1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI GIẢNG: ĐỘNG VẬT RỪNG

134 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Động vật rừng
Tác giả TS. Vũ Thị Nga
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm
Chuyên ngành Lâm nghiệp
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 2,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI GIẢNG: ĐỘNG VẬT RỪNG

Trang 1

Trường đại học nông lâm Khoa Lâm nghiệp

Trang 2

Mục lục

Chương 1 1

Khái niệm chung 1

1.1 Sơ lược về sự phát triển và tiến hoá của động vật 1

1.2 Động vật học 1

1.3 Thang bậc phân loại động vật 1

1.4 Đặc điểm chung của các loài động vật có xương sống 2

1.5 Khái niệm về động vật rừng 2

1.6 Vai trò có lợi của động vật 2

1.7 Các mối đe doạ chính và tiềm tàng đối với động vật rừng-động vật hoang dã 3

Chương 2 6

Lớp thú và thú điển hình rừng Việt Nam 6

2.1 Đặc điểm chung 6

2.2 Sinh thái học thú 9

2.3 Thú rừng Việt Nam 11

Chương 3 43

Lớp chim và chim điển hình rừng Việt Nam 43

3.1 Đặc điểm chung 43

3.2 Sơ lược đặc điểm sinh vật học, sinh thái học chim 45

3.3 Chim điển hình rừng 48

Chương 4 71

Lớp bò sát và bò sát điển hình rừng Việt Nam 71

4.1 Đặc điểm chung 71

4.2 Sinh thái học bò sát 72

4.3 Bò sát và bò sát điển hình rừng Việt Nam 72

Chương 5 80

Lớp ếch nhái và ếch nhái điển hình rừng 80

5.1 Đặc điểm chung 80

5.2 Sinh thái học 81

5.3 ếch nhái điển hình rừng 82

Chương 6 83

Quản lý động vật rừng 83

6.1 Khu hệ động vật ở một số kiểu hệ sinh thái rừng Việt Nam 83

6.2 Quản lý và bảo tồn động vật rừng ở Việt Nam 84

Chương 7 93

Điều tra và giám sát 93

7.1 Điều tra và giám sát thú 93

7.2 Điều tra và giám sát chim 111

7.3 Điều tra và giám sát bò sát 119

7.4 Điều tra và giám sát ếch nhái 125

Tài liệu tham khảo 132

Trang 3

Chương 1 Khái niệm chung 1.1 Sơ lược về sự phát triển và tiến hoá của động vật

Học thuyết duy vật về nguồn gốc và sự tiến hoá của các loài cũng như các nghiên cứu

về giải phẫu, sự phát triển phôi của động vật và động vật hoá thạch đã khẳng định toàn bộ giới

động vật đều có chung một nguồn gốc Giới động vật đầu tiên của trái đất là động vật nguyên sinh (Protozoa), cơ thể chỉ có 1 tế bào nhưng thực hiện đầy đủ chức năng sống của một cơ thể

như trao đổi chất, chuyển động, cảm ứng và sinh sản Các động vật nguyên sinh đã phát triển

và hình thành các động vật đa bào (Metazoa), các tế bào trong cơ thể động vật đa bào đều do 1

tế bào trứng sinh ra, có liên kết với nhau nhưng có những chức năng và nhiệm vụ khác nhau

Động vật đa bào thấp có 2 lá phôi và phát triển theo 2 hướng:

- Nhóm động vật trung gian (Parazoa) hay đa bào nguyên thuỷ, nhóm này chưa thể hiện rõ kiểu đối xứng cơ thể, chưa có lỗ miệng, chưa có tế bào thần kinh và chưa có các mô phân hoá Nhóm động vật thân lỗ (Porifera) thuộc nhóm này

- Nhóm ruột khoang (Coelenterata) có đối xứng toả tròn, có sự phân hoá các mô, đã xuất hiện

hệ thần kinh dạng phân tán Cơ thể có cấu tạo đơn giản nhất là thuỷ tức (Hydrozoa) cao nhất là sứa lược (Ctenophora), sứa lược đã xuất hiện mầm lá phôi thứ 3 (lá phôi giữa) Từ sứa lược phát triển ra động vật đa bào 3 lá phôi và đối xứng 2 bên

Các động vật đối xứng 2 bên phát triển theo 2 hướng:

- Hình thành động vật miệng nguyên sinh (Prostomia): nhóm động vật không có xoang cơ thể thứ sinh (Acoelomata) gồm các ngành giun dẹp (Plathelminthes), giun tròn (Nemathebminthes) và giun vòi (Nemertini); nhóm có xoang cơ thể thứ sinh (Coelomata) có cơ thể phân đốt và gồm các ngành: thân mềm (Mollusca), giun đất (Annenida) và chân khớp (Arthropoda)

- Hình thành các động vật miệng thứ sinh (Deuterostomia) gồm các ngành da gai (Echinodermata), nửa dây sống (Hemichordata) và dây sống (Chordata)

Tổ tiên của động vật có dây sống là động vật không sọ nguyên thuỷ (Acrania primitiva) ít hoạt động và sống ở đáy biển, từ không sọ nguyên thuỷ hình thành có sọ nguyên thuỷ có đầu, não bộ và các giác quan như thị giác, khứu giác và thính giác Nhóm có sọ nguyên thuỷ phát triển thêm 2 nhóm chuyên hoá nay vẫn còn tồn tại đó là nhóm có bao (Tunicota): hải tiêu (Ascidia) sống bám đáy và nhóm sống đầu (Cephalochordata): cá lưỡng tiêm (Branchiostoma) sống tự do

Nhóm có sọ nguyên thuỷ phát triển theo 2 hướng:

- Nhóm mang trong (Enterobranchiata) hình thành các động vật có dây xống không hàm (Agnatha): Cá miệng tròn (Cydostomata) có não bé

- Nhóm mang ngoài (Ecterobranchiata) hình thành các động vật có dây sống có hàm (Gnathostomata), não phát triển, dây sống được thay bằng cột sống có đốt, hoạt động tích cực Nhóm này hình thành các lớp: cá, ếch nhái, bò sát, chim và thú

1.2 Động vật học

Động vật học là một hệ thống khoa học chuyên nghiên cứu về động vật

Đối tượng nghiên cứu của động vật học là phát hiện, nhận biết và kiểm kê tất cả các loài

đã tạo nên giới động vật của trái đất, nghiên cứu cấu trúc, phát triển, tiến hoá, phân loại, phân

bố, cách sống và các mối quan hệ giữa động vật với môi trường xung quanh Động vật học còn nghiên cứu thành phần cấu trúc và động thái của một khu hệ động vật cũng như tầm quan trọng của chúng đối với khoa học và kinh tế xã hội

1.3 Thang bậc phân loại động vật

Thang bậc phân loại động vật tiến hành theo qui ước quốc tế Loài là đơn vị phân loại cơ bản nhất Loài là hiện thực và có một kết cấu di truyền nội tại do tất cả các cá thể của loài

đều có một chương trình di truyền chung được hình thành trong quá trình lịch sử tiến hoá

Loài là một nhóm cá thể có khả năng giao phối với nhau để sinh sản thế hệ con hữu thụ, không giao phối sinh sản với các nhóm khác

Trang 4

Thí dụ: Chó sói lửa (Cuon alpinus Pallas):

Giới (Kingdom) Animalia

Ngành (Phylum) Cordata

Lớp (Class) Mammalia

Bộ (Oder) Carnivora

Họ (Family) Canidae

Giống (Genus) Cuon

Loài (Species) alpinus

Tên khoa học: Cuon alpinus Pallas

Có loài được đặt tên có 3 từ, từ thứ 3 chỉ một dạng biến đổi của loài gọi là phân loài, thí dụ: chim hút mật đỏ: Aethopyga siparaja tonkinensis Hartert

Trên thế giới, các Nhà khoa học đã phân loại được khoảng 50.000 loài động vật có xương sống

1.4 Đặc điểm chung của các loài động vật có xương sống

Về hình dạng: Cơ thể chia làm 3 phần: đầu, mình, đuôi Đối với động vật có xương sống

ở cạn có thêm phần cổ Cơ quan vận chuyển là các chi Vỏ da có 2 lớp, biểu bì và bì Bộ xương vừa là khung của cơ thể, vừa bảo vệ che chắn các nội quan bên trong Hệ cơ có 2 loại: cơ vân

tương ứng với các bộ phận vận động chịusự điều khiển của trung ương thần kinh; cơ tạng là cơ trơn có trong các nội quan do thần kinh thực vật điều khiển Hệ tiêu hoá có các ống và tuyến phân hoá, mỗi bộ phận có chức năng riêng Hệ hô hấp, động vật có xương sống ở nước hô hấp bằng mang, ở cạn hô hấp bằng phổi Hệ tuần hoàn là hệ kín có tim khoẻ đưa máu đi

đến khắp nơi trong cơ thể Hệ mạch rất phát triển (động mạch, tĩnh mạnh và mao mạch) Hệ thần kinh tập trung thành trục não tuỷ, não nằm trong hộp sọ, tuỷ nằm trong cung thần kinh của các đốt sống Giác quan: có 5 giác quan chính là xúc giác, khứu giác, vị giác, thị giác, thính giác tiếp thu các kích thích từ môi trường trong và ngoài cơ thể ở động vật có xương sống, cơ quan bài tiết đã tập trung thành khối thận, riêng đối với bò sát, chim, thú có hậu thận làm chức năng lọc, thải hoàn chỉnh, thích nghi với đời sống ở cạn Tất cả các nét cấu tạo trên chứng tỏ rằng phân ngành có xương sống có tổ chức cơ thể phức tạp và tiến hoá hơn nhiều so với các ngành khác

1.5 Khái niệm về động vật rừng

Động vật rừng là khái niệm chỉ các loài thuộc các lớp động vật khác nhau sống ở rừng

Sự có mặt của một loài động vật bất kỳ nào, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp, đều có ảnh hưởng nhất định đến sự tồn tại và phát triển của rừng

Môn học “Động vật rừng” chú ý đặc biệt đến các loài động vật có giá trị khoa học và kinh tế đặc biệt sống ở rừng nước ta

1.6 Vai trò có lợi của động vật

Giá trị bảo tồn: Động vật rừng có vai trò quan trọng trong cân bằng sinh thái, nơi chúng sống từ đó các hệ sinh thái được bền vững, diễn thế đi theo con đường tự nhiên Chúng tạo lên các mắt xích trong chuỗi thức ăn hay lưới thức ăn Chúng tạo lên các giá trị bảo tồn vô cùng quan trọng, các giá trị này không chỉ có ý nghĩa thực tại mà còn có tiềm năng sử dụng sau này Các loài động vật đặc hữu mang những nguồn gen quý hiếm chứa đựng những tính trạng tốt mà các loài động vật khác không có Thông qua các loài hoang dại, con người có thể nghiên cứu, khai thác và sử dụng một cách hợp lý các gen này đạt hiệu quả cao nhất Theo

Trang 5

đánh giá của các nhà khoa học, khu hệ động vật Việt Nam có tính đặc hữu khá cao so với các

nước vùng Đông Dương: Có tới 15 loài phân bố ở Việt Nam trong tổng số 21 loài linh trưởng

đặc hữu của vùng Đông Dương; khu hệ chim có tới 10,17% số loài và phân loài đặc hữu và có tới ít nhất là 3 trung tâm chim đặc hữu quan trọng của thế giới

Giá trị kinh tế: Động vật có ý nghĩa kinh tế rất quan trọng với đời sống con người Giá trị kinh tế của động vật tập trung vào một số nội dung sau:

Nguồn thức ăn: Từ khi loài người mới xuất hiện trên trái đất thì nguồn thức ăn chính cho con người là các sản phẩm tự nhiên thu được từ săn bắt động vật và hái lượm Nhiều loài

động vật đã được con người sử dụng làm thức ăn trong cuộc sống hàng ngày Nhiều loài động vật được con người thuần hoá, nuôi dưỡng qua nhiều thế hệ tạo thành những giống gia súc, gia cầm để phục vụ mình Có thể nói nguồn đạm động vật là không thể thiếu đối với loài người Cho đến ngày nay vẫn còn một số lượng lớn cộng đồng địa phương dựa vào các sản phẩm săn bắn để tồn tại

Nguyên liệu cho công nghiệp: Nhiều nhóm động vật cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác nhau: Các loài thú và bò sát có thể cung cấp lông, da; các loài côn trùng cung cấp mật hay sáp (ong), cánh kiến, tơ (tằm),

Dược liệu: Nhiều sản phẩm từ động vật được con người sử dụng với mục đích dược liệu (mật ong, gan cá, mật gấu, nọc rắn, sừng tê giác, ) Nhiều chế phẩm sinh học được chiết xuất từ nuôi cấy mô động vật hoặc động vật sống (các loại vắc xin, hoóc môn )

Làm cảnh, phục vụ đời sống sinh hoạt, giải trí cho con người: Một số lượng lớn động vật được buôn bán trên thị trường hay được bẫy bắt là phục vụ mục đích làm cảnh Đặc biệt là các loài chim như vẹt, yểng, sáo hay các loài ăn thịt như cắt Nhiều vườn thú và công viên quốc gia phục vụ mục đích tham quan du lịch

Trong chu trình vật chất động vật chiếm vai trò rất quan trọng, là "mắt xích" không thể thiếu trong vòng tuần hoàn vật chất tự nhiên, trong đó con người là một thành phần có tổ chức cao nhất của "mắt xích đó"

Sử dụng cho nghiên cứu khoa học và giáo dục: Đây là vai trò rất quan trọng của động vật đối với con người Thông qua động vật, nhất là các loài có cấu tạo cơ thể gần giống con

người, con người có thể tiến hành các nghiên cứu khoa học với mục đích phục vụ loài người ngày một tốt hơn Con người đã thành công nhiều khi nghiên cứu động vật như: Chế tạo thành công máy bay khi quan sát, phân tích các chuyển động bay từ chim; chế tạo nhiều loại thuốc chữa bệnh trên cơ sở đã thử nghiệm trên cơ thể động vật có cấu tạo cơ thể gần giống người,

Bên cạnh các mặt lợi, động vật cũng có một số mặt gây tác hại đến đời sống con người Nhiều loài động vật là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra một số bệnh dịch nguy hiểm cho con người: Chuột truyền dịch hạch; muỗi Anopheles truyền bệnh sốt rét; các loài giun sán ký sinh trong cơ thể người; một số loài dơi truyền các bệnh virus; amíp (amoeba) gây một số bệnh phụ khoa,

Động vật gây hại, tàn phá lương thực, mùa màng, kho tàng, công trình xây dựng của con người: Chuột, côn trùng phá hoại mùa màng, cây trồng, đặc biệt là cây lương thực và cây lâm nghiệp

1.7 Các mối đe doạ chính và tiềm tàng đối với động vật rừng-động vật hoang dã (ĐVHD) 1.7.1 Mất sinh cảnh

Chặt phá rừng, khai thác lâm sản, xây dựng cơ sở hạ tầng và canh tác nông nghiệp là những nguyên nhân chính làm mất sinh cảnh của các loài ĐVHD Diện tích rừng tự nhiên

trước đây (1943) che phủ hơn 43% diện tích đất nước, hiện tại diện tích rừng Việt Nam chỉ còn lại khoảng 30% Việc trồng mới nhiều diện tích rừng không thể khôi phục các sinh cảnh cho ĐVHD, do thiếu những loài cây bản địa Sinh cảnh bị mất và bị chia cắt, nhiều con đường mới được xây dựng chia cắt các cánh rừng, cản đường di chuyển kiếm ăn và cơ hội giao phối trong mùa sinh sản của động vật Bên cạnh đó, cháy rừng và xâm lấn của các loài sinh vật lạ cũng làm mất sinh cảnh của ĐVHD Vụ cháy rừng năm 2002 ở VQG U Minh Thượng đã làm thiệt hại gần 4000 ha rừng, là nơi cư trú của nhiều loài động vật như thuỷ sinh và bò sát, chim

Trang 6

và thú Tại VQG Tràm Chim, hiện tại cây mai dương, một loại sinh vật lạ đã xâm lấn hàng nghìn ha vườn làm ảnh hưởng đến nguồn thức ăn của sếu đầu đỏ.

1.7.2 Săn bắn trái phép

Săn bắt, sưu tầm sinh vật hoang dã cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến nạn diệt chủng, săn bắn ĐVHD đã tồn tại từ hàng nghìn năm về trước, nhưng trong những thập kỷ gần đây việc săn bắn động vật đã vượt quá ngưỡng bền vững Tốc độ tái tạo quần thể hoang dã không đủ so với việc săn bắn Trước đây, người dân địa phương thường săn bắn quanh năm,

đặc biệt là mùa sinh sản, chính vì vậy nhiều con cái bị săn bắn, khả năng tái tạo đàn giảm Do tác động từ nhu cầu động vật hoang dã trên thị trường, đặc biệt là xuất khẩu, áp lực săn bắn

ĐVHD tại các KBTTN và VQG ngày một tăng, mặc dù Chính phủ đã có các biện pháp tăng

cường quản lý ĐVHD

1.7.3 Nhận thức trong vấn đề bảo tồn động vật hoang dã

Những nhà hoạch định chính sách của Việt Nam đã nhận thức tầm quan trọng của vấn

đề bảo tồn động vật hoang dã khá sớm Ngày 21/6/1960, Phủ Thủ tướng đã ra Chỉ thị 134/TTg

về cấm săn bắt voi; tiếp theo là Nghị định 39/CP ngày 5/4/1963 của Hội đồng Chính phủ ban hành điều lệ tạm thời về săn bắt chim thú rừng và pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng 1972

Trước những thách thức ngày càng lớn trong bảo tồn thiên thiên cũng như quản lý môi

trường, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản qui phạm pháp luật để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên nói chung và động vật hoang dã nói riêng đồng thời thực thi nhiều công tác tuyên truyền, đào tạo, nâng cao nhận thức cộng đồng đã hết sức được chú trọng, coi đây là một trong những công cụ hiệu quả nhằm bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên

Tuy nhiên, những năm trước 1990, do nền kinh tế kém phát triển nên các cấp lãnh đạo

thường quan tâm nhiều đến tăng trưởng kinh tế Việc khai thác tài nguyên không chỉ phục vụ tiêu dùng mà còn để xuất khẩu Nhiều khi việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế chưa dựa trên cơ sở khoa học, quy hoạch tổng thể, gây nên việc lạm dụng, khai thác quá mức làm nguồn tài nguyên sinh vật nhanh chóng suy giảm

Bên cạnh các chính sách thể hiện mối quan tâm của Nhà nước đến công tác bảo tồn thì nhận thức của các tầng lớp dân cư về vấn đề bảo tồn và phát triển ĐVHD chưa cao Đối với

người dân địa phương nơi có các loài ĐVHD sinh sống, từ nhiều đời nay việc săn bắt động vật hoang dã vẫn được coi là một nghề kiếm sống, họ không có nhiều kiến thức về bảo tồn Họ không biết được tại sao nguồn tài nguyên ĐVHD ngày một ít đi Do vậy việc nâng cao nhận thức đối với người dân địa phương có vai trò hết sức quan trọng đối với vấn đề bảo tồn ĐVHD Đối với các chủ buôn: Họ không hề có khái niệm bảo tồn ĐVHD, vì lợi nhuận cao họ không quan tâm đến việc ngừng mua và bán các mặt hàng ĐVHD Thậm chí họ biết rằng việc buôn bán một số loài ĐVHD là vi phạm pháp luật

Những nỗ lực liên tục của Chính phủ Việt Nam và của nhiều tổ chức quốc tế đã giúp công chúng và các nhà hoạch định chính sách, các nhà ra quyết định nhận thấy rõ hơn vai trò của bảo tồn và kiểm soát buôn bán ĐVHD Tuy nhiên, nhận thức đó còn chưa sâu sắc, đặc biệt các hoạt động truyền thông và nâng cao nhận thức còn chưa mạnh mẽ, chưa biến thành hành

động cụ thể, do đó kết quả của công việc kiểm soát buôn bán ĐVHD còn nhiều hạn chế

1.7.4 Buôn bán bất hợp pháp

Tình hình buôn bán ĐVHD tại Việt Nam đang diễn ra hết sức phức tạp, với nhiều thủ

đoạn rất tinh vi Bọn buôn lậu sử dụng các tuyến đường bí mật và các phương tiện chuyên chở cũng như liên lạc hiện đại nhằm đối phó với sự kiểm soát của các cơ quan chức năng Nhiều chủ buôn sử dụng giấy tờ giả mạo, khai báo sai về loài, số lượng ĐVHD nhằm đánh lừa các cơ quan chức năng Các loài bị buôn lậu chủ yếu như: rắn, rùa các loại, tê tê, gấu, các loài khỉ, các loài ếch nhái, chim (chủ yếu là động vật tươi sống) Động vật hoang dã trong nước chủ yếu được cung cấp cho các nhà hàng thịt thú rừng, đặc biệt ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh: thịt thú rừng là các món ăn ưa thích của nhiều người Lợi nhuận thu được từ việc buôn bán bất hợp pháp các loài ĐVHD là rất lớn Nguyên nhân chính của tình trạng này là:

- Khung hình phạt với các hành vi buôn lậu trong lĩnh vực này còn thấp

Trang 7

- Lực lượng thực thi pháp luật về quản lý ĐVHD còn mỏng, trình độ chuyên môn, kỹ thuật còn yếu, phương tiện, công cụ hỗ trợ còn lạc hậu

- Nhu cầu về ĐVHD trên thị trường nội địa và quốc tế rất lớn

- Nhận thức của các chủ kinh doanh và cộng đồng về vấn đề bảo vệ ĐVHD thấp

- Công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức về hệ thống văn bản pháp quy về quản

lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi tự nhiên chưa được coi trọng và thực hiện rộng rãi

- Cơ chế chính sách cho lực lượng thực thi chưa thoả đáng

- Lực lượng thực thi chưa có được thực quyền, trang thiết bị phục vụ công tác chưa đủ

và lạc hậu Vẫn còn những chồng chéo về chức năng nhiệm vụ giữa các cơ quan hành pháp Buôn bán các loài thú: Trong tổng số hơn 252 loài thú thì có đến 147 loài là đối tượng

bị săn, bắt và buôn bán, nhưng trên thị trường mới chỉ ghi nhận được 55 loài thú Trước đây buôn bán các loài thú chủ yếu phục vụ nhu cầu thực phẩm của người dân địa phương Trong những năm gần đây việc buôn bán các loài thú trên thị trường chủ yếu cung cấp cho các nhà hàng nhằm đáp ứng nhu cầu ẩm thực của người dân thành phố và xuất khẩu Ngoài thịt, thú rừng còn được buôn bán với mục đích làm cảnh, tình trạng nuôi nhốt động vật diễn ra khá phổ biến Các loài thường bị nuôi nhốt làm cảnh như: thú linh trưởng, báo, gấu, một số loài cầy, chồn Bên cạnh đó việc buôn bán, săn bắt thú với mục đích sản xuất thuốc dân tộc khá phổ biến Mật gấu, sừng tê giác, cao khỉ, cao xương hổ vẫn được coi là những bài thuốc cổ truyền chữa được nhiều loại bệnh Hiện tại có hàng nghìn con gấu bị buôn bán, nuôi nhốt phục

vụ cho khai thác mật Trong 2 năm gần đây (2000-2003) đã có 4 vụ buôn bán, vận chuyển hổ

và các sản phẩm của hổ được lực lượng kiểm lâm phát hiện

Buôn bán các loài chim: Buôn bán chim ở Việt Nam chủ yếu đáp ứng nhu câu nuôi cảnh và làm thực phẩm Hiện tại rất khó kiểm soát thị trường này, ở các chợ làng, thôn, bản hay bày bán các loại chim như: chim di, chim sẻ đồng, các loại nhạn làm thực phẩm ở các thị

trường lớn của Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, thì việc trưng bày và bán chim chủ yếu phục vụ làm cảnh và thu gom để xuất khẩu Các loài chim được xuất khẩu chủ yếu là khướu đầu trắng, vành khuyên họng vàng, khướu Trung Quốc, chào mào Theo khảo sát của CRES và TRAFFIC, ở một số cửa khẩu Lạng Sơn còn thấy gà lôi trắng (Lophura nycthemera)

Hiện trạng buôn bán các loài chim có nguồn gốc hoang dã đang ở mức báo động, nếu không được quản lý sẽ dẫn đến suy giảm nghiêm trọng quần thể một số loài ngoài thiên nhiên Theo điều tra của CRES năm 1993 ở đồng bằng sông Hồng có đến 14.883 con chim thuộc 22 loài được buôn bán làm thực phẩm và xuất khẩu Tại Thành phố Hồ Chí Minh có đến 44 loài chim bị buôn bán, ước tính có 5.100 chim di cam bị buôn bán mỗi ngày

Các loài bò sát được buôn bán trên thị trường với nhiều mục đích khác nhau như làm thực phẩm, làm thuốc, làm cảnh và các sản phẩm da Các loài làm thực phẩm như: cá sấu, các loại rắn, nhông cát, kỳ đà, ba ba và rùa Các loài được sử dụng làm thuốc như: tắc kè, rắn hổ mang, rắn cạp nong, rắn ráo, cao trăn, mỡ trăn, mai rùa Các loài được buôn bán làm cảnh

như: rùa vàng, đồi mồi, trăn,

ở Việt Nam bò sát được bẫy bắt và thu gom nhiều ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và miền Trung sau đó được đưa đến các thành phố lớn để tiêu thụ và xuất khẩu Trong tất cả các loài động vật hoang dã bị buôn bán trên thị trường thì bò sát chiếm số lượng lớn nhất

do đặc tính sinh học của chúng có thể tồn tại trong thời gian dài mà không cần cung cấp thức

ăn, ngoài ra chúng còn có khả năng chịu đựng các điều kiện vận chuyển

Các loài lưỡng cư thường bị buôn bán nhiều nhất trên thị trường Việt Nam là một số loài cóc, nhái bầu, ếch đồng Các loài này bị buôn bán chủ yếu phục vụ nhu cầu làm thực phẩm Trong những năm gần đây, ngoài áp lực từ thị trường trong nước, một số loài lưỡng cư cũng được xuất khẩu sang thị trường các nước châu Âu và Mỹ dưới dạng thực phẩm đông lạnh Một số loài cóc được sử dụng làm thuốc dân tộc

Việt Nam là nơi cung cấp nhiều ĐVHD cho tiêu thụ nội địa và nhu cầu từ nước ngoài

Nhưng nguồn tài nguyên ĐVHD trong nước ngày một hiếm dần do khai thác, săn bắt quá mức, và mặt khác do Nhà nước ta đã có những biện pháp mạnh nhằm quản lý, bảo vệ rừng và

Trang 8

bảo vệ ĐVHD Việt Nam còn là một điểm trung chuyển ĐVHD từ các nước Đông Nam á sang các nước khác ĐVHD được khai thác nhiều nơi trong nước, đặc biệt là các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên ĐVHD tiêu thụ nội địa chủ yếu ở các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Các tỉnh như Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Hà Tĩnh, Nghệ An, Gia Lai, Kon Tum có thể là nguồn khai thác ĐVHD lớn Các tỉnh có biên giới chung với Lào và Căm Pu Chia là nơi ĐVHD được nhập vào và được gom về thành phố HCM hoặc Hà Nội, rồi được chở bằng xe đông lạnh lên tập trung ở các tỉnh biên giới phía Bắc, để từ

đó chuyển qua các nước thứ 3 Đường quốc lộ 1A là tuyến đường trung chuyển lớn nhất

ĐVHD Ngoài ra, ĐVHD còn được vận chuyển lẻ rất tinh vi, bằng các loại xe chuyên dụng, tàu hoả hoặc đường hàng không

Việt Nam với đường biên giới dài và tiếp giáp với các nước, phía Tây giáp Lào, Căm

Pu Chia, phía Bắc giáp Trung Quốc Trong khi tài nguyên ĐVHD trong nước ngày một giảm sút cùng với những chính sách bảo vệ ĐVHD của nhà nước thì một số tổ chức, cá nhân chuyển sang buôn bán với các nước láng giềng ĐVHD được vận chuyển vào Việt Nam qua nhiều con

đường khác nhau ĐVHD được khai thác từ nước khác sau được chuyển tải về Việt Nam và

được xuất sang nước thứ 3 Đã xuất hiện các hình thức gian lận thương mại ở các vụ buôn bán

ĐVHD qua biên giới như sử dụng giấy phép, giấy chứng chỉ xuất khẩu giả của cơ quan thẩm quyền quản lý CITES nước ngoài để tạm nhập tái xuất, quá cảnh các mẫu vật ĐVHD qua lãnh thổ Việt Nam

1.7.5 Nuôi nhốt động vật hoang dã

Việt Nam nuôi nhốt ĐVHD phục vụ các mục đích sau:

- Thu gom động vật với số lượng lớn để tạo hàng hoá buôn bán (rùa, tê tê, rắn )

- Khai thác một số sản phẩm từ động vật (sừng hươu, mật gấu, lông thú ) phục vụ các mục

đích khác nhau

- Phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí, làm cảnh và biểu diễn xiếc (gấu, khỉ, voi )

- Chăn nuôi để tạo thêm nhiều sản phẩm phục vụ buôn bán trên thị trường (trăn, rắn, ba ba, cá sấu, hươu sao )

Các thông tin ghi nhận từ Cục Kiểm lâm cho thấy trong năm 2003 số lượng ĐVHD bị nuôi nhốt từ 23 tỉnh và thành phố lên đến 1.400.624 con, gồm nhiều loài động vật khác nhau:

le le, bồ nông, ngỗng trời, vịt trời, công, trích, chồn mực, báo gấm, báo hoa mai, bò rừng, nai,

hươu sao, nhím, hổ, cá sấu, vượn, gấu

Chương 2 Lớp thú và thú điển hình rừng việt nam 2.1 Đặc điểm chung

Lớp thú (động vật có vú-Mammalia) gồm những loài động vật có xương sống có tổ chức cơ thể cao nhất trong giới động vật, thể hiện qua các đặc điểm: Đẻ con và nuôi con bằng sữa, thân nhiệt cao và ổn định, các hệ cơ quan cấu tạo hoàn chỉnh, hệ thần kinh rất phát triển, đặc biệt não bộ có lớp vỏ xám với nhiều nếp nhăn, khả năng tạo lập nhanh các phản xạ có điều kiện Những đặc điểm này đảm bảo cho thú có khả năng phân bố rộng trên trái đất

Hình dạng và kích thước: Thú có 3 dạng chính:

- Dạng sống trên mặt đất có đầu, cổ, mình và đuôi phân biệt rõ ràng, là dạng phổ biến bao gồm các loại thú như mèo, thỏ, trâu, bò,

- Dạng thích nghi bay lượn (dơi)

- Dạng thích nghi bơi lội (cá voi)

Kích thước và trọng lượng cơ thể thú rất thay đổi ở các loài khác nhau từ vài centimet

đến hàng mét, từ vài chục gam đấn hàng nghìn kilôgam Thí dụ: dơi muỗi 15 g, sóc chuột

Trang 9

khúc, đầu ngoài nằm trên bề mặt da và gồm tuyến mồ hôi, tuyến mùi Tuyến ống tham gia vào quá trình bài tiết trên da: thải mồ hôi, tiết mùi để nhận biết đồng loại, để tự vệ: tuyến xạ, tuyến hôi, để đánh dấu vùng hoạt động: tuyến gốc mắt Da thú có nhiều chức năng quan trọng: chống tác động cơ học, chống sự xâm nhập của vi khuẩn, bài tiết, điều hoà thân nhiệt, dự trữ năng lượng (mỡ dưới da) và tự vệ Đặc biệt da thú có tuyến sữa có nguồn gốc từ tuyến mồ hôi,

có hình ống ở thú bậc thấp và hình chùm ở thú bậc cao Các ống dẫn sữa đổ vào núm vú Sữa tiết ra để thú nuôi con

- Lông mao là sản phẩm sừng đặc trưng của da, ngoài lông mao một số loài còn có ria mép

như hổ, báo hoặc có gai trâm cứng như nhím, đon

- Vảy sừng là sản phẩm thứ sinh có trên thân tê tê, trút và trên đuôi chuột, dúi

- Móng, guốc và vuốt là những sản phẩm sừng bịt các ngón chân tay thú Móng là tấm sừng dẹt phủ mặt trên đốt cuối các ngón chân tay khỉ, vượn Guốc là tấm sừng dày hơn, cuộn khép kín, đáy rộng, bọc đầu ngón chân trâu, bò, nai, Vuốt mỏng và đầu nhọn hơn guốc, bịt đầu các ngón các loài thú ăn thịt (hổ, báo) và gặm nhấm (dúi, sóc, ) Móng, vuốt, guốc là vũ khí

tự vệ và được thú sử dụng để đào hang, bắt mồi

- Sừng ở thú chân guốc có 3 loại Sừng đặc có 1 trục xương, thường phân nhánh, rụng và thay thế hàng năm Sừng rỗng gồm 1 bao sừng chụp lên trục xương gắn với xương trán, không phân nhánh và không thay thế hàng năm Sừng mũi tê giác là khối các sợi sừng liên kết lại thành bó, mọc trên mũi

Bộ xương thú: Bộ xương thú rất vững chắc có tác dụng bảo vệ các nội quan và thực hiện chức năng vận động

bộ xương đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự đa dạng hoá các chuyển động của thú

Hệ tiêu hoá của thú: gồm ống tiêu hoá và tuyến tiêu hoá ống tiêu hoá được cấu tạo từ miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột và hậu môn

- Khoang miệng thú rộng và được giới hạn bởi cơ má, cơ môi Trong miệng có răng, lưỡi

- Răng thú mọc trên xương hàm từ lỗ chân răng, có 4 loại răng: răng cửa (I), răng nanh (C), răng trước hàm (PM), răng hàm (M) với hình dạng rất chuyên hoá với chế độ thức ăn Số

lượng mỗi loại răng, cách sắp xếp răng là một đặc điểm của loài Ví dụ như răng cáo có 42 chiếc Công thức răng của cáo như sau:

Số răng nửa hàm trên/Số răng nửa hàm dưới = I.C.PM.M/I.C.PM.M = 3.1.4.2/3.1.4.3 = 42

Răng và xương sọ của cáo (Wikipedia, 2008)

Trang 10

- Lưỡi thú có hình dạng và chức năng thay đổi Thú ăn thịt có nhiều núm sừng trên mặt lưỡi để liếm thịt, thú ăn thực vật có nhiều gai sừng để tham gia vặt cỏ, lưỡi tê tê dài, mặt lưỡi có nhiều tuyến tiết chất dính để bắt mồi

- Dạ dày thú là nơi tích trữ và tiêu hoá thức ăn Có 2 loại dạ dày: dạ dày 1 ngăn của thú ăn thịt,

ăn tạp và dạ dày nhiều ngăn của thú ăn thực vật nhai lại

- Ruột thú gồm ruột non, ruột già và ruột bít Ruột non dài, uốn khúc, phần đầu ruột có hình chữ U Chức năng chính của ruột non là tiêu hoá và hấp thụ chất dinh dưỡng Ruột già là một ống thẳng thông với hậu môn và đây là nơi tích và chuyển cặn bã thức ăn thành phân Giữa phần tiếp xúc ruột non với ruột già có ruột bít (mang tràng) trong có nhiều vi khuẩn phân huỷ xen lu lô Cuối ruột bít của khỉ và người có ruột thừa

- Thú có nhiều tuyến tiêu hoá Tuyến nước bọt có 4 đôi: dưới lưỡi, sau lưỡi, dưới hàm và mang tai với nhiệm vụ làm ướt thức ăn và thuỷ phân những chất dễ tan Tuyến gan chủ yếu tiết muối mật để tiêu hoá lipit Tuyến tuỵ tiết men tiêu hoá protit, lipit, gluxit và trung hoà nồng độ axit của thức ăn khi đi ra khỏi dạ dày Tuyến tiết HCl trong dạ dày giúp gây chua tạo thuận lợi cho quá trình tiêu hoá thức ăn

- Hệ tuần hoàn thú có tim và mạch máu Tim thú 4 ngăn, 2 tâm nhĩ và 2 tâm thất Máu động mạch và máu tĩnh mạch hoàn toàn biệt lập Hệ động mạch một cung chủ động mạch trái đi từ tâm thất trái dọc theo cột sống Cung chủ động mạch phát ra nhiều động mạch nhánh đi lên

đầu, tới các chi và các nội quan Hệ tĩnh mạch gồm tĩnh mạch chủ trước và tĩnh mạch chủ sau thu máu tĩnh mạch từ khắp cơ thể đổ về tâm nhĩ phải Hệ tuần hoàn đóng vai trò quyết định quan trọng đến việc giữ thân nhiệt ổn định cho thú

- Hệ hô hấp thú gồm đường hô hấp và phổi Đường hô hấp gồm mũi, khí quản và phế quản Phổi thú có nhiều túi phế nang nên diện tích bề mặt phổi tiếp xúc với không khí lớn hơn, khả năng trao đổi khí cao Thú hô hấp theo cơ chế thay đổi thể tích lồng ngực nhờ hoạt động của cơ gian sườn và cơ hoành

- Hệ bài tiết thú gồm thận và niệu quản Thận có 1 đôi nằm 2 bên cột sống vùng thắt lưng Thận có cấu tạo phức tạp do sự tăng cường trao đổi chất Nước tiểu được tích trong bọng đái

và thải ra ngoài lỗ niệu sinh dục

- Hệ sinh dục: Thú đực có 1 đôi tinh hoàn hình bầu dục, 2 ống dẫn tinh và dương vật Thú cái

có 1 cặp buồng trứng đặc nằm trong xoang bụng Buồng trứng chứa nhiều bao noãn, bên trong chứa noãn hoàn ống dẫn trứng gồm vòi fanlôp, tử cung và âm đạo

- Hệ thần kinh thú gồm não, hệ thần kinh ngoại biên và hệ thần kinh giao cảm Não thú rất phát triển, gồm não trước, não trung gian, não giữa, tiểu não và hành tuỷ Não trước lớn nhất

và có lớp vỏ xám bao ngoài ở nhiều loài như khỉ, mèo, voi, não trước có nhiều nếp nhăn, diện tích bề mặt lớn Sự phát triển của lớp vỏ não đã làm tăng khả năng hình thành các phản xạ

có điều kiện của thú Não trung gian gồm mấu não trên và mấu não dưới Đây là những nội tiết thần kinh rất quan trọng Não giữa có thuỳ thị giác phát triển thành củ não sinh tư, sự phát triển này có liên quan tới sự phát triển thị giác và thính giác Tiểu não thú rất phát triển, gồm 1 thuỳ giữa và 2 bán cầu tiểu não lớn phủ chất xám Tiểu não điều hành phối hợp tính nhịp nhàng của các vận động và sự khéo léo tay chân của thú Hệ thần kinh ngoại biên gồm những

đôi dây thần kinh phát sinh từ đáy não và hành tuỷ, có 12 đôi Hệ thần kinh giao cảm gồm 2 chuỗi hạch ở 2 bên cột sống

Giác quan của thú:

- Thính giác có tai gồm 3 phần: tai ngoài, tai giữa và tai trong Tai ngoài gồm vành tai, ống tai

và màng nhĩ Vành tai có chức năng hứng, hướng âm và tán nhiệt Vành tai rất phát triển ở thú

ăn đêm và kiếm ăn nơi trống trải như nai, hoẵng, thỏ rừng, trâu rừng, Tai giữa là một buồng nhỏ, phía trên có 3 xương khớp (xương búa, đe và xương bàn đạp) có chức năng dẫn âm thanh Tai trong có ốc tai Trong ốc tai có cơ quan tiếp nhận âm thanh Thú có khả năng nghe được các âm thanh từ 16.000-20.000 Hz, chó sói nghe được các âm thanh 35.000 Hz, dơi nghe được các sóng siêu âu 98.000 Hz

- Mắt thú hình cầu, nằm trong hố mắt Mắt nhìn gần xa bằng cách thay đổi độ cầu của thuỷ tinh thể nhờ sự co dãn của dây chằng Thú sống trên cây, nơi bằng và trống trải điều tiết mắt

Trang 11

khá nhất, đặc biệt là khỉ Thú hang như dúi mốc, tê tê, mắt kém phát triển, khả năng điều tiết mắt kém

- Khứu giác là cơ quan tiếp nhận mùi, giúp tìm mồi, phân biệt giới tính và phát hiện kẻ thù Các loài thú kiếm ăn trong đất hay kiếm ăn nhờ mũi có khứu giác rất phát triển như chuột chũi, cáo,

2.2 Sinh thái học thú

2.2.1 Môi trường sống

Thú sống trong các môi trường khác nhau cơ thể thú có những đặc điểm hình thái cấu tạo thích nghi khác nhau Thú sống dưới nước có thân hình thoi, chi ngắn, kiểu bơi chèo, giữa các ngón thường có màng bơi như bò nước, cá voi Thú vừa sống dưới nước vừa sống trên cạn màng bơi chỉ có trong kẽ ngón, bộ lông dày, mượt, ít thấm nước, khả năng bơi lặc và đi lại tốt: rái cá Thú sống trên cạn có sự thích nghi rất khác nhau tuỳ thuộc đặc điểm sinh sống Những loài sống trên cây có đuôi dài, vuốt nhọn và khoẻ, leo trèo tốt: sóc, cầy vòi, đồi, Các loài sống và ăn cỏ nơi trống có thân thon, chân cao, chạy nhanh: bò tót, nai, hoẵng, Loài sống trong núi đá vôi như sơn dương, hươu xạ có đáy guốc lõm, có bờ cong hình trăng khuyết Thú

ăn thịt chạy nhanh, chân có nệm thịt, đi lại nhẹ nhành như hổ, báo, Thú sống trong đất thân

có hình trụ, đầu hình nón, bàn tay lớn (một số loài có răng cưa) để đào hang như dúi, nhím, 2.2.2 Thức ăn

Thức ăn của thú rất đa dạng và là yếu tố quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của thú Thú được chia thành 4 nhóm theo thức ăn: thú ăn sâu bọ, thú ăn thực vật, thú ăn thịt và thú ăn tạp

Thú ăn sâu bọ: chuột chũi, đồi, tê tê, có mõm nhọn, lưỡi dài, mặt lưỡi có nhiều tuyến

nước bọt dính để bắt mồi Thú ăn thực vật có răng nanh kém phát triển, bề mặt răng hàm rộng, ruột non dài, ruột bít lớn Những loài không nhai lại thức ăn có dạ dày đơn: nhím, thỏ Những loài nhai lại thức ăn có dạ dày nhiều ngăn: bò, trâu, nai, Thú ăn thịt có bộ răng chuyên hoá cao, răng nanh to, khỏe, răng hàm nhiều mấu sắc: hổ, báo, mèo, Thú ăn tạp không thể hiện

rõ sự thích nghi, có dạ dày đơn Tỷ lệ thức ăn thay đổi theo loài, tuổi và mùa Thí dụ lợn rừng, lửng chó, Gấu ngựa thường ăn lượng thức ăn động vật và thực vật ngang nhau Khỉ vàng, khỉ mặt đỏ ăn thực vật nhiều hơn Cầy giông, cầy hương ăn động vật nhiều hơn Vòi hương ăn nhiều động vật vào tháng 2-3, ăn nhiều quả cây rừng vào tháng 6-7

2.2.3 Hoạt động

Thú rừng thể hiện nhịp điệu hoạt động theo ngày, mùa và khả năng kiếm mồi Thú ăn thực vật thường hoạt động ban ngày: voọc, vượn, trâu, bò, Các loài thú nhỏ ăn thịt thường hoạt động ban đêm: cầy hương, cầy giông, cầy móc cua Đôi khi hoạt động của thú còn phụ thuộc vào sự an toàn nơi sinh sống, ví dụ hươu, nai hoạt động kiếm ăn ban ngày khi không bị

đe doạ

Nhịp điệu hoạt động theo mùa thể hiện qua sự di cư, chuyển chỗ để chống lại sự bất lợi của thời tiết và sự thiếu thức ăn Mùa đông xuân nai, hoẵng thường sống gần nương bãi, nơi sẵn nguồn thức ăn, nước uống Mùa hè chúng chuyển lên các vùng núi cao, nơi có khí hậu mát

mẻ và đủ nguồn thức ăn Thú rừng Việt Nam không có hiện tượng ngủ đông

2.2.4 Sinh sản

Đặc điểm sinh sản của thú là thụ tinh trong, đẻ con, nuôi con bằng sữa Sự sai khác đực cái nhiều loài thể hiện không rõ, có loài dễ nhận biệt như sư tử đực và sư tử cái, nai đực và nai cái, Tuổi trưởng thành sinh dục ở thú rất khác nhau tuỳ theo Thú nhỏ thường trưởng thành sinh dục sớm hơn thú lớn, thí dụ: cáo 12 tháng, voi 20-25 năm

Chu kỳ sinh dục thú khác nhau tuỳ loài: Có loài sự động dục chỉ xảy ra 1 hoặc 2 lần trong năm: mèo rừng, nai, hoẵng, Một số loài động dục hàng tháng: khỉ, vượn, Vào thời kỳ

động dục thú đực và thú cái thích gần nhau hơn, âm vật và dương vật to lên Thú đực thường

có hiện tượng đánh nhau để dành thú cái Mùa động dục của thú rừng Việt Nam phần lớn là vào thu đông và đẻ con vào xuân hè Thời gian mang thai, số con/lứa và số lứa/con chủ yếu phụ thuộc vào kích thước cơ thể, khả năng bảo vệ con và khả năng sống sót của thú con

Trang 12

Thú rừng không làm tổ đẻ: nai, bò, trâu,… thường đẻ con khoẻ, sau khi đẻ một vài ngày, thú con có thể theo mẹ Các loài phải làm tổ đẻ: mèo, hổ, báo,… con đẻ ra yếu, mẹ phải chăm sóc con thời gian lâu con mới đi được

2.2.5 Kích thước

Số đo kích thước con vật và sọ tính bằng mm, trọng lượng tính bằng kg hoặc g:

- Chiều dài cơ thể (HB): từ đầu mũi tới gốc đuôi bằng thước dây áp theo đường cong của lưng

- Chiều dài đuôi (T): từ gốc đuôi (hậu môn) đến hết mút đuôi, không đo túm lông đuôi

- Chiều dài bàn chân sau (HF): từ gót chân đến mút ngón chân dài nhất, không kể vuốt, guốc hoặ móng), bằng thước dây hoặc thước gỗ

- Chiều cao vai (SH): độ cao từ mặt đất tới vai

- Chiều cao tai (E): từ khe trước lỗ tai đến chỏm vành tai (không kể túm lông tai)

- Trọng lượng cơ thể (W) tính bằng kg hoặc g

- Chiều dài sọ (LON): từ phần mõm (bao gồm cả răng) đến hết phần sau của sọ

- Chiều dài khẩu cái (B) (Condylobasal length): từ mút trước khẩu cái (trước xương hàm) tới mút trước xương cánh

- Rộng gò má (Z): khoảng cách rộng nhất giữa hai bờ ngoài xương gò má

- Rộng hộp sọ (WON): phần rộng nhất của hộp sọ

(Hình: Phạm Nhật và ctv, 2001) 2.2.6 Các cấp đánh giá mức đe doạ loài (IUCN, 1994)

- Theo “Sách đỏ Thế giới”: Craig Hilton-Taylor (2000), IUCN Red List of Threatened Species: CR: Rất nguy cấp (Critically Endangered): gồm các taxon đang đứng trước nguy cơ diệt vong rất cao trong tương lai gần

EN: Nguy cấp (Endangered): gồm các taxon chưa tới mức CR nhưng cũng đang đứng trước nguy cơ diệt vong cao trong tương lai gần

VU: Sẽ nguy cấp (Vulnerable): gồm các taxon chưa tới mức CR và EN nhưng đang đứng trước nguy cơ diệt vong cao trong tương lai tương đối gần

LR-NT: ít nguy cấp (Low Risk- Near threatened): gồm các taxon không đáp ứng các tiêu chuẩn của 3 cấp trên nhưng có một trong các tiêu chuẩn sau:

+ Là trọng tâm của một chương trình bảo tồn loài hoặc bảo tồn sinh cảnh đặc thù và có thể trở thành một trong ba mức trên trong thời gian 5 năm tới

+ Có tình trạng gần với mức VU (sẽ nguy cấp

DD: Thiếu số liệu (Data Deficient)

- Theo “Sách đỏ Việt Nam” của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, 2000) quy định các cấp đe doạ như sau:

Trang 13

E: Đang nguy cấp (Endangered): gồm các taxon đang bị đe doạ tuyệt chủng do đó có số lượng giảm đến mức báo động hoặc ở trong điều kiện sống bị suy thoái mạnh mẽ

V: Sẽ nguy cấp (Vulnerable): gồm các taxon sẽ bị đe doạ tuyệt chủng trong tương lai gần nếu các nhân tố đe doạ cứ tiếp diễn

R: Hiếm (Rare): gồm các taxon có phân bố hẹp, có số lượng ít tuy chưa bị đe doạ nhưng sự tồn tại lâu dài của chúng là mong manh

2.3 Thú rừng Việt Nam

Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi, địa hình phức tạp, khí hậu nhiệt đới, tài nguyên thực vật phong phú đã tạo nên sự đa dạng của khu hệ thú Việt Nam Đến nay, theo Lê Vũ Khôi (2000), nước ta đã thống kê được 252 loài (289 loài và loài phụ) thú thuộc 40 họ, 14 bộ 2.3.1 Bộ cánh da Dermoptera

Gồm những loài thú sống trên cây, có màng da cánh và có thể lượn, bộ răng 2.1.2.3/2.1.2.3, tổng số là 32 răng Bộ cánh da hiện chỉ còn 1 họ chồn dơi (Cynocephalidae) với 1 giống Cynopithecus sống ở rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới

Chồn dơi (cầy bay, chồn bay) Cynopithecus variegatus (Audeber, 1799)

(Hình: Phạm Nhật và ctv, 2001)

Đặc điểm nhận biết: Chồn dơi có màng da nối từ cổ qua chi trước, chi sau đến gốc đuôi Lông trên lưng màu xám tro với nhiều đám lông nhỏ màu trắng nhạt, lông bụng màu hung đỏ hoặc nhạt hơn, không có đốm Đuôi dài khoảng 1/3 dài thân Chiều dài cơ thể: 290-374 mm, dài

đuôi: 100-274 mm, bàn chân sau dài: 65-75 mm, cao tai: 22-25 mm, trọng lượng: 2-2,5 kg

Đặc điểm s nh thái và tập tính: Chồn dơi sống đơn lẻ trong các khu rừng nguyên sinh và thứ sinh Chúng leo trèo giỏi, đi lại chậm chạp Có khả năng bay liệng từ cây này tới cây khác Chúng kiếm ăn vào ban đêm, ăn quả cây, trứng chim và chim non Mùa sinh sản từ tháng 6-9, thời gian mang thai khoảng 8 tuần, chồn cái có thể đẻ 2 lứa/năm, 1 con/lứa

i

l

Phân bố: Việt Nam (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Gia Lai, Kon Tum), Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia và Indonesia

Giá trị sử dụng: giá trị khoa học và thương mại

SĐVN, 2000: R, nước ta đã cấm săn bắn chồn dơi để bảo tồn nguồn gen

2.3.2 Bộ tê tê Pholidota

Gồm những loài thú sống trên đất hoặc trên cây Thân hình giống bò sát , da phủ vảy sừng, miệng không có răng, lưỡi có nhiều tuyến chất dính để bắt mồi Bọ có 1 họ tê tê (Manidae) với 1 giống Manis sống ở rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới

Tê tê Manis pentadacty a (Hodgson)

(Hình: Phạm Nhật và ctv, 1992)

Trang 14

Đặc điểm nhận biết: Tê tê thân dài, dẹp, đầu nhỏ, mỏm dài và nhọn Đuôi dài, dẹp Toàn bộ cơ thể phủ vảy sừng (trừ đầu, mõm, bụng), mặt vảy có gờ, mép vảy có lông sừng cứng, 15 hàng vảy thân, 17 vảy đuôi Lông mao ở mặt bụng thưa và cứng Chi có 5 ngón Vuốt chân trước to

và dài hơn vuốt chân sau Mắt và tai nhỏ Tê tê nặng khoảng 10 kg

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Tê tê sống trong hang ở các khu rừng giàu thảm mục, trên các

đồi cây bụi gần nguồn nước, ven khe suối Đi lại chậm chạp nhưng đào hang rất nhanh Hang

tê tê hình ô van, hang sâu tới 2 m Kiếm ăn vào ban đêm, ngày ngủ Khi bị đuổi tê tê thường chạy trốn vào hang Bị tấn công bất ngờ tê tê cuộn tròn lại nhờ bộ vảy bảo vệ Tê tê ăn côn trùng trong đất như mối, kiến, ong đất, động dục vào cuối thu đầu đông, mang thai 5 tháng,

đẻ vào xuân hè, 1 lứa/năm, 1 con/lứa Con non thường bám trên lưng hay đuôi mẹ

Phân bố: Nam Trung Quốc, Assam, ấn Độ, Miến Điện, Lào và Việt Nam (các vùng trung du

và miềm núi các tỉnh miền Bắc)

Giá trị sử dụng: Tê tê ăn mối, kiến góp phần bảo vệ rừng Tê tê có giá trị thương mại, thịt được

sử dụng làm thực phẩm, vảy và mật làm dược liệu

Trút (tê tê vàng) Manis Javanica (Desmarest, 1822)

Đặc điểm nhận biết: Thân dài, dẹp, đầu nhỏ, mõm dài và nhọn Đuôi thon dần, dài hơn 40% chiều dài thân Toàn bộ cơ thể phủ vảy sừng (trừ phần quanh mõm và bụng) Vảy tương đối nhẵn, không có gờ, vảy sườn 17 hàng, vảy đuôi 25 Chi 5 ngón, có vuốt dài, vuốt chân trước và vuốt chân sau dài gần bằng nhau, mắt và tai nhỏ Dài thân: 425-550 mm, bàn chân sau dài: 75-

90 mm, cao tai: 15-22 mm, trọng lượng: 5-7 kg

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Trút sống trong cả những khu rừng bị khai thác và những khu rừng nguyên sinh Chúng chủ yếu ăn mối và kiến, lưỡi dài bằng nửa thân và có gốc lưỡi là dạ dày, lưỡi có chất dính Để bắt mồi chúng thường cào tổ kiến bằng vuốt chân trước và thò lưỡi vào tổ Một con trút có thể ăn hơn 70 triệu con kiến hoặc mối/năm Chúng sống trong hang

đào sâu dưới đất 2-3 m Chúng kiếm ăn vào ban đêm, sống thành đàn nhỏ hoặc thành cặp Chúng tự vệ bằng cách cuộn tròn như quả bóng, đuôi ra phía đầu Con con được mẹ cõng trên

đuôi, đẻ con vào mùa xuân và mùa thu, thời gian mang thai là 5 tháng, đẻ 1 lứa/năm, 1-2 con/lứa

Phân bố: Myanma, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Đông Dương, Palawan, Việt Nam (Vườn Quốc gia Cúc Phương và các khu rừng lân cận, từ Nghệ An dọc theo biên giới trở vào tới

Vườn Quốc gia Cát Tiên)

(Wikipedia, 2007)

Trang 15

Giá trị sử dụng: Trút ăn mối, kiến góp phần bảo vệ rừng Trút có giá trị thương mại, thịt tê tê

được sử dụng làm thực phẩm Do áp lực săn bắt hiện nay trút rất hiếm

2.3.3 Bộ gặm nhấm Rodentia

Bộ gặm nhấm có số lượng loài lớn nhất lớp thú, răng cửa lớn, không có chân răng và phát triển liên tục Không có răng nanh Bán cầu não trước nhỏ, thiếu rãnh, ít nếp nhăn Khả năng sinh sản nhanh, đẻ nhiều lứa/năm, nhiều con/lứa Trên thế giới có khoảng 2500 loài thuộc 3 bộ phụ và 32 họ ở Việt Nam có 3 bộ phụ, 7 họ và 55 loài

2.3.3.1 Họ sóc cây Sciuridae

Gồm những loài gậm nhấm sống trên cây, chân trước 4 ngón, chân sau 5 ngón Đuôi dài, bông Bộ răng: 1.0.2.3/1.0.2.3 = 24 chiếc Thức ăn là chồi , quả thực vật Một số loài cho

da, lông, thịt, nhiều loài gây hại và mang nhiều loài ve, bét Việt Nam có 10 loài

Sóc đen Ratufa bicolor (Sparrmann, 1778)

(Hình: Phạm Nhật và ctv, 2001)

Đặc điểm nhận biết: dài thân 370-460 mm, đuôi dài 450-555 mm, bàn chân sau dài 72-95

mm, chiều cao tai: 30-36 mm, sọ dài 71-76 mm, gò má rộng 36-40 mm Đầu, mặt trên của cổ,

lưng đen, mặt ngoài các chi và đuôi đen Mặt đưới cổ, bụng và mặt trong các chi màu vàng

đất, má màu vàng sáng, đuôi dài hơn thân Sóc đen nặng 2-4 kg

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Sóc đen thích hợp sống ở rừng cây gỗ lớn mọc trên núi đá vôi, sống được ở nhiều kiểu rừng Sóc sống ở trong hốc cây, leo trèo, đi lại, nhảy chuyền cành nhanh nhẹn và chính xác Đi đơn, kiếm ăn vào sáng sớm và chiều tối Thức ăn là chồi, quả nhiều loài thực vật như sấu, trám, giẻ, sến, nóng, nhội, gội, bứa, gắm, vải rừng, chúng còn mang quả về dự trữ ở tổ Sóc đẻ 2 lứa/năm, lứa đầu vào tháng 4-5, lứa 2 vào tháng 8-9, đẻ 2-3 con/lứa (Đào Văn Tiến 1971)

Phân bố: ấn Độ, Miến Điện, Nam Trung Quốc, Campuchia, Malaisia, Việt Nam

Giá trị sử dụng: Sóc đen cho da lông, thịt và có giá trị thương mại Sóc đen xuất hiện ở tất cả các tỉnh có rừng, cần có biện pháp quản lý và khai thác nguồn lợi sóc đen

Sóc bụng đỏ Callosciurus erythraeus (Pallas, 1779)

(Wikipedia, 2008)

(Hình: Phạm Nhật và ctv, 2001)

Trang 16

Đặc điểm nhận biết: Sóc bụng đỏ có bộ lông dày, mềm Lông trên đầu, cổ, lưng và phần ngoài các chi màu đỏ ô liu sẫm Lông dưới cổ, bụng và phần trong các chi có màu đỏ nhạt, mu bàn chân và tay có màu đen Lông đuôi có màu giống lưng nhưng túm lông đuôi có thể đen, trắng hoặc đỏ Kích thước: cơ thể dài 203-255 mm, đuôi dài 193-285 mm, bàn chân sau dài 35-55

mm, chiều cao tai 17-28 mm, trọng lượng cơ thể 250-469 g, sọ dài 52-55 mm, gò má rộng

32-34 mm

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Sóc bụng đỏ sống trong nhiều kiểu rừng khác nhau, sống đơn, kiếm ăn ban ngày vào lúc sáng sớm và chiều tối, thường phát tiếng kêu “chuộc, chuộc…” trong khi ăn Thức ăn chủ yếu là quả rừng, nấm và côn trùng Sóc bụng đỏ đẻ 2 lứa/năm vào các tháng 3-5 và 9-10, 2-3 con/lứa, thời gian mang thai 35-38 ngày

Phân bố: Myanma, Assam, Trung Quốc, Đông Dương, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam (Đồng Nai và các tỉnh có rừng từ phía Bắc)

Giá trị sử dụng: Sóc bụng đỏ cho thực phẩm, da lông

2.3.3.2 Họ sóc bay Pteromyidae

Sóc bay trâu Petaurista petaurista Pallas

Đặc điểm nhận biết: dài thân 490 mm, có màng da nối từ cổ qua chi trước, chi sau tới gốc

đuôi Bộ lông dày, mềm, mợt Cỡ to nhất trong họ sóc bay Mặt có nhiều đốm trắng Cằm xám

đến nâu sáng Lưng nâu hung lốm đốm trắng Lông lưng có gốc xám thẫm, một phần ba phần

đầu mút lông nâu hung, đầu mút lông trắng Bụng nâu hung nhạt Đuôi xù, dài hơn thân

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Sóc bay trâu thích hợp nhất là sống trong rừng cây gỗ lớn, xa làng bản và có thể sống trong nhiều kiểu rừng, xa làng bản Sống đơn, chậm chạp, hoạt động

về đêm Chuyền cây bằng lượn, chuyền cành bằng bò, leo Sóc bay trâu chỉ lượn từ cao xuống thấp, có thể lượn xa tới 100 m tính theo khoảng cách ngang Ban ngày ngủ trong tổ làm bằng lá cây khô trong hốc cây ở trên cao, sâu 40-50 cm, miệng tổ hẹp và kín

Sóc bay trâu ăn quả, hạt, chồi non, lá cây, giẻ rừng, sấu, sung, vả, si, đa, trám trắng, trám đen Đẻ mỗi năm 2 lứa vào tháng 4, 5 và 8, 9 Mỗi lứa đẻ 2-6 con Con được mẹ nuôi trong tổ cho đến khi sống tự lập

Phân bố: ấn Độ, Nam Trung Quốc, Lào, Campuchia, Malaisia, Việt Nam (các tỉnh có rừng) Giá trị sử dụng: Da lông của sóc bay trâu đẹp và có giá trị thương mại Hiện nay sóc bay trâu rất hiếm và là loài bị cấm săn bắn ở Việt Nam

(Sách đỏ Việt Nam, tình trạng: bậc R)

Sóc bay trắng đen Hyplopetes alboniger (Hodgson)

Đặc điểm nhận biết: Sóc bay trắng đen nhỏ hơn Sóc bay trâu, Lông ở lưng có gốc màu xám,

đầu mút lông màu trắng nhạt Má và bụng màu trắng nhạt hay trắng kem Lông trên màng cánh màu nâu sẫm Đuôi sù màu lông sẫm Mặt dưới đuôi có một đường trắng nhạt ở giữa

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Sóc bay trắng đen chủ yếu là sống ở rừng cây gỗ nguyên sinh Hoạt động kiếm ăn, vận động gần giống sóc bay trâu, làm tổ trên các hốc cây cao Chúng đẻ

từ 1-3 con vào mùa khô

Phân bố: Nepan, Assam, Burma, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam (Phú Yên-Sơn La,

Mường Phăng-Lai Châu, Kon Hà nừng-Gia Lai)

Trang 17

Giá trị sử dụng: Là loài thú hiếm của rừng nhiệt đới Có ý nghĩa khoa học, du lịch Giữ được nguồn gien, nhân giống sẽ có giá trị xuất khẩu Cần nghiêm cấm chặt cây trong các khu rừng

có sóc bay đen trắng sinh sống

(Hình: Đặng Đức Khương)

2.3.3.3 Họ nhím Hystricidae

Gồm những loài gặm nhấm, thân phủ gai trâm cứng, ở trong hang, kiếm ăn trên đất Bộ răng: 1.0.1.3/1.0.1.3 = 20 chiếc Thức ăn gồm các loại củ, quả giàu tinh bột (sắn, khoai, củ mài, củ đắng, củ ráy, dong riềng, Việt Nam có 3 loài

Nhím đuôi ngắn Hystricx brachyura (Gray, 1847)

Đặc điểm nhận biết: Cơ thể phủ trâm cứng, dài Gai trâm tròn, nhọn, có khoang đen ở giữa, mút trắng Gáy có bờm, lông nhô cao, cuối đuôi có túm lông gai màu trắng Chân trước có 4 ngón, chân sau 5 ngón Vuốt dài, nhọn và khoẻ Nhím đuôi ngắn to lớn, nặng 10-15 kg Cơ thể dài 680-820 mm, đuôi dài 85-140 mm, bàn chân sau dài 75-90 mm, chiều cao tai 135-150

mm, sọ dài 135-150 mm, gò má rộng 64-74 mm

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Nhím đuôi ngắn sống trong rừng hoặc các trảng cây bụi, thích hợp nhất là các rừng gỗ thưa pha tre nứa Nhím kiếm ăn vào ban đêm, sống đôi hoặc đơn,

thường tự đào hang để ở, di chuyển chậm, nhút nhát Nhím tự vệ bằng cách dựng đứng bộ lông

và sẵn sàng lao vào kẻ thù Nhím đuôi ngắn đẻ 1-2 lứa/năm vào các tháng 4-5 hoặc 10-11, thời gian mang thai 3,5-4 tháng

Phân bố: ấn Độ, Nam Trung Quốc, Nepan, Thái Lan, Myanma, Đông Dương, Việt Nam (Vườn Quốc gia Cát Tiên và tất cả những khu vực rừng từ Thừa Thiên Huế lên phía Bắc tới biên giới Việt Nam-Trung Quốc)

(Hình: Phạm Nhật và ctv, 2001)

Trang 18

Nhím Acanthion subcristatum (Swinhoe)

(Hình: Phạm Nhật và ctv, 1992)

Đặc điểm nhận biết: Nhím là loài nặng nhất trong bộ gặm nhấm, dài thân 750 mm, nặng 15

kg Đầu, thân và đuôi phủ gai trâm cứng, gai trâm dài trên 200 mm, đầu nhọn, có khoang trắng xen với khoang đen Gáy có bờm lông nhô cao Đuôi ngắn, cuối đuôi có túm lông

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Nhím tính nhút nhát, sống ở rừng cây bụi, trên các bãi cỏ tranh, thích hợp ở rừng gỗ thưa pha tre nứa Sống đôi hay sống theo gia đình 3-4 con Đào hang để ở, hang rộng 50 cm, sâu 1-1,5 m Kiếm ăn trên đất vào ban đêm, giờ đi ăn phụ thuộc vào tuần trăng, thường đi vào lúc tối trời Nhím thường đi kiếm ăn theo lối mòn, nên dễ bị bẫy Thức ăn của nhím là các loài củ, quả rừng giàu tinh bột như củ mài, củ đắng, sa nhân,…nhím còn ăn cả măng tre, trúc, sắn, dong riềng, mầm cây ngọt bùi đắng chát, ngoài ra nhím cũng ăn

xương động vật, muối khoáng,…

Nhím đi lại chậm chạp và phát tiếng kêu loẹt xoẹt từ túm lông đuôi Khi có kẻ thù, nhím dẫm chân mạnh, nghiến răng, dựng và xù lông lên tạo thành tiếng động Khi gặp nguy hiểm, nhím rung đuôi, những lông chuông này tạo thành một tiếng kêu "lách cách", "lè xè" để doạ nạt kẻ thù và thông báo tín hiệu với những con cùng đàn để lẩn tránh kẻ thù Nếu kẻ thù

cứ tiếp tục tấn công thì nó sẽ bắn lông vào kẻ thù Thính giác, khứu giác nhím phát triển tốt Tuổi thọ của nhím khá cao, trong thiên nhiên 5-10 năm, nhím nuôi có khi sống 10-20 năm

Nhím con mới đẻ ra có lông mềm, nhím con mới đẻ ra kêu lít chít như chuột, phát triển nhanh và mở mắt ngay khi đẻ ra Hai tuần sau nhím con có thể rời tổ và lông bắt đầu cứng Nhím con khá hiếu động và thích chạy nhảy, đùa giỡn cùng nhau Nhím con bú mẹ đến 6-8 tuần và tập ăn cây cỏ sau tuổi này Nhím sinh trưởng trung bình 1 kg/tháng Nhím trưởng thành khi 8-10 tháng và đạt trọng lượng 8-10 kg thì bắt đầu sinh sản

Nhím sinh sản quanh năm không theo mùa vụ Nhím cái thuộc loài động dục nhiều lần (Polyestrous) và chu kỳ động dục là 25-30 ngày, thời gian mang thai 90-100 ngày Nhím đực

trưởng thành sinh dục sau 12 tháng, nhím cái sau 16 tháng Khi muốn giao phối, nước tiểu của nhím nặng mùi khai hơn Nhím đực thường đánh nhau tranh giành con cái Cuộc ve vãn bao gồm các công đoạn: Kêu to một điệu múa khôi hài ngắn và con đực vãi nước đái vào con cái với mùi đặc trưng rất khai Thời gian mang thai 90-100 ngày, mỗi lứa đẻ 1-3 con, ít khi đẻ 4 con, thường là 2 con, trọng lượng sơ sinh bình quân 100 g/con, thường đẻ vào ban đêm, sau khi đẻ 3 ngày là có thể động dục

Phân bố: Nepan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Caampuchia, Nam Trung Quốc, Việt Nam (các tỉnh miền núi)

ở Việt Nam số lượng nhím còn nhiều, cần khai thác hợp lý Trong họ nhím ở Việt Nam còn có don (Atherurus mac orus Linnaeus) phổ biến hơn nhím, don nhỏ hơn nhím, cơ thể don dài 500 mm, nặng 5 kg, lông thưa, gai trâm dẹp dài 70-100 mm Don thường sống ở rừng trong các hang hốc tự nhiên trên núi đá vôi

r

Giá trị sử dụng: Nhím có giá trị thực phẩm và dược liệu Thịt nhím nhiều nạc, ít mỡ, là món ăn

đặc sản vừa thơm ngon vừa có giá trị dinh dưỡng cao Bao tử nhím là loại dược liệu quí dùng

để ngâm rượu thuốc chữa bệnh đau bao tử, kích thích ăn uống, tiêu hóa tốt Lông nhím dùng làm đồ trang sức và các sản phẩm nghệ thuật khác Thị trường tiêu thụ thịt nhím và bao tử nhím rất phong phú và đa dạng Những năm gần đây, nhiều hộ gia đình ở TP HCM và các tỉnh lân cận đã tổ chức chăn nuôi, mang lại hiệu quả kinh tế cao

Trang 19

Phân bố: Assam, Miến Điện, Thái Lan, Mã Lai, Lào, Campuchia, Việt Nam (nơi có rừng) Giá trị sử dụng: Dúi gây hại lớn cho lâm nghiệp Một con dúi có thể làm chết 2000 cây tre hay nứa, vầu/năm Thịt dúi có thể ăn được

Dúi má đào Rhizomys sumatrensis: có kích thước và trọng lượng lớn Số lượng dúi ở Việt Nam còn nhiều, cần khuyến khích săn bắt để bảo vệ rừng tre trúc

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Thỏ rừng sống ở rừng thưa, savan cây bụi nơi có nhiều trảng

cỏ, thích hợp nhất là nơi ráp giáp ranh giữa rừng với bãi cỏ ven nương bãi Thỏ rừng sống thành đàn, ngủ trong bụi cây Chạy nhanh nhưng chóng mất sức Không biết leo trèo, kiếm ăn

từ chập tối đến nửa đêm Sau khi ăn no thường tập trung đùa giỡn trên bãi cỏ Thức ăn là chồi, lá non của nhiều loại thực vật họ Cúc, cây có nhựa mủ trắng và nhiều loại cây trồng như đậu, lạc, rau khoai, rau muống,…Thỏ rừng đẻ từ mùa xuân đến mùa thu, đẻ 3-4 lứa/năm, 2-4 con/lứa, mang thai 30 ngày, thời gian trưởng thành sinh dục là 6 tháng

Phân bố: Nam Trung Quốc, ấn Độ, Malaisia, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam (từ Quảng Ninh đến Tây Ninh, Bình Dương)

Giá trị sử dụng: da lông, thực phẩm (0,3 m2 da lông và 0,8-1 kg thịt/con) Số lượng thỏ rừng ở các tỉnh Tây nguyên còn nhiều Khả năng phát triển tự nhiên tốt, cần khoanh nuôi để tăng nguồn thu)

Trang 20

Thỏ rừng Lepus peguensis (Cuvier, 1823)

(Hình: Phạm Nhật và ctv, 2001)

Đặc điểm nhận biết: Cơ thể có lông mềm và mịn Lông trên đầu, mặt trên cổ, lưng, hông và mông có màu mốc hoặc xám vàng Bụng màu trắng đục Tai hơi nâu Đuôi ngắn, lông đuôi phớt trắng Cơ thể dài 380-500 mm, đuôi dài 65-80 mm, bàn chân sau 95-105 mm, chiều cao tai 65-85 mm, trọng lượng cơ thể 2-4 kg

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Có thể gặp thỏ rừng trong tất cả các loại sinh cảnh trống trải,

kể cả những khu rừng trống, những khu vực có cây bụi và đất canh tác Thỏ rừng kiếm ăn từ chập tối đến nửa đêm, ăn chồi lá non, sống thành đàn nhỏ hoặc thành cặp Mùa sinh sản là mùa xuân, hè và mùa thu Thời gian mang thai 30 ngày, đẻ 3-4 lứa/con, 3-4 lứa/năm

Phân bố: Myanma, Thái Lan, Đông Dương, Việt Nam (Từ tỉnh Quảng Bình đến Tây Ninh và

Gồm các loài thú nguyên thuỷ ăn thịt hay ăn tạp Mặt và mõm dài, đuôi thường chấm

đất khi con vật đứng, đuôi xù, chân cao Chân trước 4 hoặc 5 ngón, chân sau 4 ngón Bộ răng 3.1.4.2/3.1.4.3 = 42 chiếc Việt Nam có 4 loài

Chó sói lửa Cuon alpinus (Plallas, 1811)

(Hình: Phạm Nhật và ctv, 2001) (Wikipedia, 2008)

Đặc điểm nhận biết: Chó sói lửa có bộ lông thô màu hung lửa, bụng nhạt hơn lưng, hình dáng giống chó nhà nhưng dữ tợn hơn, lông đuôi rậm và khá dày phần lớn đuôi có màu tối và múp

đuôi màu đen, đuôi dài chấm đất khi chó sói lửa đứng Mõm ngắn và có màu tối Cơ thể dài 800-900 mm, đuôi dài 305-405 mm, chiều cao tai 95-105 mm, cơ thể nặng 10-20 kg, sọ dài 168-196 mm, gò má rộng 88-114 mm

Trang 21

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Chó sói lửa ưa thích sống trong những khu rừng rậm, sống theo

đàn 3-4 con Chạy nhanh, bơi lội tốt và dai sức Săn mồi tập thể theo ngày hoặc đêm phụ thuộc vào hoạt động của con mồi Con mồi là các loài thú móng guốc: nai, hoẵng, lợn rừng, cheo cheo Sinh sản vào mùa xuân và mùa hè, mang thai khoảng 63 ngày, con cái làm tổ đẻ, đẻ 1-2 lứa/năm, 2-4 con/lứa

Phân bố: Từ Xibêri tới khắp Nam và Đông châu á, Việt Nam (dọc biên giới phía Tây)

Giá trị sử dụng: cho thực phẩm, da lông Chó sói lửa ở Việt Nam hiện nay ở tình trạng E (Sách

đỏ Việt Nam, 2000), VU (Sách đỏ Thế giới IUCN, 2000) cần phải bảo vệ

Lửng chó Nyctereutes procyonoides (Gray)

(Hình: Kelly Karr) (Viện bảo tàng lịch sử tự nhiên USNM, Eric Ekdale, 2006)

Đặc điểm nhận biết: Chiều dài cơ thể 620 mm, cân nặng 4 kg Đầu nhỏ, mõm ngắn hơi nhọn, chân ngắn Bộ lông màu vàng hung, dày, dài và thô, mút lông xám, lông đuôi rậm và có màu xám Đầu mõm và vó chân đen Đuôi dài bằng 1/3 chiều dài cơ thể

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Lửng chó sống trên các trảng cây bụi, ven các nương rẫy, dọc theo các khe suối Kiếm ăn từ chập tối đến nửa đêm, sinh hoạt thầm lặng và thận trọng Thức

ăn gồm giun đất, cào cào, châu chấu, ốc, hến, nhái, ngoé, một số loại cây lương thực như khoai, lạc, ngô Mùa sinh sản vào các tháng 4, 5, 6, thời gian mang thai 60 ngày, đẻ 3-4 con/lứa, tổ đẻ được làm trong các bụi cây rậm Thời gian trưởng thành sinh dục sau 10 tháng Phân bố: Lửng chó có nguồn gốc ở Đông Siberia, Bắc Trung Quốc, Bắc Việt Nam (các tỉnh trung du, miềm núi từ Thanh Hoá trở ra miền Bắc), ngày nay có phân bố rộng rãi ở Bắc và Tây châu Âu (Finland, Sweden, Norway, Poland, Romania, Czech Republic, Slovakia, Germany, France, Australia, and Hungary (Sheldon, 1992; Ward and Wurster-Hill, 1990)

Giá trị sử dụng: cho thực phẩm, da lông, có ích cho sản xuất nông, lâm nghiệp, số lượng còn

tương đối nhiều, có thể khai thác để lấy thực phẩm và da lông

Cáo Vulpes vulpes Swinhoe

(Hình: Phạm Nhật và ctv, 1992)

Đặc điểm nhận biết: Chiều dài cơ thể 600 mm, cân nặng 7 kg Lưng màu hạt giẻ hồng, hông vàng, bụng trắng hồng, mặt trước chi trước có vệt đen, vai có viền hung đỏ mờ Đuôi dài hơn nửa chiều dài cơ thể, lông xù, mặt trên nâu nhạt, mặt dưới trắng vàng, mút lông trắng Chỏm tai và vó chân xám

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Cáo sống ở ven rừng, trên trảng cỏ, đồi cây bụi, sống ở hang, kiếm ăn trên mặt đất Thức ăn là chuột, ốc sên, thằn lằn, nhái, chim và nhiều động vật khác Mùa xuân là mùa sinh sản của cáo, thời gian mang tahi 53 ngày, đẻ 4-5 con/lứa, con con mở mắt sau khi sinh 12-14 ngày, thời gian trưởng thành sinh dục 1,5-2 năm

Phân bố: châu Âu, châu Phi, ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Campuchia,Việt Nam (miền núi)

Trang 22

Giá trị sử dụng: cho da lông, thực phẩm Hiện nay cáo ở Việt Nam rất hiếm, có nguy cơ bị tuyệt chủng, cần bảo vệ

2.3.5.2 Họ cầy Viverridae

Gồm các loài thú nguyên thuỷ ăn thịt và ăn tạp Thân thon, dài Chân ngắn, 5 ngón

Đầu và mõm nhọn Bộ răng: 3.1.4 (3).2/3.1.4 (3).2 = 40 (36) chiếc Đuôi dài bằng hoặc hơn nửa chiều dài cơ thể, thường có khoang màu Việt Nam có 11 loài

Cầy giông Viverra zibetha (Linnaeus, 1758)

Đặc điểm nhận biết: Lông màu mốc xám, đậm hơn ở lưng và nhạt ở phần bụng Gáy có bờm lông dài Có một dải lông đen cứng chạy từ gáy, dọc cột sống đến gốc đuôi và có thể dựng lên khi con vật đe doạ hoặc sợ hãi Cổ dài, có 2 dải yếm trắng xen các dải đen, đuôi có 5 vòng trắng xen các đoạn đen Bốn vó đen, mõm dài, nhọn màu đen nhạt Con đực và cái đều có tuyến xạ lớn nằm gần cơ quan sinh sục, phát mùi thơm Cơ thể dài 650-850 mm, đuôi dài 380-

462 mm, bàn chân sau dài 109-140 mm, chiều cao tai 35-45 mm, cơ thể nặng 9-12 kg, sọ dài 126-138 mm, gò má rộng 55-68 mm, khẩu cái dài 63-70 mm

Đặc điểm s nh thái và tập tính: Thường gặp cầy giông ở các trảng cỏ cây bụi, nương rẫy, ven khe suối, trong thung lũng có rừng Chúng ăn nhiều loại động vật nhỏ (giun đất, cua, ếch nhái, chuột, ), côn trùng (cào cào, châu chấu, dán, bọ hung, ), gà nhà, hoặc thức ăn thừa bỏ đi xung quanh khu dân cư, kiếm ăn vào ban đêm thường từ chập tối đến nửa đêm, sống đơn Khi

bị đe doạ chúng thường toả ra mùi xạ rất nồng Mùa động dục vào tháng 2-4, thời gian mang thai 2,5 tháng, đẻ 1-2 lứa/năm, 2-4 con/lứa

i

Phân bố: từ Nam Trung Quốc, Bắc Myanma, qua Thái Lan, Đông Dương tới Malaysia, ấn Độ, Philippin, Việt Nam (hầu hết các tỉnh có rừng)

Giá trị sử dụng: Cầy giông có ích cho sản xuất nông lâm nghiệp, cho xạ hương (dược liệu và

hương liệu quý), cho thịt và da lông Số lượng cầy giông hiện nay còn nhiều, cần quản lý và sử dụng hợp lý để tăng thu nhập kinh tế

Trang 23

Đặc điểm nhận biết: Cầy hương có bộ lông đặc thù có những đốm đen kết hợp tạo thành các sọc đen mờ chạy dọc thân Chân ngắn và đen tuyền Đuôi dài bằng khoảng 2/3 thân, có 6-9 vòng trắng xen với vòng đen, mút đuôi trắng Cơ thể dài 540-660 mm, đuôi dài 300-430 mm, bàn chân sau dài 85-100 mm, chiều cao tai 39-50 mm, cơ thể nặng 2-4 kg, sọ dài 91-102 mm,

gò má rộng 44-52 mm, khẩu cái dài 43-53 mm

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Cầy hương kiếm ăn vào ban đêm và thường đi đơn, hay sống gần những khu định cư của con người và có thể ăn những thức ăn thừa xung quanh khu định

cư Người ta cũng cho rằng cầy hương ăn cả gà nhà, chuột, ếch nhái, chim và một số quả cây, thỉnh thoảng có ăn xác động vật thối Chúng sinh sản quanh năm, đẻ 3-5 con/lứa, thường đẻ trong tổ ở dưới đất Con đực ít giúp con cái chăm sóc con non

Phân bố: Cầy hương có ở khắp Nam á, Đông Dương, Malaysia, Java, Bali, Việt Nam (các tỉnh miền núi và trung du)

Giá trị sử dụng: Cầy hương cho nhiều xạ hương Cần quản lý tốt và khai thác hợp lý

Cầy vòi mốc Paguma larvata (Hamilton, Smith, 1827)

(Hình: Phạm Nhật và ctv, 2001)

Đặc điểm nhận biết: Cầy vòi mốc có màu lông rất thay đổi Một số con hầu như đen với 1/3 cuối đuôi màu trắng Những con khác có màu nâu nhạt, bụng sáng màu hơn, nửa dưới đùi và 1/3 cuối đuôi màu đen, có “mặt nạ” giống nhau và rất đặc thù, có 1 sọc lông trắng chạy từ mũi lên đỉnh đầu và những mảng lông trắng hai bên mắt Đuôi thường dài bằng thân Cơ thể dài 650-756 mm, đuôi dài 535-660 mm, bàn chân sau dài 95-104 mm, chiều cao tai 46-50 mm, trọng lượng 3-5 kg, sọ dài 116-135 mm, gò má rộng 59-69 mm, khẩu cái dài 54-59 mm

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Cầy vòi mốc kiếm ăn vào ban đêm, đi đơn Chúng chủ yếu sống trong rừng nhưng người ta có thể thấy chúng gần nơi ở của con người Chúng sống trên cây, leo trèo giỏi Thức ăn chủ yếu là quả cây rừng (vả, xoài, chuối), thực vật và thịt Cầy vòi mốc bắt chuột rất giỏi nhưng không bắt gà và các thú nuôi khác Chúng có 2 mùa sinh sản trong năm, trước và sau mùa mưa Có 1 trường hợp con cái sinh được 4 con và sau 3 tháng con non đã đạt kích thước gần bằng con trưởng thành Thời gian mang thai 1,5-2 tháng

Phân bố: từ Trung Quốc dọc theo dãy Hymalaya tới Kashmia, Đông Dương, Thái Lan, Malaysia, Sumatra, Bormeo, Nhật Bản, Việt Nam (các tỉnh có rừng)

Giá trị sử dụng: Cầy vòi mốc cho da lông (0,2 m2 da lông/con) và thực phẩm

Vòi hương Paradoxurus hermaphroditus (Pallas, 1777)

Đặc điểm nhận biết: Cầy vòi hương có kích thước, hình dáng và màu lông tương tự như cầy vòi mốc, mũi, má tai, phần dưới đùi và đuôi có màu đen, có 3 hàng đốm chạy từ lưng xuống, trán trắng, có chấm trắng dưới mỗi bên mắt và hai bên mũi Cơ thể dài 480-700 mm, đuôi dài 400-460 mm, bàn chân sau dài 70-90 mm, chiều cao tai 41-49 mm, trọng lượng 2-5 kg, sọ dài 93-111 mm, gò má rộng 57-68 mm, khẩu cái dài 43-56 mm

Trang 24

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Cầy vòi hương sống ở rừng nhưng có thể thích nghi sống gần con người, thường ăn quả cây nhưng cũng ăn những loài thú nhỏ, chuột và chuột nhắt, cua, côn trùng, kiếm ăn ban đêm, hầu như ngủ cả ngày trong những nơi ẩn náu (trú ngụ trong cả các trang trại) Cầy vòi hương sinh sản quanh năm nhưng tập trung vào tháng 10-12, đẻ 1 lứa/năm, 2-4 con/lứa

Phân bố: từ Kashmia qua ấn Độ tới Sri Lanka, Nam Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Sumatra, Java, Bormeo, Cilibê, Philippin, Việt Nam (các tỉnh có rừng)

Giá trị sử dụng: cho xạ hương, da lông và thực phẩm

đuôi nhỏ dẹt Cầy mực có tuyến xạ phát triển

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Cầy mực chủ yếu sống trong các rừng già cây gỗ ít người qua lại, kiếm ăn vào ban đêm, đi đơn Cầy mực ngủ trong các hốc cây gỗ lớn, leo trèo rất giỏi, ngoài dùng chân tay chúng còn sử dụng cả đuôi cuốn vào cành, thân cây để làm điểm tựa trong việc leo trèo Thức ăn chủ yếu là quả cây rừng, côn trùng, thằn lằn, chim, trứng chim và một số loài gặm nhấm Cầy mực thường động dục vào mùa hè, đẻ con vào mùa thu, thời gian mang thai 90-92 ngày, đẻ 1lứa/năm, 1-3 con/lứa

Phân bố: Myanma, Thái lan, Đông Dương, Malaysia, Sumatra, Java, Borneo, Palawan, Việt Nam (Tây Bắc tới Cao nguyên Tây nguyên, Vườn Quốc gia Cát Tiên

Giá trị sử dụng: Cầy mực có ý nghĩa khoa học, cho da lông, thịt và xạ hương Nước Anh và Pháp đã nuôi cầy mực để lấy xạ hương (Cầy mực đực cho 150 g xạ tươi/con) Tình trạng bảo tồn cầy mực: Sách đỏ Việt Nam (2000): V

Trang 25

Cầy giông đốm lớn Viverra megaspila (Blyth, 1862)

Đặc điểm nhận biết: Hình thái và kích thước giống cầy giông, tuy nhiên có những nét khác biệt là những giải lông đen trắng xung quanh cổ và bờm màu đen dựng đứng dọc sống lưng

đến hết đuôi Lông có những đốm đen lớn ở hai bên sườn, đùi và chân sau Mõm dài hơn, hai mép môi phình ngang hơn loài cầy giông

Đặc điểm sinh thái và tập tính: chưa được nghiên cứu Tình trạng bảo tồn: Sách đỏ Việt Nam (2000): E

Chồn bạc má Miến Điện Melogale personata (Geoffroy, 1831)

(ảnh: Vườn Quốc gia Cát Tiên)

Đặc điểm nhận biết: Thân có màu lông từ nâu hơi ghi tới đen nhạt Lông trên đầu màu đen, có mảng lông trắng trên mũi và giữa 2 mắt Lông dưới đầu, cổ họng và phía trong tai màu trắng, một mảng lông trắng chạy từ đỉnh đầu qua gáy đến giữa lưng Cơ thể dài 330-430 mm (TB: 380), đuôi dài 150-230 mm, Sọ dài 81 mm, gò má rộng 40-52 mm, nặng 1-3 kg (TB: 2)

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Chồn bạc má Miến Điện có thể sống ở các kiểu rừng khác nhau, các thảo nguyên (đồng cỏ); kiếm ăn vào ban đêm vào tờ mờ sáng và tối nhá nhem kéo dài khoảng vài tiếng, ban ngày ngủ trong hang hay những nơi ẩn náu tự nhiên Chúng ăn cỏ,

đôi khi sử dụng thời gian săn tìm côn trùng và ốc sên trên cây Chúng cũng ăn cả gián, cào cào, sâu đất, chuột con, ếch nhái, cóc, thằn lằn nhỏ, trứng chim, chim non, xác chết, lá và quả cây; thường sống trong những hang đã có từ trước, không tự đào hang cho chính mình; có thể

đào đất và leo trèo giỏi, không nhút nhát, sinh con vào trước mùa mưa, đẻ khoảng 3 con/lứa Con con được mẹ chăm sóc trong hang từ 2-3 tuần, trong điều kiện nuôi nhốt có thể sống

được 10 năm

Phân bố: Nepan, Đông-Bắc ấn Độ, Nam Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Đông Dương, Việt Nam (các tỉnh có rừng)

Trang 26

Giá trị sử dụng: có lợi cho lâm nghiệp, cho da lông, thực phẩm

Chồn mác Martes flavicula (Boddaert)

Đặc điểm nhận biết: Chồn mác có lưng màu vàng đất, mông và chi phớt nâu xám; đầu, gáy, bàn chân và đuôi nâu đen, bụng vàng nhạt, cằm và má trắng Cơ thể dài 50 mm, nặng 5 kg

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Chồn mác sống trong tất cả các kiểu rừng, thích hợp nhất là rừng cây gỗ Trú ẩn trong các gốc cây mục, hốc đá, hang đất, bụi rậm Sống đơn hay nhóm nhỏ 3-4 con Kiếm ăn ngày hay đêm tuỳ thuộc hoạt động của con mồi, rất khôn khéo trong khi hoạt động Thức ăn là các loài chim, sóc, chuột, rắn và các loài thú có kích thước lớn hơn chúng: khỉ, cheo cheo, cầy, quả (rất ít) Sinh sản vào mùa hè, 1 lứa/năm, 1-3 con/lứa

xương và vảy cá Cơ thể dài 467-700 mm, đuôi dài 250-380 mm, bàn chân sau dài 100-130

mm, chiều cao tai 12-20 mm, sọ dài 97-120 mm, gò má rộng 59-72 mm, khẩu cái dài 45-49

mm, cơ thể nặng 5-9 kg

Đặc điểm s nh thái và tập tính: Rái cá thường sống chủ yếu trong các khu vực rừng gần sông

và suối Ban ngày trú trong các hốc đá hay hang đất, kiếm ăn dưới nước vào ban đêm Thức ăn chủ yếu là cá Mùa sinh sản không cố định, thời gian mang thai khoảng 2 tháng, đẻ 1 lứa/năm, 2-4 con/lứa

Phân bố: châu Âu, châu á, Việt Nam (có ở hầu hết các tỉnh, kể cả các hòn đảo ven biển)

Trang 27

Giá trị sử dụng: Da lông rái cá có giá trị thương mại tốt hạng nhất, thịt ngon Rái cá là loài có hại đáng kể cho cá Rái cá dễ nuôi, có thể kinh doanh loài này Tình trạng bảo tồn: Sách đỏ việt Nam (2000): T

Rái cá lông mượt Lutra perspicillata (Geoffroy, 1826)

i

(ảnh: Singapore)

Đặc điểm nhận biết: Hình dạng rái cá lông mượt giống rái cá thường, nét khác biệt là bàn chân

to, đốt thứ 3 tự do (không nối liền với màng da) Mõm ngắn hơn nhưng mắt to hơn rái cá

thường, cuối đuôi dẹt theo chiều đứng giống mái chèo Lông mượt, đường viền lông trên mũi không dích dắc Cơ thể dài 650-750 mm, đuôi dài 400-450 mm, bàn chân sau dài 100-140

mm, sọ dài 109-123 mm, gò má rộng 68-78 mm, khẩu cái dài 57-61 mm, cơ thể nặng 7-11 kg

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Rái cá lông mượt sống ở ven các khe suối, thuỷ vực, hoạt động trên cạn tích cực hơn rái cá thường, chạy nhanh, bơi lội giỏi Thức ăn là cá và các loài ếch nhái Phân có nhiều xương ếch nhái Sinh sản vào cuối xuân đầu hè, đẻ 3-4 con/lứa, thời gian mang thai khoảng 63 ngày

Phân bố: Trung ấn, Nepan, Bhutan, Myanma, Thai Lan, Đông Dương, Sumatra, Malaysia, Việt Nam

Giá trị sử dụng: cho da lông, thực phẩm Tình trạng bảo tồn: Sách đỏ Việt Nam (2000): V Rái cá nhỏ Aonyx cinerea (Illiger, 1815)

(ảnh: Sở Thú Smithsonian)

Đặc điểm nhận biết: Mình nhỏ và ngắn hơn các loài rái cá khác Mặt ngoài các chi và lưng màu xám đậm, bụng và phía trong các chi màu xám nhạt, ngực xám trắng, vuốt rất ngắn và không vượt quá đầu ngón Màng bơi bé, chỉ nối một phần gốc ngón Phân chứa nhiều bã cua

Đặc điểm s nh thái và tập tính: Rái cá nhỏ sống theo đàn 4-6 con trong các hốc đá hoặc đất ven khe suối và sông Thức ăn chủ yếu là cua, tôm, cá; kiếm ăn dưới nước vào ban đêm Rái cá đẻ con trong hốc đá, hốc đất dọc theo bờ suối, sông; đẻ 1 lứa/năm, 1-2 con/lứa

Phân bố: Từ Nam Trung Quốc, Bắc Myanma, ấn Độ qua Thái Lan, Đông Dương tới Malaysia, Indonesia, Philippin, Việt Nam

Giá trị sử dụng: cho da lông, thực phẩm, ít gây hại cho nghề cá Tình trạng bảo tồn: Sách đỏ Việt Nam (2000): V

Trang 28

2.3.5.4 Họ mèo Felidae

Gồm các loài thú ăn thịt điển hình, thích nghi phương thức săn bắt mồi sống Thân hình cân đối, đầu tròn, cổ khá to, thân ngắn và thon, chân trung bình, đuôi dài, dưới chân có nệm thịt, đi lại không gây tiếng động Vuốt dài, cong, khoẻ, có thể co gập Mắt tinh, tai thính

Bộ răng chuyên hoá với chế độ ăn thịt: 3.1.3.1/3.1.2.1 = 30, răng nanh to khoẻ và phát triển nhất, răng hàm nhiều màu sắc

Mèo rừng Prionailurus bengalensis (Kerr, 1792)

(ảnh: Brian Caffrey Young)

Đặc điểm nhận biết: Mèo rừng có kích thước giống mèo nhà Lông nền màu vàng tươi, có nhiều đốm đen rộng tới 2,5 cm, đốm trải dài tới tận mút đuôi, mõm trắng, có 2 vệt lông trắng giữa hai bên mắt, có một mảng lông trắng phía sau hai bên tai Cơ thể dài 450-550 mm, đuôi dài 250-290 mm, bàn chân sau dài 112-124 mm, chiều cao tai 40-45 mm, sọ dài 79-94 mm,

gò má rộng 56-67 mm, khẩu cái dài 25-35mm, cơ thể nặng 3-5 kg

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Mèo rừng sống trong một số sinh cảnh Thức ăn bao gồm thằn lằn, thú lưỡng cư, chim, chuột nhắt, hươu nhỏ Mèo rừng leo trèo giỏi và có thể tấn công con mồi từ trên cây, sống thành gia đình và con đực đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi con Trong điều kiện nuôi giữ, Mèo rừng có thể sống 12-13 năm Sinh sản vào các tháng 2-4 và 8-

10, đẻ 1-2 lứa/năm, 2-3 con/lứa

Phân bố: châu Âu và châu á, Việt Nam (các tỉnh có rừng)

Giá trị sử dụng: cho da lông, dược liệu và có giá trị thương mại Mèo rừng ăn chuột nên rất có ích cho sản xuất nông, lâm nghiệp, có thể nuôi mèo rừng

Mèo cá Prionailurus viverrinus (Bennett, 1833)

Trang 29

Đặc điểm s nh thái và tập tính: Mèo cá sống trong các khu rừng ven suối có các bụi cây rập rạp, thường ngồi rình mồi trên các tảng đá lớn hoặc gốc cây nhô ra suối Thức ăn gồm cá, cua,

động vật thân mềm, chuột, chim và các loại động vật khác Thời gian mang thai 90-95 ngày,

đẻ 2-3 con/lứa

i

Phân bố: Nepan, ấn Độ, Myanma, Thái lan, Đông Dương, Sumatra, Java, Việt Nam (Cao Bằng, Tp Hồ Chí Minh, Khánh Hoà, Kiên Giang, Quảng bình, Vườn Quốc gia Cúc Phương và khu vực rừng xung quanh)

Giá trị sử dụng: cho da lông, dược liệu và có giá trị thương mại Tình trạng bảo tồn: Sách đỏ Việt nam (2000): R

Beo lửa Catopuma temminckii (Vigors & Horsfield, 1827)

(Wikipedia, 2008)

Đặc điểm nhận biết: Beo lửa có kích thước trung bình, lông màu hung lửa nhạt đến hung xám, lông bụng sáng màu hơn, xung quanh mắt có vệt lông trắng, có những vệt lông đen chạy

ngược qua trán Đuôi có màu hung sẫm, phần dưới mút đuôi màu trắng Cơ thể dài 760-850

mm, đuôi dài 430-490 mm, bàn chân sau dài 165-180 mm, nặng 12-15 kg

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Beo lửa chủ yếu sống trong các sinh cảnh khô, rừng rụng lá, và rừng mưa nhiệt đới Beo lửa ăn thỏ, nai con, chim, thằn lằn và các loài thú nhỏ khác Thỉnh thoảng chúng đi săn đôi, đặc biệt là khi đi săn những thú lớn hơn như dê, trâu rừng con Đẻ con trong hốc đất, hốc đá; đẻ 1-2 con/lứa, 1 lứa/năm, con đực đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi con Mùa sinh sản từ tháng 2 đến tháng 10 Thời gian mang thai 95 ngày

Phân bố: từ Tây Tạng, Nepan, Sikkim qua Nam Trung Quốc, Myanma, Thái Lan, Đông Dương tới Malaysia và Sumatra, Việt Nam (các tỉnh có rừng)

Giá trị sử dụng: cho da lông, dược liệu và có giá trị thương mại Tình trạng bảo tồn: Sách đỏ Việt Nam (2000): E

Báo gấm Pardofelis nebulosa (Griffith, 1821)

(HSEvietnam.net)

Đặc điểm nhận biết: Báo gấm có kích thước trung bình đến lớn Lông màu nâu nhạt với những

đám “mây gấm” tối màu rõ rệt ở trên lưng và hai bên sườn, những đám “mây gấm” này lớn ở vùng vai và nhỏ dần về phía thân sau và đuôi, một vệt lông đen chạy dọc sống lưng và nhiều chấm đen không đều trên thân xuống đến tận bàn chân Mõm có màu trắng, tai tròn và dựng

đứng, phía sau tai có những chấm trắng Cơ thể dài 750-1060 mm và nặng 25-40 kg, đuôi dài 550-800 mm, bàn chân sau dài: 170-225 mm, sọ dài 130-160 mm, gò má rộng 102-125 mm

Trang 30

Đặc điểm s nh thái và tập tính: Báo gấm sống trong các rừng cây gỗ lớn, kiếm ăn ban đêm và sống trên cây Mùa lạnh chúng ở trong các hốc đất, hốc đá tự nhiên Mùa nóng nghỉ trên cành cây to, trèo cây và bơi giỏi Báo gấm ăn sóc, chuột, khỉ, thú móng guốc nhỏ và chim lớn Đẻ con vào tháng 4-6, mang thai 90-95 ngày, đẻ 1 lứa/năm, 1-2 con/lứa

i

Phân bố: từ Nepan, Sikkim tới Nam Trung Quốc, Myanma, Thái lan, Đông Dương, Indonesia, Malaysia, Việt Nam (các tỉnh có rừng, hiện nay chủ yếu gặp ở vùng biên giới phía Tây) Giá trị sử dụng: cho da lông, dược liệu và có giá trị thương mại Tình trạng bảo tồn: Sách đỏ Việt Nam (2000): V

Báo hoa mai Panthera pardus (Linnaeus, 1758)

Đặc điểm nhận biết: Báo hoa mai có hai dạng màu lông Màu thường gặp là màu vàng nâu với những đốm đen, một số đốm này có thể có “hình hoa hồng” hoặn những đốm tạo thành những vòng tròn hoặc gần tròn Một dạng màu khác là màu đen, có đốm nhưng khó nhìn thấy trên nền lông đen và được gọi là báo hoặc báo đen Cả hai dạng lông này có thể cùng xuất hiện/lứa Cơ thể dài 1.000-1.300 mm và nặng 45-80 kg, đuôi dài 800-1.000 mm, sọ dài 158-190 mm, gò má rộng 124-136 mm, bàn chân trước của báo cái dài 42-50 mm, bàn chân trước của báo đực dài 50-62 mm

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Báo hoa mai sống trong nhiều sinh cảnh kể cả các vùng quang trống Chúng không bị lệ thuộc vào bóng râm và nguồn nước như hổ, chúng sống trên cây nhiều hơn Báo hoa mai ăn cả côn trùng, lợn, khỉ và hươu Thường tấn công thú bằng cách nhảy lên lưng thú từ trên cây, đem con thú trèo lên cây để ăn Báo hoa mai sống đơn lẻ Mùa

động dục là tháng 2-3 Thời gian mang thai 3 tháng, đẻ 1 lứa/năm, 2-3 con/lứa

Phân bố: châu Phi, Nam á và Đông Nam á, Việt Nam (các tỉnh có rừng, hiện nay còn chủ yếu ở vùng dọc biên giới)

Giá trị sử dụng: Báo hoa mai có hại cho nhiều loài thú rừng, đặc biệt là loài thú móng guốc và khỉ Báo hoa mai cho da lông, dược liệu và có giá trị thương mại Tình trạng bảo tồn: Sách đỏ Việt nam (2000): E

(Wikipedia, 2008)

Hổ Panthera tigris corbetti (Linnaeus, 1758)

Đặc điểm nhận biết: Hổ là loài thú lớn nhất thuộc họ mèo, kích thước và những dấu hiệu khác nhau phụ thuộc vào vị trí địa lý Lông nền màu gạch tươi với nhiều kiểu vạch đen to nhỏ không đều nhau vắt từ lưng xuống bụng, phần dưới bụng, cổ có màu trắng, khu vực trên mắt

có màu trắng với những dấu đen Đuôi có nhiều vằn đen ngang dày, đặc biệt là phần mút đuôi Cơ thể dài 1.700-2.300 mm và nặng 180-200 kg, đuôi dài 950-1.200 mm, sọ dài 270-300 mm,

gò má rộng 204-239 mm Bàn chân sau hổ cái dài < 80 mm, bàn chân trước dài < 85 mm Bàn chân sau hổ đực dài > 85 mm, bàn chân trước dài > 90 mm

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Hổ sống trong nhiều sinh cảnh khác nhau, nhưng thích hợp là rừng ven bãi cỏ xa khu dân cư, sống đơn lẻ, không có nơi ở cố định Hổ di chuyển nhanh, bơi lội tốt, hoạt động trên phạm vi rộng (257 km), kiếm ăn vào ban đêm Hổ ăn thịt các loài lợn rừng, hoẵng, nai, bò tót, bò rừng, sơn dương,…Hổ động dục vào tháng 10 và 11, mang thai 5

Trang 31

tháng, đẻ 2-3 con/lứa, 2-3 năm/lứa, từ nhỏ đến trưởng thành 18 tháng đến 2 năm, tuổi thọ

Vườn Quốc gia Cát Tiên rất thấp, loài này chắc chắn sẽ bị tuyệt chủng ở quy mô địa phương trong tương lai không xa nếu như không sử dụng ngay những biện pháp bảo tồn tích cực 2.3.5.5 Họ gấu Ursidae

Gồm những loài có thân to, dáng nặng nề, đuôi ngắn Đầu tròn, mõm dài, cổ ngắn và

to Chân tay to, bàn lớn, có 5 ngón; vuốt lớn, cong Bộ răng 3(2).1.4(3,2).2/3.1.4(3,2).3 = 42 (40, 38, 34) Răng cửa tương đối lớn, răng nanh to, khoẻ, răng hàm có nón răng rộng thích nghi với chế độ ăn thực vật Việt Nam có 2 giống, 2 loài

Gấu ngựa Selenarctos thibetanus (Cuvier)

Đặc điểm nhận biết: Gấu ngựa có bộ lông dày, dài, thô, cứng, màu đen tuyền Lông mõm ngắn, mịn, màu xám nhạt Bên cổ có bờm lông Dưới cổ có yếm trắng hình chữ V Cơ thể nặng

động vật (trứng chim và chim non, thích nhất là mật ong, nhộng và ong trưởng thành) Gấu ngựa sinh sản từ tháng 10, 11 năm trước đến tháng 7, 8 năm sau, thời gian mang thai 6-7 tháng, đẻ 1 lứa/năm, 1-3 con/lứa Gấu con đẻ ra yếu, sau 3 năm thì trưởng thành sinh dục

(Wikipedia, 2008) (ảnh của tác giả, 2008)

Phân bố: Viễn Đông Liên Xô (cũ), Triều Tiên, Nhật Bản, Trung Quốc, Đông Dương, Thái lan, Miến Điện, Assam, Bắc ấn Độ, Apganistan, Việt Nam (các tỉnh có rừng)

Giá trị sử dụng: Gấu ngựa cho da lông, thực phẩm, dược liệu (mật, xương), nuôi thuần hoá sẽ

có giá trị nghệ thuật Gấu ngựa là thú hiếm ở Việt Nam, cấm săn bắn, có thể nuôi ở các trang trại và gia đình

Trang 32

Gấu chó Ursus malayanus (Raffles, 1822)

(Wikipedia, 2008)

Đặc điểm nhận biết: Gấu chó là loài gấu nhỏ nhất, có bộ lông ngắn mịn, màu đen, mượt Ngực

có yếm hình chữ U màu vàng Đầu tròn, mõm ngắn, tai tròn và nhỏ, vùng lông trắng xung quanh mõm thường mở rộng lên trên hai mắt Cơ thể dài 1.000-1.400 mm và nặng 45-60 kg,

đuôi dài 30-70 mm, sọ dài 231-279 mm, gò má rộng 183-215 mm

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Gấu chó sống trong các rừng cây gỗ và có thể sống ở những nơi cao nhất Gấu chó leo trèo giỏi, kiếm ăn chủ yếu vào ban đêm, thích những cành cây cao, nơi chúng làm tổ để ngủ, thường để lại dấu khoan bằng vuốt đặc thù trên thân cây Thức ăn gồm quả cây, động vật không xương sống và động vật có xương sống nhỏ Gấu chó thích ăn côn trùng, đặc biệt là ong, mối, mật ong và sâu bọ nhiều hơn các loài gấu lớn khác, cũng có thể ăn xác chết đã thối Gấu chó là loài tấn công rất nhanh nhạy vì vậy cũng là một trong những loài thú rừng nguy hiểm nhất Gấu chó sinh sản quanh năm, thường đẻ 2 con/lứa, thời gian mang thai 3 tháng

Phân bố: Burma, Thái lan, Malaysia, Borneo, Surmata

Giá trị sử dụng: có giá trị khoa học, cho nguyên liệu dược liệu, da lông Tình trạng bảo tồn: Sách đỏ Việt Nam (2000): E

Gồm các loài ăn thực vật hay ăn tạp, không nhai lại thức ăn, bộ răng: 3.1.4.3/3.1.4.3 =

44, dạ dày đơn (1 ngăn) Việt Nam chỉ có 1 họ lợn (Suidae) với 1 loài lợn rừng

Lợn rừng Sus scrofa (Linnaeus, 1758)

Đặc điểm nhận biết: Lông lợn rừng dài, cứng và có màu đen xám, lông gáy dày và rậm, phần mông nhỏ hơn đầu ngực, răng nanh dài chìa ra khỏi môi tạo thành ngà Lợn rừng con có nhiều sọc vàng sáng chạy dọc thân Cơ thề dài 1.350-1.500 mm và nặng 40-200 kg, đuôi dài 200-300mm, bàn chân sau dài 110-140 mm, chiều cao tai 95-105 mm, sọ dài 285-310 mm và rộng 120-150 mm, khẩu cái dài 200-220 mm

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Lợn rừng sống trong nhiều sinh cảnh khác nhau Thức ăn đa dạng gồm măng tre nứa, quả cây, nấm, rễ củ, giun đất, rắn, xác chết đã thối và chuột Khi không bị quấy rầy lợn rừng kiếm ăn vào ban ngày, có thể hình thành các đàn 20-100 con,

thường là con cái và con chưa trưởng thành Lợn rừng đực thường kiếm ăn đơn ngoài mùa

động dục Lợn rừng sinh sản quanh năm, mang thai 4 tháng, đẻ 1-2 lứa/năm, 7-12 con/lứa Phân bố: châu Âu, châu á và Bắc Phi, Việt Nam (các tỉnh miền núi và trung du)

Trang 33

Giá trị sử dụng: cho da lông, thực phẩm; ủi đất khi kiếm ăn làm đất tơi xốp, lượng phân và

nước giải thải ra làm màu mỡ đất, tuy nhiên cũng gây tác hại cho các nương lúa, ngô, khoai, sắn, măng tre nứa

(ảnh: Tanya Dewey)

2.3.6.2 Bộ phụ nhai lại Ruminantia

Gồm các loài thú có guốc ăn thực vật, nhai lại thức ăn, dạ dày nhiều ngăn, bộ răng không có răng cửa Thú nhai lại có vai trò sinh thái và giá trị kinh tế lớn

♦ Họ cheo cheo Tragulidae

Thú nhỏ nhất trong bộ Guốc chẵn, không có sừng Bộ răng thiếu 0.1.3.3/0.1.3.3 = 28 chiếc Dạ dày có 3 ngăn (túi cỏ, túi tổ ong, túi khế), thiếu túi sách

Cheo cheo Tragulus javanicus (Osbeck, 1765)

(ảnh: Chan Kwok Wai)

Đặc điểm nhận biết: Thú nhỏ, chiều ngang vai 0,2 m Bộ lông rất khác nhau phụ thuộc vị trí

địa lý Lưng có màu hung đỏ, có 3 dải lông trắng tạo thành hình chữ T dưới cổ Phần bụng có lông màu trắng hoặc vàng, chân mảnh khảnh, chân sau dài hơn chân trước, đầu nhỏ, tai lớn, 2 răng nanh hàm trên phát triển chìa ra ngoài môi Cơ thể dài 400-490 mm và nặng 1,5-2,5 kg,

đuôi dài 50-80 mm, bàn chân sau dài 100-120 mm, chiều cao tai 35-50 mm, sọ dài 83-90 mm

và rộng 37-40 mm, khẩu cái dài 45-55mm

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Cheo cheo sống trong các khu rừng khác nhau, ngủ trong hốc cây hay khe đá Kiếm ăn chủ yếu vào ban đêm, thức ăn gồm mầm cỏ non, quả cây, chồi và lá non Những con cheo cheo cái có tập tính đặc biệt là thỉnh thoảng gõ nhịp nhàng 2 chân sau trên nền đất Khi nghỉ ngơi, cheo cheo có tư thế ngồi xổm rất độc đáo Sinh sản tập trung vào tháng 4-6, mang thai 120-130 ngày, đẻ 1 lứa/năm, 1 con/lứa

Phân bố: ấn Độ, thái lan, Đông Dương, Malaysia, Indonesia, Việt Nam (các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam bộ

Giá trị sử dụng: có giá trị khoa học và thương mại Tình trạng bảo tồn: Sách đỏ Việt Nam (2000): V

♦ Họ hươu xạ Moschidae

Gồm các loài guốc chẵn ăn thực vật, nhai lại, không có sừng, Con đực có tuyến xạ nằm giữa rốn và cơ quan sinh dục ngoài

Trang 34

Hươu xạ Moschus brezovskii (Flerov)

Đặc điểm nhận biết: Hươu xạ có bộ lông dày, rậm, màu nâu sáng phớt đen nhung Chân cao mảnh khảnh Con đực có răng nanh dài (9-10 cm) chìa ra khỏi môi, có tuyến xạ Túi xạ hình tròn, hơi phồng lên, quanh miệng túi có lông nhỏ mọc dày Cơ thể dài 900 mm, nặng 14 kg

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Hươu xạ là loài thú điển hình của sinh cảnh rừng trên núi đá vôi, không sống ở rừng núi đất, hoạt động trong một khu vực ổn định Đi đơn, kiếm ăn vào ban đêm (chủ yếu là đầu tối và gần sáng) Vào mùa hè, ngày nghỉ trên những tảng đá phẳng, mùa đông nghỉ trong hang, nhai lại thức ăn Hoạt động trên núi đá nhanh nhẹn và chính xác Thức ăn là rêu, địa y, các loài cỏ và lá cây Hươu xạ thường đẻ vào tháng 3-5

Phân bố: Trung Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ, Việt Nam (Trùng Khánh-Cao Bằng, Hữu Lạng Sơn)

lũng-Giá trị sử dụng: có giá trị khoa học, thương mại và dược liệu (xạ hương) Hươu xạ đang có nguy cơ bị tiêu diệt, Nhà nước cấm săn bắn, cần bảo vệ sinh cảnh để phục hồi số lượng

♦ Họ sừng đặc Cervidae

Gồm các loài thú guốc chẵn, ăn thực vật, nhai lại, dạ dày có 4 ngăn (túi cỏ, túi tổ ong, túi lá sách và túi múi khế) Bộ răng thiếu 0.1.3.3/3.1.3.3 = 34 chiếc, con đực có sừng Sừng

đặc, phân nhánh, rụng và thay thế hàng năm Việt Nam có 7 loài

Nai Cervus unicolor (Kerr, 1792)

(ảnh của tác giả, 2008)

Đặc điểm nhận biết: Nai là loài lớn nhất trong họ Lông ngắn, dày, màu nâu tối Con đực

trưởng thành có bờm dày Mùa đông lạnh, lông mọc dày hơn và có màu sáng hơn Đuôi ngắn, mặt dưới đuôi và mặt trong các chi sau có lông màu trắng Nai đực có sừng (gạc), sừng có nhiều biến thể nhưng thường có 3 nhánh Sừng của con đực trưởng thành có thể dài tới gần 1

m (đo dọc theo đường cong ngoài) Cơ thể dài 1.800-2.100 mm, nặng 100-200 kg, dài đuôi 210-270 mm, bàn chân sau dài 380-550 mm, chiều cao tai 160-200 mm, sọ dài 350-410 mm

và rộng 160-175 mm, khẩu cái dài 200-245 mm

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Nai sống trong nhiều sinh cảnh nhưng ưa thích rừng cây gỗ, và

có thể thấy trong rừng rậm chưa bị tán phá Nai có xu hướng kiếm ăn trong những khu vực có cây bụi và những nơi có cây tái sinh Khi mọc sừng chúng cần lượng can xi lớn và do đó

thường đi tìm nơi có muối để ăn Nhu cầu uống nước rất cao, đôi khi chúng phải đi rất xa để kiếm nước uống Nai kiếm ăn vào ban đêm, ngày nghỉ trong nơi ẩn náu, sống dàn 2-3 con Thức ăn là các loại cỏ, lá, mầm, cây bụi, cây tái sinh và một số loại quả rừng Những con đực

đánh nhau để tranh dành con cái vào thời gian cuối năm, mùa sinh sản vào những tháng mát trời, tập trung vào mùa xuân và thu, mang thai 6-7 tháng, đẻ 1 lứa/năm, 1 con/lứa Nai con ở với mẹ 1 năm hoặc lâu hơn, trưởng thành sinh dục sau 2 năm tuổi

Phân bố: Sri Lanka, Đông ấn Độ tới Nepan, Nam Trung Quốc, Đông Dương, Malaysia, Indonesia, Philippin, Việt Nam (rừng dọc biên giới phía Tây)

Giá trị sử dụng: cho da lông, thực phẩm và dược liệu (nhung, sừng), nai có thể nuôi nhốt

Trang 35

Hươu vàng Cervus porcinus (Zimmermann)

Đặc điểm nhận biết: Hươu vàng nhỏ hơn Nai Bộ lông dày, ngắn, màu hạt dẻ, bụng nhạt màu hơn Sừng thon nhỏ, có 3 nhánh mảnh, màu nâu nhạt, đế sừng ngắn Cơ thể dài 1500 mm, nặng 60 kg

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Hươu vàng sống trong các sinh cảnh rừng thưa, thoáng, ẩm, nơi

có nhiều sông hồ, đầm lầy Sống đàn, thích ngâm mình trong bùn Kiếm ăn đêm, thức ăn là cỏ, chồi búp non nhiều loài thực vật Hươu vàng ghép đôi vào tháng 9-10, mang thai 8 tháng, đẻ 1 lứa/năm, 1 con/lứa

Phân bố: Bắc ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Đông Dương, Viện nam (Tây nguyên, Đồng Nai) Giá trị sử dụng: cho da lông, thực phẩm và dược liệu, là thú quý hiếm và đặc sản của Đông Nam á, đang có nguy cơ bị tuyệt chủng ở nước ta

(ảnh: Campuchia)

Cà toong Cervus eldi (M’Clelland)

Đặc điểm nhận biết: Bộ lông dày, mềm, màu vàng nhạt Con đực có sừng rất phát triển, nhánh mọc dài và cong chìa ra phía trước mặt Mút sừng chính dẹt, to và chia nhiều nhánh nhỏ Cà Toong nhỏ hơn Nai, nặng 100 kg, dài thân 1800 mm

Đặc điểmsinh thái và tập tính: Cà toong chỉ sống trong các rừng thưa có địa hình bằng phẳng Sống đàn, kiếm ăn vào sáng sớm và chiều tối trên các bãi cỏ gần rừng hoặc dưới tán rừng Thức ăn là cỏ và một ít chồi lá cây rừng Theo Charles Dumuas (1943), cà toong mang thai 8 tháng, mùa động dục vào tháng 3, 4, đẻ con vào tháng 10, 11, đẻ 1 con/lứa

Phân bố: Bắc ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam (Sa Thầy-Kontum, Suối Trai-Khánh Hoà, Nam Cát Tiên-Đồng nai)

(ảnh: Gerald Cubitt)

Giá trị sử dụng: là thú quý hiếm và đặc hữu của Đông Nam á và có giá trị thương mại lớn,

đang có nguy cơ bị tuyệt chủng ở nước ta Nhà nước đang tiến hành các biện pháp bảo tồn và nuôi cứu hộ ở rừng cấm Yokđôn, Suối Trai

Hươu sao Cervus nippon (Temminck)

Đặc điểm nhận biết: Bộ lông dày, ngắn, mịn, màu vàng Hai bên thân có các đốm lông màu trắng gọi là sao Lông bụng màu trắng đục Đầu nhỏ, tai to Con đực mang cặp sừng 4 nhánh Cơ thể dài 1.400 mm, nặng 60 kg

Trang 36

Giá trị sử dụng: có giá trị kinh tế lớn, đặc biệt là nhung, sừng Cần phát triển nuôi Hươu sao để phục hồi nguồn gen quí hiếm và tăng thu nhập Hươu sao ngoài tự nhiên đã bị tuyệt chủng Hiện nay chúng đang được nuôi ở Vườn Quốc gia Cúc Phương, Vườn Quốc gia Cát bà và nhiều cơ sở quốc doanh, tư nhân ở Quỳnh Lưu-Nghệ An, Hương Sơn-Hà Tỹnh, Hiếu Lâm-Bình Phước)

210 mm, bàn chân sau dài 190-290 mm, chiều cao tai 85-140 mm, sọ dài 205-220 mm, khẩu cái dài 114-137 mm, gò má rộng 72-90 mm, chiều cao vai 500 mm

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Hoẵng thường sống trong các khu rừng thứ sinh, rừng phục hồi sau nương rẫy Hoẵng đi đơn, kiếm ăn đêm, thức ăn là cỏ, mầm cây, đọt non, cành cây, quả cây, măng tre nứa và nhiều loại hoa màu Động dục vào các tháng 7, 8, mang thai 6-6,5 tháng,

đẻ 1 lứa/năm, 1 con/lứa, đẻ vào các tháng 2, 3

Phân bố: từ Sri Lanka, Nam ấn Độ tới Nepan, Nam Trung Quốc, Đông Dương, Malaysia, Indonesia, Việt Nam (các tỉnh có rừng)

Giá trị sử dụng: cho da lông, thực phẩm và dược liệu Tình trạng bảo tồn: Sách đỏ Việt Nam (2000): V

♦ Họ sừng rỗng Bovidae

Gồm các loài thú guốc chẵn, kích thước cơ thể lớn, ăn thực vật và nhai lại Bộ răng thiếu 0.0.3.3/3.1.3.3 = 32 chiếc Dạ dày 4 ngăn Sừng rỗng, không phân nhánh và không thay thế hàng năm Các loài bò có giá trị sinh thái và kinh tế lớn Việt Nam có 3 giống, 5 loài

Bò tót Bos gaurus (Smith, 1827)

Đặc điểm nhận biết: Bò tót có cơ thể lớn, bộ lông đen bóng ánh sanh như trâu, phần từ đầu gối trở xuống của 4 chân gọi là “tất chân”, có màu ghi vàng (giống màu lông trán) Con non mới

được sinh ra có màu vàng, lông dọc sống lưng có màu sẫm, sau 4-5 tháng chuyển dần sang màu đen Cặp sừng to, gốc sừng hình ôvan xanh nhạt, cong vào trong, mũi sừng hơi hướng về phía trước Sừng dài 20-25 cm, không kể gốc sừng Cơ thể dài 2.500-3.000 mm, nặng 800-

Trang 37

1.000 kg, đuôi dài 700-1.050 mm, chiều cao tai 300-350 mm, sọ dài 500-520 mm và rộng 280-290 mm, khẩu cái dài 300-310 mm, chiều cao vai 1.700-1.870 mm

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Bò tót sống trong rừng rụng lá hoặc rừng thường xanh và gần những khoảng rừng trống có cỏ mọc, có thể sống ở độ cao 1,800 m Bó tót ăn cỏ và ưa thích cỏ xanh, chúng cũng ăn có khô, thảo dược và một số loại lá cây Khi không bị quấy rầy, Bò tót chủ yếu hoạt động vào lúc hoàng hôn, nghỉ ngơi cả ngày, thường đi liếm muối, sống đàn 2-40 con Bò tót có tổ chức xã hội phức tạp Đàn bò có con đực trưởng thành thường giao tranh với những con đực già trong mùa giao phối để tranh giành con cái Bò tót khoẻ và có thể bảo vệ

Bò rừng Bos javanicus (D’Alton, 1823)

Đặc điểm nhận biết: Bò rừng trông giống bò nhà, có mảng lông trắng ở mông Lông màu hung

đỏ sáng, từ đầu gối chân trở xuống có màu trắng, xung quanh mõmm có 1 vệt lông trắng Con

đực có màu lông nâu tối hơn con cái và trở nên tối hơn khi chúng càng già Mặt cắt của phần

đế sừng có hình tròn Cơ thể dài 1.900-2.250 mm, nặng 600-800 kg, đuôi dài 650-700 mm, chiều cao tai 250-300 mm, chiều cao vai 1.550-1.650 mm, sọ dài 470 mm, gò má rộng 210-

225 mm

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Bò rừng thích ăn cỏ hơn chồi non nên có su hướng sống ở khoảng trống hơn bò tót Do sức ép của nạn săn bắn, bò rừng đã trở thành loài thú hoạt động vào ban đêm Bò rừng sống thành từng đàn với duy nhất có 1 con đực sinh sản, những con đực khác sống đơn hoặc sống trong đàn toàn bò đực Mùa sinh sản vào tháng 5-6, đẻ 1-2 con/lứa,

có thể sinh sản hàng năm, thời gian mang thai 9,5-10 tháng

Phân bố: Myanma, Thái Lan, Đông Dương, Malaysia, Indonesia, Việt Nam (Kontum, Gia Lai,

Đắc Lắc, Bình Phước, Lâm Đồng, Đồng Nai

Giá trị sử dụng: cho thực phẩm, da lông, có giá trị khoa học bảo tồn nguồn gen Việt Nam đã triển khai xây dựng các khu rừng cấm Yokđôn-Đắc Lắc, Crôngtrai-Khánh hoà, núi Ông-Thuận Hải để bảo vệ bò rừng

Trang 38

Trâu rừng Bubalus arnee (Linnaeus, 1758)

Đặc điểm nhận biết: Trâu rừng rất giống trâu nhà, nhưng to, nhanh nhẹn và nặng hơn Trâu rừng có sừng dài, mặt cắt ngang của sừng có hình tam giác Lông dưới gối màu hơi ghi Cơ thể dài 2,400-2.800 mm, nặng 800-1.200 kg, đuôi dài 600-850 mm, chiều cao tai 200-300 mm, sọ dài 550 mm, chiều cao vai 1.600-1.900 mm

(Vườn Quốc gia Kazirang, Assam)

Đặc điểm s nh thái và tập tính: Trâu rừng thích những cánh rừng trống và những trảng cỏ voi gần các đầm lầy, nơi chúng có thể ngâm mình thường xuyên trong bùn, thích ăn cỏ và chỉ ăn chồi non khi cỏ khan hiếm Chúng rất liều lĩnh và dậm chân xuống đất khi thấy thú lớn và con

người Khi bị thương chúng có thể trở nên rất nguy hiểm với kẻ tấn công Sinh sản vào mùa

mưa, mang thai 10 tháng

Họ tê giác Rhinocerotidae

Gồm thú guốc lẻ lớn đi bằng ngón, thiếu răng nanh, bộ răng (2-0).0.4.3/(2-0).0.4.3 =

36 (28) chiếc Thế giới có 5 loài, Việt Nam có 2 loài nhưng 1 loài đã bị tuyệt chủng

Tê giác một sừng Việt nam Rhinoceros sondaicus annamiticus (Desmarest, 1822)

Đặc điểm nhận biết: Tê giác có 1 sừng và 3 nếp da gấp qua lưng, 1 nếp da gấp ở phía trước vai, môi trên nhọn, cơ thể có màu ghi tối Chiều cao vai 110-130 cm, nặng 650-800 kg

(Phạm nhật và ctv, 2001)

Trang 39

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Tê giác một sừng sống đơn lẻ và cực kỳ nhạy cảm với hoạt

động của con người, hoạt động vào ban đêm, có thể đi quãng đường dài trong thời gain ngắn Thức ăn gồm măng tre, cành con, lá non và quả của một số loài cây, cần đến những điểm muối khoáng để bổ sung một số khoáng chất cơ bản, thích đầm mình trong những vũng bùn nông Thời gian mang thai khoảng 16 tháng, 4-5 năm mới đẻ 1 lần

Phân bố: Loài tê giác 1 sừng chỉ có ở Vườn Quốc gia Ujung Kulon (Indonesia) và Vườn Quốc gia cát Tiên nhưng thuộc 2 phân loài khác nhau

Giá trị sử dụng: là dược liệu quý có giá trị thương mại (chữa liệt dương, trị độc, chữa sốt, viêm màng não) Da tê giác có tác dụng chữa rắn cắn Số lượng Tê giác một sừng Việt Nam rất thấp (5-7con) Nếu không có những biện pháp bảo tồn khẩn cấp và quyết liệt thì thế giới sẽ mất đi phân loài tê giác này trong tương lai gần

2.3.8 Bộ có vòi Proboscidea

Là thú lớn nhất trên cạn, ăn thực vật, chi 5 ngón chân, guốc nhỏ, bộ răng 1.0.3.3/0.0.3.3 = 26 chiếc Trên thế giới chỉ còn 1 họ voi (Elephantidae) với 2 loài: voi châu Phi (Loxodonta africana) và voi châu á (Elephas maximus)

Voi châu á Elephas maximus (Linnaeus, 1758)

Đặc điểm nhận biết: Voi châu á nhỏ hơn voi châu Phi (voi châu Phi cả voi đực và voi cái đều

có ngà) Voi châu á có chiều cao dưới 3 m, màu da ghi tối đến nâu tối Voi con có lông mới sinh thô và cứng, khi trưởng thành lớp lông này sẽ rụng bớt Hai răng cửa của voi đực phát triển thành ngà dài (1 m tính từ môi), voi cái không có ngà Cơ thể dài 4.000-6.000 mm, nặng 3.500-5.000 kg, đuôi dài 1.000-1.500 mm, bàn chân sau dài 400-500 mm, chiều cao tai 650-

850 mm

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Voi châu á đã từng sống trong một số loại sinh cảnh từ savannah đất thấp đến vùng rừng núi Mỗi cá thể cần tới 150 kg thức ăn/ngày, chủ yếu là cỏ Voi di chuyển theo mùa để kiếm đủ thức ăn Voi cũng thích ăn quả rừng và bổ sung muối khoáng ở những nơi liếm muối Khi buộc phải sống gần người, thỉnh thoảng voi phá hoại mùa màng dẫn đến những xung đột người-voi Voi cái và voi non sống thành đàn gia đình mẫu hệ (thường có 6 con, trước đây đàn voi có số lượng lớn hơn), những con đực trưởng thành sống

đơn hay sống thành đàn nhỏ và không có quan hệ thường xuyên với con cái Voi châu á mang thai 21-25 tháng, đẻ 1 con/lứa, một đời voi mẹ chỉ đẻ 7-8 con

(Wikipedia, 2008)

Phân bố: châu á, Việt Nam (chủ yếu ở rừng dọc biên giới phía Tây)

Giá trị sử dụng: Voi thuần hoá được sử dụng trong quân sự, giao thông, lâm nghiệp, nông nghiệp và có giá trị xuất khẩu, ngà voi rất quý và có giá trị để làm đồ mỹ nghệ thương mại Tình trạng bảo tồn: Sách đỏ Việt Nam (2000): V, Sách đỏ Thế giới (IUCN, 2000): EN

2.3.9 Bộ linh trưởng Primates

Bộ linh trưởng hay khỉ hầu gồm thú đi bằng bàn, thích nghi với đời sống trên cây Chi

5 ngón, ngón I (ngón cái) xếp đối diện với các ngón còn lại nên khả năng cầm nắm tốt hơn Một số ít loài có vuốt, đa số các loài ngón có móng Hộp sọ lớn (so với kích thước cơ thể), mặt ngắn và hình thành chiều thẳng đứng ổ mặt hướng về phía trước Xương đòn ở đai trước có kiểu khớp đặc biệt tạo thuận lợi cho đa dạng hóa các hoạt động ngang của 2 chi trước Não bộ

Trang 40

rất phát triển, thùy khứu giác bé, 2 bán cầu não lớn Hầu hết các loài có 1 vú ngực, thường đẻ

1 con Khỉ hầu phân bố khắp các nước nhiệt đới châu á, châu Phi và châu Mỹ Việt Nam có 14 loài thuộc 3 họ của 2 bộ phụ

2.3.9.1 Bộ phụ bán cầu Prosimii

♦ Họ cu li Lemuridae

Gồm các loài Linh trưởng nguyên thủy, đầu tròn, mõm khá dài, chi 5 ngón, ngón cái

có vuốt Bộ răng 2.1.3.3/2.1.3.3 = 36 chiếc Việt Nam có 2 loài

Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeus (Bonhote, 1907)

(Wikipedia, 2008)

Đặc điểm nhận biết: Là loài thú nhỏ Lông màu hung đỏ, điểm sương hai bên cổ, dọc sống

lưng thường có dải lông nâu, nhưng dải lông này có thể mờ nhạt và không có ở những con thú non Răng hàm thứ hai lớn nhất Xung quanh 2 mắt có đường viền nâu sẫm Ngón thứ hai của chân sau móng phát triển thành vuốt dài Cơ thể dài 260-340 mm, nặng 0,45-0,65 kg, đuôi dài 18-23 mm, bàn chân sau dài 45-54 mm, chiều cao tai 21-26 mm, sọ dài 50-122 mm, gò má rộng 34,5-80 mm

Đặc điểm sinh thái và tập tính: Cu li nhỏ sống trong nhiều sinh cảnh rừng khác nhau, từ rừng

gỗ đến rừng tre nứa, hoạt động ban đêm, kiếm ăn đơn lẻ hoặc theo những nhóm nhỏ Thức ăn

là côn trùng, quả mềm, nhựa cây Ngày ngủ trong các bọng cây hay trên các cành cây to Mùa sinh sản vào các tháng 10, 11 và 12, mang thai 188 ngày, đẻ 1 lứa/năm, 1-2 con/lứa

Phân bố: Đông Dương, Việt Nam (các tỉnh có rừng)

Giá trị sử dụng: là loài đặc hữu của Việt Nam, có giá trị khoa học, Culi nhỏ ăn nhiều loài côn trùng phá hoại cây rừng Tình trạng bảo tồn: Hội nghị Linh trưởng Việt Nam (1998), Sách đỏ Thế giới (IUCN, 2000): VU

Culi lớn Nycticebus coucang (Fischer)

Đặc điểm nhận biết: Cu li lớn nặng 0,8 kg.có bộ lông dày, mềm, mịn, màu râu ngô hay vàng

đỏ, dọc sống lưng màu xám tro, hoe đỏ ở hông và 2 chi sau, ngực xám, bụng vàng đỏ nhạt

(ảnh: Liz Ballenger, 2008)

Đặc điểm sinh thái và tập tính: cơ bản giống cu li nhỏ

Ngày đăng: 10/04/2023, 20:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w