Quản trị trong hệ thống y tế
Trang 1BẢN NÊU VẤN ĐỀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 9 (1) QUẢN TRỊ TRONG HỆ THỐNG Y TẾ
1 CĂN CỨ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN
Xây dựng và triển khai thực hiện chính sách y tế là một trong những nhiệm vụ
chính của quản trị hệ thống y tế (governance/stewarship in health care system) Đối
với một nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam thì cải cách chính sách y tế là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định mức độ thành công của sự nghiệp chăm sóc
sức khỏe nhân dân nhằm mục tiêu công bằng, hiệu quả và phát triển Có đủ các chính sách cần thiết và chính sách đúng đắn là thước đo của quản trị hệ thống y tế
(trong 10 chỉ báo đánh giá chỉ đạo và quản trị hệ thống y tế của Tổ chức Y tế thế giới thì có 7 chỉ báo về chiến lược và chính sách y tế)1
Chính sách trong lĩnh vực y tế thuộc nhóm chính sách công Chu trình chính
sách công có thể chia ra thành 5 bước chính:
1) Xác định vấn đề (problem determination): là bước xác định và lựa chọn các
vấn đề chính sách cần thiết phải giải quyết và đưa vào chương trình xây dựng chính sách
2) Phân tích chính sách (policy analysis) : thực hiện các nghiên cứu phân tích
chính sách, căn cứ kết quả phân tích các giải pháp chính sách khác nhau sẽ được đề xuất
3) Lựa chọn và ban hành chính sách (policy adoption): Là giai đoạn các giải
pháp chính sách khác nhau được đệ trình cho các cơ quan có thẩm quyền xem xét, lựa chọn
4) Thực hiện: giai đoạn triển khai, thực hiện chính sách
5) Đánh giá: theo dõi và đánh giá quá trình thực hiện và kết quả thực hiện chính sách Kết quả đánh giá sẽ là đầu vào của một chu trình chính sách mới
Các học giả Harvard2 đề xuất khi xây dựng chính sách cải cách hệ thống y tế
cần dựa trên khung lý thuyết 5 “nút” điều khiển của hệ thống y tế (“ five control
knobs”, bao gồm các nút Tài chính; nút Phương thức chi trả; nút Tổ chức hệ thống cung ứng dịch vụ; nút Công cụ quản lý của Nhà nước và nút Tuyên truyền thay đổi hành vi) Các nút điều hành nói trên có tính chất quyết định đối với hiệu quả hoạt
động của các hệ thống y tế và chính sách y tế cần khai thác, sử dụng các “nút” đó
để điều hành hệ thống y tế
Trong các bước của chu trình chính sách, bước phân tích chính sách (chẩn đoán nguyên nhân của vấn đề chính sách và xây dựng các phương án chính sách)
có thể coi là bước quan trọng nhất3 Một trong những công cụ quan trọng nhất của
phân tích chính sách là nghiên cứu đánh giá tác động của chính sách (Regulatory
Impact Assessment - RIA) Nghiên cứu đánh giá tác động chính sách phân tích,
đánh giá các giải pháp, lựa chọn chính sách để lựa chọn được giải pháp tốt nhất
Để đảm bảo chính sách có hiệu quả tốt, đạt được mục tiêu xác định trước,
các giải pháp chính sách phải được xây dựng dựa trên bằng chứng (evidence
based policy) Đó là phương pháp xây dựng chính sách dựa trên những bằng chứng
tin cậy nhất, đối lập với phương pháp xây dựng chính sách dựa trên các ý kiến chủ
Trang 2quan (opinion based policy), xuất phát từ các kết quả nghiên cứu đơn lẻ, không đảm chất lượng nghiên cứu hoặc từ những quan điểm, ước đoán chủ quan4
Có thể nói xác định đúng và đầy đủ các vấn đề cần giải quyết từ các nguồn thông tin tin cậy, xây dựng các giải pháp chính sách dựa trên tập hợp các bằng chứng tin cậy, thực hiện nghiêm túc có các bước phân tích, đánh giá dự báo tác động của chính sách để lựa chọn giải pháp tối ưu và thuyết phục để chính sách đúng được ban hành là những yếu tố rất cần thiết cho thành công của hệ thống y tế, đồng thời cũng là thách thức lớn trong công tác quản lý, điều hành hệ thống y tế ở nước ta
2 KHÁI QUÁT NHỮNG NÉT CHÍNH VỀ THỰC TRẠNG XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH
Y TẾ Ở VIỆT NAM
2.1 Thành tựu đạt được
Đã có nhiều tiến bộ trong lựa chọn các vấn đề chính sách ưu tiên, mở rộng sự tham gia xây dựng chính sách
Báo cáo chung tổng quan ngành y tế JAHR hàng năm (thực hiện từ năm 2007)
đã phân tích hiện trạng một số lĩnh vực của ngành y tế và xác định các vấn đề
ưu tiên và đề xuất các giải pháp, với sự tham gia của nhiều chuyên gia trong nước và các tổ chức tài trợ
Năm 2010, Bộ Y tế đã tổ chức thực hiện nghiên cứu đánh giá chung về kế hoạch
5 năm (JANS), sử dụng phương pháp và bộ công cụ đánh giá của IHP+, với sự tham gia của các chuyên gia trong nước và ngoài nước
Trong những năm gần đây, Bộ Y tế đã bắt đầu thực hiện nghiên cứu đánh giá tác động của dự thảo văn bản Luật, theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Có sự tham gia của Viện Chiến lược và Chính sách y tế trong nghiên cứu, đánh giá một số chính sách gần đây (Đánh giá kết quả thực hiện Nghị định số 43/2006 của Chính phủ tại một số bệnh viện, đánh giá kết quả thực hiện chương trình
1816, nghiên cứu RIA đối với dự thảo Luật Khám, chữa bệnh …)
Một số thành tựu nổi bật trong xây dựng chính sách của ngành y tế trong những năm gần đây bao gồm:
o Xác định chính sách ưu tiên trong chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, người dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi, chính sách khám chữa bệnh miễn phí cho các nhóm đối tượng sử nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước;
o Có chính sách tạo nguồn tài chính nhằm nâng cao năng lực cho y tế tuyến huyện thông qua chương trình trái phiếu chính phủ;
o Có giải pháp tình thế nhằm tăng cường cán bộ cho y tế tuyến dưới, thông qua Luật Khám chữa bệnh và chương trình 1816;
o Xây dựng Luật BHYT, Luật an toàn vệ sinh thực phẩm
Trang 32.2 Những hạn chế
Trước hết, năng lực và tầm nhìn dài hạn trong xây dựng chính sách còn hạn chế5 Nhiều chính sách y tế còn chậm đổi mới hoặc đổi mới chưa cơ bản, chưa đồng bộ Hệ thống y tế Việt Nam cũng đang có nguy cơ phải đối mặt với những vấn
đề chung của một số nước đang phát triển mà WHO đã nêu trong Báo cáo sức khỏe
thế giới 2008, đó là xu hướng “buông lỏng quản lý tạo cơ hội cho quá trình thị
trường hóa y tế phát triển không kiểm soát”, tình trạng chia cắt của hệ thống điều trị
và sự phát triển mất cân đối, thiên lệch ở các chuyên khoa sâu
2.2.1 Hạn chế trong xác định vấn đề cần đưa vào chương trình, kế hoạch xây dựng chính sách (bước xác định vấn đề trong chu trình chính sách)
Nhiều vấn đề lớn, cấp thiết như phối hợp công tư, quản lý y tế tư nhân, lạm dụng
kỹ thuật, bảo đảm chất lượng dịch vụ y tế, quản lý giá thuốc …chưa được đưa vào trọng tâm kế hoạch xây dựng chính sách;
Đa số vấn đề được đưa vào chương trình xây dựng chính sách của ngành y tế xuất phát từ các quan điểm chỉ đạo từ trên xuống, ít có vấn đề xuất phát từ kết quả nghiên cứu tổng quan kết quả các nghiên cứu đánh giá phân tích hiện trạng
Số lượng và chất lượng các nghiên cứu về chính sách còn hạn hẹp Khuyến nghị chính sách của một số nghiên cứu chưa dựa trên kết quả nghiên cứu Một số vấn đề chính sách tuy được nghiên cứu không công bố kết quả trên diện rộng;
Trong nghiên cứu lựa chọn vấn đề chính sách cũng như phân tích chính sách, chưa lấy mức độ hài lòng hay phản ứng của người dân làm công cụ thăm dò các vấn đề chính sách;
Hệ thống thông tin quản lý y tế (Health Mangement Information System) chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác xây dựng chính sách
2.2.2 Hạn chế trong xác định nguyên nhân của vấn đề và trong phân tích chính sách
Việc phân tích hiện trạng (situation analysis) đối với một số vấn đề chính sách chưa được làm thấu đáo nên chưa tìm được nguyên nhân gốc rễ để xây dựng giải pháp chính sách phù hợp Ví dụ không xác định một cách thuyết phục nguyên nhân của tình trạng người cận nghèo không tuân thủ tham gia BHYT theo Luật định mặc dù có đã được Ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng cao; nguyên nhân chủ yếu của tình trạng quá tải bệnh viện là gì (do tác động của chính sách tự chủ bệnh viện theo Nghị định số 43, do hệ thống cung ứng dịch vụ chưa đủ đáp ứng, hay do năng lực của mang lưới chăm sóc sức khỏe ban đầu) Hạn chế trong xác định nguyên nhân của vấn đề chính sách có thể do năng lực của đội ngũ cán bộ làm chính sách, do thiếu thông tin cần thiết, do chưa thực hiện tốt các nghiên cứu đánh giá
Chưa xem xét, đánh giá đầy đủ tác động của các yếu tố tài chính y tế, phương thức chi trả, tổ chức hệ thống cung ứng dịch vụ, công cụ quản lý và tuyên truyền thay đổi hành vi (năm “nút” điều chỉnh của nhóm học giả Harvard) trong quá trình xem xét nguyên nhân của vấn đề chính sách
Chưa đầu tư thích đáng cho việc nghiên cứu những bài học thành công và thất bại của thế giới, đặc biệt là việc xem xét những kinh nghiệm thực tế (best
Trang 4practice) của các quốc gia có hoàn cảnh kinh tế xã hội tương tự với Việt Nam để xây dựng các phương án chính sách phù hợp;
Về nghiên cứu đánh giá tác động của chính sách: chưa xác định đầy đủ tầm quan trọng của nghiên cứu RIA, chưa có được tính độc lập, khách quan trong nghiên cứu đánh giá;
Chưa đầu tư nguồn lực (nhân lực, thời gian và kinh phí) xứng đáng cho nghiên cứu đánh giá tác động của dự thảo chính sách (ví dụ đối với Luật Vệ sinh an toàn thực phẩm, Luật BHYT) Theo nhận định của TS Phan Trung Lý, Phó chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội thì hầu hết các báo cáo RIA của các dự án Luật hiện nay đều hời hợt, hình thức, đánh giá một cách cảm tính6
Kết quả của nghiên cứu đánh giá tác động của dự thảo chính sách (RIA) chưa được sử dụng có hiệu quả trong việc thuyết trình, tạo sự đồng thuận để lựa chọn phương án chính sách tối ưu (ví dụ Luật Khám chữa bệnh);
Thiếu sự phân tích trong xây dựng chính sách dẫn tới sự thiếu đồng bộ giữa các giải pháp chính sách (tự chủ bệnh viện và quá tải bệnh viện);
Cách thức xin ý kiến cho dự thảo chính sách phổ biến là gửi văn bản và tổ chức hội thảo và gửi văn bản xin ý kiến các bên liên quan chưa phát huy tốt hiệu quả như mong muốn; các ý kiến góp ý cho dự thảo văn bản đăng tải trên website nghèo nàn;
Hạn chế trong huy động sự tham gia đóng góp ý kiến của các bên liên quan, trong đó có ý kiến người dân Ngoài hình thức gửi văn bản gửi đến một số tổ chức xin ý kiến và tổ chức hội thảo, hội nghị, không có các hình thức khác công
bố trưng cầu ý kiến khác (sách xanh, sách trắng …);
Chưa tận dụng thông tin, bằng chứng để đề xuất các giải pháp chính sách (Nghiên cứu gánh nặng bệnh tật (burden of disease) cho thấy sự vượt trội của gánh nặng các bệnh không lây nhiễm nhưng nhóm bệnh không lây nhiễm chưa trở thành vấn đề chính sách lớn và chưa cógiải pháp chính sách thỏa đáng);
2.2.3 Hạn chế trong công đoạn quyết định chính sách
Tính trách nhiệm giải trình (accountability) trong quyết định lựa chọn chính sách chưa rõ ràng Không có cơ chế chịu trách nhiệm cá nhân về tác động của các chính sách được ban hành
Các hoạt động thuyết phục, vận động tạo sự đồng thuận của các bên liên quan
đã có nhiều tiền bộ, nhưng trong nhiều trường hợp chưa xây dựng và thực hiện được chiến lược thuyết phục, giải trình phù hợp nên chưa tạo được sự đồng thuận để lựa chọn được các phương án chính sách tối ưu (ví dụ bỏ qua phương
án tổ chức của hệ thống BHYT trong trong Luật BHYT, cấp chứng chỉ hành nghề trong Luật KCB);
Thiếu việc lựa chọn cán bộ đủ uy tín và có trình độ thuyết khách để làm công tác vận động, thuyết trình; thiếu các hình thức trao đổi phù hợp, có chiều sâu giữa các bên có ý kiến khác nhau để tiến tới sự đồng thuận (ví dụ về việc tái chứng chỉ hành nghề trong Luật KCB)
2.2.4 Hạn chế trong nguồn lực xây dựng chính sách
Trang 5 Thiếu các chuyên gia có trình độ, có khả năng phân tích và có tầm nhìn chiến lược để tham mưu phân tích xác định các vấn đề cốt lõi, lựa chọn những ưu tiên
để xây dựng chính sách;
Thiếu các hình thức tập hợp và tổ chức công tác nghiên cứu chính sách ở tầm chiến lược (think tanks) Viện Chiến lược và Chính sách Y tế đã tích cực tham gia vào công tác nghiên cứu phân tích và cung cấp bằng chứng cho xây dựng chính sách nhưng chưa phát huy được vai trò ở tầm nghiên cứu chính sách vĩ
mô ở tầm dài hạn
Số lượng cán bộ làm nhiệm vụ xây dựng chính sách luôn quá tải vì phải kiêm nhiệm công việc quản lý điều hành ở tầm vi mô đối với các đơn vị trực thuộc Bộ
Y tế;
Mặc dù Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã quy định sự tham gia rộng rãi của các tổ chức, cá nhân trong nghiên cứu đánh giá, cung cấp bằng chứng nhưng hầu hết các khâu trong chu trình chính sách vẫn do đội ngũ cán bộ của cơ quan BYT trực tiếp thực hiện, thiếu vai trò tham gia tích cực của địa phương;
Ảnh hưởng của nhóm lợi ích thiểu số ngày càng lớn, có khả năng tác động mạnh
mẽ tới các khía cạnh công bằng và hiệu quả trong xây dựng chính sách, (ví dụ các chính sách về hợp tác công tư, về thuốc, về thực phẩm chức năng, trang thiết bị, công trình y tế …);
Nguồn tài chính cho xây dựng chính sách hạn chế, không đủ trang trải các nghiên cứu đánh giá cần thiết;
Trang 63 Xác định các vấn đề ưu tiên
(Đề nghị Quý vị cho ý kiến đóng góp, bổ sung hoặc lược bỏ các vấn đề ưu tiên và xác định mức độ ưu tiên, ghi ý kiến trực tiếp vào bảng dưới đây)
Các vấn đề Mức
ưu tiên i
Các giải pháp/hành động Ngắn hạn (đến
2012)
Dài hạn (2015)
1 Hạn chế trong xác
định, lựa chọn các vấn
đề cho chương trình
xây dựng chính sách
Nhiều vấn đề lớn, cấp
thiết chưa được đưa vào
trọng tâm kế hoạch xây
dựng chính sách;
Ít vấn đề chính sách
được lựa chọn từ kết
quả nghiên cứu
Số lượng và chất lượng
các nghiên cứu về chính
sách còn hạn hẹp
Khuyến nghị chính sách
của một số nghiên cứu
chưa dựa trên kết quả
nghiên cứu
Một số vấn đề chính
sách tuy được nghiên
cứu không công bố kết
quả trên diện rộng;
Chưa lấy mức độ hài lòng
hay phản ứng của người
dân làm công cụ thăm
dò các vấn đề chính
sách;
-Tạo cơ chế cho
sự tham gia nghiên cứu đề xuất vấn đề chính sách cho các tổ chức, cá nhân độclập
Tăng cường các nghiên cứu đánh giá hiện trạng
Lựa chọn kỹ lưỡng tổ chức, cá nhân có năng lực tốt để tăng cường chất lượng nghiên cứu
Đảm bảo tính minh bạch trong nghiên cứu và công bố kết qủa
Chú ý nghiên cứu khảo sát thái độ, cảm nhận của người dân về các chính sách y tế
i Người tham gia thảo luận lựa chọn và ghi mức ưu tiên vào cột này Có 3 mức: ưu tiên 1, 2 và 3.
Trang 7-2 Hạn chế trong xác định
nguyên nhân của vấn
đề và trong phân tích
chính sách
Việc phân tích hiện trạng
(situation analysis) đối
với một số vấn đề chính
sách chưa làm thấu đáo
nên chưa tìm được
nguyên nhân gốc rễ
Chưa xem xét, đánh giá
đầy đủ tác động của các
yếu tố tài chính y tế,
phương thức chi trả, tổ
chức hệ thống cung ứng
dịch vụ, công cụ quản lý
và tuyên truyền thay đổi
hành vi (năm “nút” điều
chỉnh của nhóm học giả
Harvard) trong quá trình
xem xét nguyên nhân
của vấn đề chính sách
Chưa đầu tư thích đáng
cho việc nghiên cứu
những bài học thành
công và thất bại của thế
giới;
Chưa xác định đầy đủ
tầm quan trọng của
nghiên cứu RIA, chưa có
được tính độc lập, khách
quan trong nghiên cứu
đánh giá;
Chưa đầu tư nguồn lực
(nhân lực, thời gian và
kinh phí) xứng đáng cho
nghiên cứu đánh giá tác
động của dự thảo chính
sách
Kết quả của nghiên cứu
đánh giá tác động của
dự thảo chính sách
(RIA) chưa được sử
Nghiên cứu toàn diện, có hệ thống các bài học kinh nghiệm của thế giới về các vấn đề chính sách có liên quan;
Tôn trọng quy trình nghiên cứu đánh giá tác động của dự thảo luật,với sự tham gia của các tổ chức, cá nhân có năng lực, hiểu biêt vể lĩnh vực chính sách liên quan;
Sử dụng triệt để kết quả nghiên cứu tác động chính sách để đề xuất, lựa chọn chính sách tối ưu;
Tổ chức nghiên cứu đánh giá hiện trạng một cách bài bản, phân tích chính sách theo các yếu tố “nút” điều hành hệ thống y tế;
Đảm bảo tính minh bạch, trách nhiệm giải trình trong xây dựng,
đề xuất lựa chọn chính sách để hạn chế tác động của các nhóm lợi ích thiểu số;
Trang 8dụng có hiệu quả;
Hạn chế trong huy động
sự tham gia đóng góp ý
kiến của các bên liên
quan, trong đó có ý kiến
người dân
Ảnh hưởng của nhóm lợi
ích thiểu số ngày càng
lớn, có khả năng tác
động mạnh mẽ tới các
khía cạnh công bằng và
hiệu quả trong xây dựng
chính sách;
Chưa tận dụng thông tin,
bằng chứng để đề xuất
các giải pháp chính sách
-3 Hạn chế trong công
đoạn quyết định chính
sách
Tính trách nhiệm giải
trình (accountability)
chưa rõ ràng Không có
cơ chế chịu trách nhiệm
cá nhân về tác động xấu
của các chính sách
được ban hành
Trong nhiều trường hợp
chưa xây dựng và thực
hiện được chiến lược
thuyết phục, giải trình
phù hợp nên chưa tạo
được sự đồng thuận để
lựa chọn được các
phương án chính sách
tối ưu;
Thiếu lựa chọn cán bộ
đủ uy tín và có trình độ
Xây dựng chiến
phục, giải trình cho từng chính sách cụ thể
Lựa chọn cán
bộ có trình độ,
có năng lực làm nhiệm vụ thuyết
sách
Chuẩn bị và sử dụng các báo cáo đề xuất
(policy brief) trong đề xuất chính sách
Xây dựng cơ chế chịu trách nhiệm cá nhân về tác động xấu của các chính sách được ban hành
Trang 9thuyết khách để làm
công tác vận động,
thuyết trình;
Thiếu các hình thức trao
đổi phù hợp, có chiều
sâu giữa các bên có ý
kiến khác nhau để tiến
tới sự đồng thuận
-4 Hạn chế trong nguồn
lực xây dựng chính
sách
Chưa tập hợp và tổ
chức công tác nghiên
cứu chính sách ở tầm
chiến lược (think tanks)
Số lượng cán bộ làm
nhiệm vụ xây dựng
chính sách luôn quá tải;
Hầu hết các khâu trong
chu trình chính sách vẫn
do đội ngũ cán bộ của
cơ quan BYT trực tiếp
thực hiện, thiếu vai trò
tham gia tích cực của
cán bộ ngoài Bộ Y tế,
của các chuyên gia độc
lập;
Nguồn tài chính cho xây
dựng chính sách hạn
chế, không đủ trang trải
các nghiên cứu đánh giá
cần thiết;
- Tổ chức bộ máy
chiến lược
Mời các chuyên gia độc lập tham gia xây
sách
Tăng nguồn tài chính cho xây dựng chính sách
Giảm bớt đầu mối quản lý trực tiếp của BYT;
Trang 10
-Tài liệu tham khảo