Nhận thấy sức ảnh hưởng lớn của thực trạng lệch chuẩn chính tả trên báo viết hiện nay đối với việc dạy chính tả trong nhà trường, chúng tôi chọn đề tài “Ảnh hưởng của thực trạng chính tả
Trang 11
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Trang 22
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng nói: “ Ngôn ngữ là thứ của cải vô
cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng
nó, làm cho nó phát triển ngày một rộng khắp” Quả thật, ngôn ngữ là tài sản vô
giá của mỗi quốc gia trên toàn thế giới Nó là một tiêu chí vô cùng quan trọng trong việc đánh giá sự phát triển văn hóa xã hội cũng như thể hiện bản sắc riêng của mỗi dân tộc; Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó Chữ quốc ngữ ra đời là bước ngoặt lớn trong lịch sử phát triển của dân tộc Nó góp phần tạo nên trang sử hào hùng, giành độc lập cho đất nước, song hành nhịp bước trong từng giai đoạn khôi phục và phát triển của dân tộc Đó là điều mà lịch sử và lớp lớp người dân Việt ta đều phải ghi nhận
Tìm hiểu và thấy được vai trò cũng như giá trị của tiếng Việt ta cần có thái độ đúng đắn trong việc học và sử dụng tiếng Việt Thế hệ trẻ hiện nay với sự du nhập của nhiều thứ tiếng khác nhau đã tỏ ra thành thạo trong việc học và nói tiếng nước ngoài Nhưng có bao lần họ nghĩ mình đã sử dụng thành thạo tiếng Việt chưa? Nói
ra có vẻ hơi nghịch lý nhưng việc nói và viết tiếng Việt đúng chuẩn thì không phải
ai cũng làm đươc cho dù đó là tiếng dân tộc, tiếng mẹ đẻ
Đối với tiếng Việt thì nói thì phải biết phát âm cho đúng và viết phải viết đúng chính tả Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi chỉ đề cập đến phạm trù viết Hiện nay trong hàng ngàn bài kiểm tra của học sinh thì việc tìm ra một bài viết chữ đẹp, không mắc lỗi chính tả là một điều không dễ dàng Khả năng vận dụng tiếng mẹ đẻ của các em còn nhiều khiếm khuyết; thêm vào đó là sự thiếu nhất quán trong thực hành chính tả của báo giới, là thiếu vắng luật sử dụng ngôn ngữ quốc gia Đó là một thực trạng đáng báo động Vậy nguyên nhân là do đâu? Cơ quan có thẩm quyền nào chịu trách nhiệm về vấn đề này ?
Nghiên cứu và tìm hiểu vấn nạn trên chúng tôi nhận thấy được rằng hiện nay trên các phương tiện truyền thông mà cụ thể ở đây là báo viết thì tình trạng mâu thuẫn về các quy tắc chính tả xuất hiện với tần số cao Mỗi một tờ báo đều có
Trang 33
tuyên ngôn về quy tắc chính tả của riêng mình và cũng có khi họ tự mâu thuẫn với chính họ Trong khi đó trên các nước tiên tiến, mỗi năm đều tổ chức hội thảo về chính tả để đề xuất và thống nhất các quy tắc sau đó đưa ra bộ luật về chuẩn chính
tả để ban hành, áp dụng rộng rãi trên khắp đất nước Vậy thì tại sao ta không làm
được điều đó? Hằng ngày có hàng chục tờ báo được phát hành và “mỗi tờ một vẻ”
thì người đọc sẽ tiếp nhận ra sao? Những lỗi sai được truyền đi rộng rãi thì ai gánh lấy trách nhiệm và phải chăng đó cũng là nguyên nhân lớn ảnh hưởng đến vấn đề chính tả trong nhà trường?
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin chỉ cần gõ google và tra cứu các em đã có đủ thông tin trên các trang báo mạng khác nhau Trong khi đó, chuẩn chính tả trên các tờ báo lại không thống nhất, có khi còn mắc phải những lỗi rất cơ bản Các em đọc, đọc một lần, hai lần… rồi ăn sâu vào tiềm thức và thực hành chính tả một cách tùy tiện theo thói quen Nhận thấy sức ảnh hưởng lớn của thực trạng lệch chuẩn chính tả trên báo viết hiện nay đối với việc dạy chính tả trong nhà
trường, chúng tôi chọn đề tài “Ảnh hưởng của thực trạng chính tả trên báo viết
hiện nay đối với việc dạy chính tả trong nhà trường Phổ thông” làm công trình
nghiên cứu với mong muốn góp phần làm sáng rõ thực trạng nói trên cũng như đề xuất những giải pháp trong việc thống nhất chính tả, góp phần tích cực trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Khi nói đến thực trạng không thống nhất chính tả, thậm chí mắc lỗi của báo viết thì có một số công trình nghiên cứu của các tác giả như sau:
Bài báo cáo “Thực trạng sử dụng dấu câu trên báo trực tuyến tiếng Việt và
một số đề xuất” của tác giả Lê Thị Thùy An, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường
ĐH KHXH&NV TP.HCM trong Hội thảo Khoa học Quốc gia “Xây dựng chuẩn
mực chính tả thống nhất trong nhà trường và trên các phương tiện truyền thông đại chúng” đã khẳng định: “Hiện nay, chính tả tiếng Việt đang còn là vấn đề tranh cãi và thiếu sự thống nhất cao độ” và “…việc sử dụng dấu câu trong diễn đạt còn nhiều điều tồn tại, cần phải được xem xét và làm rõ Nhiều trường hợp nhà báo
Trang 4Hay báo cáo “Quy định chính tả của một số báo và việc áp dụng những quy định
đó vào thực tiễn báo chí” [26, tr.211] của hai tác giả Lê Thị Thùy An và Dương
Thị My Sa, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM trong
Hội thảo Khoa học Quốc gia “Xây dựng chuẩn mực chính tả thống nhất trong nhà
trường và trên các phương tiện truyền thông đại chúng” đã nêu ra được sự sai
lệch, thiếu thống nhất giữa những quy định các tờ báo đưa ra so với thực tiễn áp dụng Cùng quan điểm với hai tác giả trên, tại Hội thảo, Huỳnh Thị Hồng Hạnh đã
trình bày báo cáo “Quy định về cách viết hoa tên các cơ quan, tổ chức: thực trạng
và đề xuất” [27, tr.176] Ngoài ra, còn có bài báo cáo của tác giả Trương Thị Mỹ
Hậu về “Một số lỗi thường gặp trên báo mạng” [28, tr.196], cũng đã gióng lên hồi
chuông cảnh báo về thực trạng thiếu thống nhất, thậm chí còn sai chính tả trên các phương tiện truyền thông mà cụ thể ở đây là báo viết
Riêng về vấn đề chính tả tiếng Việt của học sinh Phổ thông hiện nay cũng như phương pháp rèn luyện kỹ năng viết chính tả cho các em thì có một số nghiên cứu của các tác giả như sau:
Theo nghiên cứu của tác giả Lê Văn Nựu trong “Lược khảo Việt ngữ” đă viết: “…trong mỗi giờ tập đọc, các học sinh đều luyện tập các phát âm cho đúng
rồi dần dần chúng sẽ sửa chữa được những chỗ sai lầm và khi đă phát âm được đúng mỗi vần, mỗi tiếng th́ì viết ra tự nhiên hợp cách không c ̣òn khó khăn, ngần ngại gì nữa” [5, tr.63]
Tác giả Phan Ngọc trong “Chữa lỗi chính tả cho học sinh” cũng khẳng định:
“Cách chữa lỗi thường nói đến nhất là tập phát âm cho đúng” [4, tr.398] Tuy
nhiên, ông cho rằng cách chữa lỗi này là “đặt cái cày trước con trâu” Bởi vì học
Trang 55
sinh muốn phát âm đúng thì trước hết phải biết chính tả, phải nhớ những chữ mà ḿình phát âm sai Như vậy, học sinh cần phải học cách viết chính tả đúng để từ đó
đi đến cách phát âm chuẩn
Năm 1994, Lê Trung Hoa đă biên soạn cuốn “Mẹo luật chính tả” [2, tr.159]
Trong cuốn này, tác giả đă tổng hợp những thành tựu về mẹo luật chính tả trước
đó, hoàn thiện và sáng tạo thêm, đưa vào công trình 36 mẹo luật chính tả Trong các giáo trình Tiếng Việt thực hành cũng có các mẹo luật về chính tả Có thể kể đến các tác giả như: Hà Thúc Hoan [3, tr.12-13], Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn
Văn Hiệp trong “Tiếng Việt thực hành” [8, tr.243]…
Có thể thấy rằng, các bài nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc phản ánh thực trạng
“rối” chính tả trên báo viết hiện nay (với việc khảo sát chỉ từ một đến hai tiêu chí)
hay đề cập đến thực trạng lỗi chính tả của học sinh phổ thông cũng như hướng đến những cách hạn chế tình trạng đó Điều đó chứng tỏ rằng đây là vấn đề dược dư luận xã hội quan tâm Tuy nhiên dư luận ấy mới chỉ là sự phát hiện thực tế đơn lẻ chứ chưa thật sự có công trình nghiên cứu nào theo hướng khảo sát tất cả các tiêu chí (hình thức từ, dấu câu, viết hoa, viết tắt và phiên âm tiếng nước ngoài) cũng như chưa phản ánh sự ảnh hưởng của thực trạng bất nhất về chính tả trên báo viết đối với thói quen chính tả của học sinh Phổ thông
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: thực trạng chính tả trên báo viết cũng như mối quan hệ mật thiết của thực trạng trên với việc dạy chính tả trong nhà trường nhằm tìm ra hướng thống nhất các quy tắc chính tả
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của đề tài chúng tôi tập trung vào lĩnh vực báo viết với một số
tờ báo tiêu biểu như: Tuổi trẻ, Thanh niên, Người Lao động và các trang báo mạng: Vnexpress.com, Vietnamnet.vn, 24h.com.vn, vnthuquan.net, dantri.com
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát:
Trang 66
Tiến hành thu thập các số ngẫu nhiên của các tờ báo in cũng như các trang báo điện tử Sau đó đọc và nêu lên thực trạng chính tả trên báo viết hiện nay
- Phương pháp thống kê ngôn ngữ học:
Sau khi có các tư liệu nghiên cứu đề tài áp dụng phương pháp thống kê ngôn ngữ học để tìm ra được những quy luật kết hợp của các đơn vị ngôn ngữ, những mối quan hệ giữa các đơn vị ngôn ngữ trong cùng một cấp độ với nhau Đồng thời
có được cái nhìn khách quan về thực trạng chính tả trên báo in viết.Có thể nói rằng chỉ có trên cơ sở thống kê mới có thể hiểu hết được một cách cụ thể vấn đề cần khảo sát như thế nào Các đơn vị trong hệ thống ngôn ngữ thể hiện rất khác nhau trong sự hoạt động ngôn ngữ Và cùng một đơn vị nhưng ở các phong cách cụ thể,
ở các địa phương cụ thể và ở các cá nhân cụ thể cũng khác nhau Vì vậy dùng phương pháp thống kê để nghiên cứu ngôn ngữ cũng như hoạt động ngôn ngữ
- Phương pháp miêu tả:
Phương pháp này nhằm phân tích, đánh giá các tư liệu đã thu thập được về hiện tượng nghiên cứu Trong phương pháp này chúng tôi vận dụng các thao tác: phân loại tổng hợp, miêu tả, so sánh đối chiếu…để thấy được thực trạng khách quan về thực trạng chính tả hiện nay trên các phương tiện thông tin đại chúng mà
cụ thể là báo viết
- Phương pháp tổng hợp, đánh giá:
Phương pháp này nhằm tổng hợp các kết quả thu nhận được từ thực tế khảo sát từ đó đưa ra những ý kiến đánh giá, nhận định khách quan nhất về vấn đề nghiên cứu Qua đó, tìm ra nguyên nhân và đưa ra giải pháp
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được triển khai trên ba chương:
Chương Một: Những cơ sở lý luận chung của đề tài
Chương Hai: Khảo sát thực trạng chính tả trên báo viết hiện nay
Chương Ba:Từ chính tả trên báo viết đến chính tả của học sinh ở trường Phổ thông
Trang 77
NỘI DUNG CHƯƠNG MỘT: NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA
ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề
1.1.1 Đặc điểm ngữ âm tiếng Việt và các nguyên tắc chính tả tiếng Việt
1.1.1.1 Đặc điểm ngữ âm tiếng Việt
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng bậc nhất của con người Nó tồn tại ở hai dạng âm thanh và chữ viết Chữ viết về bản chất là dạng kí hiệu âm thanh của ngôn ngữ Bởi vậy khi nói đến ngôn ngữ ta nói đến hình thức âm thanh của ngôn ngữ hay gọi theo các nhà ngôn ngữ học là ngữ âm Hiểu và nắm rõ ngữ âm tiếng Việt có vai trò hết sức quan trọng trong việc giữ gìn sự trong sáng cho tiếng Việt Vì sao vậy? Khi nắm được hệ thống ngữ âm tiếng Việt ta sẽ biết nói và viết đúng tiếng Việt Nghe thì thật đơn giản nhưng không phải bất cứ công dân Việt Nam nào cũng có thể sử dụng tiếng Việt chính xác, thành thạo cả khi nói lẫn khi viết Ngoài ra, hiểu và nắm rõ ngữ âm tiếng Việt, chúng ta còn có thể biết được những cái cần dạy khi dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và rất nhiều công việc khác
Trong hệ thống ngữ âm tiếng Việt chúng ta cần biết đến đầu tiên chính là âm tiết Tiếng Việt là ngôn ngữ phân tiết tính: các âm tiết được tách bạch rõ ràng trong dòng lời nói Vậy âm tiết là gì? Âm tiết là chuỗi lời nói của con người phát ra thành những mạch khác nhau, những khúc đoạn từ lớn đến nhỏ khác nhau Âm tiết
là đơn vị phát âm nhỏ nhất, là “đơn vị ngữ âm tự nhiên mà bất cứ người bản ngữ
nào cũng có thể nhận ra” [8, tr.38] - đơn vị ngữ âm dễ nhận diện nhất Ví dụ: “Hồ Chí Minh muôn năm” (5 âm tiết)
Có thể nói rằng âm tiết là sự biểu hiện tập trung nhất, đầy đủ nhất những đặc điểm tiếng Việt về mặt ngữ âm
Về đặc điểm của âm tiết, âm tiết tiếng Việt mang tính đơn lập được thể hiện ở ranh giới cố định của âm tiết và ranh giới âm tiết trùng với ranh giới hình vị Ranh
Trang 88
giới âm tiết tiếng Việt được xác định một cách dứt khoát trong chuỗi lời nói Trong tiếng Việt không có trường hợp một bộ phận của âm tiết được tách ra để kết hợp với âm tiết tiếp theo như trường hợp đọc nối của ngôn ngữ biến hình của tiếng Anh Cũng chính từ đó mà cũng không có hiện tượng phát âm một âm tiết thành hai âm tiết Ngoài ra, trong tiếng Việt ranh giới âm tiết trùng với ranh giới hình vị
có nghĩa là một phát ngôn có bao nhiêu âm tiết thì có bấy nhiêu hình vị Không chỉ mang tính đơn lập âm tiết tiếng Việt còn là điểm xuất phát để phân tích âm vị học Trong tiếng Việt như đã nói âm tiết thường trùng với hình vị cho nên khi xuất phát
từ hình vị để đi tới âm vị thì cũng là xuất phát từ âm tiết
Âm tiết không phải là một khối đông đặc mà có thể phân xuất thành các yếu
tố nhỏ hơn Cụ thể được chia thành năm thành tố và mỗi thành tố có một chức năng riêng: thanh điệu, âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối Đây cũng chính là năm thành phần cấu tạo nên âm tiết Các thành tố này sắp xếp có thứ lớp mà ta có thể phân thành từng bậc Bậc thứ nhất bao gồm: âm đầu, phần vần và thanh điệu; bậc thứ hai: âm đệm, âm chính và âm cuối
Cấu trúc 2 bậc của âm tiết
Trong chuỗi lời nói của con người không chỉ phát ra thành những mạch khác nhau mà còn phân tách ra được những khúc đoạn âm thanh nhỏ nhất có chức năng phân biệt ý nghĩa và nhận diện từ, đó chính là âm vị Và từ mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt ở trên cũng như khái niệm về âm vị chúng ta có thể lần lượt tìm hiểu các nguyên tắc ghi thành phần âm vị trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt
a Âm đầu
Trang 99
Chức năng của âm đầu là mở đầu âm tiết và phân biệt các cách mở đầu khác nhau của âm tiết Căn cứ vào các âm vị phụ âm được sử dụng và phân biệt trên văn viết thì số lượng phụ âm đầu tiếng Việt là 22 phụ âm
Tiêu chí để phân biệt 22 phụ âm đầu tiếng Việt là ở phương thức phát âm và
bộ máy cấu âm Về phương thức phát âm có ba trường hợp: phương thức tắc (phụ
âm tắc, phụ âm mũi, phụ âm bật hơi), phương thức xát (phụ âm xát, phụ âm bên), phụ âm rung Về bộ phận cấu âm có các trường hợp: phụ âm môi, phụ âm đầu lưỡi, phụ âm mặt lưỡi, phụ âm cuối lưỡi, phụ âm họng
Bảng kê phụ âm đầu
Điểm cấu âm
Phương thức
phát âm
Môi Đầu lưỡi
Mặt lưỡi
Cuối lưỡi
Thanh hầu Môi Răn
1 /b/ b
2 /m/ m
Trang 1016 /k/ c + nguyên âm hàng sau: a, u, o, ô, ă, â
k + Nguyên âm hàng trước: i, e, ê, iê
q + âm đệm /w/
17 /ŋ/ ngh + nguyên âm hàng trước: i,ê, e, iê
ng + nguyên âm hàng sau: u, ô, o, a, ă, â, uô
18 /x/ kh
19 /γ/ gh + nguyên âm dòng trước
g + nguyên âm dòng sau
20 /h/ h
21 /ɲ/ nh
22 /p/ p
b Âm đệm (âm đầu vần)
Âm đệm là yếu tố tròn môi được biểu hiện đồng thời với âm đầu vần và lan đến đỉnh âm tiết Chức năng của âm đệm là chức năng trầm hóa âm sắc Nếu hai
Trang 11w | không có khả năng độc lập làm thành âm tiết như nguyên âm | u | khi kết hợp với thanh điệu Ví dụ: u đầu, bánh ú, ú tìm…
Trên chữ viết bán âm | w | là một âm nhưng lại được biểu thị bằng hai hình thức viết khác nhau Cụ thể là:
“u” xuất hiện trước các nguyên âm: i, iê (ya), ơ, â
Ví dụ: nhụy, hươ, tuệ, chuẩn, khuya…
/w/
“o” xuất hiện trước ba nguyên âm: a, ă, e
Ví dụ: hoa, hòe, hoặc…
c Âm chính (âm giữa vần)
Âm chính là âm tố chủ yếu, là hạt nhân của âm tiết, có chức năng hình thành
âm sắc chủ yếu của âm tiết, là vị trí không thể vắng mặt trong âm tiết nên gọi là âm chính Đảm nhận vị trí âm chính bao giờ cũng là âm vị nguyên âm
Có thể nói rằng có 16 đơn vị âm vị cho các nguyên âm tiếng Việt Trong đó
có 13 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi
Các nguyên âm được phân biệt với nhau ở các tiêu chí sau:
- Vị trí của lưỡi
- Độ mở của miệng
- Hình dáng của môi
- Độ dài của nguyên âm
- Âm sắc khi phát ra nguyên âm
Ta có thể tóm tắt các tiêu chí vừa nêu bằng bảng kê nguyên âm sau đây
Trang 12Nguyên âm hàng sau không tròn
Nguyên âm hàng sau tròn
Hơi rộng
Âm sắc Bổng Trung hòa Trầm
Trên chữ viết nói chung các nguyên âm được thể hiện bằng một hình thức chữ viết nhưng cũng có trường hợp chúng được thể hiện bằng hai, ba hay bốn hình thức khác nhau
1 | i | “y” khi trước nó có âm đệm hay một mình làm thành âm tiết, ngoại trừ “í ới”
“i” trong những trường hợp còn lại nhưng cũng có trường
hợp sau nó không có âm cuối có khi ghi là “y” có khi ghi là
“i” Ví dụ: lý lẽ (lí lẽ), hy (hi)
2 | e | “ê” (lên, về…)
3 | ε | “e” khi sau nó không có “nh”, “ch” (kèn, vén)
4 | | “a” khi sau nó có “nh”, “ch” (anh ách)
5 | | “iê” khi trước nó có âm đầu và sau có âm cuối (tiêu, hiền…)
“ia” khi trước nó không có âm đệm, sau không có âm cuối
(chia lìa, tía lia…) “yê” khi trước nó có âm đệm, sau nó có âm cuối hoặc chỉ có
âm chính và âm cuối (truyền thuyết, uyên, yêu…)
Trang 1313
“ya” trong trường hợp trước nó có âm đệm, sau nó không có
âm cuối (khuya…)
10 | ă | “a” khi sau nó có “u” và “y” (nhau, nhảy…)
“ă” trong các trường hợp còn lại (lăn tăn…)
11 | | “ươ” khi có âm cuối (mượn, vườn tược…)
“ưa” khi sau nó không có âm cuối (lưa thưa…)
12 | u | “u” (lún, vun…)
13 | o | “ô” (tôn, tổ tông…)
14 | ɔ | “o” khi sau nó không có | k |, | ŋ | (lon ton, ngon lành…)
“oo” khi sau nó có | k |, | ŋ | (oong oóc, cái xoong…)
15 | | “o” trong vần “ong óc”
16 | | “uô” khi sau nó có âm cuối (cuối, tuôn…)
“ua” khi sau nó không có âm cuối
d Âm cuối
Âm cuối là âm vị kết thúc âm tiết và phân biệt cách kết thúc khác nhau của các âm tiết Tiếng Việt có 8 âm vị âm cuối, được phân biệt với nhau bởi các tiêu chí:
- Về phương thức cấu âm
- Về điểm cấu âm
Ta có thể lập ra bảng sau:
Trang 14Phụ âm cuối Tắc (vô thanh) - p - t - k
Tắc (mũi vang) - m - n - ŋ Bán âm cuối Vang (không mũi) - u - i
Về sự tương ứng giữa ký hiệu và chữ viết
- xuất hiện sau chữ cái ghi nguyên âm (âm chính) trong các âm tiết mang thanh sắc{/}, thanh nặng {.}
- xuất hiện sau chữ cái ghi nguyên âm (âm chính) trong các âm tiết mang thanh sắc{/}, thanh
huyền{\}, thanh hỏi{?}, thanh ngã{~}, thanh nặng
- xuất hiện trong các âm tiết (trừ các âm tiết có
âm chính là nguyên âm hàng trước: /i/, /e/, /ε /,
/ie/:các, cóc)
Trang 15- Xuất hiện trong các âm tiết có âm chính là
nguyên âm đơn hàng trước: /i/, /e/, /ε/: ích, ếch,
ách
- Xuất hiện trong các âm tiết (trừ các âm tiết có
âm chính là nguyên âm hàng trước:/i/ /e/, /ε /:
tung, tông, túc )
- Xuất hiện trong các âm tiết có âm chính là
nguyên âm đơn hàng trứớc: /i/, /e/, /ε /: inh, kênh,
- "o" ghi bán âm cuối /u/ trong các âm tiết có
âm chính là nguyên âm /a/, / ε / như: cao, chèo, béo, đảo
- "i" ghi bán âm cuối trong các âm tiết có các nguyên âm (trừ /ă/, /γ/), như: mai, tôi, cúi, hoài -“y” chỉ xuất hiện sau nguyên âm /ă/, /γ/ như: cay, hay, cây, đẩy, ngoe nguẩy, trong vần ây, ay: bấy nay, lay hoay…
e Thanh điệu
Thanh điệu là sự thể hiện giọng lên xuống, cao thấp khác nhau khi phát âm tiết Nó làm cho hệ thống ngữ âm của tiếng Việt phong phú, uyển chuyển so với nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới Thanh điệu mang chức năng phân biệt âm vực cao thấp của âm tiết Thanh điệu gắn liền với âm tiết, là loại âm vị siêu đoạn tính,
Trang 16Về sự phân bố của các thanh điệu
Phân bố trong các loại hình âm tiết: sự phận bố của thanh điệu tiêng Việt chỉ phụ thuộc vào âm cuối
Phân bố trong các vần thơ: trong các âm tiết hiệp vần giữa câu thơ trên và câu thơ dưới chỉ có thể có những thanh điệu cùng loại, xét về mặt âm điệu (cùng bằng hoặc cùng trắc)
Phân bố trong các từ kép láy: sự phân bố thanh điệu trong các âm tiết của từ kép láy tuân theo quy luật (cùng âm vực)
1.1.1.2 Các nguyên tắc chính tả tiếng Việt
Chữ viết tiếng Việt là chữ viết ghi âm, xây dựng theo nguyên tắc ngữ âm học, nghĩa là nói như thế nào viết như thế ấy Chính tả tiếng Việt cũng vậy Cho nên chúng ta có thể thấy được mối liên hệ mật thiết giữa âm - chữ trong chính tả tiếng Việt Điều đó cũng có nghĩa nếu nắm rõ hệ thống âm tiết và viết thành thạo là đã
có kỹ năng chính tả tiếng Việt
a Chữ viết có một số các nguyên tắc chính tả, và đối với mỗi chữ viết cụ thể thì đặc điểm quan trọng nhất là nguyên tắc chính tả nào là nguyên tắc cơ bản và nó được áp dụng quán triệt đến đâu
Trang 1717
Chữ viết có thể ghi phân biệt các từ dựa theo nghĩa hoặc dựa theo âm Dựa theo nghĩa thì trên nguyên tắc có bao nhiêu từ phải đặt ra bấy nhiêu ký hiệu: số lượng ký hiệu sẽ nhiều vô kể, đây là điều bất tiện của chữ viết ghi ý Dựa theo âm
có thể phân tích thành âm vị: số lượng âm vị của một ngôn ngữ trung bình chỉ trên dưới ba bốn chục, do đó trên nguyên tắc chỉ cần một số lượng ký hiệu tương đương để ghi các âm vị, dùng những tổ hợp con chữ để ghi các âm tiết và các từ Lối chữ viết ghi âm bằng chữ cái là thành tựu của một quá trình lịch sử lâu dài loài người sáng chế, sửa đổi và cải tiến chữ viết Cơ sở quyết định chính tả của chữ viết ghi âm là phát âm
b “Nguyên tắc chính tả cơ bản của chữ viết ghi âm bằng chữ cái là nguyên
tắc ngữ âm học” [15, tr.6] Con chữ dùng để ghi âm vị và hễ phát âm như nhau thì
viết giống nhau, và ngược lại, hễ viết giống nhau thì phát âm như nhau Lý tưởng
là tương ứng với mỗi âm vị, chỉ dùng một và chỉ một con chữ nhất định Tuy nhiên, trên thực tế do nguyên nhân lịch sử cũng như nhiều lý do thực tiễn, không
có một chữ viết nào như vậy Vì thế, yêu cầu hợp lý đối với một chữ viết là yêu cầu tương đối Không thể và cũng không nên bao giờ đòi hỏi áp dụng triệt để nguyên tắc của âm vị học, nếu nguyên tắc có bị vi phạm thì phải có lý do, đáp ững yêu cầu thực tiễn nhất định, và được áp dụng một cách nhất quán để đảm bảo cuối cùng vẫn có sự tương ứng đều đặn, có quy tắc giữa chữ và âm
c Như vậy, đối với chữ viết ghi âm, căn cứ của chuẩn chính tả là chuẩn phát
âm Trên lý thuyết, chuẩn hóa phát âm phải được giải quyết trước để làm cơ sở cho chuẩn hóa chính tả Nhưng trên thực tế, vấn đề chuẩn hóa chính tả dẫu sao cũng dễ giải quyết hơn vấn đề chính âm, yêu cầu chuẩn hóa và thống nhất chính tả lại phổ biến hơn, cấp thiết hơn nên vấn đề này có thể phải giải quyết trước Điều cần chú ý là ngay trong trường hợp này, dẫu muốn hay không cũng phải xác định một chuẩn phát âm Mặt khác, chính tả có thể tác động ngược trở lại đối với phát
âm, chuẩn chính tả có tác dụng củng cố và phổ biến chuẩn phát âm Ngược lại, những sự phân biệt chỉ có trên chính tả, không có trong thực tế phát âm, có thể tạo nên những cách phát âm phân biệt giả tạo Ngoài ra, chính tả có thể thúc đẩy hoặc
Trang 1818
trái lại làm chậm quá trình nảy sinh và phổ biến của những hiện tượng ngữ âm mới trong những điều kiện nhất định, bằng cách phản ánh hay không phản ánh những hiện tượng ngữ âm ấy Nhưng quy đến cùng thì sự phát triển của ngữ âm bao giờ cũng là do yêu cầu của ngôn ngữ với tư cách là một công cụ giao tiếp và do những đặc điểm của hệ thống ngữ âm của từng ngôn ngữ quyết định, không phải do chính
tả
d Cuối cùng, trong các chữ viết ghi âm bằng chữ cái, bao giờ cũng có một thành phần không ghi âm, mà ghi ý, gồm những ký hiệu không đại diện cho những yếu tố ngữ âm mà là trực tiếp biểu đạt những ý niệm, tình cảm… Đó là các chữ số (A-rập, La Mã), các dấu câu…Lối viết hoa, và cả lối viết tắt, về thực chất cũng thuộc loại này Chuẩn chính tả trong những trường hợp này thật ra chỉ là những quy tắc, có tính chất quy ước, sử dụng các ký hiệu nói trên Hầu hết những ký hiệu trên đây có tính chất quốc tế, dùng thống nhất trong nhiều chữ viết, và những quy tắc sử dụng chúng có một phần lớn giống nhau giữa chữ viết, và những quy tắc sử dụng chúng có một phần lớn giống nhau giữa chữ viết của các ngôn ngữ Tuy nhiên, vẫn có một phần quan trọng khác nhau, vì là dựa trên đặc điểm của từng ngôn ngữ hoặc dựa trên truyền thống của từng chữ viết Dấu hỏi thường là đặt sau câu hỏi, nhưng trong chữ Tây Ban Nha thì lại đặt ở đầu câu Lối viết hoa thường là
để dùng cho danh từ riêng, nhưng trong chữ Đức, tất cả danh từ, riêng cũng như chung, thảy đều viết hoa Dẫu sao đây cũng là những quy ước, mà đã là quy ước thì khó có tiêu chuẩn thống nhất của tính hợp lý Nhưng cũng vì là quy ước, cho nên những quy tắc đơn giản thường vẫn là thuận tiện hơn cả
1.1.2 Đặc điểm chữ viết tiếng Việt và nội dung chính tả tiếng Việt
1.1.2.1 Đặc điểm chữ viết tiếng Việt
Chữ viết tiếng Việt (Chữ Quốc ngữ), còn được gọi tắt là Quốc ngữ, là hệ thống chữ viết chính thức hiện nay của tiếng Việt Hệ thống này được xây dựng dựa trên chữ cái Latin có 29 chữ cái, theo thứ tự:
Trang 19mà là chữ ghép; ví dụ trong việc xếp thứ tự, "CH" nằm giữa "CA" và "CO" trong
các từ điển hiện đại
Các chữ cái "F", "J", "W" và "Z" không có trong bảng chữ cái tiếng Việt, nhưng có thể bắt gặp trong các từ vay mượn từ tiếng nước ngoài "W" thỉnh thoảng được dùng trong cách viết tắt thay "Ư" Hiện đang có ý kiến cho rằng, cần bổ sung
thêm bốn chữ cái kể trên vào bảng chữ cái tiếng Việt để hợp thức hóa cách sử dụng
để đáp ứng sự phát triển của tiếng Việt hiện đại Ta có thể lập thành bảng sau:
Aa Ăă Ââ Bb Cc Dd Đđ Ee Êê
Trang 2020
Để viết đúng chính tả cần viết đủ các nét cơ bản (nét khu biệt) cùng những nét liên kết trong mỗi chữ cái và giữa các chữ cái với nhau Việc viết đúng chính tả cũng đồng thời phải tuân thủ cách ghi các dấu thanh và dấu câu, viết đúng quy cách hệ thống chữ số quy định
1.1.2.2 Nội dung chính tả tiếng Việt
Chính tả, theo định nghĩa của từ điển, là cách viết đúng, hợp với chuẩn và những quy tắc về cách viết chuyển từ dạng thức ngôn ngữ nói sang dạng thức ngôn
ngữ viết : “Chính tả - đó là cách viết chữ được coi là chuẩn” [5, tr.175], như vậy
có thể hiểu: những cách viết chữ không đúng so với chuẩn được coi là sai chính tả Chính tả, đó là những quy định mang tính xã hội cao, được mọi người trong cộng đồng chấp nhận, mọi người đều phải tuân thủ Những quy định đó thường là thói quen trong sự vận dụng thực tiễn, nhưng cũng có thể do các tổ chức, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, và được xã hội chấp nhận; được coi là chuẩn mực nói chung, là chuẩn chính tả nói riêng
Như vậy, chuẩn chính tả là việc chuẩn hóa hình thức chữ viết của ngôn ngữ,
là những quy định buộc mọi người sử dụng tiếng Việt phải tuân theo Quy định ấy thường bao gồm các nội dung sau:
- Quy định chuẩn về việc viết các chữ cái ghi âm vị trong âm tiết
- Quy định chuẩn về viết hoa, viết tắt, phiên âm
- Quy định chuẩn về viết dấu câu
Chuẩn chính tả là sự biểu hiện của tính khuôn mẫu, tính chuẩn mực; do vậy, khi được hình thành và áp dụng vào thực tế, chuẩn chính tả thường mang một số đặc điểm là:
a Chuẩn chính tả có ba đặc điểm cơ bản là mang tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối Viết đúng chính tả là một yêu cầu phổ biến đối với mọi người chứ không riêng ai Đối với chính tả, yêu cầu cao nhất là sự thống nhất, cần có những chuẩn chính tả được xác định rõ ràng, tránh những trường hợp mập mờ, hạn chế những trường hợp trung gian
Trang 2121
b Nói đến chuẩn chính tả là nói đến vấn đề ổn định, ít thay đổi Chữ viết chính tả thường có tính bảo thủ Tính ổn định cao của chữ viết và chính tả cũng kéo theo sự ổn định cao của những quy định chuẩn chính tả Vì thế, trên thực tế sử dụng ngôn ngữ chúng ta thường thấy những thói quen viết chữ đã ăn sâu vào tiềm thức của người sử dụng nên khi có sự biến đổi nào đó, người sử dụng cảm thấy khó khăn trong cách viết, khó thay đổi được ngay cách viết mới Tính ổn định cao của chữ viết đôi khi cũng gây rắc rối cho chính tả Khi ngôn ngữ đã có sự thay đổi
và phát triển khác trước (mặt ngữ âm) mà chính tả vẫn giữ nguyên không thay đổi thì rất dễ nảy sinh các mâu thuẫn, tạo nên những bất hợp lý Chẳng hạn trước đây, trong tiếng Việt có sự phân biệt phát âm giữa D và Gi nhưng đến nay không còn sự phân biệt nữa Ở góc độ chữ viết, việc phân biệt giữa D và Gi vẫn là quy định về chính tả Điều này tạo nên sự khó khăn về chính tả mà trên thực tế, chuẩn chính tả cũng đành để ở dạng trung gian
c Mặc dù có tính ổn định cao, song chuẩn chính tả không phải là bất biến Chính tả có tính ổn định cao, tuy nhiên trong quá trình vận động của nó vẫn có sự biến đổi với mức độ chậm Sự biến đổi của chính tả ít nhiều kéo theo sự thay đổi
về chuẩn chính tả Những chuẩn chính tả trong thời điểm này được coi là hợp lý nhưng đến một thời điểm khác không còn phù hợp nữa thì tất yếu phải thay đổi
d Chuẩn chính tả thường mang tính truyền thống và số đông Điểm xuất phát của chuẩn chính tả là những thói quen phổ biến trong xã hội, vì thế, chuẩn chính tả thực chất là kết quả của một sự lựa chọn – lựa chọn nhiều hình thức chính tả đang tồn tại Chẳng hạn do thói quen phát âm của đa số người trong xã hội mà có thể tạo
thành những chuẩn thể hiện trên chữ viết như: “chỏng ngọng” (tuy theo từ nguyên phải là “chổng gọng”); “đại bàng” (tuy theo từ nguyên phải là “đại bằng”)
Đặc trưng số đông thể hiện rõ nhất trong chuẩn chính tả tiếng Việt là khi trong thực tế đang tồn tại hai hình thức ngữ âm mà chưa xác định được một chuẩn duy nhất thì có thể tạm thời chấp nhận hai hình thức ấy, cho đến khi nào thói quen nghiêng hẳn về một hình thức Đó được gọi là những từ lưỡng khả Chẳng hạn như
nghĩa “eo sèo” và “eo xèo”; “sứ mạng” và “sứ mệnh”
Trang 2222
1.2 Cơ sở xã hội của vấn đề
1.2.1 Tình hình “rối” chính tả hiện nay
Vào ngày 5-3-1984 nước ta có Quyết định 240/QĐ của Bộ Giáo dục Quy định về chính tả tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt Có thể nói rằng đây là quyết định đầu tiên về chuẩn hóa tiếng Việt của nước ta trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước Trải qua hơn 20 năm, chúng ta đã liên tiếp ban hành những quy định khác nhau về văn bản tiếng Việt, một vấn đề mà đáng lẽ ra phải được thống nhất ngay từ đầu Các nước phát triển hàng đầu trên thế giới rất chú trọng đến việc thống nhất chuẩn chính tả Họ đã ban hành Luật ngôn ngữ thống nhất, đồng thời phổ biến rộng khắp trong toàn thể quần chúng nhân dân để sử dụng chuẩn ngôn
ngữ của quốc gia mình Nước ta đã trải qua không quá “năm lần bảy lượt” thay đổi chuẩn chính tả Đầu tiên là năm 1984 tiếp đến là năm 2002 với “Quy định tạm
thời về chính tả trong sách giáo khoa mới” Đến năm 2003 lại có thêm “Quy định tạm thời về viết hoa tên riêng trong sách giáo khoa” Ngoài ra, Hội đồng Quốc gia
Chỉ đạo Biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam trong Hội nghị toàn thể ngày 3 và
4-5-2000 cũng đã ban hành “Quy tắc chính tả và phên chuyển tiếng nước ngoài”
của tiếng Việt riêng mình Chính vì quá nhiều quy định được đặt ra như thế mà Bộ
nội vụ vào tháng 6-2006 đã phải đưa ra một “Dự thảo” về “Quy định về viết hoa
và phiên chuyển tiếng nước ngoài trong văn bản tiếng Việt” nhằm dùng nó trong
địa hạt tài chính Gần đây nhất, ngày 21-12, Báo Thanh Niên, Trường ĐH Khoa
học xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), Trường ĐH Sài Gòn đã phối
hợp tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia “Xây dựng chuẩn mực chính tả thống nhất
trong nhà trường và trên các phương tiện thông tin đại chúng” Hội thảo đã nêu ra
một số vấn đề quan trọng về việc thống nhất chuẩn mực chính tả Cụ thể, về chữ viết có cần nhất thiết bổ sung các con chữ f, j, w, z vào bảng chữ cái tiếng Việt hay không? Một số quan hệ giữa tiếng nói và chữ viết hay nói cách khác là có cần thiết phải điều chỉnh chữ viết ghi âm để nó gần hơn với phát âm của người Việt hiện nay hay không? Ngoài ra, còn có vấn đề về cách viết y và i, vấn đề về sử dụng dấu
Trang 2323
thanh cũng như quy định về viết hoa tên cơ quan, tổ chức và cách phiên âm tiếng nước ngoài
Rõ ràng, đối với việc sử dụng thống nhất chính tả tiếng Việt mà có quá nhiều
quy định như vậy thì quá “rối” Cứ mỗi lần ra quyết định thay đổi và ban hành thì
việc sử dụng nhầm lẫn, rối ren trong xã hội là điều không thể tránh khỏi GS, TS ngôn ngữ học Trần Trí Dõi đã có nêu một ví dụ điển hình về việc này Ngay chân
tượng đài Lý Thái Tổ ở trung tâm thủ đô Hà Nội có ghi rõ “Lý Thái Tổ” Một trường trung học ở Nha Trang có bảng tên gọi ở cổng trường là “Lý Tự Trọng”
Nhưng sau Quyết định 240/QĐ ngày 5-3-1984 của Bộ Giáo dục về “chính tả” thì trong sách giáo khoa do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành, giáo viên và học sinh lại
có thể viết là “Lí Thái Tổ”, “Lí Tự Trọng” Hay một ví dụ mà chúng tôi đọc được trên nguồn internet về một ông bố thời “cựu học” khẳng định với con rằng viết “hi
sinh”, “vật lí” là chưa thỏa đáng, phải viết “hy sinh”, “vật lý” mới đúng Và ông
đưa ra cuốn sách “lưu cửu” để chứng minh Thằng nhỏ mở cuốn sách giáo khoa
“hiện đại” ra, nói đây, từ nào cũng viết i “đàng hoàng”, bố thì cứ “bảo lưu” mãi
Ngay như cuốn sách nổi tiếng của nhà văn Tây Ban Nha Cervantes, một trong những tiểu thuyết xuất hiện sớm nhất châu Âu, tên nhân vật chính khi thì viết Đôn Kihôtê, lúc thì Đôn Ki-hô-tê, rồi Đông-ki-sốt hoặc Đôngkisốt Còn tên những con vật cũng thế, có sách viết hoa: Hươu, Hổ, Voi…cũng có sách viết thường: nai, gấu, chồn…Như thế, đứng trước thực trạng “rối rắm” của chính tả tiếng Việt, người đọc phải xử lý như thế nào?
1.2.2 Đôi nét về thực trạng chính tả trên báo viết
Theo một báo cáo gần đây về “Tình hình chính tả văn bản tiếng Việt” do
Viện Công nghệ Thông tin - ĐH Quốc gia Hà Nội và Công ty VieGrid công bố khi khảo sát 177 tổ chức thuộc 7 khu vực trong tháng 6/2010 Trên tổng số gần 67.000 mẫu văn bản, tỉ lệ lỗi chính tả trung bình của văn bản tiếng Việt là 7.79%, cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn 1% (do các chuyên gia ngôn ngữ đề ra và rất cao
so với tiêu chuẩn quốc tế 0,1%) Nhưng điều đáng lưu ý ở đây là khu vực báo chí truyền thông có tỷ lệ lỗi chính ở gần mức báo động là 10% Đặc biệt, Đài tiếng nói
Trang 2424
Việt Nam, cơ quan truyền thống lớn của Chính phủ, lại đứng đầu về tỷ lệ lỗi chính
tả với hơn 30% Các báo điện tử như: Vnexpress, Việt báo, báo điện tử 24h… cũng đều có tỷ lệ lỗi trên 20% Nhưng nói đi cũng phải nói lại, việc sai lỗi chính tả nói cho cùng thì ai cũng mắc phải Giữa trung tâm Thủ đô còn sai, giữa quốc lễ Hùng
vương cũng sai chưa kể là trong "Vở luyện tập Tiếng Việt 1" của NXB Đà Nẵng,
“Vở tiếng Việt thực hành 1" của NXB Giáo dục do TS Trần Thị Minh Phương chủ
biên cũng mắc những lỗi sai,… Hay trong cuốn "Vở ô ly có viết chữ mẫu" của NXB Mỹ thuật, trong phần lấy ví dụ cho vần "ướt" đã dẫn minh họa kèm theo là
"thướt đo" Nhiều phụ huynh đọc xong không hiểu nghĩa của từ "thướt đo" là gì
(chữ có nghĩa phải là "thước đo") Còn trong cuốn "Bài tập thực hành tiếng Việt 2"
của NXB Đại học Sư phạm, do Nguyễn Hải Mi - Trần Thị Hồng Thắm chủ biên
cũng mắc lỗi về từ, người soạn đã dùng sai từ "năn nỉ" thành "năng nỉ" Như thế
thì dân sai nhiều lỗi chính tả cũng không lấy gì làm ngạc nhiên lắm Ngạc nhiên ở đây, nếu có thì là tỷ lệ lỗi cao quá, những gấp 8 lần chuẩn và khu vực báo chí và truyền thông có tỷ lệ lỗi chính tả cao nhất, gần mức báo động 10% Và theo thống
kê thì các lỗi chính tả thường gặp nhất là lỗi viết sai các phụ âm hoặc nguyên âm
Trước hết với nhóm phụ âm đầu như tr/ch, s/x, r/gi/d Ví dụ: chúng tả phải viết là
“chia sẻ”, “bổ sung”, “vô hình trung”, “giã biệt”, “di dời”, “xa rời”… thì nhà báo lại viết thành “chia xẻ”, “bổ xung”, “vô hình chung”, “bất chắc”, “dã biệt”,
“di rời”, “xa dời” Tiếp theo là lỗi sai về nguyên âm dẫn đến lỗi sai về nghĩa của
từ: “tham quan” – “thăm quan”, “lăp lại – lập lại”, “hằng ngày – hằng ngày”,
“thập niên – thập kỷ”,… Cá biệt, một số nhà báo còn nhầm lẫn giữa các từ xuất/suất và giành/dành…
Ngoài ra, những từ đo lường viết tắt như: km (ki lô mét), kg (ki lô gam), ha (héc ta) được dùng không chuẩn mực Hay dấu câu được sử dụng không chính xác với chức năng, cụ thể là dấu phẩy (,) dùng tràn lan Không những thế lỗi sai về từ
Hán Việt rất phổ biến, nhất là khi dùng những từ: “yếu điểm” (điểm yếu), “vấn
nạn” (vấn đề tệ nạn), “sáp nhập” (sát nhập),…
Trang 2525
Theo một thông tin chúng tôi đọc được trên internet về một đài TH khu vực
Nam Bộ trong mục đưa tin giá cả, có hiện dòng chữ “ Giá đậu que là 5000.đ/ký) Trong “Từ điển tiếng Việt”, ở mục “đậu” thì không có từ “Đậu que” này mà chỉ
có “Đậu cô ve” : chỉ một loại đậu “quả dẹp, rộng bản, khi non có màu xanh lá
mạ”(Từ điển tiếng Việt- NXB Đà Nẵng- Trung tâm từ điển học- 1997, trang 292)
Có thể do cách đọc theo phương ngữ Nam bộ nên “cô ve” thành “que” chăng ? Thực chất đây đúng là đậu cô ve, hiện đang được nông dân trồng rộng rãi dùng làm
thực phẩm hàng ngày Có thể thấy được rằng, các tờ báo không chỉ mắc phải những lỗi chính tả về mà nhìn chung vẫn chưa thống nhất trong các quy định về
chuẩn chính tả dẫn đến việc “đất ai người nấy sống, mạnh ai người nấy viết”
CHƯƠNG HAI: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG CHÍNH TẢ TRÊN
BÁO VIẾT 2.1 Về mặt hình thức của từ
2.1.1 Miêu tả việc sử dụng các hình thức của từ
Để cho việc khảo sát mang tính khách quan và độ tin cậy cao, chúng tôi đã
chọn ngẫu nhiên 50 bài báo trên 3 trang báo điện tử là: Vnexpress (Vnexpress.net),
VN Thư quán (vnthuquan.net), 24h (24h.com.vn) Như vậy, tổng cộng có tất cả
150 bài của 3 trang báo
Trang Vnexpress.net
Khảo sát 50 bài của trang Vnexpress.net cho thấy có một số lỗi sai về mặt
hình thức của từ Đó là các lỗi sai về phụ âm đầu, phần vần và thanh điệu
Về sai phụ âm đầu: Khảo sát ở 50 bài báo có 10 bài sai lỗi phụ âm đầu Phụ
âm đầu thường bị lỗi là: /s/, /x/, /tr/, /ch/, /d/, /r/, /gi/, /ngh/, /ng/ Trong đó những
âm /s/, /x/, /tr/, /ch/ sai với tỷ lệ cao hơn Ví dụ:
(1) “South China Morning Post dẫn lời Wang Hanling, một chuyên gia hải
quân thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc,bình luận rằng hoạt động này của ông Tập cùng với cuộc tập trận của hải quân có thể là một thông điệp đến các
Trang 2626
nước đang có tranh chấp chủ quyền, mặt khác cổ súy ngư dân Trung Quốc trên
các vùng biển đó”
(Nguồn Vnexpress.net, thứ sáu, 12/4/2013, 10:33 GMT+7)
(2) “Chị (kẻ lừa đảo giả danh) nhờ tôi mua dùm card điện thoại mobifone để tặng người bạn và cho tôi đường link vào xem hình gia đình chị, tôi không nghi
ngờ gì cả, gọi điện thoại về Việt Nam cho người bạn nhờ mua dùm 2 triệu tiền
card cho chị”
(Nguồn Vnexepress.net, thứ tư, 14/3/2012, 11:25 GMT+7)
(3) “Doanh nghiệp bất động sản mong ngân hàng siết nợ”
(Nguồn Vnexpress.net, thứ hai, 8/4/2013, 03:04 GMT+7)
(4) "Điều tôi quan tâm nhất là độ an toàn Có sản phẩm trong vài năm không xảy ra tai nạn nhưng cũng không thể lường trước được Theo tôi, nếu có người đã nhìn nhận cầu Rồng giống con rắn hay con lươn thì có nâng lên một hai thước nữa
cũng vậy thôi Hơn nữa, nếu đầu rồng ngẩng cao lên thì vô hình chung dáng rồng
không phải là đang bay mà là dừng lại"
(Nguồn Vnexpress.net, thứ sáu, 5/4/2013, 11:16 GMT+7)
Dưới đây là danh sách số từ mắc lỗi phụ âm đầu với tỷ lệ cao của báo
Vnexpress.net
Trang Vnexpress.net
cổ súy siết nợ dùm
vô hình chung xum họp
sơ xài
bỏ xót
xử xự
cổ xúy xiết nợ giùm
vô hình trung sum họp
sơ sài
bỏ sót
xử sự
Trang 2727
trôi giạt nghe phong phanh
trôi dạt nghe phong thanh
Về sai phần vần: Phần vần gồm âm đệm, âm chính, âm cuối Lỗi phần vần tập trung ở âm đệm và âm chính Một số âm chính mắc lỗi như: | i |, | e |, | ω | | γ |, | ɔ |
Ví dụ:
(1) “Ở một hoàn cảnh khác, một thời điểm khác, chỉ riêng sự chênh lệch quá
lớn về tầm vóc ấy là đủ để biến Real thành một "ông ngáo ộp", làm chết khiếp
những anh lính mới tò te ngay từ khi trái bóng chưa lăn Nhưng điều đó có lẽ không phù hợp để nói về trận đấu giữa Real với Man City hôm nay”
(Nguồn Vnexpress.net, thứ ba, 18/09/2012 10:18 GMT+7)
(2) “Tiết lộ của giới mày râu trong phòng khám nam khoa cho thấy họ "rủ
cờ" vì những lý do rất oái ăm như vợ chê bụng bia, bị bắt cọ nhà vệ sinh hay cấm
vận lâu ngày”
(Nguồn Vnexpress.net, thứ hai, 22/08/11 06:30 GMT+7)
(3) “Cặp vợ chồng một thủa sẽ cùng xuất hiện trên sân khấu sau hai năm tan
vỡ, trong đêm nhạc “Lắng nghe mùa thu vàng” diễn ra ngày 1-2/10 tại Cung Văn hóa Hữu nghị, Hà Nội”
(Nguồn Vnexpress.net, thứ năm, 15/09/2011 07:30 GMT+7)
(4) “Trong quá trình điều trị vết thương vì vụ tấn công và cưỡng hiếp tại
bệnh viện ở Delhi, cô gái 23 tuổi có lúc hồi tỉnh và kể lại sự việc như lời trăng trối
cuối cùng trước khi qua đời”
(Nguồn Vnexpress.net, thứ bảy, 12/1/2013, 09:30 GMT+7) Sau đây là một số từ viết sai âm đệm và âm chính của trang Vnexpress.net
Trang Vnexpress.net
Trang 2828
Âm đệm
ngáo ộp oái ăm khuyếch đại
Âm chính
gởi cung nghinh thủa trao dồi
Âm cuối
cứng ngắt trăng trối
sát nhập
Âm đệm
ngoáo ộp oái oăm khuếch đại
Âm chính
gửi cung nghênh thưở trau dồi
Âm cuối
cứng ngắc trăn trối
sáp nhập
Về sai thanh điệu
Khảo sát 50 bài của trang Vnexpress.net chúng tôi nhận thấy có một số lỗi về
thanh điệu Phần nhiều là sai về thanh hỏi và thanh ngã Ví dụ:
- “Cám ơn anh vì đã chấp nhận quá khứ của em”
(Nguồn Vnexpress.net, thứ bảy, 2/3/2013, 09:19 GMT+7)
Bảng danh sách các từ mắc lỗi phổ biến
Trang Vnexpress.net
khinh dễ
dễ ngươi cám ơn riêng lẽ
hổ trợ nghĩ ngơi
khinh dể
dể ngươi cảm ơn riêng lẻ
hỗ trợ nghỉ ngơi
Trang Vnthuquan.net
Trang 2929
Khảo sát 50 bài của trang vnthuquan.net cho thấy có một số lỗi sai về mặt
hình thức của từ Đó là các lỗi sai về phụ âm đầu, phần vần và thanh điệu
Về sai phụ âm đầu: Khảo sát ở 50 bài báo có 12 bài sai lỗi phụ âm đầu Phụ
âm đầu thường bị lỗi là: /s/, /x/, /tr/, /ch/, /d/, /r/, /gi/, /ngh/, /ng/ Trong đó những
âm /s/, /x/, /tr/, /ch/ sai với tỷ lệ cao hơn Ví dụ:
(1) “Nói chung là những người cổ súy cho một nền văn học nghệ thuật tự do
không bị ràng buộc vào những thói quen, những suy nghĩ cũ”
(Nguồn Vnthuquan.net, vào ngày: 12 tháng 6 năm 2012)
(2) “Ở bờ bên kia, nơi hiện đang là cánh đồng cỏ ngập nước, trước đây là một cánh rừng bạch dương bạt ngàn, còn trên quả đồi trọc nổi rõ phía chân trời,
ngày xưa là một rừng thông già xanh ngăn ngắt Trên sông xà lan xuôi ngược”
(Nguồn Vnthuquan.net, vào ngày: 28 tháng 8 năm 2004)
(3) “Cừu Thiên Nhậm lườm Thiết Phiến Ngọa Long, rồi nhìn lại bọn giáo đồ,
vô hình chung, không biết nghĩ gì, lão bất giác buông một tiếng thở dài”
(Nguồn Vnthuquan.net, vào ngày: 27 tháng 12 năm 2003)
Dưới đây là danh sách số từ mắc lỗi phụ âm đầu với tỷ lệ cao của báo
Vnthuquan.net
Trang Vnthuquan.net
sa sả sắc son
cổ súy dùm
xà lan dáo dác
vô hình chung dèm pha
xa xả sắt son
cổ xúy giùm
sà lan nháo nhác
vô hình chung gièm pha
Trang 30(1) “David thân yêu, anh vẫn thấy cha anh là một con ngáo ộp”
(Nguồn Vnthuquan.net, vào ngày: 7 tháng 10 năm 2004)
(2) “Cô luôn cố gắng trao dồi tiếng Anh từ những ngày đó, rồi trong suốt
bốn năm Đại học, cô vẫn không ngừng truy tìm học bổng và duy trì điểm số luôn ở mức xuất sắc”
(Nguồn vnthuquan.net, vào ngày: 27 tháng 7 năm 2007)
(3) “Năm 1407, nhà Minh triệt được họ Hồ, sát nhập An Nam vào đế quốc
Trung Hoa”
(Nguồn Vnthuquan.net, vào ngày: 28 tháng 1 năm 2005)
Sau đây là một số từ viết sai âm đệm, âm chính và âm cuối của trang
Vnthuquan.net:
Trang Vnthuquan.net
Trang 3131
Âm đệm
ngáo ộp oái ăm
khuyếch trương
Âm chính
gởi bặm trợn cung nghinh thủa trao dồi tông tích
Âm cuối
cá vượt choáng hết sát nhập
Âm đệm
ngoáo ộp oái oăm khuếch trương
Âm chính
gửi bậm trợn cung nghênh thưở trau dồi
tung tích
Âm cuối
cá vược choán hết sáp nhập
Về sai thanh điệu
Khảo sát 50 bài của trang Vnthuquan.net chúng tôi nhận thấy có một số lỗi về
thanh điệu Phần nhiều cũng là sai về thanh hỏi và thanh ngã, cụ thể như sau:
Trang Vnthuquan.net
Trang 3232
nghĩ mát lẫn trốn khinh dễ
dễ ngươi cám ơn
kẻ hở
nghỉ mát lẩn trốn khinh dể
dể ngươi cảm ơn
kẽ hở
Trang 24h.com
Khảo sát 50 bài của trang 24h.com cho thấy cũng có một số lỗi sai về mặt
hình thức của từ Đó là các lỗi sai về phụ âm đầu, phần vần và thanh điệu
Về sai phụ âm đầu: Khảo sát ở 50 bài báo có 9 bài sai lỗi phụ âm đầu Phụ âm đầu thường bị lỗi là: /s/, /x/, /tr/, /ch/, /d/, /r/, /gi/, /ngh/, /ng/ Trong đó những âm /s/, /x/, /tr/, /ch/ sai với tỷ lệ cao hơn Ví dụ:
(1) “Điều gì ẩn dấu quanh ngôi nhà bị ma bắt?”
(Nguồn 24h.com, thứ ba, 04/05/2010, 04:30 AM (GMT+7)
(2) “Đành rằng những phát ngôn của cô được xem là thật thà nhưng vô hình
trung cổ súy cho quan điểm lười lao động, ưa hưởng thụ và dựa dẫm của một bộ
phận giới trẻ hiện nay”
(Nguồn 24h.com, thứ ba, 26/02/2013, 05:12 AM (GMT+7)
vô hình chung
cổ xúy súc tích giùm
vô hình trung
Trang 3333
xiết chặt
sơ xuất
xỉ nhục nghe phong phanh
siết chặt
sơ suất
sỉ nhục nghe phong thanh
Về sai phần vần: Phần vần gồm âm đệm, âm chính, âm cuối Một số âm chính mắc lỗi như: | i |, | e |, | ω | | γ |, | ɔ |, /uo/ Ví dụ:
(1) Video clip hài: “Bỗng nhiên hóa ngáo ộp”
(Nguồn 24h.com, thứ hai, 07/11/2011, 12:10 AM (GMT+7)
(2) “Cơm công nhân: Nhầy nhụa, be bét, tả tơi”
(Nguồn 24h.com, thứ bẩy, 14/05/2011, 01:34 PM (GMT+7)
(3) “Cập nhập lịch thi đấu các giải bóng đá trong ngày”
(Nguồn 24h.com, thứ bẩy, 13/04/2013, 06:42 AM (GMT+7)
Sau đây là một số lỗi sai thường gặp về âm đệm, âm chính và âm cuối của
Âm chính
gởi cung nghinh thủa thứ bẩy đọc giả
Âm cuối
bước ngoặc
Âm đệm
ngoáo ộp oái oăm khuếch trương
Âm chính
gửi cung nghênh thưở thứ bảy độc giả
Âm cuối
bước ngoặt
Trang 34Về sai thanh điệu
Khảo sát 50 bài của trang 24h.com chúng tôi nhận thấy có một số lỗi về thanh
điệu Ví dụ:
- “Cám ơn, tôi đã nhận ra mình giỏi!”
(Nguồn 24h.com, thứ tư, 06/03/2013, 12:05 AM (GMT+7) Một số lỗi thường gặp như:
Trang 24h.com.net
khinh dễ
dễ ngươi cám ơn sữa chữa rãnh rỗi
khinh dể
dể ngươi cảm ơn sửa chữa rảnh rỗi
2.1.2 Thống kê thực trạng
Về cơ bản, thống kê thường nêu ra % của vấn đề cần khảo sát mà cụ thể trong bài là % tỷ lệ lỗi sai về mặt hình thức của từ Muốn tính được tỷ lệ % đó ta phải tính theo số lượng từ sai trên các tiêu chí: phụ âm đầu, vần và thanh điệu Tuy nhiên việc đếm, thống kê và tính với số lượng từ như thế trên báo viết là một việc làm không dễ dàng Muốn tính được % tỷ lệ lỗi sai về hình thức của từ một cách khách quan, chính xác nhất không chỉ đơn thuần là đếm số từ sai mà phải thống kê được cả số từ đúng và nếu như thế cần có một số lượng bài báo lớn (vì % lỗi sai =
Số từ sai/ Số từ sai + số từ đúng) Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ cần phản ánh được thực trạng chính tả trên báo viết hiện nay từ đó làm rõ sự ảnh hưởng của thực trạng đến sự thống nhất chính tả trên nhà trường phổ thông Vì thế, trong bảng thống kê lỗi hính thức của từ, chúng tôi tạm chọn cách thống kê theo tiêu chí:
số lượng lỗi/ đơn vị bài báo, cụ thể như sau:
Trang 35Âm đệm 10/50 10/50 9/50
Âm chính 11/50 11/50 10/50
Âm cuối 9/50 11/50 9/50 Thanh điệu 8/50 10/50 6/50 Trên đây là thống kê sơ bộ của chúng tôi về những lỗi sai về mặt hình thức từ
mà các trang báo mạng thường mắc phải Điều này quả thật đáng báo động cho các trang báo mạng trong ý thức giữ gìn sự trong sáng cho tiếng Việt Có thể các trang báo này không phải là báo in nên việc biên tập trở nên lỏng lẻo hơn Tuy nhiên,
trong quá trình khảo sát báo in, chúng tôi đã thấy có trường hợp : “… xin goịc cho
chúng tôi” [TN, tr.6, 2-3-2013] Có thể lỗi trên là do quá trình đánh máy nhưng vai
trò của biên tập viên ở đâu? Báo mạng nếu sai thì có thể lên cáo lỗi rồi sửa, còn báo in thì đã rành rành ra như thế thì sửa làm sao?
2.2 Về mặt dấu câu
2.2.1 Đôi điều cần biết về dấu câu
Dấu câu (Punctuation) trong các từ điển song ngữ và sách vở ngôn ngữ học ở nước ta thường được dịch ra thành: dấu ngắt câu, dấu chấm câu và dấu câu Cách dịch này tự thân nó đã cho thấy một quan điểm có tính định hướng rất rõ của các học giả: đó là nhìn thấy ở đây chỉ mỗi một chức năng duy nhất của các loại dấu
(mark) có liên quan đến “câu”, hay rộng hơn và đúng hơn – có liên quan đến vai
trò của các dấu này trong việc phân giới giữa các câu, giữa các thành phần trong câu, giữa các vế câu (ghép) và giữa các thành tố trong cụm từ Hay nói một cách
khác, thuật ngữ “punctuation” đã bị khuôn hẹp lại cho những gì nằm trong phạm
vi “ngữ pháp” Hãy thử xem một vài định nghĩa về khái niệm này ở sách báo nước
ngoài:
Trang 3636
- Từ điển ngôn ngữ học (Dictionnary of Linguistics, in năm 1954, New
York): “Việc dùng dấu quy ước để chia tách những bộ phận hay yếu tố của một
văn bản (chúng tôi nhấn mạnh – LTT), nhằm mục đích đảm bảo và cải thiện sự sáng rõ ý nghĩa của văn bản”
- “Từ điển Bách khoa ngôn ngữ học (Lingvisticheski entsiklopedicheskii
slovar, in năm 1990, Moskva)”, nêu ra 03 định nghĩa như sau:
+ Hệ thống các ký tự không phải là chữ cái, cùng với Tự pháp và Chính tả, tạo nên các phương tiện chủ yếu của ngôn ngữ viết; nhiệm vụ chính của punktuatsija là phân đoạn và tổ chức về mặt tư pháp cho văn bản;
+ Các quy tắc định chế các chuẩn mực trình bày các dấu trong văn bản, đã được hình thành cho ngôn ngữ đó;
+ Phân môn của ngôn ngữ học nghiên cứu các quy luật của hệ thống các dấu
và các chuẩn mực sử dụng chúng
Như vậy, so với cách hiểu của thế giới thì quan niệm của ta có phần hạn hẹp
hơn và đã bỏ sót một số chức năng của các “dấu câu” Vì vậy chúng ta cần có cái
nhìn tổng quát và toàn diện hơn nữa mà trước hết là trong cách dịch thuật ngữ này Chúng tôi đồng quan niệm với GS TSKH Lý Toàn Thắng trong việc lựa chọn một cách dịch mới là: Phép dùng các dấu trong câu và trong văn bản tiếng Việt Hiện nay, để chỉ ra ranh giới giữa các câu, giữa các thành phần của câu đơn, giữa các vế của câu ghép, giữa các yếu tố của ngữ và của liên hợp, tiếng Việt sử dụng mười dấu câu sau đây: dấu chấm (.); dấu hỏi (?); dấu cảm (!); dấu chấm lửng (…); dấu phẩy (,); dấu chấm phẩy (;); dấu hai chấm (:); dấu ngang (-); dấu ngoặc
đơn ( ); dấu ngoặc kép (“ ”) Trong đó, căn cứ theo “Thông tư số 01/2011/TT-BNV
ngày 19 tháng 01 năm 2011” của Bộ Nội vụ, quy cách viết hoa trong văn bản tiếng
Việt được ấn định là “1.Viết hoa chữ cái đầu âm tiết thứ nhất của một câu hoàn chỉnh: Sau dấu chấm câu (.); sau dấu chấm hỏi (?); sau dấu chấm than (!); sau dấu chấm lửng (…); sau dấu hai chấm (:); sau dấu hai chấm trong ngoặc kép ( “…”) và khi xuống dòng 2.Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất của mệnh đề sau dấu chấm phẩy (;) và dấu phẩy (,) khi xuống dòng”
Trang 3737
Về chức năng của các dấu câu thì các tài liệu tiếng Nga hay nói đến vấn đề
này hơn: thường hay thấy giới Nga ngữ học nói đến 03 chức năng của “dấu câu”,
cụ thể là:
- Biểu thị ngữ pháp, liên quan đến sự thông hiểu văn bản;
- Biểu thị ngữ pháp, liên quan đến vai trò của các dấu trong việc phát lộ cấu trúc cú pháp của văn bản
- Biểu thị ngữ âm, hay ngữ điệu, liên quan đến vai trò của các dấu trong tư cách là chỉ báo về âm điệu và nhịp điệu của lời
2.2.2 Thực trạng sử dụng dấu câu trên báo viết
Có thể nói việc sử dụng dấu câu hợp lý đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc nắm rõ nội dung, ý nghĩa của văn bản tiếng Việt Chúng ta có thể dễ dàng thấy được qua mẩu truyện cười sau đây:
Sự lợi hại của dấu câu
Để chấn chỉnh cách ăn mă ̣c của ho ̣c sinh, ban giám hiê ̣u ghi lên bảng thông
báo ngoài cổng trường: " Học sinh không được mặc quần bò đến trường"
Sáng hôm sau, thầy hiê ̣u trưởng thấy ho ̣c sinh đứng ngoài cổng bàn tán lao xao, ra ngoài thầy giâ ̣t mình nhìn thấy bảng thông báo: "Học sinh không mặc quần,
bo ̀ đến trường"
(Nguồn: Vnexpress.com.vn) Hay trong SGK lớp 5 có trường hợp:
Chỉ vì quên một dấu câu
Có ông khách nọ đến cửa hàng đặt vòng hoa viếng bạn Ông dặn người bán
hàng ghi lên băng tang: “Kính viếng bác X” Nhưng về đến nhà, nghĩ lại, thấy lời
phúng còn đơn giản quá, ông bèn sai con chuyển cho người bán hàng một tin nhắn,
lời lẽ như sau: “Xin ông làm ơn ghi thêm nếu còn chỗ linh hồn bác sẽ được lên
thiên đàng”
Lúc vòng hoa được đem tới đám tang, ông khách mới giật mình Trên vòng
hoa cài một dải băng đen với dòng chữ thật là nắn nót: “Kính viếng bác X Nếu còn
chỗ, linh hồn bác sẽ được lên thiên đàng”
Trang 3838
(Theo tạp chí Ngôn ngữ) Hiểu được vai trò và tầm quan trọng của việc sử dụng dấu câu, chúng tôi đã đưa tiêu chí này vào một trong năm tiêu chí để khảo sát về mặt chính tả của báo viết Trong phạm vi của đề tài, cụ thể là trong phần khảo sát thực trạng dấu câu, chúng tôi đã chọn ngữ liệu khảo sát là các bài báo trên báo trực tuyến của
VnExpress.net, Dantri.com và Vietnamnet.vn
Trong quá trình khảo sát vài trang báo, chúng tôi đã phát hiện một số dấu câu không thống nhất trong quá trình sử dụng cũng như đặt không đúng vị trí, chức năng của mình Chẳng hạn:
“Chị Hoàng Vy, chuyên bán sữa và thực phẩm chức năng ở đường Nguyễn
Thị Minh Khai, Q.1, TP.HCM, cho biết bên cạnh các hãng sữa lớn đã có văn
phòng đại diện tại VN, thị trường sữa bột hiện nay có rất nhiều loại sữa bò, sữa dê
là hàng được các công ty thương mại nhập khẩu và bán tại các cửa hàng, siêu
thị”.( Nhập nhèm sữa nhập khẩu, Vietnamnet.com, 23/04/2013 13:23 GMT+7)
“Chị Nhược cho biết, cách đây chừng 1 năm, gia đình chị biết chuyện Thúy
và anh Chung có quan hệ yêu đương, nhưng không được suôn sẻ khi mẹ anh Chung cho rằng Thúy và con trai mình không hợp tuổi, nên chỉ đồng ý cho hai người là bạn” (Nỗi băn khoăn trong vụ 'nổ mìn sau đám cưới', , Vietnamnet.com,
24/04/2013 05:00 GMT+7)
Như vậy, cùng một kiểu giống nhau là trích dẫn lời nói gián tiếp nhưng hai ví
dụ trên lại sử dụng dấu phẩy ở hai vị trí khác nhau Ở ví dụ đầu tiên, dấu phẩy ở
trước từ “cho biết” nhưng sang ví dụ sau thì lại ở sau từ “cho biết” Vậy cách đặt dấu phẩy ở ví dụ nào là đúng? Đáng ra, liền ngay sau “cho biết” không nên đặt
dấu câu vì trên bề mặt cấu trúc, ngắt nhịp tại đoạn này có vẻ hợp lí nhưng lại chưa phù hợp với cách trích dẫn lời nói gián tiếp trong ngữ pháp tiếng Việt Chúng ta cũng có thể chấp nhận một cách khác là sử dụng dấu hai chấm trong trường hợp này như ví dụ dưới đây:
“Dự báo tình hình hành khách đến với bến xe Miền Đông trong dịp lễ, ông Thượng Thanh Hải, Phó tổng Giám đốc công ty TNHH MTV Bến xe Miền Đông
Trang 3939
cho biết: do tình hình kinh tế khó khăn, giá cả tăng cao, đặc biệt là giá xăng dầu
vừa tăng đã ảnh hưởng đến sự đi lại của hành khách” (“Bến xe phụ thu 40% giá
vé dịp lễ 30/4-1/5”, Vietnamnet.com, 24/04/2013 05:00 GMT+7)
Hay ta có thể xét một ví dụ khác
Trong bài “Phu trầm vây UBND huyện đòi trả tiền trúng kỳ nam”
(Dantri.com, Thứ 3 ngày 23/10/2012 – 08:55) có các đoạn:
“Ngày 22/10, bà Nguyễn Thị Thạnh - Chủ tịch UBND huyện Cam Lâm - cho biết, kiểm lâm và CA huyện đã lập 4 trạm chốt chặn, vận động thuyết phục hàng
chục người dân đang tìm cách đi vào khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà để tìm trầm”
“Ông Trần Mạnh Dũng - Chủ tịch UBND huyện Khánh Sơn - cho biết, vào
sáng 22/10, có khoảng 100 người dân đào trầm đã kéo đến tập trung trước trụ sở UBND huyện Khánh Sơn để đòi tiền trúng kỳ nam đêm 26/9 do đội liên ngành huyện thu giữ”
Trong trường hợp này thì liền sau chữ “cho biết” càng không nên đặt dấu câu
vì cũng chưa phù hợp với cách trích dẫn lời nói gián tiếp trong ngữ pháp tiếng Việt Nếu hợp lý hơn phải là:
“Ngày 22/10, bà Nguyễn Thị Thạnh - Chủ tịch UBND huyện Cam Lâm - cho biết kiểm lâm và CA huyện đã lập 4 trạm chốt chặn, vận động thuyết phục hàng
chục người dân đang tìm cách đi vào khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà để tìm trầm”
“Ông Trần Mạnh Dũng - Chủ tịch UBND huyện Khánh Sơn - cho biết vào
sáng 22/10, có khoảng 100 người dân đào trầm đã kéo đến tập trung trước trụ sở UBND huyện Khánh Sơn để đòi tiền trúng kỳ nam đêm 26/9 do đội liên ngành huyện thu giữ”
Như chúng ta đã biết dấu hai chấm (:) dùng để liệt kê thành phần vị ngữ của câu đơn có động từ là hoặc trong thành phần vị ngữ có các từ biểu thị sự liệt kê ở sau các từ: sau đây, như sau, để…Nhưng trong trường hợp mà chúng tôi nêu ra dưới đây thì tác giả lại không hề sử dụng dấu hai chấm theo như cách trên:
Trang 4040
“Qua phản ảnh của người tiêu dùng và tìm hiểu của PV, không ít nhãn sữa
nhập khẩu đã cho thấy nhà nhập khẩu thông tin không đầy đủ, không đúng sự thật
khi giới thiệu, quảngcáo sản phẩm Đó là những nhãn hiệu sữa như Danlait, Frezzi, Alpha Lipid, GmB ” (“Nhập nhèm sữa nhập khẩu”, Vietnamnet.com,
23/04/2013 13:23 GMT+7).)
“Các tuyến như Sài Gòn – Cà Mau; Sài Gòn – Vũng Tàu; Sài Gòn – Đà
Nẵng Nha Trang - Đà Lạt…có mức giảm từ 5 – 30 nghìn đồng/lượt” (“Bến xe phụ thu 40% giá vé dịp lễ 30/4-1/5”, Vietnamnet.com, 24/04/2013 05:00 GMT+7)
“Sau khi được điều trị, 3 nạn nhân gồm anh Vi Văn Thành (34 tuổi), Bế Văn
Cường (49 tuổi) và Sái Văn Huấn (42 tuổi) đã dần bình phục” (“Cứu sống 3 người bị ngộ độc nấm rừng”, dantri.com, Thứ Tư, 24/04/2013 - 09:26)
Đáng lý ra để tách bạch và hợp lý hơn trong câu thì tác giả cần để thêm dấu
hai chấm vào sau “như”, “gồm” Chẳng hạn:
“Các tuyến như: Sài Gòn – Cà Mau; Sài Gòn – Vũng Tàu; Sài Gòn – Đà
Nẵng Nha Trang - Đà Lạt…có mức giảm từ 5 – 30 nghìn đồng/lượt” (“Bến xe phụ thu 40% giá vé dịp lễ 30/4-1/5”, Vietnamnet.com, 24/04/2013 05:00 GMT+7)
Như chúng ta đã biết, dấu chấm dùng để kết thúc câu tường thuật (câu kể) trên văn bản Tuy nhiên, trong một số ngữ liệu mà chúng tôi khảo sát được thì
người viết lại chủ quan, đặt dấu câu “tùy hứng” gây khó hiểu cho người đọc:
“Các năm trước mỗi vụ nhà chi Loan chỉ thu được 80-90 triệu đồng, năm nay
có “thắng” thì cũng chỉ thu về được 120 triệu đồng đó là Trừ đi khoảng 1 nửa để
chi phí cho phân, thuốc trừ sâu, nửa phần còn lại cũng chỉ bù được đúng vào tiền
lương công nhật dành cho 7-8 người cả gia đình anh suốt nửa năm qua Chứ dành
dụm cũng chẳng được bao lăm….” (“Lạ lùng rượu na xứ Lạng”, 28/10/2012
08:30) Người viết đặt dấu chấm câu (.) trong hai trường hợp sau “đó là” và sau
“năm qua” (phần dấu được tô đen) là sai ngữ pháp bởi chưa diễn đạt được hết ý
của phát ngôn Hơn nữa, phần sau dấu chấm thứ hai “Chứ dành dụm cũng chẳng
được bao lăm….”cũng chưa thể làm nên một câu độc lập trong ngữ cảnh này (đó
là chưa kể đến lỗi morasse “chị” bị đánh sai thành “chi”, lỗi diễn đạt sai logic vì