1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của thực trạng chính tả trên báo viết hiện nay đối với việc dạy chính tả trong nhà trường phổ thông

90 124 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của thực trạng chính tả trên báo viết hiện nay đối với việc dạy chính tả trong nhà trường phổ thông
Tác giả Nguyễn Thị Bảo Trinh
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Đăng Châu
Trường học Đại Học Đà Nẵng - Trường Đại Học Sư Phạm
Chuyên ngành Sư Phạm Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2013
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (2)
  • 2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu (3)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (5)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (5)
  • 5. Bố cục của khóa luận (6)
    • 1.1. Cơ sở khoa học của vấn đề (7)
      • 1.1.1. Đặc điểm ngữ âm tiếng Việt và các nguyên tắc chính tả tiếng Việt (7)
        • 1.1.1.1. Đặc điểm ngữ âm tiếng Việt (7)
        • 1.1.1.2. Các nguyên tắc chính tả tiếng Việt (16)
      • 1.1.2. Đặc điểm chữ viết tiếng Việt và nội dung chính tả tiếng Việt (18)
        • 1.1.2.1. Đặc điểm chữ viết tiếng Việt (18)
        • 1.1.2.2. Nội dung chính tả tiếng Việt (20)
    • 1.2. Cơ sở xã hội của vấn đề (22)
      • 1.2.1. Tình hình “rối” chính tả hiện nay (22)
      • 1.2.2. Đôi nét về thực trạng chính tả trên báo viết (23)
    • 2.1. Về mặt hình thức của từ (25)
      • 2.1.1. Miêu tả việc sử dụng các hình thức của từ (25)
      • 2.1.2. Thống kê thực trạng (34)
    • 2.2. Về mặt dấu câu (35)
      • 2.2.1. Đôi điều cần biết về dấu câu (35)
      • 2.2.2. Thực trạng sử dụng dấu câu trên báo viết (37)
    • 2.3. Về cách viết hoa (44)
      • 2.3.1. Những quy tắc về cách viết hoa (44)
        • 2.3.1.1. Quy tắc về viết hoa nhân danh và địa danh (44)
        • 2.3.2.2. Quy tắc về viết hoa hiệu danh (45)
      • 2.3.2. Thực trạng viết hoa trên báo viết hiện nay (47)
        • 2.3.2.1. Viết hoa địa danh (48)
        • 2.3.2.2. Viết hoa nhân danh (50)
        • 2.3.2.3. Viết hoa hiệu danh (51)
    • 2.4. Về cách viết tắt (53)
      • 2.4.1. Các dạng viết tắt (53)
        • 2.4.1.1. Viết tắt từ ngữ liệu tiếng Việt (53)
        • 2.4.1.2. Viết tắt từ ngữ liệu tiếng Anh (54)
      • 2.4.2. Thực trạng viết tắt trên báo viết hiện nay (56)
        • 2.4.2.1. Viết tắt có chú giải (56)
        • 2.4.2.1. Viết tắt không cần chú giải (58)
    • 2.5. Về cách phiên âm tiếng nước ngoài (62)
      • 2.5.1. Một số quy tắc phiên âm tiếng nước ngoài (62)
      • 2.5.2. Thực trạng phiên âm tiếng nước ngoài trên báo viết (64)
        • 2.5.2.1. Về phiên âm tên riêng tiếng nước ngoài (64)
        • 2.5.2.2. Về phiên âm thuật ngữ tiếng nước ngoài (66)
  • Chương 3: Từ chính tả trên báo viết đến chính tả của học sinh ở trường Phổ thông (67)
    • 3.1. Thiếu thống nhất chính tả trong nhà trường trước áp lực của chính tả báo viết (67)
      • 3.1.1. Sự thiếu sự thống nhất chính tả giữa các báo viết (67)
      • 3.1.2. Sự thiếu thống nhất chính tả giữa báo viết và sách giáo khoa (69)
      • 3.1.3. Ảnh hưởng của báo viết đến thói quen viết chính tả của học sinh (71)
    • 3.2. Một số giải pháp để thống nhất chính tả tiếng Việt trên báo viết qua đó rèn luyện kỹ năng viết chính tả cho học sinh Phổ thông (73)
      • 3.2.1. Cần soạn thảo một “Quy định chính tả ngắn gọn, súc tích và phạm vi ứng dụng toàn xã hội” (74)
      • 3.2.3. Một số giải pháp khác (77)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (81)
  • PHỤ LỤC (83)

Nội dung

Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về thực trạng không thống nhất chính tả và lỗi chính tả trong báo viết đã được thực hiện bởi một số tác giả, chỉ ra những vấn đề nghiêm trọng trong việc tuân thủ quy tắc ngôn ngữ.

Bài báo cáo của Lê Thị Thùy An từ Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM đã chỉ ra rằng chính tả tiếng Việt hiện nay còn gây tranh cãi và thiếu sự thống nhất Đặc biệt, việc sử dụng dấu câu trong văn bản báo chí còn tồn tại nhiều vấn đề cần được xem xét và làm rõ, cho thấy sự cần thiết phải cải thiện cách thức diễn đạt của các nhà báo.

Việc sử dụng dấu câu không hợp lý trong bài viết đã làm giảm hiệu quả truyền đạt và tạo cảm giác nặng nề, khó chịu cho người đọc.

Tác giả đã tiến hành khảo sát cách sử dụng dấu câu trên các trang báo trực tuyến, chỉ ra những bất nhất và lỗi thường gặp trong các bài báo Từ đó, tác giả đưa ra những đề xuất tích cực nhằm cải thiện tình hình này.

Bài báo "Quy định chính tả của một số báo và việc áp dụng những quy định đó vào thực tiễn báo chí" của tác giả Lê Thị Thùy An và Dương đã phân tích các quy định chính tả hiện hành và cách thức chúng được áp dụng trong lĩnh vực báo chí Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tiêu chuẩn chính tả mà còn nêu bật tầm quan trọng của việc tuân thủ các quy định này trong việc nâng cao chất lượng nội dung báo chí.

Tại Hội thảo Khoa học Quốc gia “Xây dựng chuẩn mực chính tả thống nhất trong nhà trường và trên các phương tiện truyền thông đại chúng”, Thị My Sa từ Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM đã chỉ ra sự sai lệch và thiếu thống nhất giữa các quy định của các tờ báo và thực tiễn áp dụng Cùng quan điểm, Huỳnh Thị Hồng Hạnh đã trình bày báo cáo về quy định viết hoa tên các cơ quan, tổ chức, nêu rõ thực trạng và đề xuất các giải pháp Bên cạnh đó, còn có bài báo cáo của tác giả Trương Thị Mỹ.

Bài viết "Một số lỗi thường gặp trên báo mạng" đã chỉ ra vấn đề nghiêm trọng về sự thiếu thống nhất và sai chính tả trên các phương tiện truyền thông, đặc biệt là trong báo viết.

Hiện nay, vấn đề chính tả tiếng Việt của học sinh phổ thông đang được quan tâm, cùng với các phương pháp rèn luyện kỹ năng viết chính tả cho các em Nhiều nghiên cứu của các tác giả đã chỉ ra những khó khăn và giải pháp hiệu quả trong việc cải thiện kỹ năng này.

Theo nghiên cứu của Lê Văn Nựu trong "Lược khảo Việt ngữ", việc luyện phát âm đúng trong giờ tập đọc giúp học sinh sửa chữa sai lầm và viết đúng tự nhiên Khi đã phát âm chính xác từng vần, từng tiếng, việc viết sẽ trở nên dễ dàng và không còn khó khăn.

Tác giả Phan Ngọc trong “Chữa lỗi chính tả cho học sinh” cũng khẳng định:

Cách chữa lỗi phát âm phổ biến nhất là luyện tập để nói đúng Tuy nhiên, tác giả cho rằng phương pháp này giống như "đặt cái cày trước con trâu", tức là chưa thực sự hiệu quả trong việc khắc phục lỗi.

Để phát âm đúng, học sinh cần nắm vững chính tả và nhận diện những từ mình phát âm sai Việc học viết chính tả chính xác sẽ giúp học sinh tiến đến việc phát âm chuẩn xác hơn.

Năm 1994, Lê Trung Hoa đã biên soạn cuốn “Mẹo luật chính tả”, trong đó tổng hợp và phát triển 36 mẹo luật chính tả dựa trên những thành tựu trước đó Ngoài ra, các giáo trình Tiếng Việt thực hành cũng cung cấp nhiều mẹo luật chính tả, với sự đóng góp của các tác giả như Hà Thúc Hoan, Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp.

Có thể thấy rằng, các bài nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc phản ánh thực trạng

Hiện nay, vấn đề "rối" chính tả trên báo viết đang thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội, đặc biệt là qua khảo sát về lỗi chính tả của học sinh phổ thông Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện tại mới chỉ tập trung vào một hoặc hai tiêu chí, mà chưa có công trình nào khảo sát toàn diện các yếu tố như hình thức từ, dấu câu, viết hoa, viết tắt và phiên âm tiếng nước ngoài Điều này dẫn đến việc chưa phản ánh đầy đủ ảnh hưởng của tình trạng bất nhất về chính tả trên báo viết đối với thói quen chính tả của học sinh.

Phương pháp nghiên cứu

Tiến hành thu thập ngẫu nhiên các bài viết từ báo in và trang báo điện tử, sau đó phân tích và đánh giá thực trạng chính tả trên các ấn phẩm báo chí hiện nay.

- Phương pháp thống kê ngôn ngữ học:

Sau khi nghiên cứu và áp dụng phương pháp thống kê ngôn ngữ học, chúng ta có thể phát hiện các quy luật kết hợp và mối quan hệ giữa các đơn vị ngôn ngữ trong cùng một cấp độ Phương pháp này giúp cung cấp cái nhìn khách quan về thực trạng chính tả trên báo in Chỉ có thông qua thống kê, chúng ta mới có thể hiểu rõ vấn đề cần khảo sát Các đơn vị trong hệ thống ngôn ngữ thể hiện sự đa dạng trong hoạt động ngôn ngữ, và sự khác biệt này còn phụ thuộc vào phong cách, địa phương và cá nhân cụ thể Do đó, việc nghiên cứu ngôn ngữ bằng phương pháp thống kê là cần thiết để nắm bắt được những biến thể trong hoạt động ngôn ngữ.

Phương pháp này được sử dụng để phân tích và đánh giá các tư liệu liên quan đến hiện tượng nghiên cứu, nhằm cung cấp cái nhìn khách quan về thực trạng chính tả hiện nay trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là báo viết Chúng tôi áp dụng các thao tác như phân loại, tổng hợp, miêu tả và so sánh đối chiếu để làm rõ vấn đề.

- Phương pháp tổng hợp, đánh giá:

Phương pháp này tổng hợp kết quả khảo sát thực tế để đưa ra những đánh giá và nhận định khách quan về vấn đề nghiên cứu, từ đó xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp hiệu quả.

Bố cục của khóa luận

Cơ sở khoa học của vấn đề

1.1.1 Đặc điểm ngữ âm tiếng Việt và các nguyên tắc chính tả tiếng Việt

1.1.1.1 Đặc điểm ngữ âm tiếng Việt

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người, tồn tại dưới hai hình thức là âm thanh và chữ viết Chữ viết là biểu hiện của âm thanh trong ngôn ngữ, do đó, ngữ âm đóng vai trò cốt yếu trong việc bảo tồn sự trong sáng của tiếng Việt Việc nắm vững hệ thống ngữ âm tiếng Việt giúp chúng ta nói và viết đúng ngôn ngữ này Mặc dù nghe có vẻ đơn giản, nhưng không phải ai cũng có thể sử dụng tiếng Việt một cách chính xác và thành thạo Hơn nữa, hiểu biết về ngữ âm còn hỗ trợ trong việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và nhiều lĩnh vực khác.

Âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất trong tiếng Việt, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống ngữ âm của ngôn ngữ này Tiếng Việt là ngôn ngữ phân tiết tính, với các âm tiết được tách bạch rõ ràng trong dòng lời nói Âm tiết được hiểu là chuỗi lời nói được phát ra thành những mạch khác nhau, từ lớn đến nhỏ Đây là “đơn vị ngữ âm tự nhiên mà bất cứ người bản ngữ nào cũng có thể nhận ra” và là đơn vị ngữ âm dễ nhận diện nhất Ví dụ, câu “Hồ Chí Minh muôn năm” bao gồm 5 âm tiết.

Có thể nói rằng âm tiết là sự biểu hiện tập trung nhất, đầy đủ nhất những đặc điểm tiếng Việt về mặt ngữ âm

Âm tiết tiếng Việt có đặc điểm đơn lập, với ranh giới âm tiết cố định, đồng thời ranh giới này trùng với ranh giới hình vị.

Âm tiết tiếng Việt được xác định rõ ràng trong chuỗi lời nói và không có hiện tượng tách rời âm tiết như trong ngôn ngữ biến hình Ranh giới âm tiết trùng với ranh giới hình vị, nghĩa là mỗi âm tiết tương ứng với một hình vị Âm tiết không phải là một khối đồng đặc mà có thể phân tách thành năm thành tố: thanh điệu, âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối, mỗi thành tố đảm nhận một chức năng riêng Các thành tố này được sắp xếp theo thứ lớp, với âm đầu, phần vần và thanh điệu ở bậc thứ nhất, và âm đệm, âm chính, âm cuối ở bậc thứ hai.

Cấu trúc 2 bậc của âm tiết

Trong chuỗi lời nói, con người phát ra âm thanh không chỉ thành các mạch khác nhau mà còn có thể phân tách thành những khúc đoạn âm thanh nhỏ nhất, gọi là âm vị, giúp phân biệt ý nghĩa và nhận diện từ Từ mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt và khái niệm âm vị, chúng ta có thể tìm hiểu các nguyên tắc ghi thành phần âm vị trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt, bắt đầu với âm đầu.

Âm đầu có vai trò quan trọng trong việc mở đầu âm tiết và phân biệt các cách mở đầu khác nhau Dựa vào các âm vị phụ âm được sử dụng, tiếng Việt có tổng cộng 22 phụ âm đầu.

Để phân biệt 22 phụ âm đầu tiếng Việt, ta dựa vào phương thức phát âm và bộ máy cấu âm Phương thức phát âm bao gồm ba trường hợp: tắc (gồm phụ âm tắc, phụ âm mũi, phụ âm bật hơi), xát (gồm phụ âm xát và phụ âm bên), và rung Về bộ phận cấu âm, có các loại phụ âm như phụ âm môi, phụ âm đầu lưỡi, phụ âm mặt lưỡi, phụ âm cuối lưỡi, và phụ âm họng.

Bảng kê phụ âm đầu Điểm cấu âm

Bật hơi t’ Ồn Không bật hơi

Chữ viết tiếng Việt là hệ thống ghi âm sử dụng chữ cái, trong đó mỗi âm vị đầu được biểu thị bằng một ký hiệu riêng Một số âm vị được ghi bằng một chữ duy nhất, trong khi những âm vị khác có thể được thể hiện qua hai hoặc ba hình thức chữ viết khác nhau.

16 /k/ c + nguyên âm hàng sau: a, u, o, ô, ă, â k + Nguyên âm hàng trước: i, e, ê, iê q + âm đệm /w/

17 /ŋ/ ngh + nguyên âm hàng trước: i,ê, e, iê ng + nguyên âm hàng sau: u, ô, o, a, ă, â, uô

19 /γ/ gh + nguyên âm dòng trước g + nguyên âm dòng sau

Âm đệm, hay âm đầu vần, là yếu tố tròn môi xuất hiện đồng thời với âm đầu vần và lan tỏa đến đỉnh âm tiết Chức năng chính của âm đệm là tạo ra sự trầm hóa âm sắc.

Khi có 11 âm tiết với thành phần âm vị giống nhau, âm đệm vào âm tiết nào sẽ làm âm tiết đó trở nên trầm hơn Chẳng hạn, khi so sánh hai âm tiết như "tan" và "toan", hay "xo" và "xoa", ta có thể thấy rõ sự khác biệt này.

Trong tiếng Việt, âm đệm duy nhất là bán âm | w |, có phẩm chất tương tự như nguyên âm | u | nhưng đóng vai trò là âm đệm Khi phát âm, bán âm | w | thường bị lược đi so với nguyên âm chính | u | Khác với nguyên âm | u |, âm đệm | w | không thể tạo thành âm tiết độc lập và không kết hợp với thanh điệu Ví dụ: u đầu, bánh ú, ú tìm…

Trên chữ viết bán âm | w | là một âm nhưng lại được biểu thị bằng hai hình thức viết khác nhau Cụ thể là:

“u” xuất hiện trước các nguyên âm: i, iê (ya), ơ, â

Ví dụ: nhụy, hươ, tuệ, chuẩn, khuya…

“o” xuất hiện trước ba nguyên âm: a, ă, e

Âm chính, hay âm giữa vần, là âm tố chủ yếu và hạt nhân của âm tiết, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành âm sắc của âm tiết Đây là vị trí không thể thiếu trong âm tiết, và luôn được đảm nhận bởi âm vị nguyên âm.

Có thể nói rằng có 16 đơn vị âm vị cho các nguyên âm tiếng Việt Trong đó có 13 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi

Các nguyên âm được phân biệt với nhau ở các tiêu chí sau:

- Độ dài của nguyên âm

- Âm sắc khi phát ra nguyên âm

Ta có thể tóm tắt các tiêu chí vừa nêu bằng bảng kê nguyên âm sau đây

Vị trí lưỡi Độ mở miệng

Nguyên âm hàng sau không tròn

Nguyên âm hàng sau tròn

Rộng a ă Âm sắc Bổng Trung hòa Trầm

Trong chữ viết, nguyên âm thường được biểu thị bằng một hình thức, nhưng cũng có những trường hợp chúng được thể hiện qua hai, ba hoặc bốn hình thức khác nhau.

1 | i | “y” khi trước nó có âm đệm hay một mình làm thành âm tiết, ngoại trừ “í ới”

“i” trong những trường hợp còn lại nhưng cũng có trường hợp sau nó không có âm cuối có khi ghi là “y” có khi ghi là

“i” Ví dụ: lý lẽ (lí lẽ), hy (hi)

3 | ε | “e” khi sau nó không có “nh”, “ch” (kèn, vén)

4 | | “a” khi sau nó có “nh”, “ch” (anh ách)

5 | | “iê” khi trước nó có âm đầu và sau có âm cuối (tiêu, hiền…)

“ia” khi trước nó không có âm đệm, sau không có âm cuối

(chia lìa, tía lia…) “yê” khi trước nó có âm đệm, sau nó có âm cuối hoặc chỉ có âm chính và âm cuối (truyền thuyết, uyên, yêu…)

“ya” trong trường hợp trước nó có âm đệm, sau nó không có âm cuối (khuya…)

8 | | “ô” trong trường hợp từ “quốc”

10 | ă | “a” khi sau nó có “u” và “y” (nhau, nhảy…)

“ă” trong các trường hợp còn lại (lăn tăn…)

11 | | “ươ” khi có âm cuối (mượn, vườn tược…)

“ưa” khi sau nó không có âm cuối (lưa thưa…)

14 | ɔ | “o” khi sau nó không có | k |, | ŋ | (lon ton, ngon lành…)

“oo” khi sau nó có | k |, | ŋ | (oong oóc, cái xoong…)

16 | | “uô” khi sau nó có âm cuối (cuối, tuôn…)

Âm cuối trong tiếng Việt là âm vị kết thúc âm tiết, giúp phân biệt các cách kết thúc khác nhau của âm tiết Tiếng Việt có tổng cộng 8 âm vị âm cuối, được phân loại dựa trên các tiêu chí nhất định.

- Về phương thức cấu âm

Ta có thể lập ra bảng sau:

Phụ âm cuối Tắc (vô thanh) - p - t - k

Bán âm cuối Vang (không mũi) - u - i

Về sự tương ứng giữa ký hiệu và chữ viết

T Âm vị Chữ cái Ghi chú

- xuất hiện sau chữ cái ghi nguyên âm (âm chính) trong các âm tiết mang thanh sắc{/}, thanh nặng {.}

- xuất hiện sau chữ cái ghi nguyên âm (âm chính) trong các âm tiết mang thanh sắc{/}, thanh nặng {.}

- xuất hiện sau chữ cái ghi nguyên âm (âm chính) trong các âm tiết mang thanh sắc{/}, thanh huyền{\}, thanh hỏi{?}, thanh ngã{ ~ }, thanh nặng {.} và thanh không

- xuất hiện sau chữ cái ghi nguyên âm (âm chính) trong các âm tiết mang thanh sắc{/}, thanh huyền{\}, thanh hỏi{?}, thanh ngã{ ~ }, thanh nặng {.} và thanh không

- xuất hiện trong các âm tiết (trừ các âm tiết có âm chính là nguyên âm hàng trước: /i/, /e/, /ε /, /ie/:các, cóc)

- Xuất hiện trong các âm tiết có âm chính là nguyên âm đơn hàng trước: /i/, /e/, /ε/: ích, ếch, ách

- Xuất hiện trong các âm tiết (trừ các âm tiết có âm chính là nguyên âm hàng trước:/i/ /e/, /ε /: tung, tông, túc )

- Xuất hiện trong các âm tiết có âm chính là nguyên âm đơn hàng trứớc: /i/, /e/, /ε /: inh, kênh, xanh

- Bán âm cuối gồm có:

TT Âm vị Chữ cái

- "u" ghi bán âm cuối /u/ trong các âm tiết có các nguyên âm (trừ /a/, / ε /) như: cau, đâu, nêu, niêu, tiu nghỉu

- "o" ghi bán âm cuối /u/ trong các âm tiết có âm chính là nguyên âm /a/, / ε / như: cao, chèo, béo, đảo

Âm cuối "i" xuất hiện trong các âm tiết có nguyên âm khác ngoài /ă/ và /γ/, ví dụ như trong các từ mai, tôi, cúi, hoài Ngược lại, âm "y" chỉ được sử dụng sau nguyên âm /ă/ và /γ/, như trong các từ cay, hay, cây, đẩy, ngoe nguẩy, hoặc trong các vần ây và ay, chẳng hạn như bấy nay và lay hoay.

Cơ sở xã hội của vấn đề

1.2.1 Tình hình “rối” chính tả hiện nay

Vào ngày 5-3-1984, Bộ Giáo dục đã ban hành Quyết định 240/QĐ quy định về chính tả và thuật ngữ tiếng Việt, đánh dấu bước đầu tiên trong việc chuẩn hóa tiếng Việt tại Việt Nam Sau hơn 20 năm, nhiều quy định về văn bản tiếng Việt đã được ban hành, điều này lẽ ra nên được thống nhất ngay từ đầu Các quốc gia phát triển thường chú trọng vào việc thống nhất chính tả và áp dụng Luật ngôn ngữ thống nhất để phổ biến trong cộng đồng Việt Nam đã trải qua nhiều lần thay đổi chuẩn chính tả, bắt đầu từ năm 1984, tiếp theo là năm 2002 với quy định tạm thời về chính tả trong sách giáo khoa mới, và năm 2003 với quy định tạm thời về viết hoa tên riêng trong sách giáo khoa.

Ngày 3 và 4-5-2000, Hội nghị toàn thể đã chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam và ban hành “Quy tắc chính tả và phiên chuyển tiếng nước ngoài” riêng cho tiếng Việt Để giải quyết các quy định phức tạp, Bộ Nội vụ đã đưa ra “Dự thảo” về “Quy định viết hoa và phiên chuyển tiếng nước ngoài trong văn bản tiếng Việt” vào tháng 6-2006, nhằm áp dụng trong lĩnh vực tài chính Gần đây, vào ngày 21-12, Báo Thanh Niên, Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), và Trường ĐH Sài Gòn đã tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia về việc xây dựng chuẩn mực chính tả thống nhất trong giáo dục và truyền thông Hội thảo đã đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng như việc bổ sung các con chữ f, j, w, z vào bảng chữ cái tiếng Việt, mối quan hệ giữa tiếng nói và chữ viết, và cần điều chỉnh chữ viết để gần hơn với phát âm hiện nay của người Việt Bên cạnh đó, cũng có các vấn đề liên quan đến cách viết y và i, cũng như việc sử dụng dấu.

23 thanh cũng như quy định về viết hoa tên cơ quan, tổ chức và cách phiên âm tiếng nước ngoài

Việc sử dụng thống nhất chính tả tiếng Việt gặp nhiều rắc rối do có quá nhiều quy định, dẫn đến nhầm lẫn trong xã hội mỗi khi có quyết định thay đổi GS, TS ngôn ngữ học Trần Trí Dõi đã chỉ ra một ví dụ điển hình: chân tượng đài Lý Thái Tổ ở Hà Nội ghi “Lý Thái Tổ”, trong khi một trường trung học ở Nha Trang lại có bảng tên “Lý Tự Trọng”.

Sau Quyết định 240/QĐ ngày 5-3-1984 của Bộ Giáo dục về chính tả, sách giáo khoa do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành đã cho phép viết “Lí Thái Tổ” và “Lí Tự Trọng” Một ví dụ thú vị là một ông bố thời “cựu học” đã khẳng định với con rằng viết “hi sinh” và “vật lí” là sai, phải viết “hy sinh” và “vật lý” mới đúng, đồng thời ông đã sử dụng cuốn sách “lưu cửu” để minh chứng cho quan điểm của mình.

“hiện đại” ra, nói đây, từ nào cũng viết i “đàng hoàng”, bố thì cứ “bảo lưu” mãi

Cuốn sách nổi tiếng của nhà văn Tây Ban Nha Cervantes, với nhân vật chính Đôn Kihôtê, đã gây ra sự nhầm lẫn trong cách viết tên, từ Đôn Ki-hô-tê đến Đông-ki-sốt Tương tự, tên các loài động vật cũng có sự khác biệt trong cách viết hoa và viết thường như Hươu, Hổ, Voi hay nai, gấu, chồn Trước thực trạng "rối rắm" của chính tả tiếng Việt, người đọc cần tìm hiểu và áp dụng quy tắc chính xác để tránh nhầm lẫn.

1.2.2 Đôi nét về thực trạng chính tả trên báo viết

Theo một báo cáo gần đây về “Tình hình chính tả văn bản tiếng Việt” do

Viện Công nghệ Thông tin - ĐH Quốc gia Hà Nội và Công ty VieGrid đã công bố kết quả khảo sát 177 tổ chức trong tháng 6/2010, cho thấy tỷ lệ lỗi chính tả trung bình của văn bản tiếng Việt lên tới 7.79%, cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn 1% do các chuyên gia ngôn ngữ đề ra và gấp 77 lần so với tiêu chuẩn quốc tế 0.1% Đặc biệt, khu vực báo chí truyền thông có tỷ lệ lỗi chính lên tới gần 10%, cho thấy tình trạng đáng báo động trong việc sử dụng ngôn ngữ.

Việt Nam, cơ quan truyền thống lớn của Chính phủ, dẫn đầu về tỷ lệ lỗi chính tả với hơn 30% Các báo điện tử như Vnexpress, Việt báo, và báo điện tử 24h cũng ghi nhận tỷ lệ lỗi trên 20% Tuy nhiên, sai lỗi chính tả là vấn đề phổ biến mà ai cũng gặp phải, từ trung tâm Thủ đô cho đến các sự kiện lớn như quốc lễ Hùng Vương, thậm chí còn xuất hiện trong "Vở luyện tập Tiếng Việt 1" của NXB Đà Nẵng.

Cuốn "Vở tiếng Việt thực hành 1" do NXB Giáo dục phát hành và TS Trần Thị Minh Phương chủ biên đã gặp phải một số lỗi sai Tương tự, cuốn "Vở ô ly có viết chữ mẫu" cũng không tránh khỏi những vấn đề này.

NXB Mỹ thuật, trong phần lấy ví dụ cho vần "ướt" đã dẫn minh họa kèm theo là

"thướt đo" Nhiều phụ huynh đọc xong không hiểu nghĩa của từ "thướt đo" là gì

Trong cuốn "Bài tập thực hành tiếng Việt 2" của NXB Đại học Sư phạm, do Nguyễn Hải Mi và Trần Thị Hồng Thắm chủ biên, đã xuất hiện lỗi sai từ "năn nỉ" thành "năng nỉ" Điều này cho thấy tỷ lệ lỗi chính tả trong cộng đồng khá cao, gấp 8 lần so với tiêu chuẩn, đặc biệt trong lĩnh vực báo chí và truyền thông với tỷ lệ gần 10% Theo thống kê, lỗi chính tả phổ biến nhất là viết sai các phụ âm và nguyên âm, đặc biệt là nhóm phụ âm đầu như tr/ch, s/x, r/gi/d.

Nhà báo thường viết sai chính tả các từ như "chia sẻ" thành "chia xẻ", "bổ sung" thành "bổ xung", "vô hình trung" thành "vô hình chung", "bất chắc" thay vì "bất định", và "giã biệt" thành "dã biệt" Những lỗi này có thể gây hiểu lầm và ảnh hưởng đến chất lượng bài viết.

Trong tiếng Việt, có nhiều lỗi sai thường gặp liên quan đến việc sử dụng nguyên âm, dẫn đến việc hiểu sai nghĩa của từ Ví dụ, "tham quan" thường bị viết nhầm thành "thăm quan", hay "lập lại" bị viết sai thành "lăp lại" Ngoài ra, "hằng ngày" cũng thường bị nhầm lẫn, cần chú ý để sử dụng chính xác.

“thập niên – thập kỷ”,… Cá biệt, một số nhà báo còn nhầm lẫn giữa các từ xuất/suất và giành/dành…

Nhiều từ đo lường viết tắt như km (ki lô mét), kg (ki lô gam), ha (héc ta) thường được sử dụng không chuẩn mực Bên cạnh đó, dấu câu, đặc biệt là dấu phẩy (,), cũng thường bị sử dụng không chính xác Lỗi sai liên quan đến từ Hán Việt rất phổ biến, với các từ như “yếu điểm” (điểm yếu), “vấn nạn” (vấn đề tệ nạn) và “sáp nhập” (sát nhập) thường xuyên gặp phải.

Theo thông tin từ một đài truyền hình khu vực Nam Bộ, giá đậu que hiện đang là 5000 đồng/ký Tuy nhiên, trong “Từ điển tiếng Việt”, thuật ngữ “đậu que” không được đề cập, mà chỉ có “đậu cô ve”, mô tả loại đậu có quả dẹp, rộng bản và khi còn non có màu xanh lá mạ (Từ điển tiếng Việt - NXB Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học - 1997, trang 292).

Có thể do cách đọc theo phương ngữ Nam bộ nên “cô ve” thành “que” chăng ?

Đậu cô ve đang được nông dân trồng phổ biến và sử dụng làm thực phẩm hàng ngày Tuy nhiên, nhiều tờ báo mắc lỗi chính tả và chưa thống nhất trong quy định về chuẩn chính tả, dẫn đến tình trạng viết không đồng nhất.

CHƯƠNG HAI: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG CHÍNH TẢ TRÊN

Về mặt hình thức của từ

2.1.1 Miêu tả việc sử dụng các hình thức của từ Để cho việc khảo sát mang tính khách quan và độ tin cậy cao, chúng tôi đã chọn ngẫu nhiên 50 bài báo trên 3 trang báo điện tử là: Vnexpress (Vnexpress.net),

VN Thư quán (vnthuquan.net), 24h (24h.com.vn) Như vậy, tổng cộng có tất cả

Khảo sát 50 bài viết trên trang Vnexpress.net cho thấy nhiều lỗi sai về hình thức từ, bao gồm các lỗi liên quan đến phụ âm đầu, phần vần và thanh điệu.

Trong một khảo sát 50 bài báo, có 10 bài mắc lỗi về phụ âm đầu, với các âm thường gặp sai gồm: /s/, /x/, /tr/, /ch/, /d/, /r/, /gi/, /ngh/, và /ng/ Đặc biệt, các âm /s/, /x/, /tr/, và /ch/ xuất hiện với tỷ lệ sai sót cao hơn.

Wang Hanling, chuyên gia hải quân từ Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, nhận định rằng hoạt động của ông Tập và cuộc tập trận hải quân có thể gửi đi một thông điệp mạnh mẽ đến các quốc gia khác.

26 nước đang có tranh chấp chủ quyền, mặt khác cổ súy ngư dân Trung Quốc trên các vùng biển đó”

(Nguồn Vnexpress.net, thứ sáu, 12/4/2013, 10:33 GMT+7)

Chị kẻ lừa đảo giả danh đã nhờ tôi mua card điện thoại Mobifone để tặng bạn, cung cấp đường link hình gia đình khiến tôi không nghi ngờ Tôi đã gọi điện về Việt Nam nhờ bạn mua 2 triệu đồng tiền card cho chị.

(Nguồn Vnexepress.net, thứ tư, 14/3/2012, 11:25 GMT+7)

(3) “Doanh nghiệp bất động sản mong ngân hàng siết nợ”

(Nguồn Vnexpress.net, thứ hai, 8/4/2013, 03:04 GMT+7)

Độ an toàn là mối quan tâm hàng đầu của tôi Dù sản phẩm đã hoạt động nhiều năm mà không xảy ra tai nạn, nhưng rủi ro vẫn luôn tiềm ẩn Nếu người ta nhìn nhận cầu Rồng như một con rắn hay con lươn, việc nâng cao thêm một hai thước cũng không thay đổi được bản chất Hơn nữa, khi đầu rồng được ngẩng cao, hình dáng của nó không còn mang ý nghĩa bay lượn mà lại giống như đang dừng lại.

(Nguồn Vnexpress.net, thứ sáu, 5/4/2013, 11:16 GMT+7) Dưới đây là danh sách số từ mắc lỗi phụ âm đầu với tỷ lệ cao của báo

Mắc lỗi trong việc sửa lỗi có thể cổ súy cho hành vi siết nợ, điều này vô hình chung dẫn đến sự xum họp không đầy đủ và bỏ sót những vấn đề quan trọng Việc xử sự không đúng cách có thể tạo ra những hậu quả nghiêm trọng trong các tình huống này.

27 trôi giạt nghe phong phanh trôi dạt nghe phong thanh

Phần vần trong ngôn ngữ bao gồm âm đệm, âm chính và âm cuối, trong đó lỗi thường gặp chủ yếu tập trung ở âm đệm và âm chính Một số âm chính thường mắc lỗi bao gồm | i |, | e |, | ω |, | γ | và | ɔ |.

Trong bối cảnh khác, sự chênh lệch về tầm vóc giữa Real và Man City có thể đã khiến Real trở thành một "ông ngáo ộp", khiến các cầu thủ trẻ e ngại ngay từ khi trận đấu chưa bắt đầu Tuy nhiên, điều này không còn phù hợp khi nói về trận đấu giữa Real và Man City hôm nay.

(Nguồn Vnexpress.net, thứ ba, 18/09/2012 10:18 GMT+7)

Theo tiết lộ từ các bệnh nhân nam tại phòng khám nam khoa, nhiều người "rủ cờ" vì những lý do khá đặc biệt, như vợ chê bụng bia, bị bắt phải cọ nhà vệ sinh, hoặc bị cấm vận trong thời gian dài.

(Nguồn Vnexpress.net, thứ hai, 22/08/11 06:30 GMT+7)

Cặp vợ chồng một thời sẽ tái ngộ trên sân khấu sau hai năm chia tay, trong đêm nhạc “Lắng nghe mùa thu vàng” diễn ra vào ngày 1-2 tháng 10 tại Cung Văn hóa Hữu nghị, Hà Nội.

(Nguồn Vnexpress.net, thứ năm, 15/09/2011 07:30 GMT+7)

Trong quá trình điều trị vết thương do vụ tấn công và cưỡng hiếp tại bệnh viện ở Delhi, cô gái 23 tuổi đã hồi tỉnh và kể lại sự việc như lời trăng trối cuối cùng trước khi qua đời.

(Nguồn Vnexpress.net, thứ bảy, 12/1/2013, 09:30 GMT+7) Sau đây là một số từ viết sai âm đệm và âm chính của trang Vnexpress.net

Từ mắc lỗi Sửa lỗi

Âm đệm ngáo ộp oái ăm khuếch đại Âm chính, gởi cung nghinh trong thưở trao dồi Âm cuối cứng ngắt, trăng trối và sát nhập.

Khảo sát 50 bài viết trên trang Vnexpress.net, chúng tôi phát hiện nhiều lỗi liên quan đến thanh điệu, chủ yếu là sai về thanh hỏi và thanh ngã.

- “Cám ơn anh vì đã chấp nhận quá khứ của em”

(Nguồn Vnexpress.net, thứ bảy, 2/3/2013, 09:19 GMT+7) Bảng danh sách các từ mắc lỗi phổ biến

Từ mắc lỗi Sửa lỗi khinh dễ dễ ngươi cám ơn riêng lẽ hổ trợ nghĩ ngơi khinh dể dể ngươi cảm ơn riêng lẻ hỗ trợ nghỉ ngơi

Khảo sát 50 bài viết trên trang vnthuquan.net đã chỉ ra một số lỗi hình thức từ ngữ, bao gồm các sai sót về phụ âm đầu, phần vần và thanh điệu.

Về mặt dấu câu

2.2.1 Đôi điều cần biết về dấu câu

Dấu câu trong từ điển song ngữ và sách ngôn ngữ học ở Việt Nam thường được dịch thành dấu ngắt câu, dấu chấm câu và dấu câu, cho thấy quan điểm định hướng của các học giả về chức năng của chúng chỉ liên quan đến “câu” Điều này có nghĩa là các dấu câu được nhìn nhận chủ yếu trong vai trò phân giới giữa các câu, thành phần trong câu, và các vế câu ghép Thuật ngữ “punctuation” do đó đã bị giới hạn trong phạm vi ngữ pháp, cần xem xét thêm các định nghĩa từ sách báo nước ngoài để có cái nhìn toàn diện hơn về khái niệm này.

Từ điển ngôn ngữ học (1954, New York) định nghĩa rằng việc sử dụng dấu quy ước để phân chia các bộ phận hay yếu tố của văn bản là cần thiết nhằm đảm bảo và nâng cao sự rõ ràng trong ý nghĩa của văn bản.

- “Từ điển Bách khoa ngôn ngữ học (Lingvisticheski entsiklopedicheskii slovar, in năm 1990, Moskva)”, nêu ra 03 định nghĩa như sau:

Hệ thống ký tự không phải chữ cái, kết hợp với tự pháp và chính tả, là những yếu tố chính của ngôn ngữ viết Nhiệm vụ quan trọng của punktuatsija là phân đoạn và tổ chức văn bản một cách hợp lý về mặt tư pháp.

+ Các quy tắc định chế các chuẩn mực trình bày các dấu trong văn bản, đã được hình thành cho ngôn ngữ đó;

+ Phân môn của ngôn ngữ học nghiên cứu các quy luật của hệ thống các dấu và các chuẩn mực sử dụng chúng

Quan niệm về chức năng của các dấu câu trong tiếng Việt còn hạn hẹp so với cách hiểu toàn cầu, dẫn đến việc bỏ sót một số khía cạnh quan trọng Để có cái nhìn tổng quát hơn, việc dịch thuật ngữ này cần được xem xét kỹ lưỡng Chúng tôi đồng tình với GS TSKH Lý Toàn Thắng về việc lựa chọn thuật ngữ "Phép dùng các dấu trong câu và trong văn bản tiếng Việt" Hiện tại, tiếng Việt sử dụng mười dấu câu chính để phân định ranh giới giữa các câu và thành phần trong câu, bao gồm: dấu chấm (.), dấu hỏi (?), dấu cảm (!), dấu chấm lửng (…), dấu phẩy (,), dấu chấm phẩy (;), dấu hai chấm (:), dấu ngang (-), dấu ngoặc đơn ( ), và dấu ngoặc kép (“ ”) Theo "Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19 tháng 01 năm 2011" của Bộ Nội vụ, quy cách viết hoa trong văn bản cũng cần được tuân thủ.

Việt quy định cách viết hoa trong văn bản như sau: Viết hoa chữ cái đầu âm tiết thứ nhất của một câu hoàn chỉnh sau các dấu câu như dấu chấm (.), dấu chấm hỏi (?), dấu chấm than (!), dấu chấm lửng (…), dấu hai chấm (:), và dấu hai chấm trong ngoặc kép (“…”) Ngoài ra, cần viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất của mệnh đề sau dấu chấm phẩy (;) và dấu phẩy (,) khi xuống dòng.

Trong các tài liệu tiếng Nga, chức năng của dấu câu thường được đề cập một cách chi tiết, với ba chức năng chính được các nhà ngôn ngữ học Nga thảo luận.

- Biểu thị ngữ pháp, liên quan đến sự thông hiểu văn bản;

- Biểu thị ngữ pháp, liên quan đến vai trò của các dấu trong việc phát lộ cấu trúc cú pháp của văn bản

- Biểu thị ngữ âm, hay ngữ điệu, liên quan đến vai trò của các dấu trong tư cách là chỉ báo về âm điệu và nhịp điệu của lời

2.2.2 Thực trạng sử dụng dấu câu trên báo viết

Việc sử dụng dấu câu hợp lý rất quan trọng để hiểu rõ nội dung và ý nghĩa của văn bản tiếng Việt Một ví dụ rõ ràng là qua mẩu truyện cười dưới đây.

Dấu câu đóng vai trò quan trọng trong việc truyền đạt ý nghĩa rõ ràng Để điều chỉnh cách ăn mặc của học sinh, ban giám hiệu đã thông báo bên ngoài cổng trường rằng "Học sinh không được mặc quần bò đến trường".

Sáng hôm sau, thầy hiệu trưởng thấy học sinh đứng ngoài cổng bàn tán xôn xao Khi ra ngoài, thầy giật mình khi nhìn thấy bảng thông báo ghi rõ: "Học sinh không mặc quần, bò đến trường".

(Nguồn: Vnexpress.com.vn) Hay trong SGK lớp 5 có trường hợp:

Chỉ vì quên một dấu câu

Một khách hàng đến cửa hàng đặt vòng hoa viếng bạn và yêu cầu ghi lên băng tang: “Kính viếng bác X” Tuy nhiên, sau khi về nhà, ông cảm thấy lời phúng viếng quá đơn giản, nên đã nhờ con chuyển cho người bán hàng một tin nhắn yêu cầu ghi thêm: “Nếu còn chỗ, xin ông ghi linh hồn bác sẽ được lên thiên đàng”.

Khi vòng hoa được mang đến đám tang, ông khách bất ngờ nhận ra dải băng đen gắn trên đó với dòng chữ cẩn thận viết: “Kính viếng bác X Nếu còn chỗ, linh hồn bác sẽ được lên thiên đàng”.

Theo tạp chí Ngôn ngữ, việc sử dụng dấu câu đóng vai trò quan trọng trong việc khảo sát chính tả của báo viết Chúng tôi đã đưa tiêu chí này vào một trong năm tiêu chí khảo sát Trong nghiên cứu, chúng tôi tập trung vào thực trạng sử dụng dấu câu qua việc phân tích các bài báo trên báo trực tuyến.

VnExpress.net, Dantri.com và Vietnamnet.vn

Trong quá trình khảo sát một số trang báo, chúng tôi phát hiện sự không nhất quán trong việc sử dụng dấu câu, cũng như một số dấu câu được đặt không đúng vị trí và chức năng của chúng.

Chị Hoàng Vy, người chuyên kinh doanh sữa và thực phẩm chức năng tại đường Nguyễn Thị Minh Khai, Q.1, TP.HCM, cho biết rằng thị trường sữa bột hiện nay không chỉ có các hãng sữa lớn đã có văn phòng đại diện tại Việt Nam, mà còn rất nhiều loại sữa bò và sữa dê được các công ty thương mại nhập khẩu và phân phối tại các cửa hàng và siêu thị.

Chị Nhược chia sẻ rằng, khoảng một năm trước, gia đình chị đã biết về mối quan hệ tình cảm giữa Thúy và anh Chung Tuy nhiên, mối quan hệ này không suôn sẻ do mẹ anh Chung cho rằng Thúy và con trai mình không hợp tuổi, vì vậy bà chỉ đồng ý để hai người làm bạn.

Về cách viết hoa

2.3.1 Những quy tắc về cách viết hoa

2.3.1.1 Quy tắc về viết hoa nhân danh và địa danh

Về tên người và tên địa lý (nhân danh và địa danh) có hai xu hướng:

Xu hướng chủ trương “tính giản tiện” đề xuất viết hoa tất cả các chữ cái đầu của mọi âm tiết trong tên người và tên địa lý, bao gồm cả họ, tên đơn, tên ghép, tên tục, tên hiệu và bút danh.

Xu hướng chủ trương “tính hợp lý” nhấn mạnh việc phân biệt các loại tên riêng với cấu tạo khác nhau Chỉ nên viết hoa chữ đầu của âm tiết đầu và sử dụng dấu nối, ví dụ như Từ Hải (tên tục) và Từ - lâm (tên hiệu) Đối với tên địa lý Việt, cũng chỉ cần viết hoa chữ đầu của âm tiết đầu và dùng dấu nối, như trong các ví dụ tương tự.

Tuy nhiên qua tranh luận, xu hướng thứ nhất được số đông tán thành hơn vì:

Trong ngôn ngữ, sự phân biệt và đồng nhất tồn tại song song; nếu quá chú trọng vào phân biệt, sẽ dẫn đến sự rối loạn Trước đây, đã có nhiều ý kiến muốn phân biệt cách viết họ tên ghép và họ tên đơn, nhưng thực tế cho thấy sự phân biệt này rất phức tạp và không có cơ sở rõ ràng để xác định một tên họ là ghép hay đơn.

Việc viết hoa liên quan đến vấn đề ký hiệu, và vì ký hiệu mang tính võ đoán, nên không thể yêu cầu sự hợp lý tuyệt đối Mặc dù cần phải phân biệt giữa tên hiệu và tên tục để viết cho hợp lý, nhưng việc xác định chắc chắn một cái tên như "Hoàng Hà" thuộc loại nào là điều không hề đơn giản.

Cần chú trọng đến yêu cầu giản tiện trong việc thiết lập quy tắc, để mọi người có thể áp dụng một cách dễ dàng và không gặp khó khăn.

2.3.2.2 Quy tắc về viết hoa hiệu danh

Theo quy định chính tả tiếng Việt (quyết định số 240/QĐ ngày 5/3/1984 của Bộ Giáo dục), tên cơ quan, tổ chức xã hội, chức vụ và danh hiệu chỉ viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu trong cụm từ Ví dụ: Đảng Cộng sản Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng Bộ Giáo dục cũng quy định rằng tên các chức vụ, danh hiệu chỉ viết hoa chữ cái đầu tiên của cụm tên riêng, như Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao, Anh hùng Lao động.

Theo quy định tạm thời về cách viết hoa tên riêng trong sách giáo khoa kèm theo quyết định số 07/2003/QĐ-BGDĐT ngày 13/3/2003 của Bộ Giáo dục và Đào

Theo quy định, tên cơ quan, tổ chức, đoàn thể cần viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu trong các bộ phận tạo thành tên riêng Ví dụ điển hình bao gồm: Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng, Trường Tiểu học Lê Lai, và Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Khi dịch tên cơ quan, tổ chức đoàn thể nước ngoài, cần tuân thủ quy tắc viết tên cơ quan, tổ chức, đoàn thể của Việt Nam Ví dụ, tên "Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Mát-xcơ-va Lô-mô-nô-xốp" được viết theo cách này.

Theo quyết định số 09/1998/QĐ-VPCP ngày 22/11/1998 của Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, quy định tạm thời về cách viết hoa trong văn bản của Chính phủ và Văn phòng Chính phủ được nêu rõ tại điều 6.

Tên riêng của các cơ quan Trung ương Đảng và tổ chức xã hội cần viết hoa chữ cái đầu của các từ tạo thành tên riêng, ví dụ như Đảng Cộng sản Việt Nam và Ban Tổ chức Trung ương.

Tên riêng của các cơ quan Nhà nước, như Quốc hội và Chính phủ, cần được viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu tiên cùng với các âm tiết chỉ chức năng Ví dụ bao gồm Văn phòng Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng.

Khi viết tên riêng của các cơ quan chính quyền địa phương như tỉnh, thành phố, huyện, quận, phường, xã, cần chú ý viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu trong tổ hợp từ Ví dụ, khi đề cập đến Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên, các chữ cái đầu được viết hoa để thể hiện sự trang trọng và chính xác trong cách diễn đạt.

Tên riêng của các trường học chỉ cần viết hoa chữ cái đầu tiên của âm tiết đầu tiên, cùng với âm tiết chỉ cấp, chức năng đào tạo và âm tiết chỉ biệt hiệu Ví dụ: Trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng.

- Tên của các tổ chức kinh tế: Công ty Giống cây trồng, Công ty Chăn nuôi gia súc, Tổng Công ty Sữa

Tên riêng của các tổ chức xã hội cần được viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất và các âm tiết chỉ chức năng, tính chất, nhiệm vụ Ví dụ như: Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

International organizations are named in a specific format, such as the United Nations (UN), the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN), Gross National Product (GNP), and the International Monetary Fund (IMF) Additionally, Article 7 outlines the capitalization rules for titles within the Party and State.

Về cách viết tắt

2.4.1.1 Viết tắt từ ngữ liệu tiếng Việt

Về hình thức có 3 dạng chính sau đây:

Dạng viết tắt được hình thành bằng cách kết hợp các chữ cái đầu của các từ trong cụm từ cần viết tắt Những chữ cái đầu này có thể là phụ âm hoặc nguyên âm.

Viết tắt là hình thức sử dụng toàn bộ các chữ cái phụ âm, chẳng hạn như UBND (Ủy ban Nhân dân), CMND (Chứng minh nhân dân) và NHCT VN (Ngân hàng Công thương Việt Nam) Các chữ cái phụ âm trong tên gọi viết tắt có thể được trình bày liền nhau mà không có khoảng trắng hoặc có thể có dấu gạch ngang giữa một số chữ cái, như trong trường hợp của Bộ LĐ-TB.

XH (Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội) thường có khoảng trắng giữa các nhóm chữ cái, như NH TMCP (Ngân hàng Thương mại cổ phần) Ngoài ra, đôi khi có dấu chấm ngăn cách giữa các nhóm chữ cái, kết hợp với dấu gạch ngang và dấu chấm, ví dụ như Đại học KHXH & NV – ĐHQG TP.HCM.

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, thường được viết tắt là MX.

XH, BH (mát xa, xông hơi, bấm huyệt) v.v…

- Dạng viết tắt có chen chữ ghi nguyên âm, ví dụ: VAC (vườn – ao – chuồng), NGƯT (Nhà giáo ưu tú), HĐBA LHQ (Hôi đồng Bảo an Liên Hiệp quốc)…

Dạng viết tắt được hình thành từ việc ghép các âm tiết mở, bao gồm một phụ âm và một nguyên âm, từ tên gọi đầy đủ, đôi khi có sự thay đổi về nguyên âm và thứ tự âm tiết Ví dụ như KIDO (Kinh đô), CASUMINA (Cao su miền Nam), VINABICO (Công ty bánh kẹo Việt Nam), FAHASA (Phát hành sách), và FUTA (Công ty Phương Trang) Những dạng viết tắt này thường được sử dụng làm tên gọi cho các công ty.

Dạng viết tắt được hình thành bằng cách kết hợp phụ âm đầu với âm tiết sau trong từ có hai âm tiết, hoặc kết hợp phụ âm và nguyên âm của âm tiết trước với toàn bộ âm tiết cuối cùng của tổ hợp cần viết tắt Ví dụ, từ "Võ Việt Nam" được viết tắt thành "VOVINAM".

Các cụm từ viết tắt thường đại diện cho các cơ quan nhà nước như lập pháp, hành pháp, tư pháp, cũng như các cơ quan hành chính, báo đài, đơn vị giáo dục, tổ chức xã hội và tổ chức kinh tế - tài chính Những viết tắt này cũng có thể bao gồm các chức vụ, bằng cấp, học vị, học hàm và bất kỳ đơn vị nào cần được rút gọn Ví dụ, Bộ LĐ – TB – XH là viết tắt của Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội, hay Viện KSND đại diện cho Viện Kiểm sát nhân dân.

Báo TT (báo Tuổi trẻ), trường ĐH (đại học), KS (kỹ sư), Đảng CSVN (Đảng

Cộng sản Việt Nam, NHNN (Ngân hàng Nhà nước),…

Ngoài ra còn có dạng viết tắt khác thường gặp trong công văn như TL (thừa lệnh), KT (ký thay)…

Trong lĩnh vực bất động sản, có nhiều viết tắt phổ biến như MT (mặt tiền), CHCC (căn hộ cao cấp) và VP (văn phòng) thường được sử dụng trong các quảng cáo mua bán.

2.4.1.2 Viết tắt từ ngữ liệu tiếng Anh a Vay mượn dạng viết tắt tiếng Anh có sẵn

Về mặt cấu tạo, bao gồm:

Abbreviations are formed by combining the first letters of the initial syllables of a word For example, IMF stands for the International Monetary Fund, which translates to Quỹ tiền tệ quốc tế in Vietnamese.

- Dạng viết tắt được cấu tạo bằng cách ghép 2 chữ cái đầu của các âm tiết đầu của một từ Ví dụ: ID (Indentification – Thẻ căn cước)

- Dạng viết tắt được cấu tạo bằng cách ghép 2 chữ cái đầu Ví dụ: Wi-Fi

(Wireless Fidelity – mạng không dây)

Acronyms often represent the names of international organizations, such as UNESCO, which stands for the United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization.

- Tên các hãng truyền thông lớn như BBC (British Broadcasting

- Nhiều từ viết tắt mượn từ tiếng Anh dùng trong các ngành khoa học kỹ thuật, ví dụ: tên gọi ngành học IT (Information Technology)

- Những từ viết tắt tiếng Anh dùng trong Y khoa như CT (Computed

Tomography - Chụp cắt lớp vi tính)

Trong lĩnh vực kinh tế, nhiều từ viết tắt được sử dụng phổ biến trong các chương trình tiếng Anh, giao tiếp hàng ngày và ngành giải trí Bên cạnh đó, việc tạo ra các dạng viết tắt mới từ ngữ liệu tiếng Anh hoặc sự kết hợp giữa tiếng Việt và tiếng Anh cũng ngày càng trở nên phổ biến.

Công ty niêm yết thường được viết tắt từ tên tiếng Anh của mình Chẳng hạn, Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu có tên tiếng Anh là Asia Commercial Bank, và tên viết tắt của ngân hàng này là ACB.

Viết tắt hỗn hợp từ ngữ liệu giữa tiếng Anh và tiếng Việt là một phương pháp phổ biến trong việc tạo tên cho các tổ chức Chẳng hạn, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín được gọi tắt là Sacombank, với mã chứng khoán STB Trong đó, hai chữ cái "ST" được lấy từ tên tiếng Việt "Sài Gòn Thương Tín," và chữ "B" đại diện cho từ tiếng Anh "bank."

Viết tắt từ tên riêng tiếng Việt của công ty như BBT (CTCP Bông Bạch Tuyết) và rút gọn từ hoặc tổ hợp từ tiếng Anh thành dạng viết tắt theo cách đọc và viết tiếng Việt là một cách hiệu quả để tạo sự nhận diện thương hiệu.

- Chỉ lấy âm tiết đầu của tiếng Anh như Dolas -> đô la, đô

- Chỉ lấy âm tiết thứ hai của từ tiếng Anh rồi đọc và viết theo kiểu tiếng Việt như Email -> meo, internet -> net

Đơn giản hóa cách phát âm từ nước ngoài giúp tạo ra từ mới, ví dụ như từ "show" trong tiếng Anh được rút gọn thành "sô" Từ này sau đó được sử dụng để hình thành các tổ hợp cố định như "bầu sô" và "ôm sô".

2.4.2 Thực trạng viết tắt trên báo viết hiện nay

Về cách phiên âm tiếng nước ngoài

2.5.1 Một số quy tắc phiên âm tiếng nước ngoài

Phiên âm tiếng nước ngoài đã được thảo luận từ lâu, đặc biệt trong hội thảo về “Chuẩn mực hóa chính tả và thuật ngữ khoa học” vào những năm 1978, 1979 Tuy nhiên, vấn đề này vẫn chưa được giải quyết triệt để, dẫn đến tình trạng “dẫm chân tại chỗ” theo nhận định của GS.TS Nguyễn Văn Hiệp Điều này khiến mỗi ấn phẩm tiếng Việt phải tự chọn cách xử lý riêng, gây ra sự không thống nhất trong cách viết và đọc tên riêng nước ngoài giữa các ấn phẩm cũng như trong cùng một ấn phẩm.

Cách viết các từ tiếng nước ngoài hiện nay vẫn còn phức tạp và thiếu chuẩn mực chung được quy định chính thức, chỉ có những quy định tạm thời.

Công việc này liên quan đến hai vấn đề chính của chính tả tiếng Việt:

- Phiên âm thuật ngữ khoa học - kỹ thuật

Cả hai vấn đề trong chính tả tiếng Việt đều chưa được xử lý nhất quán

Về tên riêng: xuất hiện mấy kiểu dưới đây:

- Phiên âm: là phỏng theo cách đọc (âm đọc) của nguyên ngữ Ví dụ:

Mockba Mát-xcơ-va, California  Ke-li-pho-ni-ơ,…

- Phiên chuyển (phiên âm và chuyển tự): là phỏng theo âm đọc kết hợp với mặt chữ Ví dụ: California  Ca-li-pho/phoóc-ni-a…

(2) Nguyên dạng: giữ nguyên cách viết của nguyên ngữ, gồm:

- Viết nguyên dạng cho các tên riêng Âu Mĩ Ví dụ: Bush, New York, Italy

- Viết nguyên dạng phiên âm La – Tinh của tiếng Hán cho các tên riêng Trung Quốc Ví dụ: Li Tie, Hao Haidong

(3) Dịch nghĩa: là cách dùng các yếu tố bản ngữ để dịch các từ ngữ nước ngoài Ví dụ: Nam Phi, Đông Timo, Trung Phi, Bắc Âu, Biển Đen…

(4) Sử dụng Hán Việt: các tên riêng được viết và đọc theo Hán Việt, bao gồm:

- Các tên riêng của Trung Quốc Ví dụ: Bắc Kinh < 北京, Quảng Đông <

广东, Chu Ân Lai 周恩来

- Các tên riêng Âu Mĩ (không phải của Trung Quốc) Ví dụ: Thổ Nhĩ Kỳ <

土耳其 < Turkey, Luân Đôn < 伦敦< London, Ba Lan < 波兰 < Poland, Nhật Bản

< 日本 < Japan; Triều Tiên < 朝鲜 < Korea, Kim Nhật Thành < 金日成 < Kim II

Sung là phương pháp xử lý dựa trên cách thức của tiếng Hán Thuật ngữ "dựa vào" được sử dụng vì bên cạnh việc chuyển đổi âm Hán Việt, tiếng Việt còn có những trường hợp sử dụng đơn tiết hóa như Tiệp, Anh, Bồ, điều mà tiếng Hán không áp dụng.

Chuyển tự là quá trình chuyển đổi cách viết từ một hệ thống chữ cái này sang một hệ thống chữ cái khác, dựa trên sự đối chiếu tương đương giữa các chữ cái.

64 của hệ thống này với những chữ cái của hệ thống khác Trường hợp này áp dụng cho tiếng Nga Ví dụ: : Lomonosov < ломоносов

Các thuật ngữ tiếng nước ngoài thường có nhiều cách viết khác nhau và không nhất quán, ví dụ như "axit" và "acid", "gam" và "gram" Điều này đòi hỏi cần có các quy định chuẩn hóa để thống nhất trong việc sử dụng Hiện nay, đã có một số quy định được áp dụng để giải quyết vấn đề này.

Trong tiếng Việt, có sự sử dụng các phụ âm đầu và tổ hợp phụ âm đầu như p, z, w (ví dụ: blu, chrom, clinker) và các phụ âm cuối như b, d, f, g, j, l, r, s, v, w, z (chẳng hạn: acid, sulfur, parabol) Những âm này không phải là đặc trưng của âm tiết tiếng Việt nhưng vẫn xuất hiện trong nhiều từ như cravat, festival, formol, jazz, javel, joule, watt, wolfram, zero, ziczac, amib, protid, glycogen, glucoz.

(2) Tôn trọng mối quan hệ có tính chất hệ thống giữa các thuật ngữ: fluor, fluorur; sulfur, sulfuric, sulfat; chlor, chlorat, chlorur; phosphat, phosphor, phosphorit; …

(3) Có thể chấp nhận những thuật ngữ đã Việt hóa từ lâu: mét, lít, cà phê,…

2.5.2 Thực trạng phiên âm tiếng nước ngoài trên báo viết

2.5.2.1 Về phiên âm tên riêng tiếng nước ngoài

Trên các báo viết tiếng Việt, tên riêng nước ngoài chiếm tỷ lệ nhỏ, nhưng việc phiên âm không chính xác có thể gây khó khăn cho người đọc trong việc nhận diện Đề tài này tập trung khảo sát thực trạng phiên âm tiếng nước ngoài trên hai tờ báo là Thanh niên và Tuổi trẻ, thông qua các số báo ngẫu nhiên thu thập trong những tháng đầu năm.

Các tên riêng nước ngoài phổ biến, đặc biệt là những tên được phiên âm theo Hán – Việt, sẽ được giữ nguyên trong các bài báo Ví dụ như “Vương quốc Anh”, “Mỹ”, “Pháp”, “Trung Quốc”, “Ấn Độ”, “Nga”, “Hàn Quốc” và “Thụy Điển” đều được duy trì trong nội dung.

Cả hai tờ báo đều sử dụng phiên âm La Tinh để viết nguyên dạng các tên riêng Trung Quốc, bao gồm tên người và tên vận động viên.

Trong nghiên cứu của chúng tôi về cách viết tên các quốc gia theo hệ chữ La Tinh, các ví dụ như Li Tie, Hao Haidong, Wang Hao, Xie Jun cho thấy cả báo TT và báo TN đều giữ nguyên cách viết tên "Brazil" trong các bài viết, cụ thể là "Brazil" [TT, tr.17, 19-3-2013] và "Brazil" [TN, tr.19, 31-3-2013].

“Mexico” [TN, tr 15, 31-3-2013], “California” [TT, tr.17, 19-3-2103],

Hầu hết các địa danh trên thế giới đã được viết bằng tiếng Anh và tiếng Pháp, trở nên quen thuộc với người đọc Do đó, cả hai tờ báo đã quyết định phiên âm tối ưu bằng cách giữ nguyên cách viết tên riêng theo quy tắc của từng quốc gia.

Các nước có hệ chữ không phải La Tinh như tiếng Ả Rập, Triều Tiên và Lào, báo TT đã quyết định phiên âm tên riêng theo cách mà người dân của các nước đó đã chuyển sang chữ La Tinh Ví dụ, tên "Seoul" được người Hàn Quốc viết như vậy và cả hai báo đều thống nhất sử dụng cách viết này.

Hiện nay, có nhiều ý kiến mới về việc phiên âm tên riêng gần gũi với ngôn ngữ gốc, như Ôxtrâylia thay cho Úc và Ý đại lợi thay cho Ý Mặc dù việc này giúp gần gũi hơn với ngôn ngữ gốc, nhưng nó có thể gây khó khăn cho người dân, làm mất đi tính giản tiện và sự quen thuộc với từ ngữ.

TT và báo TN đều giữ nguyên các tên riêng như "Úc" và "Ý" mà không thay thế Cụ thể, "Úc" được nhắc đến trong các số báo TT vào ngày 2-3-2013 (tr.19, 2-3-2013) và 27-2-2013 (tr.20), cũng như trong báo TN vào ngày 24-3-2013 (tr.6) Tương tự, "Ý" xuất hiện trong TT ngày 2-3-2013 (tr.17) và TN ngày 1-2-2013 (tr.10).

Báo TT và báo TN có cách viết tương đồng khi dịch nghĩa một số tên riêng như Đông Timo, Trung Phi, Bắc Âu, Biển Đen, và Nam Phi Tuy nhiên, không phải tất cả các tên riêng đều có thể được dịch nghĩa theo cách này, vì số lượng tên riêng thuộc loại này khá hạn chế.

Từ chính tả trên báo viết đến chính tả của học sinh ở trường Phổ thông

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tài Cẩn (1995), Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ lược), NXBGD,HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1995
2. Lê Trung Hoa (1994), Mẹo luật chính tả, NXB Sở Văn hóa thông tin Long An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẹo luật chính tả
Tác giả: Lê Trung Hoa
Nhà XB: NXB Sở Văn hóa thông tin Long An
Năm: 1994
3. Hà Thúc Hoan (1995), “Kỹ thuật hành văn, rèn luyện kỹ năng viết”, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kỹ thuật hành văn, rèn luyện kỹ năng viết”
Tác giả: Hà Thúc Hoan
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 1995
4. Phan Ngọc (1982), Chữa lỗi chính tả cho học sinh, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữa lỗi chính tả cho học sinh
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1982
5. Lê Văn Nựu (1942), Lược khảo Việt ngữ, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược khảo Việt ngữ
Tác giả: Lê Văn Nựu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1942
6. Hoàng Phê (chủ biên, 2010), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
7. Đoàn Thiện Thuật (1980), Ngữ âm tiếng Việt, NXBDH và THCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ âm tiếng Việt
Tác giả: Đoàn Thiện Thuật
Nhà XB: NXBDH và THCN
Năm: 1980
8. Nguyễn Minh Thuyết – Nguyễn Văn Hiệp (1997), “Tiếng Việt thực hành”, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiếng Việt thực hành”
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết – Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
9. Nguyễn Thị Thân (2005), Giáo trình Ngữ âm tiếng Việt, Đại học Sư phạm Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngữ âm tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Thân
Năm: 2005
15. Viện Ngôn ngữ học - Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam – Tạp chí Ngôn ngữ, số 3-4-1979 (Số đặc biệt về chuẩn hóa chính tả và thuật ngữ khoa học) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ
16. Cao Xuân Hạo (2000), “Vân vân (v.v.) và chấm lửng (…)”, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 1, tr.3 - 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vân vân (v.v.) và chấm lửng (…)”, Tạp chí "Ngôn ngữ và đời sống
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Năm: 2000
17. Lý Toàn Thắng (1971), “Bàn về những cơ sở của việc dùng dấu câu trong tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 8, tr. 22 - 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về những cơ sở của việc dùng dấu câu trong tiếng Việt”, Tạp chí "Ngôn ngữ
Tác giả: Lý Toàn Thắng
Năm: 1971
25. Lê Thị Thùy An (2012), “Thực trạng sử dụng dấu câu trên báo trực tuyến tiếng Việt và một số đề xuất”, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường ĐH KHXH&amp;NV TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng sử dụng dấu câu trên báo trực tuyến tiếng Việt và một số đề xuất”
Tác giả: Lê Thị Thùy An
Năm: 2012
27. Huỳnh Thị Hồng Hạnh (2012), “Quy định về cách viết hoa tên các cơ quan tổ chức: thực trạng và đề xuất”, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường ĐH KHXH&amp;NV TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy định về cách viết hoa tên các cơ quan tổ chức: thực trạng và đề xuất”
Tác giả: Huỳnh Thị Hồng Hạnh
Năm: 2012
28. Trương Thị Mỹ Hậu (2012), “Một số lỗi chính tả thường gặp trên báo mạng”, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường ĐH KHXH&amp;NV TP.HCM” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số lỗi chính tả thường gặp trên báo mạng”," Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM
Tác giả: Trương Thị Mỹ Hậu
Năm: 2012
10. SGK Lịch sử (2008), lớp 9, NXB Giáo dục Việt Nam Khác
11. SGK Địa lý (2010), lớp 9, NXB Giáo dục Việt Nam Khác
12. SGK Ngữ văn (2009), lớp 12, tập 1, NXB Giáo dục Khác
13. SGK Ngữ văn (2009), lớp 12, tập 2, NXB Giáo dục Khác
14. SGK Lịch sử (2008), lớp 12, NXB Giáo dục.  Tạp chí Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w