đợc lỗi chính tả họcsinh mắc nh sau:

Số âm

tiết sai Số lợngphụ âmtỷ lệ Số lợngvần tỷ lệ Số lợngâm cuốitỷ lệ Số lợngdấu thanhtỷ lệ

75 30 40% 22 29,3% 13 17,3% 10 13,4%

+ Về lỗi phụ âm đầu, học sinh thờng viết sai các cặp phụ

âm đầu l/n; r/d/gi s/x; ng/ngh; gh/g, c/k/q Trong đó lỗi chínhtả tập trung ở các cặp sau : l/n; r/d/gi, tr/ch; s/x (chiếm 70%).+ Về phần vần, học sinh lớp 3 còn lẫn lộn nhiều ở các cặpvần ui - uôi, u - ơu, u - iu, ao - oa, oe - eo (chiếm 75%) hoặcviết sai ở các vần khó nh: uya, uyên, uơ (chiếm 25%)

+ Về âm cuối, lỗi chính tả phổ biến nhất mà các em mắcphải là các cặp âm: ng - nh, n - t chiếm 80% âm cuối

Trang 9

+ Về dấu thanh, lỗi chính tả tập trung chủ yếu vào thanhsắc, ngã hoặc hỏi, nặng Ngoài ra do sơ xuất nên trong khiviết chính tả học sinh đôi khi còn viết thiếu dấu thanh.

5/ Nguyên nhân học sinh mắc lỗi chính tả :

Qua nghiên cứu, phân tích, nguyên nhân chủ yếu dẫn

đến viết sai của học sinh là do phát âm sai Khi phát âmkhông phân biệt l/n, r/d/gi, ch/tr, vần u/iu không phân biệt rõ.+ Do đặc điểm phơng ngữ, học sinh còn phát âm sai cáctiếng có phụ âm đầu là 1 thành n và ngợc lại

VD : Nồng nàn -> lồng làn

Luôn luôn -> nuôn nuôn

Nó -> ló…

+ Ngoài ra học sinh còn phát âm cha chuẩn 1 số phụ âm

đầu nh r/g/gi, tr/ch, s/x nên các em viết lẫn lộn các cặp phụ

âm này

VD : Chống gậy -> trống gậy

Ra -> daXum xuê -> sum suê…

+ Học sinh còn mắc lỗi nhầm lẫn các âm tiết khi phát âmlên giống nhau, nhng phải dựa vào nghĩa của từ để viết đúngchính tả Lỗi này các em mắc nhiều ở các tiếng :

trông -> cái trống + chống -> chống gậy

trèo -> leo trèo + chèo -> hát chèo

Giải quyết vấn đề

Trang 10

bài chính tả đợc trích từ các bài tập đọc vừa học trớc đó hoặc

là nội dung tóm tắt của bài tập đọc

2/ Chính tả âm, vần :

Nội dung cụ thể của bài chính tả âm, vần và luyện viết cáctiếng có âm vần dễ viết sai chính tả do không nắm vững quytắc của chữ quốc ngữ (c/k, g/gh, ng/ngh…) hoặc do ảnh hởngcủa cách phát âm địa phơng (l/n, tr/ch, s/x, d/gi/r)

Các bài tập luyện viết những tiếng dễ viết sai do cách phát

âm địa phơng bao giờ cũng là loại bài tập lựa chọn Mỗi bài cónhững phần nhỏ, a, b, c Giáo viên căn cứ vào đặc điểm phát

âm và thực tế viết chính tả của học sinh để chọn bài tập nhỏcho thích hợp

II Quy trình dạy một tiết chính tả lớp 3 :

1/ Kiểm tra bài cũ (2-3 phút):

- Yêu cầu học sinh làm những bài tập của tiết trớc hoặc

đọc những cặp từ phân biệt cho học sinh viết để bài chínhtả không sai

2/ Dạy bài mới :

a) Giới thiệu bài (1-2 phút).

Trang 11

+ Chấm : có thể chấm từ 10-15 bài hoặc khi học sinh làmbài tập giáo viên tranh thủ chấm bài.

1/ Ph ơng pháp quan sát :

Thông qua thực tế dự giờ ở một số đồng nghiệp về phânmôn chính tả ở một số lớp khác nhau, ở một trình tự thời gian,quan sát việc dạy và học, kiểm tra, khảo sát lại các bài viếtchính tả của học sinh để phát hiện những biến đổi về số l-ợng, chất lợng gây ra do tác động của phơng pháp giảng dạy.Nghiên cứu các bài viết của học sinh để ghi chép lại, rút ranhững vấn đề cần nghiên cứu

2/ Ph ơng pháp hỏi đáp :

Phơng pháp này đợc tiến hành trên cơ sở các câu của thầy

và sự trả lời của học sinh để tìm ra tri thức mới

Cách dạy : Khi soạn bài, giáo viên cần chuẩn bị một hệthống câu hỏi (chú ý hệ thống câu hỏi không đợc vụn vặt, cáccâu hỏi cần tập trung hỏi về nội dung kiến thức của bài học.Phơng pháp này giúp học sinh tham gia vào việc tìm hiểubài một cách tự giác, tích cực, chủ động Nhờ đó các em ghinhớ, khắc sâu Đặc biệt là khi viết chính tả hoặc làm bài tậpkhông bị sai Giáo viên nắm đợc trình độ học tập của họcsinh, từ đó phân loại học sinh và có cách dạy phù hợp với đối t-ợng Khi sử dụng phơng pháp này giáo viên phải chú ý xây dựng

hệ thống câu hỏi để tìm ra biện pháp giải quyết vấn đề

Trang 12

VD : Khi dạy bài chính tả (nghe - viết) : chơi chuyền (tuần1) Giáo viên nêu một số câu hỏi để học sinh ghi nhớ cách trìnhbày bài thơ.

- Bài thơ có mấy dòng thơ (18 dòng)

- Mỗi dòng thơ có mấy chữ (3 chữ)

- Chữ đầu nối dòng thơ phải viết nh thế nào ? (viết hoa)

- Trong bài thơ, những câu thơ nào đợc đặt trong dấungoặc kép? vì sao? (Đó là câu nói của các bạn khi chơi tròchơi này)

- Để viết bài cho đẹp, ta nêu lùi vào mấy ô (4 ô)

3/ Ph ơng pháp thống kê, phân tích, đối chiếu so sánh:

Phân tích ngôn ngữ đợc sử dụng một cách có hệ thốngtrong việc xem xét tất cả các mặt của ngôn ngữ với mục đíchlàm rõ các kiểu ngôn ngữ hình thức cách cấu tạo, ý nghĩa củaviệc sử dụng chúng trong cách nói năng Các dạng phân tíchngôn ngữ, quan sát ngôn ngữ, phân tích ngữ âm, ngữ pháp.Tất cả đều phục vụ cho quá trình dạy chính tả

Qua bài viết chính tả của học sinh, tìm những lỗi chính tảhọc sinh thờng mắc phải, thống kê, phân loại từ đó đề xuất h-ớng cải tiến

VD : Trong bài chính tả (nghe - viết) : Hội đua voi ở TâyNguyên (tuần 25)

Giáo viên cần nếu các tiếng khó cho học sinh phân tíchngữ pháp để tránh viết sai nh : "trúng" trong "về trúng đích"

và "chúng" trong "khen ngợi chúng"

để tự giải quyết các bài tập nhằm rèn luyện các kỹ năng, kỹ

Trang 13

xảo, kỹ năng viết đúng Tuy nhiên khi sử dụng phơng pháp nàygiáo viên phải chú ý đảm bảo về mặt không gian và thời gian.Chọn bài tập phù hợp với từng đối tợng học sinh để tiết dạy cóhiệu quả.

Tóm lại phơng pháp này đợc sử dụng nhiều trong quá trìnhgiảng dạy và phơng pháp này giúp cho giáo viên lập đợc kếhoạch soạn, giảng, thúc đẩy học sinh say mê, chủ động sángtạo, tích cực học tập, khát khao tìm tòi, khám phá, lĩnh hội trithức trong các hoạt động học tập

IV Các giải pháp để nâng cao chất l ợng dạy chính tả :

1/ Điều tra thống kê lỗi chính tả của học sinh khối lớp qua các bài viết.

2/ Để giúp học sinh khắc phục đ ợc lỗi chính tả do phát âm sai cần giúp đỡ các em luyện tập phát âm đúng theo các b ớc sau :

- Học sinh phải nhận diện, phân biệt đợc cách đọc đúnggiữa các cặp âm, vần, dấu thanh còn lẫn lộn Việc nghe vàphân biệt đợc cách phát âm đúng sẽ giúp học sinh có cơ sở

để viết đúng đối với loại chính tả nghe - viết

- Rèn luyện cho học sinh phát âm đúng qua các tiết tập

đọc ở phần luyện đọc và tiết chính tả trong phần luyện viết

đúng trên cơ sở phân tích về mặt ngữ âm học để hìnhthành dần cho học sinh ý thức đọc đúng, nhằm giúp các emviết đúng

VD : Phân biệt các phụ âm đầu d/gi

- Khả năng kết hợp với gi và d trong cấu trúc âm tiết + gi không xuất hiện trong các âm tiết có âm đệm Trênchữ viết, gi không đứng trớc oa, oă, uâ, uy là những kết hợp

âm đệm (viết o hay u) với các âm chính (nguyên âm)

+ d xuất hiện trớc các âm tiết có âm đệm Trên chữ viết,

d có thể đứng trớc oa, oă, uâ, oe, uê, uy VD : đe dọa, kinhdoanh, duyên số, xét duyệt, dọa dẫm, kinh doanh, duy trì, hậuduệ…

Ngày đăng: 13/04/2023, 17:22

w