1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giao an phu dao (1)

36 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hầu trời
Tác giả Tản Đà
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại bài học
Năm xuất bản 1921
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 340,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LƯU BIỆT KHI XUẤT DƯƠNG HẦU TRỜI (Tản Đà) I Mức độ cần đạt Hiểu đc ý thức cá nhân, ý thức nghệ sĩ và quan niệm mới về nghề văn của Tản Đà; Thấy đc những cách tân nghệ thuật trong bài thơ II Bài học Ho[.]

Trang 1

HẦU TRỜI

(Tản Đà)

I M ức độ cần đạt :

- Hiểu đc ý thức cá nhân, ý thức nghệ sĩ và quan niệm mới về nghề văn của Tản Đà;

- Thấy đc những cách tân nghệ thuật trong bài thơ

II Bài học

HĐ 1: Làm việc cá nhân/ nhóm

- Gv yêu cầu học sinh đọc mục Tiểu

dẫn trong sgk và cho biết những nét

cơ bản về Tản Đà và bài thơ Hầu

trời.

Gv: Dẫn giải đầu những năm 20 TK

XX, thời điểm mà:

+ Lãng mạn đã là điệu tâm tình chủ

yếu của thời đại;

+ Xã hội thực dân nửa pk ngột ngạt,

tù hãm, u uất, đầy rẫy những cảnh

ngang trái, xót đau Người trí thức có

lương tri không thể chấp nhận nhập

cuộc, nhưng chống lại nó thì k0 phải

ai cũng có dũng khí để làm

I/ TÌM HIỂU CHUNG:

1) Tác giả Tản Đà (1889-1939):

TĐ là “con người của hai thế kỷ” "người dạo bản đàn

cho một cuộc hòa nhạc tân kì đang sắp sửa" (HoàiThanh) về các phương diện:

- Học vấn: Hán học (đã tàn), Tây học chưa thịnh hành

, sáng tác bằng quốc ngữ;

- Lối sống: xuất thân gia đình quan lại phong kiến, lối

sống phóng khoáng, ít chịu khép mình trong khuônkhổ Nho gia, chơi "ngông" với cuộc đời

- Sự nghiệp văn chương: thuộc lớp người đầu tiên

của Việt Nam sống bằng nghề viết văn, làm báo, làngười cho ra đời những bài thơ tự do mở đg trướcnhững bài thơ mới đầu tiên đến 16 năm

 TĐ đã đem đến nguồn cảm xúc mới mẻ của cái tôi

cá nhân với ý thức về bản ngã

* Tác phẩm : xem SGK.

Nêu xuất xứ và tóm tắt truyện? 2) Bài thơ Hầu trời:

- Xuất xứ: Được in trong tập Còn chơi, xuất bản lần

đầu năm 1921, tuyển tập gồm thơ và văn xuôi

- Tóm tắt ND: Bài thơ có cấu tứ là một câu chuyện

nhỏ Đó là chuyện thi sĩ Nguyễn Khắc Hiếu, tức Tản

Đà lên hầu Trời, đọc thơ cho Trời và chư tiênnghe.Trời và chư tiên tấm tắc khen hay và hỏichuyện Tác giả đã đem những chi tiết rất thực về thơ

và chuyện cuộc đời mình, đặc biệt là cảnh nghèo khócủa người sáng tác văn chương hạ giới kể cho Trờinghe Trời cảm động, thấu hiểu tình cảnh, nỗi lòngthi sĩ

II/ ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN:

1 Cách vào đề bài thơ:

- Khổ thơ mở đầu 4 câu có tác dụng gây nghi vấn, gợi

sự tò mò : Chuyện có vẻ như mộng mơ, bịa đặt

“chẳng biết có hay không", nhưng dường như lại là

thật:

Trang 2

- Có thể TT và kể lại ND bài thơ ?

(lưu ý yếu tố tự sự của bài thơ)? - Điệp từ “thật”: 4 lần / 2 câu;- Câu cảm thán, ngắt nhịp 2/2/3: khẳng định chắc

chắn, củng cố niềm tin, gây ấn tượng là chuyện có thậthoàn toàn:

=> Lối vào đề có sức hấp dẫn, gây ấn tượng mạnh

mẽ, gợi trí tò mò, độc đáo và có duyên

- Gv: Thái độ của tác giả khi đọc

thơ ?

- Gv: Thái độ của trời và chư tiên khi

nghe thơ ?

- Gv: Nguồn cảm hứng chủ đạo của

bài thơ là lãng mạn hay hiện thực?

- Gv: So với thơ ca trung đại, gần

nhất là các bài thơ của những chí sĩ

yêu nước hồi đầu thế kỷ vừa mới

được học, bài thơ này có gì mới lạ

không?

2 Cảnh đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe:

* Thái độ của tác giả khi đọc thơ:

- Cao hứng: Đươg cơn đắc ý, đọc thơ ran cung mây

- Tự đắc, tự khen: Văn đã giàu thay lại lắm lối

* Thái độ của trời và chư tiên khi nghe thơ: mỗi tiên

nữ một phản ứng khác nhau Tâm, Cơ, Hằng Nga,

Chức Nữ, Song Thành, Tiểu Ngọc: ao ước tranh nhau dặn ; phản ứng chung: rất xúc động; tán thưởng và hâm mộ: cùng vỗ tay:

* Thái độ của Trời: - Đánh giá cao;

- Không tiếc lời tán dương:

Văn thật tuyệt, Văn trần được thế chắc có ít / Nhời văn chuốt đẹp như sao băng ! / Khí văn hùng mạnh như mây chuyển! / Êm như gió thoảng, tinh như sương! / đẫm như mưa sa, lạnh như tuyết!”

=> Câu chuyện hư cấu, tưởng tượng được kể một

cách chân thực y như chuyện có thật đã giúp chongười đọc cảm nhận được về:

* Tâm hồn thi sĩ Tản Đà:

- Ý thức rất rõ về tài năng, tự giới thiệu rất cụ thể vềmình: tên họ, quê hương, bản quán, đất nước, châu lục

- Táo bạo, đường hoàng bộc lộ bản ngã “cái tôi”;

- Tìm lên đến tận Trời để khẳng định tài năng củamình trước Ngọc Hoàng Thượng đế và chư tiên, thể

hiện cái “ngông” trong tâm hồn thi sĩ

=> Niềm khát khao chân thành trong tâm hồn thi sĩkhông bị kiềm chế đã biểu hiện một cách thoải mái,phóng túng

=> Tình huống “Hầu Trời” quả đã cho nhà thơ một

cơ hội tuyệt vời để phô bày một cách sảng khoái tàinăng của bản thân

* Thực tế phũ phàng: Văn chương hạ giới rẻ như

bèo, thân phận nhà văn bị rẻ rúng

Ý thức về thân phận: thi sĩ không tìm được tri kỷ, tri

âm, phải lên đến Trời mới được thoả nguyện

* Đoạn thơ đối thoại với Trời: Giọng thơ hào hứng,

lai láng tràn trề:

 Nhiệm vụ mà Trời giao cho nhà thơ: thiên

Trang 3

lương của nhân loại: sứ mệnh, thiên chức cao cả,

 Tự nguyện ghé vai vào gánh vác trách nhiệm lớn lao: tự tin vào tái năng, phẩm chất của mình, ý thức trách nhiệm về vai trò của cá nhân mình đối với xã hội

 Bày tỏ thực trạng cuộc sống của mình: nghèokhó, cùng quẫn (Tản Đà còn nhiều bài thơ khác nói về

tình cảnh của mình: Cảnh vui của nhà nghèo, )

=> Đây cũng chính là thực tế đời sống của lớp văn

nghệ sĩ nói chung thời bấy giờ: Tản Đà, Nam Cao, Vũ

Trọng Phụng , Xuân Diệu (Nỗi đời cơ cực ) Bức

tranh chân thực và cảm động về đời sống tầng lớp vănnghệ sĩ đương thời

Gv: Cho biết nghệ thuậ của bài thơ ?

Hs TL theo nhóm về một mặt trong

các mặt NT của bài thơ: nhóm 1: thể

loại; nhóm 2: ngôn từ, nhóm 3: giọng

thơ, nhóm 4: cách biểu hiện cảm xúc

- GV gợi ý: muốn thấy được những

nét mới, cần đối chiếu với thơ Tđại

Hs cử đại diện trình bày

3 Đặc sắc Nghệ Thuật : Bài thơ có nhiều yếu tố

- Giọng thơ: tự sự hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn

- Bhiện cảm xúc: phóng túng, tự do, không bị gò ép

- Tác giả hiện diện trong bài thơ với tư cách người kểchuyện, đồng thời là nhân vật chính

- Giáo viên nâng cao: Tác giả tưởng tượng, hư cấunên cả một câu chuyện như muốn đưa thơ trữ tìnhthoát dần sứ mênh “thi dĩ ngôn chí” của thơ xưa

 Những dấu hiệu đổi mới của thơ ca VN theo hướng HĐH Đó là lý do khiến TĐà được đgiá là

“dấu gạch nối giữa hai thời đại thi ca” (HThanh)

: Hdẫn tổng kết bài học:

- Qua bài thơ, em hiểu gì về tác giả

- Nhờ những hthức thể hiện, những

ytố NT nào mà tgiả bộc lộ được đó?

- Cách thể hiện đó, em thấy có gì mới

về tài năng, gtrị đích thực của mình giữa cđời;

- Thể hiện cá tính “ngông” của thi sĩ Tản Đà

 TĐ đã tìm được hướng đi đ/đắn để kđịnh mình lúcthơ phú nhà Nho đag đi dần tới dấu chấm hết

Trang 4

Nhắc đến Xuân Diệu là nhắc đến một tài năng đa dạng, một tấm gương lao động đam

mê, bền bỉ, cần cù, một trái tim cuồng nhiệt luôn hướng về sự sống, khát khao được giao cảm với đời - cuộc đời hiểu theo nghĩa trần thế nhất Con người tài hoa ấy đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ, có giá trị Đặc biệt, trong sáng tác của ông, các thể loại hoà quyện với nhau, khó tách bạch; trong văn xuôi giàu chất thơ, trong thơ giàu chất sinh động của hiện thực đời sống, trong phê bình nghiên cứu tinh tế tài hoa mà không kém phần sắc sảo Với sức sáng tạo dồi dào đó, Xuân Diệu đã có đóng góp to lớn, quan trọng về nhiều mặt, tác động đáng kể vào sự vận động, phát triển của nền văn hoá và văn học hiện đại Việt Nam

Xuân Diệu khi mới xuất hiện trên thi đàn đã nhanh chóng gây được ấn tượng mạnh mẽ với người đọc Được xem là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”, “là nguồn sống dạt dào chưa từng có” Xuân Diệu trước cách mạng đã dâng “cụm đầu mùa mà tặng cho dân gian”( Thế Lữ); sau khi cách mạng thành công, con người tha thiết yêu đời ấy lại tìm cho mình nguồn sinh lực mới, đó là sự hoà nhập gắn bó với nhân dân, và rất tự nhiên con người

ấy trở thành “người nghệ sĩ của nhân dân”, “đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại” Và cũng bởi mới quá, đồ sộ quá nên đã có nhiều ý kiến khen chê khác nhau xung quanh vấn đề Xuân Diệu.

Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng

trong

Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong

Ông đồ Nghệ đeo khăn gói đỏ

Vượt đèo Ngang, kiếm nơi cần

chữ.

Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong

Hai phía đèo Ngang: một mối tơ

- Có bút danh là Trảo Nha, quê quán làng Trảo Nha,

huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh nhưng sinh tại Gò Bồi, thônTùng Giản, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định

- Cha là ông Ngô Xuân Thọ và mẹ là bà Nguyễn Thị Hiệp

- Thủa nhơ học chữ Hán và Quốc ngữ với cha Xuân Diệu lớnlên ở Qui Nhơn

- 1927, theo học trường Cao đẳng tiểu học Quy Nhơn Taiđây, nhà thơ sáng tác bài thơ đầu tay, sua này mới in vào Thơthơ 1938, (Bài thơ tuổi nhỏ - 1933)

- Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học tư và làm viên chức

ở Mĩ Tho (nay là Tiền Giang), sau đó ra Hà Nội sốngbằng nghề viết văn, là thành viên của Tự Lực VănĐoàn (1938–1940) Ông tốt nghiệp cử nhân Luật 1943 vàlàm tham tá thương chánh ở Mỹ Tho một thời gian trước khi

Trang 5

Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong

Ông đồ nho lấy cô làm nước mắm

Làng xóm cười giọng ông đồ trọ

Tiếng đàng trong, tiếng đàng

ngoài quấn quýt

Vào giữa mái tranh, giường

Những bài thơ "Tình trai", "Em đi" của Xuân Diệu và "Ngủ chung" của Huy Cận được cho là viết về đề tài đó Theo hồi

ký Cát bụi chân ai của Tô Hoài thì Xuân Diệu từng bị kiểm

điểm về việc này

Con nuôi của ông là Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ - con trai nhàthơ Huy Cận, và cũng là cháu ruột của ông (cậu ruột) Cù Huy

Hà Vũ đã bị bắt vào năm 2010, và bị kết án 7 năm tù giam, 3năm quản chế vì tội Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa

Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

II Sự nghiệp

- Là người luôn khát khao giao cảm với đời, XD viết văn, làm

thơ rồi đến với cách mạng rất tự nhiên, chân thành và nồngnhiệt

- Sự nghiệp sáng tác của XD rất phong phú trên nhiều lĩnhvực khác nhau: sáng tác thơ, viết văn xuôi, phê bình văn học,

… Song thơ ca chính là cây cầu giao cảm linh diệu nhất đãbắc nhịp cho trái tim thi sĩ đến với cuộc đời

- Trước Cm, XD đc đánh giá là "nhà thơ mới nhất trong cácnhà thơ mới" bởi nguồn cảm xúc dạt dào, trẻ trung, sôi nổivới quan niệm nhân sinh mới mẻ đc thể hiện qua những cáchtân NT đầy sáng tạo

- Sau CM, XD đã hăng say thể hiện hiện khuynh hướng tăngcường chất hiên thực trong thơ XD "hoàng tử" của thơ tìnhViệt Nam -thi sĩ của mùa xuân và tuổi trẻ với một giọng thơsôi nổi, đắm say, yêu đời thắm thiết

- Tác phẩm: SGKXuân Diệu- nhà văn của sự III.PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT XUÂN DIỆU.

Trang 6

sáng tạo-hấp dẫn người đọc

bởi phong cách sáng tạo độc

đáo được biểu hiện qua các

ở đó.”

Ở Xuân Diệu thời gian đã tạo một sức ép lớn “ Tôi không chờ nắng hạn mới hoài xuân” Ngay khi đang thanh niên thi sĩ đã vẽ ra cái già, cái chết để báo động:

“Hết ngày, hết tháng, hết!em ơi.

Kinh hãi không gian quặn tiếng còi”

(Hết ngày hết tháng)

Trong thơ Xuân Diệu tác giả đem đến tuổi trẻ tiếp thêmsinh khí cho sự vật, thời gian cũng đem lại sự phôi pha, héo úa.Nhà thơ đã cảm nhận thời gian trôi đi ngay trong từng khoảng khắc của hiện tại:

“ Xuân đang đến nghĩa là xuân đang qua Xuân còn non nghĩa là xuân đã già”

(Vội vàng)

Nhạy cảm với bước đi của thời gian, kèm theo đó là sự

lo âu:

“ Thời gian rót từng giọt buồn tê héo

Sự sống đi như hương bỏ hoa chiều”

Bởi “ khát khao giao cảm với đời”, nên cái “ tôi” Xuân Diệu luôn thiết tha yêu sống, cuộc sống hiểu theo nghĩa trần

Trang 7

thế nhất Ông kêu gọi “ sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn” lòng ham sống bộc lộ đến mức:

“ Kẻ đựng trái tim trìu máu đất Hai tay chín móng bám vào đời”

(Biển)

Chắc hẳn những người yêu nhau nhiều thế hệ sẽ khó

mà quên được câu thơ diễn tả những rung động đầu đời này:

“ Hôm nay trời nhẹ lên cao, Tôi buồn, không hiểu vì sao tôi buồn”

(Chiều)

Và sẽ luôn ngạc nhiên trước một nỗi khát thật táo bạo

mà thành thực:

“ Những lúc môi ta kề miệng thắm Trời ơi, ta muốn uống hồn em ! ”

Phấn thông vàng, Thu.

3 Một nỗ lực cách tân thơ Việt bằng sự bền bỉ học hỏi và vận dụng cấu trúc câu thơ Tây phương hoàn thiện thơ trữ tình điệu nói cùng nhiều sáng tạo những cách nói mới, phát huy triệt để năng lực cảm nhận của các giác quan.

Xuân Diệu luôn sáng tạo ra cách nói mới “hơn một loài

hoa…”, “ đôi nhánh khô gầy…”.Thơ ông cũng là sự tổng hợpcác giác quan:

“ Hơn một loài hoa đã rụng cành

Trang 8

Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh…”

( Đây mùa thu tới)

B Tác phẩm "Vội vàng"

1 Xuất xứ:

- In trong tập "Thơ thơ" - 1938, tác phẩm đầu tay của XD

- Là một trong những bài thơ tiểu biểu nhất của XD trước CM

- Mùa xuân trong thơ ca là

một đề tài khá hấp dẫn và

quen thuộc Mùa xuân với

đất trời, hoa cỏ xinh tươi,

tràn trề nhựa sống Đến với

văn học lãng nạm, mùa xuân

- vẻ đẹp của thiên nhiên- đã

tạo cảm xúc cho bao hồn thơ,

cho bao vần thơ đẹp:

Trong làn nắng ửng khói mơ tan

Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

Sột soạt gió trêu tà áo biếc,

Trên giàn thiên lí bóng xuân sang

"Mùa xuân chín"- Hàn Mặc Tử

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy

Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ,

Mẹ bảo: "Thôn Đoài hát tối nay".

"Mưa xuân"- Nguyễn Bính

2 Nội dung

a Tình yêu cuộc sống của thi sĩ đc biểu hiện qua niềm say

mê, ngất ngây với mùa xuân

- "Vội vàng" bắt đầu từ cảm hứng về mùa xuân Cảm hứng komới, nhưng bài thơ mới ở cách thể hiện và cường độ của cảmxúc Bài thơ ko bắt đầu từ hình ảnh mùa xuân, mà bắt đầu từniềm khao khát say mê đối với mùa xuân Nhân vật trữ tìnhbộc lộ trực tiếp ý muốn của mình:

Tôi muốn tắt nắng điCho màu đừng nhạt mấtTôi muốn buộc gió lạiCho hương đừng bay đi

- Quả thật là một ý muốn táo bạo Bốn câu thơ gắn với lời lẽoai nghiêm như mệnh lệnh Con người như muốn đoạt quyềntạo hóa, bắt thiên nhiên phải ngừng lại để mình đc tận hưởngmãi hương sắc của mùa xuân

- Hồn thơ tha thiết với đời đang lo lắng trước sự đổi thay củađất trời nên muốn vũ trụ ngừng quay để giữ lại tất cả mội vẻđẹp Thiết tha với cái đẹp, muốn cái đẹp ko bao giờ phai tàn,

ý muốn ấy của XD đã gặp gỡ niềm khao khát của bất cứngười nghệ sĩ nào xưa nay

- Ý muốn của thi sĩ có vẻ vô lí, nhưng niềm khao khát hoàntoàn có lí, khi mùa xuân đc thi sĩ phát hiện bằng biết baohương sắc, âm thanh, hình ảnh, tươi đẹp đến mức tuyệt vời

Có thể nói đó là bức tranh xuân đẹp nhất, rực rỡ nhất, xôn xaonhất trong dòng thơ xuân xưa nay:

"Của ong bướm này đây tuần tháng mật

………

Và này đây sáng chớp hàng mi"

- Điệp từ "này đây" liên tiếp mở ra bao vẻ đạp của mùa xuânđến bất tận Mùa xuân hiện ra thật cụ thể, vô cùng quyến rũ:

có hạnh phúc ngọt ngào trong "tuần tháng mật" của ongbướm, có cái lộng lẫy: "hoa của đồng nội xanh rì", có cái mơnmởn trẻ trung "lá của cành tơ phơ phất", có âm thanh âmthanh rạo rục, nồng nàn trong "khúc tình si" và có cái rực rỡchan hòa "ánh sáng chớp hàng mi" Qua cặp mắt xanh nonbiếc rờn của thi sĩ, cs trần thế xung quanh bỗng đc phát hiện

Trang 9

nhu một thiên đg, phong phú và giàu có Mỗi vẻ đẹp của mùaxuân đều tràn đầy nhựa sống, đều gợi đến tuổi trẻ, tình yêu vàhạnh phúc.

- Nhân vật trữ tình đang ngỡ ngàng khi phát hiện ra mọi vẻđẹp, đang reo vui trong niềm tận hưởng, trong niềm tha thiếtvới tình yêu và cuộc sống

- Vẻ đẹp của mùa xuân và cảm xúc mãnh liệt của con ngườiđạt đến cực điểm trong một liên tưởng độc đáo: "Tháng giêngngon như một cặp môi gần" XD ko nói cả mùa xuân mà chỉ

là mỗi tháng giêng- tháng đẹp nhất, tháng mở đầu của mùaxuân Tháng giêng trở thành hội tụ tất cả những gì đẹp nhấtcủa mùa xuân, của thiên nhiên, vì vậy nó không còn cái ýnghĩa trừu tượng của thời gian nữa Cái hay của câu thơ là đã

cụ thể hóa cái trừu tượng (tháng giêng) bằng một cảm giác cótính vật chất của hành động ăn uống: "ngon" Hơn nữa là mộthình ảnh cụ thể của tình yêu: "ngon như cặp môi gần" Nếuthơ ca truyền thống lấy chuẩn mực của cái đẹp là thiên nhiên,thì với XD, chuẩn mực của cái đẹp là cn người - mà phải làcon người trong niềm hạnh phúc của tình yêu, con ngườitrong độ đẹp nhất, căng đầy sức sống nhất của độ xuân thì

b Nỗi băn khoăn về sự phai tàn của mùa xuân và tuổi trẻ.

Trong sâu thẳm của nỗi khát khao đc sống, đc giao cảm ở XDvẫn ẩn chứa một nỗi lo âu về sự trôi chảy của thời gian Khiông muốn tắt nắng, buộc gió, thì ko chỉ là bắt vũ trụ phảiđứng lại mà còn là bắt thời gian phải ngừng trôi Ngay khiông đang tận hửng mùa xuân thì ông cũng đã khắc khoải lo sợbước đi của thời gian sẽ làm tàn phai hương sắc Niềm khắckhoải đó khiến cho nỗi sung sướng ko còn đc trọn vẹn: "Tôisung sướng Nhưng vội vàng một nửa" Dấu chám bẻ đôi câuthơ ném về hai đầu tâm trạng: Một của khao khát say mê, mộtcủa ai hoài u uất Niềm vui tan biến như một giấc mộng trướcmột sự thật phũ phàng, trước cái lạnh lùng nghiệt ngã của thờigian Thi sĩ đã cảm nhận đc cái quy luật đó:

"Xuân đương tới………

Trang 10

thắm lại" Trời đất mãi còn nhưng con người ko còn.

- Nhận thức sâu sắc đc điều ấy, cảm xúc của thi sĩ về mùaxuân bỗng tan biến mất vẻ đẹp và niềm vui như ban đầu Vẫn

là mùa xuân ấy, nhưng bây giờ hiện ra trong vẻ tàn phai, buồn

bã Rất tinh tế khi XD cảm nhận sự tàn phai trong "múi thángnăm", nếm đc "vị chia phôi", nghe đc "lời tiến biệt" của sôngnúi "Con gió xinh thì thào" những lời chia tay với cành tơ, lábiếc, chim đang rạo rực "khúc tình si" bỗng "đứt tiếng reothi" Đoạn thơ khép lại trong một lời than não ruột, tuyệtvọng: "Chẳng bao giờ, ôi, chẳng bao giờ nữa"

c Thi sĩ khắc phục bằng thái độ sống vội vàng

- Nếu bài thơ ngừng lại ở niềm tuyệt vọng thì đã ko phải là

XD XD với niềm khao khát vô biên ko bao giờ đầu hàng vớithời gian Cho nên, thi sĩ hối hả, vội vàng: "Mau đi thôi! Mùachưa ngả chiều hôm" Lời thơ giục giã như bao laanfnhaf thơ

dã "giục giã":

"Mau với chứ, vội vàng lên với chứ,

Em em ơi, tình non sắp già rồi

Con chim hồng, trái tim nhỏ của tôi,

Mau với chư, thời gian ko đứng đợi"

- Vội vàng trở thành phương thức khắc phục giới hạn của thờigian, khắc phục bằng tốc độ sống mau lên, sống mau lên đểtận hưởng đc nhiều hơn Thi sĩ còn muốn khắc phục bằngcách dồn nén cường độ sống, muốn thu gom tất cả vẻ đẹp củacuộc đời trong một phút Khao khát của nhà thơ thật nhiều,thật sôi nổi và mạnh mẽ trong nhịp điệu dồn dập của nhữngdòng thơ bắt đầu bằng "ta muốn":

"Ta muốn ôm

Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!"

- Trong niềm khao khát ấy, thiên nhiên lại đc hồi sinh với baohình ảnh, âm thanh, hướng sắc XD ham sống, khát khao giaocảm với đời cho nên rất sợ khoảng cách Ông muốn thu ngắnkhoảng cách bằng vòng tay ôm, riết, muốn say, muốn hôn,muốn thâu Và cuối cùng tình yêu cuồng nhiệt dâng trào đếntột độ khi nhà thơ bật lên tiếng kêu đầy khao khát: " Hỡi xuânhồng, ta muốn cắn vào ngươi!"

- Xuân vừa như một thứ trái chín ngon lành, vùa như mộtngười tình căng đầy nhựa sống, dắm say, mơn mởn, rạo rực.Tình yêu của XD cũng mang đầy màu sắc nhục cảm màcường tráng, lành mạnh

- Thái độ sống của XD là một thái độ sống tích cực của conngười yêu đời, yêu tuổi trẻ, yêu mùa xuân Trong lúc các nhàthơ lãng mạn thoát li thực tại bằng nhiều con đg, Chế Lan

Trang 11

Viên chối bỏ mùa xuân để làm: "một cánh chim thu lạc cuốingàn", Hàn Mặc Tử hướng hồn thơ điên lên thượng giới, HuyCận ôm nỗi đau đời thoát ra ngoài cõi tục với niềm vui "vũtrụ ca'', XD vẫn gắn bó với cuộc sống trần thế Đó là chỗ độcđáo và tích cực của thi sĩ Nhà thơ đã dứt khoát và say sưaphát biểu thẳng những ước muốn riêng tư, những khát khaohưởng thụ của mình Đến XD, cái tôi cá nhân ngang nhiên đòihỏi đc thỏa mãn một cách tối đa những nhu cầu của cuộcsống, của tình cảm, cảm giác phức tạp và mãnh liệt.

=> "Vội vàng" là bài thơ tiêu biểu cho nhiều mặt của hồn thơ

XD, một "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới" Bài thơ

có giá trị nhân văn khiến cho người đọc biết yêu trần thế, biếttận hưởng hạnh phúc và biết quý trọng tuổi thanh xuân

3 Tổng kết:

- "Vội vàng" là lời giục giã hãy sống cao độ từng giây, từng phút tuổi xuân của mình giữa mùa xuân của cuộc đời, của vũ trụ; qua đó thể hiện một quan niệm nhân sinh mới mẻ của mộthồn thơ "yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt" Tư tưởng đó đc thể hiện qua giọng điệu thơ sôi nổi, nhịp thơ hăm hở và những hình ảnh táo bạo, đầy cảm giác

Đề: Tâm trạng đắm say bồng

bột của một lòng ham sống

mãnh liệt đã đc thể hiện như

thế nào trong bài "vội vàng"

+ Câu 1-11: Tâm trạng reo

vui trước vẻ đẹp thiên nhiên. 

+ Câu 12-30: Tâm trạng u

buồn, hoài nghi. 

+ Câu 31-40: Lòng yêu cuộc

sống đến cuồng nhiệt. 

II Thân Bài 

1 Tiếng reo vui trước vẻ đẹp

thiên nhiên mùa xuân (Câu

1-11) 

* “Tôi muốn - tắt nắng đi” 

“Tôi muốn - buộc gió lại”

Điệp ngữ dùng động từ

mạnh 

Mở đầu bài thơ là một khổ thơ ngũ ngôn thể hiện một ước muốn kì lạ của thi sĩ, ấy là ước muốn quay ngược quy luật của tự nhiên, đoạt quyền tạo hóa - một ước muốn ko thể

"Tôi muốn tắt

Cho hương đừng bay đi"

Muốn "tắt nắng", muốn "buộc gió" thật là một ham muốn kì

dị, chỉ có ở thi sĩ XD Nhưng làm soa cưỡng đc quy luật, làm sao có thể vĩnh viễn hóa đc những thứ vốn ngắn ngủi, mong manh ấy? Cái ham muốn lạ lùng kia đã hé mở cho chúng ta một lòng yêu bồng bột vô bờ với thế giới thắm săc, đượm hương này

Không chỉ thế, thế giới này còn đc XD cảm nhận theo một cach riêng Nó bày ra như một thiên đng trên mặt đất, như một bữa tiệc lớn của trần gian Nó đc cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham muốn, nên sự sống cũng hiện ra như một thế giới đầy xuân tình Cái thiên đng đầy sắc hương đó hiện lên trong "vội vàng" vừa như một mảnh vườn tình ái, vạn vật đang lên hương, vừa như một mâm tiệc với thực đơn quyến rũ, lại vừa như một người tình đầy khiêu gợi XD cũng hưởng thụ theo một cách riêng, ấy là hưởng thu thiên nhiên như hưởng thụ ái tình Yêu thiên nhiên

mà thực chất là tình tự với thiên nhiên

Nối tiếp mạch cảm xúc là cách diễn tả vồ vập về một thiên nhiên ở thì xuân sắc, một thiên nhiên rạo rực xuân tình:

Trang 12

=> Biểu hiện niềm khao

khát, say mê muốn níu giữ,

đoạt quyền tạo hóa. 

* Thiên nhiên: Là khu vườn

xuân đầy cảnh sắc: 

+ ong bướm tuần tháng mật”

Bức tranh đẹp, mơn mởn,

tươi tắn 

+“Này đây hoa đồng nội”, "

lá cành tơ” => dạt dào nhựa

sống. 

+ điệp ngữ yến anh khúc tình

si”: âm thanh rộ rã 

+ Giọng thơ dồn dập, biểu

hiện tâm trạng vui sướng,

say đắm trước cảnh thiên

nhiên muôn sắc màu, phong

người để diễn tả thiên nhiên

(lấy cái đẹp của con người

"Của ong bướm

ngon như một cặp môi gần"

Có lẽ trước XD, trong thơ VN chưa có cảm giác "tháng giêng ngon như một cặp môi gần" Nó là cảm giác của ái ân tình tự Cảm giác ấy đã làm cho người ta thấy tháng giêng mơn mởn tơ non đầy một sức sống thanh tân kia sao mà quyến rũ - sức quyễn rũ ko thể cưỡngđc của một người tình rạo rực, trinh nguyên Tháng giêng trở thành hội tụ tất cả những gì đẹp nhất của mùa xuân, của thiên nhiên, vì vậy nó không còn cái ý nghĩa trừu tượng của thời gian nữa Cái hay của câu thơ là đã cụ thể hóa cái trừu tượng (tháng giêng) bằngmột cảm giác có tính vật chất của hành động ăn uống: "ngon" Thế giới này lộng lẫy nhất, "ngon" nhất là ở độ xuân; còn con người cũng chỉ hưởng thụ đc cái "ngon" ấy khi còn trẻ thôi Trong khi đó, cả hai đều ngăn ngủi, thời gian sẽ cướp đi hết thảy Có lẽ cũng là lần đầu tiên thơ VN có đc quan niệm này:

"Xuân đương tới nghĩa là xuân đương quaXuân còn non nghĩa là xuân sẽ già"

- Con người thời trung đại lấy sinh mệnh vũ trụ để đo đếm thời gian Nên hình như họ yên trí với quan niệm thời gian tuần hoàn, với cái chu kì bốn mùa Hết một vòng thời gian lại quay lại điểm xuất phát ban đầu Con người hiện đại lấy sinh mệnh cá nhân để làm thước đo thời gian Nên họ sống với quan niệm thời gian tuyết tính Thời gian như một dòng chảy

vô thủy, vô chung mà mỗi một khoảnh khắc qua đi là mất đi vĩnh viễn Cho nên XD đã nồng nhiệt phủ định:

"Nói là chi rằng xuân vẫn tuần hoànNếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!"

Xưa nay, người ta chỉ tiếc những kỉ niệm khi nó đã trở thành quá khứ, tiếc xuân khi nó đã không còn Ở đây, Xuân Diệu với sự nhạy cảm lạ lùng của nhà thơ yêu cuộc sống đến đắm say, ông tiếc mùa xuân ngày khi mùa xuân vẫn còn đang phơiphới Vì nhà thơ biết rằng thời gian sẽ trôi qua nhanh, mà với những gì quý giá, với những vẻ đẹp, thời gian còn tàn nhẫn trôi nhanh hơn gấp bội, nhanh đến khủng khiép, phũ phàng Cái non trẻ, thắm tươi rồi sẽ chẳng mấy mà già nua, héo úa Điều ấy lại ảnh hưởng vô cùng to lớn đến Xuân Diệu: 

Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất

- Câu thơ đầy cảm giác buồn bã Nhà thơ phát hiện ra một điều bi thảm cho mình: mùa xuân trôi qua, tuổi trẻ sẽ trôi qua

Mà khi tuổi trẻ đã trôi qua thì cuộc đời nào còn ý nghĩa gì nữa Bởi quý giá nhất của cuộc đời, đất trời là mùa xuân, quý giá nhất của con người là tuổi trẻ. 

Trang 13

* “Tôi không chờ ” => gấp

gáp: Trong sự đam mê cuộc

sống xen lẫn nỗi lo âu, hốt

hoảng, sợ tuổi trẻ qua đi. 

* Ý thức được sự hữu hạn

của thời gian: 

“Xuân đang tới nghĩa là

thiên nhiên > < con người: 

+ Lòng tôi rộng + lượng trời

* Thiên nhiên nhuốm màu

buồn bã trước thời gian: 

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi,Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời

Mùa xuân của đất trời đẹp lắm, quý giá lắm, nhưng mùa xuân chỉ quý giá, chỉ đẹp khi con người biết hưởng, được hưởng vẻđẹp của nó Khi con người chẳng còn trẻ mà tận hưởng mùa xuân thì xuân cũng mất hết ý nghĩa Những câu thơ của Xuân Diệu vì thế mà chuyển sang giọng điệu buồn bã: 

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt

Con gió xinh thì thào trong lá biếc,Phải chăng hờn vì nỗi phải bay điChim rộn ràng bỗng dứt tiếng reo thi,Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửaTất cả đều buồn bã, đều mất hết ý vị, chỉ còn “rớm vị chia phôi”, chỉ biết “than thầm tiễn biệt”, chỉ còn “hờn dỗi phải bay đi”, chỉ “sợ độ phai tàn sắp sửa” Trong thơ Việt Nam, ít

ai có giọng thơ nuối tiếc thời gian, thương tiếc cuộc sống thiếttha dường ấy Cũng vẫn gió lá hoa như đạon đầu nhưng đoạn trên rạo rực náo nức, đoạn này lại buồn thương ngậm ngùi, xót xa biết bao nhiêu Nhà thơ kêu lên một cách tuyệt vọng: 

Chẳng bao giờ! Ôi chẳng bao giờ nữa!

Nỗi đau đớn của Xuân Diệu phải sâu sắc lắm, cắt cứa lắm, thấm thía lắm thì mới bộc phát thành tiếng than kêu thống thiết dường ấy Thời gian cứ mênh mông nhưng mùa xuân và tuổi trẻ của con người cứ ngắn ngủi Con người chẳng thể làmđược gì để biến cái hữu hạn của đời người thành cái vô hạn trường tồn cùng vũ trụ Chỉ còn mỗi cách, đó là phải hối hả, phải đắm say mãnh liệt hơn, phải vội vàng thâu nhận đến mức

độ cao nhất, nhiều nhất những vẻ đẹp nhân gian, những thứ ưúy giá của đời sống, của tuổi trẻ, mùa xuân Xuân Diệu giục giã: 

Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm

Ta muốn ôm

Trang 14

cuồng nhiệt: 

+ Khát vọng sống cao độ thể

hiện sự giao cảm với cuộc

sống: 

- “Ta muốn riết”, ôm, say,

thâu, chếnh choáng: Điệp

ngữ, nhịp thơ dồn dập, sôi

nổi, nồng nàn, giọng thơ

cuống quýt, khao khát sống,

muốn tận hưởng trọn vẹn

hương vị tình yêu, hương vị

của cuộc đời ==>Yêu cuộc

sống đến độ nồng nàn, 

- sống hết mình, tận hưởng

cái đẹp ==>cuộc sống với

tâm trạng sảng khoái. 

- Câu thơ “Hỡi muốn

cắn ”: diễn đạt táo bạo, rất

mới lạ => mùa xuân quá hấp

dẫn => niềm ham sống mà

chưa toại nguyện, khát khao

muốn giữ lấy cái vui, cái đẹp

của cuộc đời. 

III KẾT: 

Lòng yêu tuổi xuân, mùa

xuân, yêu cuộc sống, khao

khát hòa nhập với thiên

nhiên, với cuộc đời một cách

say mê, cuồng nhiệt của

Xuân Diệu. 

* Là bài thơ tiêu biểu cho

phong cách thơ Xuân Diệu;

hình ảnh, từ ngữ, cách diễn

đạt táo bạo, mới lạ Thể hiện

hồn thơ Xuân Diệu: một tấm

lòng tha thiết yêu cuộc đời,

niềm khát khao giao cảm với

đời => mang đậm chất nhân

văn

Cả sự sống mới bắt đàu mơn mởn,

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng

Những câu thơ mạnh bạo, gấp gáp, giục giã như một dòng suối ào ạt tuôn chảy, tưởng chừng ngôn từ xô đẩy vào nhau, chen lấn nhau để cho kịp mạch cảm xúc đang bừng lên sôi nổicủa nhà thơ Những tiếng “ta muốn” láy đi láy lại mãi như một điệp khúc bất tận để khẳng định niềm khao khát cháy bỏng muốn sống đến tận cùng cảm giác của Xuân Diệu Một loạt điệp từ được sử dụng theo mức độ tăng dần của khao khát: muốn ôm - muốn riết - muốn say - muốn thâu - muốn cắn thể hiện tam trạng si mê đến cuồng nhiệt Trong một câu thơ mà có đến ba hư từ “và” chứng tỏ Xuân Diệu nồng nhiệt đến rối rít, cuống quýt, như muốn cùng lúc dang tay ôm hết

cả vũ trụ, cả cuộc đời, mùa xuân vào lòng mình Sống như thếvới Xuân Diệu mới thực là sống, mới đi đến tạn cùng của niềm hạnh phúc được sống. 

Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,

Cho no nê thanh sắc của thời tươiHạnh phúc của sự sống là mùi thơm, ánh sáng, thanh sắc Tậnhưởng cuộc đời chính là có dược cảm nhận về những điều ấy

ở độ tràn trề nhất Xuân Diệu muốn tận hưởng cuộc sống cho đến “no nê”, “chuếnh choáng”, “đã đầy” Trong niềm cảm hứng ở độ cao nhất, Xuân Diệu nhận ra cuộc đời, mùa xuân như một cái gì quý nhất, trọn vẹn như một trái đời đỏ hồng, chín mọng, thơm ngát, ngọt ngào, để cho nhà thơ tận hưởng trong niềm khao khát cao độ: 

Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươiCâu thơ là đỉnh cao của những khao khát sống, của tình yêu sống rạo rực trong con tim nồng cháy của Xuân Diệu. 

- Bài thơ Vội vàng thể hiện tâm trạng đắm say bồng bột của một tấm lòng ham sống mãnh liệt Bài thơ còn thể hiện một quan niệm sống sống gấp gáp vội vàng tận hưởng những hạnhphúc trần thế, một quan niệm sống lành mạnh và tích cực so với đương thời Bài thơ là một sáng tác tiêu biểu cho phong cách thơ trẻ trung tươi mới của “nhà thơ của tình yêu”, bài thơ rất tự do, hình ảnh giàu sức gợi, giàu nhạc điệu và cách liên tưởng rất hiện đại Tâm trạng yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt trong tác phẩm khẳng định tư tưởng nhân văn củanhà thơ Cho đến nay, nội dung thúc giục mọi người sống có nghĩa trong cuộc sống thực tại của bài thơ vẫn còn bao ý nghĩa với thế hệ trẻ. 

Trang 15

- Thấy đc việc sử dụng nhuần nhuyễn những yếu tố thơ cổ điển trọng một bài thơ mới.

- Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên tràng giang và tâm trạng của nhà thơ

- Đôi nét phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận: sự kết hợp giữa hai yếu tố cổ điển vàhiện đại; tính chất suy tưởng, triết lí,…

và Mặt trận Việt Minh, Huy Cận đã tham dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào (tháng 8 năm 1945) và được bầu vào Ủy ban Giải phóng (tức Chính phủ Cách mạng lâm thời sau đó) Huy Cận cũng từng cộng tác với nhóm Tự Lực Văn Đoàn

II Hoạt động cách mạng

Tháng 8 năm 1945, Cù Huy Cận là một trong ba thành viên của phái đoàn Chính phủ Lâm thời (gồm Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận) đi vào kinh đô Huế để tiếp nhận lễ thoái

vị của Vua Bảo Đại

Sau Cách mạng tháng Tám thành công, khi mới 26 tuổi, ông đã là

Bộ trưởng Bộ Canh nông trong Chính phủ liên hiệp lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh đứng đầu Chính phủ Trong những năm 1945 - 1946, ông là Ủy viên Ban thanh tra đặc biệt của Chính phủ

Sau này ông làm Thứ trưởng Bộ Văn hóa, rồi Bộ trưởng đặc trách Văn hóa Thông tin trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng trong chính

Trang 16

phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phụ trách các công tác văn hóa và văn nghệ

Từ 1984, ông là Chủ tịch Ủy ban Trung ương Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam Ngoài ra, ông còn là Đại biểu Quốchội Việt Nam khóa I, II và VII

Tháng 6 năm 2001, ông được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Thơ Thế giới

Huy Cận mất ngày 19 tháng 2 năm 2005 tại Hà Nội.

III Đời tư - Gia đình

Về đời tư, Huy Cận có hai người vợ Người vợ đầu của ông là bà Ngô Xuân Như, em gái của nhà thơ Xuân Diệu, từng công tác tại Ban Kiểm tra 12, Phủ Thủ tướng, Bác sĩ Viện Y học cổ truyền Việt Nam đã mất năm 2009 Người vợ thứ là bà Trần Lệ Thu, cán

bộ giảng dạy Nga văn ở một trường Đại học lớn tại Hà Nội[6] Huy Cận và Xuân Diệu là 2 nhà thơ lớn, 2 người bạn lớn, tri kỷ Xuân Diệu cùng sống với gia đình Huy Cận cho đến hết cuộc đời tại ngôi nhà số 24 đường Cột Cờ (đường Điện Biên Phủ), Hà Nội.Ông có 4 người con, 2 con trai và 2 con gái Con trai cả của ông là tiến

sĩ luật Cù Huy Hà Vũ (với Ngô Xuân Như, em gái của Xuân Diệu), người bị công an Việt Nam bắt năm 2011 vì tội Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo điều 88 Bộ luật hình

sự, bị tuyên án 7 năm tù, 3 năm quản chế Em trai ông là tiến sĩ triết học - mĩ học Cù Huy Chử, từng công tác tại Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

IV

Sáng tác

Trước tháng 8 năm 1945

Huy Cận có thơ đăng báo từ 1936, cho in tập thơ đầu Lửa

thiêng năm 1940 (gồm những bài đã đăng báo, khoảng 1936-1940)

và trở thành một trong những tên tuổi hàng đầu của phong trào

Thơ mới lúc bấy giờ Bao trùm Lửa Thiêng là một nỗi buồn mênh

mang da diết Thiên nhiên trong tập thơ thường bao la, hiu quạnh, đẹp nhưng thường buồn Nỗi buồn đó dường như vô cớ, siêu hình nhưng xét đến cùng, chủ yếu là buồn thương về cuộc đời, kiếp người, về quê hương đất nước Hồn thơ "ảo não", bơ vơ đó vẫn cố tìm được sự hài hòa và mạch sống âm thầm trong tạo vật và cuộc

đời Trong Kinh cầu tự (1942, văn xuôi triết lí) và Vũ trụ ca (thơ

đăng báo 1940-1942), Huy Cận đã tìm đến ca ngợi niềm vui, sự sống trong vũ trụ vô biên song vẫn chưa thoát khỏi bế tắc

Sau tháng 8 năm 1945

Các tập thơ của Huy Cận sau Cách mạng tháng 8: Trời mỗi ngày

Trang 17

lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời (1963), Hai bàn tay em (thơ thiếu nhi, 1967), Những năm sáu

mươi (1968),Chiến trường gần đến chiến trường xa (1973), Họp mặt thiếu niên anh hùng (1973), Những người mẹ, những người

vợ (1974), Ngày hằng sống ngày hằng thơ (1975), Ngôi nhà giữa nắng (1978),Hạt lại gieo (1984)

V Danh hiệu

Huy Cận đã được Nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí

Minh về văn học nghệ thuật (đợt I - năm 1996)

Tháng 6 năm 2001, Huy Cận được bầu là viện sĩ Viện Hàn lâm Thơ Thế giới

Ngày 23 tháng 2 năm 2005, ông được Nhà nước truy tặng Huân chương Sao Vàng

Ở một số thành phố đã có đường phố mang tên nhà thơ Huy Cận

Ở huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh (quê ông), có Trường THPT

mang tên Cù Huy Cận

B Bài thơ Tràng giang

I Xuất xứ

- “Tràng giang” là bài thơ tiêu biểu của Huy Cận, được in trong tập thơ “Lửa thiêng”, xuất bản năm 1941.

  - Chủ đề xuyên suốt của “ Tràng giang” là nỗi cô đơn của

thân phận nhỏ bé trước không gian vô hạn và thời gian mênh mông Qua đó phần nào thể hiện tình cảm yêu nước thầm kín của Huy Cận.

II Nội dung

  a. Cảnh dòng sông mênh mông sóng nước

     - Tựa đề “Tràng giang” và câu thơ thứ nhất  “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” : cách điệp vần “ang”, tràng giang tạo dư

âm vang xa trầm buồn gợi lên hình ảnh dòng sông vừa dài vừa rộng với nỗi buồn triền miên kéo dài theo không gian và thời gian

     - “Con thuyền xuôi mái”: gợi cho ta con thuyền không ai chèo

chống, trôi nổi hững hờ Con thuyền như ngơ ngác, lạc loài giữadòng sông mênh mông không có sự hòa hợp, tất cả đều vô định.Con thuyền phó mặc cho dòng nước đưa đẩy hay chính tác giảcũng phó mặt cho dòng đời đẩy đưa

      - “Thuyền về” – “nước lại”: thuyền và nước hoạt động trái

Trang 18

ngược nhau " khung cảnh chia lìa li biệt.

      - “ Củi một cành khô lạc mấy dòng”: dòng sông với con

thuyền là những hình ảnh vốn quen thuộc của thơ ca truyền thống,nhưng sự xuất hiện của một cành “củi” mới thật lạ trong thơ HuyCận Hình ảnh “củi” ở đây vừa mang ý nghĩa tả thực vừa mang ýnghĩa biểu tượng Hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho  sự lẽ loi cô độc

bơ vơ, vô định của thân phận bé nhỏ trước sóng nước bao la

      - “Sầu trăm ngả”: nỗi sầu lan toả chất chứa thành nỗi sầu

nhân thế như dòng tràng giang cuộn chảy " nỗi sầu thiên cổ

Âm điệu thơ giàu tính nhạc thể hiện tâm trạng cô đơn lạc loàitrước sóng nước mênh mông

b.  Nỗi buồn thấm sâu vào cảnh vật

      - Bức tranh cảnh vật đầy ấp những chi tiết và hình ảnh thiênnhiên Những hình ảnh dường như đang chuyển động Đó là sựchuyển động có gió, sự chuyển động có nắng Và trong sự chuyểnđộng đó cho ta ấn tượng về sự chuyển động đến tĩnh mịch vắnglặng gần như tuyệt đối

      - “Lơ thơ” + “đìu hiu” (từ láy) " sự trơ trọi, quạnh hiu hoang

vắng

      - “Đâu tiếng… chợ chiều”: âm thanh buổi tàn vọng lại càng

làm tăng thêm cái vắng vẻ " lấy động tả tĩnh

      - Không gian mênh mông u buồn với “nắng xuống trời lên

sâu chót vót”: không gian 3 chiều (sâu- rộng – cao) + từ ngữ độc

đáo “sâu chót vót” vừa miêu tả  được độ sâu của dòng sông, độ

cao của khoảng cách trời đất

Nỗi buồn chồng chất sâu thẳm cao xa như cảnh vật trước mắt.Không gian bao la, cảnh vật quạnh hiu

c. Tâm trạng cô đơn lạc lõng

     - “Bèo dạt… nối hàng” hình ảnh ẩn dụ có tác dụng bổ nghĩa

“củi một cành khô lạc mấy dòng”   Cánh bèo trôi nổi ấy được nhàthơ đặt trong sự tương phản với cảnh vật hoang sơ của đôi bờ : sựtrôi nỗi lênh đênh vô định của một quần thể chứ không còn là một

cá nhân trong XH Không gian đôi bờ vắng lạnh và mở ra với cái

Ngày đăng: 13/04/2023, 16:37

w