Bài tổng quan tài liệu của các nghiên cứu trước đó đã chỉ ra một số yếu tố làm tăng tỷ lệ tình trạng mệt mỏi của Điều dưỡng như tuổi, giảm sự hỗ trợ từ xã hội, làm việc lâu trong khu vực
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG -
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAN
TÌNH TRẠNG MỆT MỎI VÀ CÁC YẾU TỐ DỰ BÁO TÌNH TRẠNG MỆT MỎI CỦA ĐIỀU DƯỠNG - HỘ SINH
TRONG HỆ THỐNG Y TẾ VINMEC NĂM 2022
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
Hà Nội - Năm 2023
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG -
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAN - C01852
TÌNH TRẠNG MỆT MỎI VÀ CÁC YẾU TỐ DỰ BÁO TÌNH TRẠNG MỆT MỎI CỦA ĐIỀU DƯỠNG - HỘ SINH
TRONG HỆ THỐNG Y TẾ VINMEC NĂM 2022
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số khái niệm 3
1.1.1 Khái niệm về Điều dưỡng 3
1.1.2 Khái niệm về tình trạng mệt mỏi 4
1.2 Tình trạng mệt mỏi 6
1.2.1 Dấu hiệu nhận biết tình trạng mệt mỏi 6
1.2.2 Nguyên nhân gây nên tình trạng mệt mỏi 7
1.2.3 Một số biện pháp khắc phục tình trạng mệt mỏi 8
1.3 Các yếu tố dự báo tình trạng mệt mỏi của điều dưỡng – hộ sinh 10
1.3.1 Các yếu tố nhân khẩu học xã hội 10
1.3.2 Các yếu tố liên quan đến tính cách 12
1.3.3 Các yếu tố liên quan đến nghề nghiệp 13
1.3.4 Các yếu tố về trình độ đào tạo và kinh nghiệm 14
1.3.5 Yếu tố gia đình 14
1.3.6 Yếu tố môi trường làm việc 15
1.3.7 Yếu tố thu nhập 16
1.4 Một số nghiên cứu về trình trạng mệt mỏi ở điều dưỡng – hộ sinh 17
1.4.1 Trên thế giới 17
1.4.2 Tại Việt Nam 19
1.5 Bộ câu hỏi đánh giá trình trạng mệt mỏi 20
1.5.1 Bộ câu hỏi về tình trạng mệt mỏi (Mashlach Burnout Inventory- MBI) 20
1.5.2 Bộ câu hỏi MBI- khảo sát dịch vụ con người (MBI-HSS) 20
1.5.3 Bộ câu hỏi MBI-cho nhân viên y tế (MBI-MP) 21
1.5.4 Bộ câu hỏi MBI - dùng trong giáo dục (MBI-ES) 21
1.5.5 Bộ câu hỏi MBI- tổng hợp (MBI-GS) 22
1.6 Tính giá trị và độ tin cậy của bộ công cụ MBI-MP 22
1.7 Hệ thống y tế Vinmec 22
CHƯƠNG 2 24
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
Trang 42.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 24
2.5 Phương pháp và công cụ thu thập thông tin 25
2.6 Biến số nghiên cứu 29
2.7 Nội dung nghiên cứu 30
2.8 Dịch bộ công cụ, Kiểm tra tính giá trị và độ tin cậy của bộ công cụ 31
2.8.1 Dịch bộ công cụ 32
2.8.2 Kiểm tra tính giá trị 32
2.8.3 Kiểm tra độ tin cậy 33
2.9 Phân tích và xử lý số liệu 33
2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 33
2.11 Sai số và hạn chế sai số 34
2.12 Hạn chế của nghiên cứu 35
CHƯƠNG 3 36
KẾT QUẢ 36
3.1 Một số thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 36
3.1.1 Bệnh viện 36
3.1.2 Giới tính 36
3.1.3 Phân bố về độ tuổi 37
3.1.4 Chức danh 37
3.1.5 Phân bố số năm kinh nghiệm 38
3.1.6 Số giờ làm việc trong tuần 38
3.1.7 Đặc điểm về trình độ học vấn 39
3.1.8 Đặc điểm đối tượng tham gia nghiên cứu 39
3.1.9 Đặc điểm chính sách và trang thiết bị 40
3.2 Tình trạng mệt mỏi của điều dưỡng – hộ sinh 41
3.2.1 Điểm về tình trạng mệt mỏi 41
3.2.2 Điểm trung bình về tình trạng mệt mỏi tại các bệnh viện 45
3.2.3 Điểm về tình trạng ý định từ bỏ công việc 45
3.3 Mối liên quan giữa đặc điểm của đối tượng nghiên cứu với tình trạng mệt mỏi 45 3.3.1 Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân và tình trạng mệt mỏi 45
3.3.2 Mối liên quan giữa chính sách khen thưởng và trang thiết bị với tình trạng 48
3.3.3 Mối liên quan giữa ý định từ bỏ công việc và tình trạng mệt mỏi 49
3.4 Yếu tố dự báo tình trạng mệt mỏi 50
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 53.4.2 Các yếu tố dự báo tình trạng mệt mỏi về tính tiêu cực 51
3.4.3 Các yếu tố dự báo tình trạng mệt mỏi về hiệu quả cá nhân 52
3.5 Độ tin cậy và tính giá trị của bộ công cụ 53
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 57
4.1 Mô tả tình trạng mệt mỏi của Điều dưỡng – Hộ sinh trong hệ thống y tế Vinmec năm 2022 57
4.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 57
4.1.2 Mô tả tình trạng mệt mỏi của Điều dưỡng – Hộ sinh trong hệ thống y tế Vinmec năm 2022 58
4.1.3.Mối liên quan giữa đặc điểm của đối tượng nghiên cứu với tình trạng mệt mỏi
62
4.1.3.1 Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân và tình trạng mệt mỏi 62
4.2 Các yếu tố dự báo đến tình trạng mệt mỏi 69
4.3 Tính giá trị và độ tin cậy của bộ câu hỏi MBI-MP 70
4.4 Điểm mạnh và giới hạn của nghiên cứu 71
4.4.1 Điểm mạnh 71
4.4.2 Giới hạn 71
CHƯƠNG V 72
KẾT LUẬN 72
5.1 Tình trạng mệt mỏi của Điều dưỡng – Hộ sinh trong hệ thống y tế Vinmec năm 2022 72
5.2 Các yếu tố dự báo đến tình trạng mệt mỏi 72
5.3 Độ tin cậy và tính giá trị của bộ câu hỏi MBI-MP 72
CHƯƠNG VI 74
KHUYẾN NGHỊ 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 6Với lòng biết ơn và kính trọng em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo, Bộ môn Điều dưỡng, các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Thăng Long đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Em xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Vương Thị Hoà, TS Phạm Văn Trường đã luôn tận tình dành nhiều thời gian trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times city đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn các anh/chị điều dưỡng – hộ sinh của hệ thống y tế Vinmec đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, thu thập số liệu để tôi hoàn thành Luận văn này
Cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, những người bạn thân thiết đã luôn giúp đỡ, động viên, khích lệ, chia sẻ khó khăn trong thời gian tôi học tập và hoàn thành Luận văn Xin trân trọng cảm ơn
Hà Nội, ngày 28 tháng 02 năm 2023
Nguyễn Thị Phương Lan
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 7Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài: “ Tình trạng mệt mỏi và các yếu tố dự báo tình trạng mệt mỏi của Điều dưỡng – Hộ sinh trong hệ thống y tế Vinmec năm 2022”
là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Tất cả số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi thu thập là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 28 tháng 02 năm 2023
Nguyễn Thị Phương Lan
Trang 8Bảng 3.1 Đặc điểm về thông tin các đối tượng tham gia nghiên cứu (n=400) 39
Bảng 3.2 Đặc điểm chính sách và trang thiết bị cuả bệnh viện (n=400) 40
Bảng 3.3 Bảng điểm mệt mỏi cảm xúc 41
Bảng 3.4 Bảng câu hỏi tính tiêu cực 42
Bảng 3.5 Bảng câu hỏi hiệu quả cá nhân 43
Bảng 3.6 Điểm tình trạng mệt mỏi của điều dưỡng – hộ sinh (n=400) 44
Bảng 3.7 Điểm trung bình tình trạng mệt mỏi tại các bệnh viện (n=400) 46
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa mệt mỏi và đặc điểm cá nhân (n=400) 46
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa tình trạng mệt mỏi và chính sách khen thưởng và trang thiết bị 48
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa tình trạng mệt mỏi và ý định từ bỏ công việc 49
Bảng 3.11 Các yếu tố dự báo tình trạng mệt mỏi về cảm xúc (n=400) 50
Bảng 3.12 Các yếu tố dự báo tình trạng mệt mỏi về tính tiêu cực (n=400) 51
Bảng 3.13 Các yếu tố dự báo tình trạng mệt mỏi về hiệu quả cá nhân (n=400) 52
Bảng 3.14 Độ tin cậy của bộ câu hỏi MBI-MP 53
Bảng 3.15 Tính giá trị về cấu trúc của bộ câu hỏi MBI-MP 53
Bảng 3.16 Tính giá trị về nội dung MBI-MP 54
Bảng 3.17 Hệ số tải nhân tố (factor loading) của bộ câu hỏi MBI- MP 55
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 9Biểu đồ 3.1 Đặc điểm về bệnh viện 36
Biểu đồ 3.2 Đặc điểm giới tính 36
Biểu đồ 3.3 Phân bố về độ tuổi 37
Biểu đồ 3.4 Chức danh 37
Biểu đồ 3.5 Năm kinh nghiệm 38
Biểu đồ 3.6 Số giờ làm việc trong tuần 38
Biểu đồ 3.7 Trình độ học vấn 39
Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ % về tình trạng có ý định bỏ việc 45
Trang 10Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
AGFI Adjusted Goodness-of-Fit Index
CFA Confirmatory Factor Analysis (Phân tích yếu tố khẳng định)
CFI Comparative Fit Index
COVID-19 Là một bệnh do vi-rút có tên SARS-CoV-2 gây ra
DP Depersonalization (Tính tiêu cực)
EE Emotional (Mệt mỏi về cảm xúc)
GFI Goodness-of-Fit Index
ICC Intraclass Coefficient Correlation (Độ tin cậy bằng tính nhất quán nội
tại)
I-CVI
Items of the Content Validity Index I-CVI (Chỉ số hiệu lực nội dung
của các câu hỏi)
KMO Kaiser-Meyer-Olkin
MBI-AWS
The Mashlach Burnout Inventory and Areas of Worklife Survey (Bộ
câu hỏi của Mashlach dùng để khảo sát trong môi trường làm việc)
MBI-ES
Mashlach Burnout Inventory Educators Survey (Bộ câu hỏi của
Mashlach dùng trong giáo dục)
MBI-GS Mashlach Burnout Inventory General Survey (Bộ câu hỏi của
Mashlach - tổng hợp)
MBI -GSS Mashlach Burnout Inventory General Survey for Students (Bộ câu hỏi
của Mashlach dùng cho sinh viên
MBI-HSS
Mashlach Burnout Inventory Human Services Survey (Bộ câu hỏi của
Mashlach dùng để khảo sát dịch vụ con người)
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 11NFI Normed-Fit-Index
PA Personal Accomplishment (Hiệu quả cá nhân)
RMSEA Root-Mean-Square Error of Approximation
WHO World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo WHO (2019), tình trạng mệt mỏi (Burnout) là một hội chứng – một hiện tượng nghề nghiệp Do căng thẳng ở nơi làm việc kéo dài, mà không được quản lý tốt Tình trạng mệt mỏi là một trong những yếu tố quan trọng nhất đối với sự không thoải mái, khó chịu và thay đổi về sức khỏe của Điều dưỡng [37] Tình trạng mệt mỏi làm giảm chất lượng cuộc sống, sự hiệu quả trong công việc và làm tăng ý định bỏ việc của Điều dưỡng Ngoài ra, tình trạng mệt mỏi của Điều dưỡng liên quan đến sự an toàn, chất lượng chăm sóc, giảm hài lòng của người bệnh, tăng tỷ lệ điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh [45], [73] Đặc biệt trong đại dịch Covid-19, nhân viên y tế là nhóm người có nguy cơ cao lây nhiễm Covid-19 so với các ngành nghề khác [37] Trong đó thì điều dưỡng là ngành nghề có khả năng lây nhiễm với Covid-19 cao nhất [87] Thêm vào đó, thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO) chỉ ra trong khoảng thời gian
từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2021 đã có từ 80 000 đến 180 000 nhân viên y tế chết do Covid-19, trong đó đa số là Điều dưỡng [84] Điều dưỡng đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống y tế trong việc đáp ứng với đại dịch Họ thường phải chịu áp lực tâm lý
ở mức độ cao và dai dẳng do Covid-19, họ lo sợ về sự an toàn của bản thân, các thành viên trong gia đình, và người bệnh của họ [82] Trong tình trạng đó, điều dưỡng dễ dàng gặp phải tình trạng mệt mỏi, giảm năng suất làm việc, dễ gây sai sót trong thực hành, thiếu tập trung và quan tâm đến người bệnh mà họ chăm sóc
Tại Việt Nam, Điều dưỡng cũng như các nhân viên y tế khác đã tích cực tham gia như những chiến sĩ tuyến đầu chống dịch trong các hoạt động như sàng lọc, lấy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm Covid-19, tiêm chủng vaccine Covid-19, chăm sóc bệnh nhân Covid-19 tại chỗ và tham gia hỗ trợ các nơi bùng dịch và bệnh viện dã chiến theo yêu cầu Điều này đã khiến cho Điều dưỡng tăng thêm khối lượng công việc, cũng như
áp lực và mệt mỏi cho chính bản thân họ
Bài tổng quan tài liệu của các nghiên cứu trước đó đã chỉ ra một số yếu tố làm tăng tỷ lệ tình trạng mệt mỏi của Điều dưỡng như tuổi, giảm sự hỗ trợ từ xã hội, làm việc lâu trong khu vực điều trị Covid-19, môi trường nguy cơ lây nhiễm cao, làm việc trong môi trường không đủ dụng cụ bảo hộ và nguồn nhân lực, quá tải trong công việc, không được đào tạo đầy đủ liên quan đến Covid-19 [81] Trong khi đó, một số nghiên cứu cũng chỉ ra tình trạng mệt mỏi không liên quan đến nơi làm việc, chức vụ, tuổi, số năm làm việc, trình độ học vấn, số ca làm việc mỗi tuần [2, 14] Từ các kết quả nghiên
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 13cứu ở trên, cho thấy sự không thống nhất về mối tương quan giữa tình trạng mệt mỏi
và các yếu tố liên quan ở điều dưỡng – hộ sinh Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu về tình trạng mệt mỏi của Điều dưỡng – hộ sinh sau giai đoạn dịch bệnh phần nào ổn định Thêm vào đó, tỷ lệ về tình trạng mệt mỏi ở điều dưỡng - hộ sinh ngày càng cao và phổ biến, do đó cần bộ công cụ để đánh giá mức độ tình trạng mệt mỏi phù hợp với tình hình của Việt Nam là rất cần thiết
Do vậy tôi tiến hành nghiên cứu “ Tình trạng mệt mỏi và các yếu tố dự báo
tình trạng mệt mỏi của Điều dưỡng – Hộ sinh trong hệ thống Y tế Vinmec năm
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm về Điều dưỡng
Nghề Điều dưỡng đã ra đời từ rất lâu, năm 60 bà Phoebe (Hy Lạp) đã đến từng gia đình có người ốm đau để chăm sóc Bà được ngưỡng mộ và suy tôn là người nữ điều dưỡng tại gia đầu tiên của thế giới Cuối thế kỷ XVII, linh mục Vachet người Pháp và linh mục Coffler người Bồ Đào Nha là hai giáo sĩ đầu tiên đã đặt nền móng cho lĩnh vực y học và điều dưỡng phương Tây [8], [13] Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về điều dưỡng và mỗi định nghĩa đều cho chúng ta hiểu rõ hơn về chức năng và nhiệm vụ của những cán bộ công tác trong ngành nghề này [9],[13]
Theo tổ chức y tế thế giới WHO, điều dưỡng là một bộ phận quan trọng trong chăm sóc y tế, là trụ cột của hệ thống y tế Ở mỗi nước, muốn nâng cao chất lượng y tế phải chú trọng đến nâng cao chất lượng đội ngũ điều dưỡng
Điều dưỡng là một môn nghệ thuật và khoa học nghiên cứu cách chăm sóc bản thân khi cần thiết, chăm sóc người khác khi họ không thể tự chăm sóc Tuy nhiên tuỳ theo từng giai đoạn lịch sử mà định nghĩa về điều dưỡng được đưa ra khác nhau
Tại Việt Nam, Điều dưỡng viên từng được gọi là Y tá Hiện nay, theo cách dịch mới và thống nhất chuẩn quốc tế, các bệnh viện đã thống nhất dùng thuật ngữ điều dưỡng viên Theo từ điển tiếng việt: “Điều dưỡng là người có trình độ trung cấp trở xuống và chăm sóc người bệnh theo y lệnh bác sỹ”
Theo Florence Nightingale 1860: “Điều dưỡng là một nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh để hỗ trợ sự phục hồi của họ” Vai trò trọng tâm của người điều dưỡng là giải quyết các yếu tố môi trường xung quanh người bệnh để họ phục hồi sức khoẻ một cách tự nhiên
Theo Virginia Handerson 1960: “Chức năng duy nhất của người điều dưỡng là
hỗ trợ các hoạt động nâng cao hoặc phục hồi sức khoẻ của người bệnh hoặc người khoẻ, hoặc cho cái chết được thanh thản mà mỗi cá thể có thể tự thực hiện nếu họ có sức khoẻ, ý chí và kiến thức Giúp đỡ các cá thể sao cho họ đạt được sự độc lập càng sớm càng tốt”
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 15Theo hội điều dưỡng Mỹ năm 1980: “Điều dưỡng là chẩn đoán và điều trị những phản ứng của con người đối diện với bệnh hiện tại hoặc bệnh có tiềm năng xảy ra.”
Theo Hội Điều dưỡng thế giới năm 1973, điều dưỡng là chăm sóc và hỗ trợ người bệnh thực hiện các hoạt động hàng ngày Chức năng nghề nghiệp cơ bản của người điều dưỡng là hỗ trợ các hoạt động nâng cao, phục hồi sức khoẻ của người bệnh hoặc người khoẻ, cũng như làm cho cái chết được thanh thản mà mỗi cá nhân có thể thực hiện được nếu như họ có đủ sức khoẻ, ý chí và kiến thức, giúp đỡ các cá thể khác sao cho họ đạt được sự độc lập càng sớm càng tốt
Theo Hội Điều dưỡng Hoa Kỳ, điều dưỡng là một nghề hỗ trợ, cung cấp các dịch vụ chăm sóc, đóng góp vào việc phục hồi và nâng cao sức khoẻ; để phản ánh đầy
đủ bản chất nghề nghiệp, phạm vi hành nghề, vị trí của ngành Điều dưỡng trong chăm sóc sức khoẻ
Năm 2005, Hội nghị toàn quốc chuyên ngành Điều dưỡng Việt Nam đã đưa ra định nghĩa: Điều dưỡng là khoa học chăm sóc người bệnh, góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện và quá trình phục hồi sức khoẻ sau điều trị để người bệnh đạt tới chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn
1.1.2 Khái niệm về tình trạng mệt mỏi
Theo tổ chức Y tế thế giới, tình trạng mệt mỏi là một hội chứng – một hiện tượng nghề nghiệp Do căng thẳng ở nơi làm việc kéo dài, mà không được quản lý tốt [83]
Hội chứng “Burnout” xuất hiện ở các thầy thuốc lần đầu tiên được mô tả vào năm 1974 bởi chuyên gia tâm lý học người Mỹ Herbert Freudenberger Đây là một trạng thái mệt mỏi hoặc thất vọng xuất hiện sau khi cống hiến cho một nguyên nhân, lối sống hoặc mối quan hệ mà trong đó nỗ lực như mong đợi không được tạo ra Chán nản xuất hiện như một phản ứng tiêu cực gây ra sau những đợt căng thẳng kinh niên trong công việc Các chuyên gia mắc hội chứng này coi đó là sự mất cân bằng liên tục giữa nhu cầu, giá trị của họ và công việc họ làm
Theo Maslach và cộng sự cho rằng: Tình trạng mệt mỏi là một hội chứng kết hợp giữa sự kiệt quệ về mặt cảm xúc, sự cá nhân hóa và giảm thành tích cá nhân Tình trạng mệt mỏi về cảm xúc kéo theo cảm giác tâm lý không thể cho đi vì nguồn cảm xúc cạn kiệt Trong quá trình phi cá nhân hóa, nhân viên trở nên thiếu thiện cảm hoặc
Trang 16khó có lòng với khách hàng Thành tích cá nhân bị giảm sút là không hài lòng về thành tích công việc của chính mình Tình trạng mệt mỏi xảy ra do sự không phù hợp kéo dài giữa một người và ít nhất một trong sáu khía cạnh công việc sau đây:
- Khối lượng công việc: khối lượng công việc và nhu cầu quá lớn nên không thể phục hồi được
- Kiểm soát: nhân viên không có đủ quyền kiểm soát các nguồn lực cần thiết để hoàn thành hoặc hoàn thành công việc của họ
- Khen thưởng: thiếu phần thưởng xứng đáng cho công việc đã hoàn thành Phần thưởng có thể là tài chính, xã hội và nội tại (tức là niềm tự hào mà một người có thể trải qua khi làm một công việc)
- Cộng đồng: nhân viên không nhận thấy cảm giác kết nối tích cực với đồng nghiệp
và người quản lý của họ, dẫn đến thất vọng và giảm khả năng được xã hội hỗ trợ
- Công bằng: một người nhận thức được sự không công bằng tại nơi làm việc, bao gồm cả sự không công bằng về khối lượng công việc và mức lương
- Giá trị: nhân viên cảm thấy bị ràng buộc bởi công việc của họ để hành động chống lại các giá trị của bản thân và nguyện vọng của họ hoặc khi họ gặp xung đột giữa các giá trị của tổ chức
Tương tự, Theo tổ chức y tế thế giới WHO năm 2022 đã mô tả Tình trạng mệt mỏi là một hội chứng – một hiện tượng nghề nghiệp do căng thẳng ở nơi làm việc kéo dài, mà không được quản lý tốt [83] Mặt khác, Kristensen và cộng sự mô tả bản chất của Burnout là mệt mỏi và Burnout, thuộc về các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống của một người Ngoài ra, lý thuyết Hội thoại của Nguồn lực đã được sử dụng để định nghĩa tình trạng mệt mỏi là cảm giác mệt mỏi về mặt tinh thần, mệt mỏi về thể chất và mệt mỏi về nhận thức [95] , [85]
Các định nghĩa tình trạng mệt mỏi khác nhau; mỗi định nghĩa bao gồm một tập hợp các thành phần Burnout Ví dụ, định nghĩa của Maslach và cộng sự có tình trạng kiệt quệ về mặt cảm xúc, cá nhân hóa và giảm thành tích cá nhân Trong định nghĩa Shirom – Melamed, các thành phần khác nhau: Mệt mỏi về cảm xúc, mệt mỏi về thể chất và mệt mỏi về nhận thức [95], [85]
Hiện tượng này có ba thành phần chính: mệt mỏi về cảm xúc (Emotional - EE)
hoặc mất dần năng lượng, Burnout, mệt mỏi và mệt mỏi, được biểu hiện bên ngoài về
mặt thể chất hoặc tâm lý, hoặc cả hai; nhân cách hóa (Depersonalization-DP) hoặc các
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 17hành vi tiêu cực cùng với các phản ứng thờ ơ đối với những người được chăm sóc
hoặc điều trị và thành tích cá nhân thấp (Personal accomplishment - PA) bao gồm bị
hạn chế và cảm thấy không hoàn thành với công việc đã thực hiện
Mệt mỏi về cảm xúc xảy ra khi nhân viên cảm thấy mệt mỏi hoặc có ít năng lượng để tham gia vào cảm xúc Nhân cách hoá chứa đựng việc phát triển thái độ và cảm xúc tiêu cực đối với những người khác thực hiện công việc lao động cho
họ Những người bị giảm hiệu quả cá nhân có xu hướng đánh giá thấp khả năng của họ
để thực hiện nhiệm vụ và tương tác với những người khác
Hội chứng này có thể xảy ra ở nhân viên trong mọi lĩnh vực, nhưng hay gặp nhất là những người làm việc trong môi trường có mối liên quan mật thiết giữa người với người, như giáo viên, nhân viên xã hội, nhân viên cảnh sát và nhất là nhân viên y
tế, trong đó, điều dưỡng là loại hình nhân viên y tế có tỷ lệ mắc tình trạng mệt mỏi cao nhất
Tình trạng mệt mỏi là một hội chứng liên quan đến công việc rất đặc thù của những người công tác trong ngành y tế, nhất là các điều dưỡng và hộ sinh, những người trực tiếp tham gia hoạt động khám, chữa bệnh tại các bệnh viện
Biểu hiện của tình trạng mệt mỏi “Burnout” bao gồm 3 dấu hiệu chính:
(1) Mệt mỏi, cả về thể chất lẫn tinh thần,
(2) Hoài nghi, không còn tin vào ai, không tin vào cả bản thân mình,
(3) Hiệu quả công việc giảm sút rõ rệt
Các công trình nghiên cứu tại Mỹ cho thấy mức độ nghiêm trọng của tình trạng mệt mỏi thay đổi theo các loại hình nhân viên y tế Theo đó, điều dưỡng mắc tình trạng mệt mỏi chiếm tỉ lệ cao nhất trong tất cả loại hình nhân viên y tế, cao nhất là điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân (78%), kế đến là điều dưỡng điều trị và nữ hộ sinh (64%), kế đến là các nhà quản lý lâm sàng (56%), nhà quản lý bệnh viện (42%) [65]
1.2 Tình trạng mệt mỏi
1.2.1 Dấu hiệu nhận biết tình trạng mệt mỏi
Khi rơi vào 1 trong 7 tình huống dưới đây thì xem như người điều dưỡng – hộ sinh đó có nguy cơ rơi vào tình trạng mệt mỏi:
1 Điều dưỡng – Hộ sinh thuộc phái nữ, phụ nữ có xu hướng lo lắng cao hơn và
có nhiều trách nhiệm hơn ở nhà và tại nơi làm việc nên dễ bị rơi vào tình trạng mệt mỏi về tinh thần
Trang 182 Điều dưỡng làm việc tại các khoa có môi trường làm việc căng thẳng như khoa Hồi sức tích cực, khoa Cấp cứu hoặc khoa Chấn thương, … thường bị gánh nặng cảm xúc mãnh liệt kéo dài
3 Điều dưỡng nữ độc thân hoặc đã ly dị
4 Điều dưỡng không có đời sống tâm linh
5 Điều dưỡng có bằng trung học, dễ bị ức chế tâm lý khi so sánh với điều dưỡng đã có bằng cử nhân
6 Điều dưỡng làm việc toàn thời gian tại giường bệnh, môi trường làm việc càng gần bệnh nhân càng có nhiều nguy cơ dễ mắc tình trạng mệt mỏi
7 Điều dưỡng mới tốt nghiệp, có nguy cơ rơi vào tình trạng mệt mỏi cao hơn bất kỳ vị trí nào khác trong chăm sóc sức khỏe
1.2.2 Nguyên nhân gây nên tình trạng mệt mỏi
Tình trạng mệt mỏi thường bắt nguồn từ công việc của chính bản thân mình Bất cứ ai cảm thấy làm việc quá sức và bị đánh giá thấp đều có nguy cơ gặp phải tình trạng mệt mỏi Từ các nhân viên văn phòng chăm chỉ cho đến bà nội trợ ở nhà chăm sóc cha mẹ, con cái
Nhưng tình trạng mệt mỏi không chỉ do công việc căng thẳng hoặc quá nhiều trách nhiệm Các yếu tố khác góp phần vào tình trạng mệt mỏi, bao gồm lối sống và đặc điểm tính cách của bản thân Trong thực tế, những gì bản thân mình làm và cách mình nhìn thế giới có thể đóng vai trò lớn trong việc gây ra căng thẳng quá mức
Từ công việc
- Cảm giác có ít hoặc không kiểm soát được khối công việc
- Thiếu sự công nhận hoặc khen thưởng cho công việc tốt
- Kỳ vọng công việc không rõ ràng hoặc quá khắt khe
- Công việc đơn điệu hoặc không có tính thử thách
- Làm việc trong môi trường áp lực cao
- Tình trạng mệt mỏi do lối sống
- Không có đủ thời gian để gặp gỡ bạn bè hoặc thư giãn
- Thiếu các mối quan hệ gần gũi, nâng đỡ
- Nhận quá nhiều trách nhiệm, không có đủ sự giúp đỡ từ người khác
Thiếu ngủ
- Tình trạng mệt mỏi do đặc điểm tính cách
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 19- Xu hướng cầu toàn; không có gì là đủ tốt
- Cái nhìn bi quan về bản thân và thế giới
- Cần kiểm soát mọi thứ, miễn cưỡng giao phó cho người khác
- Đặt mục tiêu cao
1.2.3 Một số biện pháp khắc phục tình trạng mệt mỏi
- Chỉ tập trung vào những điều quan trọng: Đừng đặt cho mình quá nhiều mục tiêu và đừng tự tạo áp lực cho bản thân mình Chúng ta có thể sử dụng phương pháp
Ma trận Eisenhower, giúp chúng ta quản lý thời gian hợp lý, để bản thân có thời gian
nghỉ ngơi, dành nhiều thời gian hơn cho gia đình và công việc
- Tạm dừng trong giây lát: chúng ta có thể cảm thấy như từ bỏ hoặc dừng công việc, nhưng đó là một cách hiệu quả để mình tìm và lắng nghe bản thân, tìm ra điều mình thực sự muốn và đặt ra một mục tiêu rõ ràng Hoặc có thể là một kỳ nghỉ để bản
thân bình tĩnh lại, suy nghĩ thoải mái hơn, tránh xa những kiểu suy nghĩ tiêu cực
- Tình nguyện: thực hiện những chuyến đi đến những vùng sâu vùng xa để thay đổi suy nghĩ về cuộc sống, nó mang lại cảm giác may mắn và giúp bản thân biết ơn
những gì mình đang có ở hiện tại
- Thay đổi cách nhìn về công việc: một công việc khiến bản thân phải vội vã, hay cảm thấy đơn điệu, không có sự thỏa mãn khiến bản thân gặp phải tình trạng mệt mỏi Tốt nhất công việc đó nên được từ bỏ và tìm một công việc mà bản thân yêu thích thay thế Nhắc lại, nên ưu tiên lựa chọn công việc mà mình thích Nếu không chúng ta cần tìm ra nhiều nhất có thể sự ưa thích trong công việc hiện tại Tất nhiên, đối với nhiều người trong chúng ta thay đổi công việc không phải là một giải pháp thiết thực
Dù sao chúng ta vẫn cần tiền cho những hóa đơn hàng tháng mà Do đó có những cách
khác mà bản thân có thể thực hiện
- Cố gắng tìm một số giá trị trong công việc: Như đã nói ở trên, bất cứ một công việc nào cũng có một hay nhiều vai trò nhất định Tập trung vào các khía cạnh của công việc mà bản thân mình thích Ngay cả khi đó chỉ là trò chuyện với đồng nghiệp vào bữa trưa Thay đổi thái độ của bản thân đối với công việc của mình có thể giúp
bản thân mình lấy lại được cảm giác có mục đích và kiểm soát
- Tìm sự cân bằng trong cuộc sống của bản thân: nếu bản thân ghét công việc của mình, hãy tìm kiếm ý nghĩa và sự hài lòng ở nơi khác Ví dụ: gia đình, bạn bè, sở
Trang 20thích hoặc công việc tự nguyện Tập trung vào các phần của cuộc sống mang lại cho
mình niềm vui
- Kết bạn tại nơi làm việc: Có nhiều mối quan hệ ở nơi làm việc có thể giảm sự đơn điệu và chống lại tác động của tình trạng mệt mỏi Có bạn bè để trò chuyện và đùa giỡn có thể giảm căng thẳng Nhất là khi bản thân không hoàn thành công việc Hoặc công việc đòi hỏi cao, điều này sẽ cải thiện hiệu suất công việc của chính mình Hoặc
đơn giản chỉ là giúp bản thân vượt qua một ngày khó khăn
- Hãy dành thời gian nghỉ ngơi: Nếu tình trạng mệt mỏi dường như là không thể tránh khỏi, hãy cố gắng nghỉ ngơi hoàn toàn Đi nghỉ mát, sử dụng hết những ngày nghỉ phép, xin nghỉ phép tạm thời, bất cứ điều gì để loại bỏ bản thân khỏi tình huống này Sử dụng thời gian để nạp năng lượng lại cho chính mình Đồng thời tìm kiếm các
phương pháp khác để sạc pin cho bản thân
- Đánh giá lại các ưu tiên: Không thể phủ nhận rằng, tình trạng mệt mỏi là một dấu hiệu cho thấy điều gì đó quan trọng trong cuộc sống của mình không hoạt động Dành thời gian để suy nghĩ về hy vọng, mục tiêu và ước mơ của bản thân Liệu rằng mình có đang bỏ bê một cái gì đó thực sự quan trọng với chính mình không? Đây có thể là một cơ hội để khám phá lại những gì thực sự khiến bản thân mình hạnh phúc Và
sống chậm lại, cho bản thân thời gian để nghỉ ngơi, suy ngẫm và chữa lành
- Đặt ranh giới: Đừng làm bản thân đi quá giới hạn Hãy tập nói “không” với những yêu cầu lấy mất thời gian của chính mình Nếu bản thân thấy điều này khó khăn, hãy tự nhắc nhở bản thân rằng việc nói không cho phép bạn nói “có” đối với
những lời cam kết mình muốn thực hiện
- Nghỉ ngơi, ngắt kết nối với thế giới công nghệ: Đặt thời gian mỗi ngày khi bản thân ngắt kết nối hoàn toàn Bỏ máy tính xách tay xuống, tắt điện thoại đi và ngừng
kiểm tra email
- Nuôi dưỡng mặt sáng tạo của bạn: Sáng tạo là một liều thuốc giải mạnh mẽ với tình trạng mệt mỏi Hãy thử một cái gì đó mới, bắt đầu một dự án thú vị hoặc tiếp tục một sở thích yêu thích Chọn hoạt động không liên quan đến công việc hoặc bất cứ
điều gì gây ra căng thẳng của mình
- Dành thời gian thư giãn: Yoga, thiền và thở sâu kích hoạt phản ứng thư giãn
của cơ thể Đây là trạng thái nghỉ ngơi trái ngược với phản ứng căng thẳng Nó cũng là một giải pháp tốt, nó giúp bản thân tăng khả năng tập trung, có thể được sử dụng như
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 21một phương pháp trị liệu để giảm mệt mỏi và mang lại giấc ngủ thoải mái, giúp đầu óc được thư giãn và hoàn toàn thoải mái
1.3 Các yếu tố dự báo tình trạng mệt mỏi của điều dưỡng – hộ sinh
Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng mệt mỏi ở người điều dưỡng thường là những vấn đề liên quan đến công việc đặc thù của người điều dưỡng:
Người làm công tác điều dưỡng thường phải chứng kiến và đối phó với cái chết một cách thường xuyên, bị căng thẳng về cảm xúc khi mất bệnh nhân và giúp đỡ các thành viên gia đình bị đau buồn do mất mát người thân [65]
Điều dưỡng làm việc với ca trực kéo dài từ 12 giờ trở lên thường dẫn đến tình trạng mệt mỏi và căng thẳng so với những ca trực kéo dài 8 giờ [68]
Nguyên nhân khác gây ra tình trạng mệt mỏi ở điều dưỡng nhưng ít gặp hơn đó
là liên quan đến tính cách cá nhân hơn là môi trường công việc Thường thì người điều dưỡng phải làm việc với những người khác theo mô hình phối hợp Đối với một số người, việc thiếu quyết định độc lập này và luôn chịu áp lực của những người làm công tác quản lý nhằm đáp ứng kỳ vọng xã hội dẫn đến tình trạng mệt mỏi về tinh thần [76]
1.3.1 Các yếu tố nhân khẩu học xã hội
Trong một số nghiên cứu chỉ ra rằng, các yếu tố xã hội học như độ tuổi ít hơn, tình trạng hôn nhân độc thân và ít kinh nghiệm chuyên môn trong đơn vị chăm sóc đặc biệt có liên quan đến mức độ mệt mỏi [47], [22], [34], [70] Tuổi có tương quan nghịch với mệt mỏi về cảm xúc và nỗ lực – phần thưởng, sự mất cân bằng có tương quan thuận với mệt mỏi về cảm xúc [34] Đối với các chuyên gia điều dưỡng, đối với mỗi năm làm việc mà họ đã trải qua trong đơn vị chăm sóc đặc biệt, có sự gia tăng mức độ hiệu quả cá nhân thấp [24] Các yếu tố liên quan khác của tình trạng mệt mỏi
là do thiếu thời gian để rèn luyện thân thể, làm việc ở bệnh viện chất lượng cao, có bệnh kèm theo, và nhiều năm kinh nghiệm [18]
Trong nghiên cứu của Senem Demirci và cộng sự năm 2010 về đánh giá tình trạng mệt mỏi ở nhân viên khoa ung thư thấy rằng những nhân viên trẻ hơn hoặc những người có kinh nghiệm làm việc thấp hơn đã trải qua mức độ mệt mỏi cao hơn ở Iran và các quốc gia khác [29]
Theo nghiên cứu của Huyn Sook Kim mức độ mệt mỏi của các Điều dưỡng tại đơn vị chăm sóc đặc biệt là 3,15/ 5 Mức độ mệt mỏi cao hơn có liên quan đáng kể với
Trang 22tuổi trẻ hơn, trình độ học vấn thấp hơn, tình trạng hôn nhân độc thân, không có tôn giáo, ít kinh nghiệm làm việc và thời gian cuối đời trước đó kinh nghiệm chăm sóc Mức độ hạnh phúc tinh thần cao hơn có liên quan đến mức độ mệt mỏi thấp hơn, ngay cả sau khi kiểm soát các đặc điểm chung trong mô hình hồi quy
Nghiên cứu về sự mất cân bằng nỗ lực – khen thưởng và sự mệt mỏi giữa các nhân viên điều dưỡng ICU của Cristobal Padilla Fortinatti sự mất cân bằng về tuổi tác
và nỗ lực - khen thưởng có liên quan đáng kể đến tình trạng mệt mỏi về tinh thần ở cả Điều dưỡng chính thức và trợ lý điều dưỡng; tuổi tác có tương quan nghịch với sự kiệt quệ về mặt cảm xúc, trong khi sự mất cân bằng giữa nỗ lực và phần thưởng có tương quan thuận Tuổi tác có liên quan tiêu cực đến sự suy giảm cá nhân Không có yếu tố
dự đoán nào liên quan đến thành tích cá nhân [34]
Nghiên cứu của Maria Emilla các điều dưỡng chăm sóc đặc biệt dành cho trẻ sơ sinh có nhiều khả năng bị mệt mỏi về cảm xúc hơn các điều dưỡng chăm sóc đặc biệt khác (OR = 3,16) Những người trả lời trên 35 tuổi ít có nguy cơ bị mệt mỏi về cảm xúc (OR = 0,32) và suy giảm tính cách (OR = 0,06) Thời gian làm việc lâu hơn trong các đơn vị chăm sóc đặc biệt có liên quan đến việc giảm cảm giác hoàn thành công việc cá nhân (OR = 1,13) Trong số các Điều dưỡng, nam giới có ý thức hoàn thành công việc thấp hơn và việc không tập thể dục thường xuyên có liên quan đến tình trạng mệt mỏi về cảm xúc hơn và ít suy giảm tính cách hơn [22]
Nghiên cứu của Nguyễn Bảo Trân và cộng sự năm 2020 đã chỉ ra yếu tố nhân khẩu học được coi là yếu tố góp phần gây ra tình trạng mệt mỏi một phần như thời gian công tác hay trình độ chuyên môn hoặc ảnh hưởng toàn diện đến tình trạng mệt mỏi như thời gian trực trong tuần, tuy nhiên không thấy yếu tố giới là nguyên nhân gây ra tình trạng mệt mỏi [15]
Nghiên cứu của Lê Thị Thanh Nguyện và cộng sự không thấy có mối liên quan giữa giới tính, nhóm tuổi, trình độ học vấn, tôn giáo với tình trạng mệt mỏi của điều dưỡng [10]
Nữ giới có nguy cơ mệt mỏi cao hơn [32] Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy nam giới có mức độ mệt mỏi cao hơn [58] Một nghiên cứu trước cho thấy nam giới bị mệt mỏi nhiều hơn so với nữ giới, mặc dù điều này dựa trên một nhóm nhỏ ở cấp độ thực tập sinh (n= 21)
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 231.3.2 Các yếu tố liên quan đến tính cách
Điểm mệt mỏi về cảm xúc cao có liên quan đáng kể đến các yếu tố trầm cảm và nhân cách [18], [47], [74] Một số tác giả cho thấy mệt mỏi về cảm xúc có liên quan đáng kể đến 4 yếu tố: tính cách, loạn thần kinh, dễ chịu, trách nhiệm và hướng ngoại Tương tự như vậy, tính tiêu cực và hiệu quả cá nhân có liên quan đến những yếu tố tương tự bằng cách thêm độ cởi mở [18]
Suy nhược thần kinh là một yếu tố tiên đoán của mệt mỏi về cảm xúc [18], [62]
và hướng ngoại là một yếu tố dự đoán tiêu cực [62] Ngược lại, mệt mỏi về cảm xúc có liên quan lẫn nhau với hội chứng trầm cảm, căng thẳng trong công việc và sự hài lòng trong công việc của các nhân viên điều dưỡng chăm sóc đặc biệt [70] Các triệu chứng trầm cảm có nhiều khả năng xuất hiện ở các Điều dưỡng làm việc trong ICU và những người có mức độ mệt mỏi cao [62], [74]
Nghiên cứu khảo sát các điều dưỡng, trợ lý điều dưỡng đã gợi ý rằng những người nhận thấy rằng họ đã từng tiếp xúc với bạo lực tại nơi làm việc có điểm mệt mỏi cao hơn so với nhân viên nói rằng họ không bị bạo lực tại nơi làm việc Các khía cạnh khác của công việc cũng có thể đóng một vai trò nào đó, cách nhân viên nhận thấy sự chăm sóc mà họ dành cho người bệnh là trung tâm được xem là có mức hiệu quả cá nhân cao, trong khi những người cảm thấy họ không được chăm sóc lấy người bệnh làm trung tâm có mức mệt mỏi về cảm xúc và tính tiêu cực cao hơn [59]
Một yếu tố khác dựa trên nơi làm việc có thể được lưu ý, đó là sự bất hòa về quy tắc cảm xúc Một nghiên cứu về các điều dưỡng, trợ lý điều dưỡng làm việc trong các viện dưỡng lão hoặc các tổ chức chăm sóc bệnh nhân ngoại trú đã cung cấp các thước đo về mức độ bất hòa quy tắc cảm xúc của họ (mức độ mà cảm xúc thực sự của
họ phù hợp với những gì cần thiết phải thể hiện tại nơi làm việc) và theo dõi họ tại một ngày sau Mức độ bất hòa cao về quy tắc cảm xúc (mức độ khác biệt cao giữa cảm xúc thực tế và cảm xúc hiển thị) có liên quan đến cả mệt mỏi về cảm xúc và tính tiêu cực khi theo dõi [50] Tuy nhiên, người ta cũng nhận thấy rằng sự phức tạp trong vai trò là một yếu tố quan trọng và bảo vệ cho sự mệt mỏi Những người có mức độ bất hòa về quy tắc cảm xúc nhưng có mức độ phức tạp trong công việc cao ít có khả năng bị mệt mỏi về cảm xúc và tính tiêu cực hơn những đồng nghiệp có vai trò không phức tạp như vậy
Trang 241.3.3 Các yếu tố liên quan đến nghề nghiệp
Về giờ làm việc của các Điều dưỡng thực hiện hàng ngày các hoạt động thể chất bổ sung, 15,3% cho biết mức EE cao, 17,9% DP cao và 65,9% PA thấp Tỷ lệ những người không thực hiện các hoạt động thể chất bổ sung lần lượt là 10,8%, 11,8%
và 61% Những dữ liệu này phản ánh rằng tình trạng quá tải công việc cao có liên quan đến mức EE và DP cao [94] Theo cách tương tự, EE cao và PA thấp có liên quan đến
sự gia tăng khối lượng công việc, thể hiện ở số lượng bệnh nhân nhiều hơn [24]
Trong nghiên cứu của Shinan-Altman và các đồng nghiệp, người ta thấy rằng
nhận thức của nhân viên về các hành vi rối loạn phản xạ thần kinh tự động (Autonomic
dysreflexia – AD) có thể ảnh hưởng đến mức độ mệt mỏi của nhân viên Các cuộc
phỏng vấn định tính với nhân viên (nhân viên xã hội và điều dưỡng) chăm sóc người cao tuổi mắc chứng sa sút trí tuệ cho thấy rằng nhân viên trải qua mệt mỏi về cảm xúc
và tính tiêu cực, một phần do giảm khả năng giao tiếp trong các hành vi rối loạn phản
xạ thần kinh tự động nâng cao và giảm hiệu quả cá nhân do những cảm giác tiêu cực này, cũng như thấy bệnh nhân tiếp tục xấu đi (ví dụ, không thể nhận ra những người khác đã biết trước đó) [69] Những người khác cho rằng nhân viên có tình trạng mệt mỏi thấp (được đánh giá ở đây là nhận thức về sự hoàn thành và hài lòng với vai trò chăm sóc) có nhiều khả năng có đánh giá tích cực về bệnh nhân và tần suất hành vi có vấn đề của cư dân không ảnh hưởng đến điều này
Theo báo cáo, tình trạng mệt mỏi cũng có thể liên quan đến nhận thức của nhân viên về một loại bệnh cụ thể trong nghiên cứu Shinan-Altman và cộng về điều dưỡng
và nhân viên xã hội lưu ý rằng ý nghĩa tiêu cực của các hành vi rối loạn phản xạ thần kinh tự động tương quan với một số khía cạnh của mệt mỏi [69]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hương và cộng sự năm 2019 về tình trạng mệt mỏi của điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Việt Tiệp - Hải Phòng cho thấy
số ngày trực trong tuần tăng thì tình trạng mệt mỏi tăng 49% và tính tiêu cực tăng 24% nhưng hiệu quả công việc giảm đến 18% Khi khối lượng công việc tăng dẫn đến tình trạng mệt mỏi tăng 15% nhưng hiệu quả công việc bị giảm 31% [5]
Nghiên cứu của Nguyễn Bảo Trân và cộng sự năm 2020 cho thấy thời gian trực trong tuần có ảnh hưởng lớn đến tình trạng mệt mỏi của nhân viên, số ngày trực tăng một ngày thì tình trạng mệt mỏi tăng 49% và tính tiêu cực tăng 35% nhưng hiệu quả công việc giảm 18% [15]
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 25Nghiên cứu của Lê Thị Thanh Nguyện và cộng sự cho thấy khối lượng công việc và sự thiếu ghi nhận có xu hướng làm gia tăng tình trạng mệt mỏi nghề nghiệp, những người có khối lượng công việc cao có khả năng bị tình trạng mệt mỏi nghề nghiệp cao hơn 2,39 lần những những có khối lượng công việc thấp và những người bị thiếu ghi nhận trong công việc cao có khả năng tăng tình trạng mệt mỏi nghề nghiệp cao hơn 2,16 lần so với những người có khối lượng công việc thấp [10]
1.3.4 Các yếu tố về trình độ đào tạo và kinh nghiệm
Kinh nghiệm làm việc là một trong yếu tố liên quan đến tình trạng mệt mỏi của điều dưỡng Theo nghiên cứu của Huyn Sook Kim mức độ mệt mỏi của các Điều dưỡng tại đơn vị chăm sóc đặc biệt là 3,15/5 Mức độ mệt mỏi cao hơn có liên quan đáng kể với trình độ học vấn thấp hơn, ít kinh nghiệm làm việc Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hương và cộng sự năm 2019 những điều dưỡng có số năm kinh nghiệm từ 5 đến 10 năm sẽ có nguy cơ gặp phải tình trạng mệt mỏi cao hơn các đối tượng khác [5] Kết quả này tương tự với kết quả của Lin và cộng sự năm 2022 [53] Trong nghiên cứu của Alemayehu Sayih Belay và cộng sự năm 2021 ở Tây Nam Ethiopia những người tham gia có kinh nghiệm làm việc từ 11–15 năm có nguy cơ mắc tình trạng mệt mỏi cao hơn gần 15 lần so với những người tham gia có kinh nghiệm từ 1–3 năm [25]
Nghiên cứu của Linda Flynn và cộng sự năm 2009 ở Hoa Kỳ, nghiên cứu của Minmin Lu và cộng sự về sự mệt mỏi của điều dưỡng tại Trung Quốc năm 2015 không thấy có mối liên quan với trình độ học vấn của điều dưỡng và tình trạng mệt mỏi [57] Nghiên cứu của Hoàng và cộng sự (2020) thấy trình độ học vấn có mối tương quan giữa PA và DP [2]
1.3.5 Yếu tố gia đình
Một số nghiên cứu đã báo cáo mối liên hệ với các yếu tố gia đình [64], [43] Độc thân có tương quan với mệt mỏi [79], [33], [36] độc lập trong hai nghiên cứu chỉnh hình [36] nhưng không có trong nghiên cứu của các bác sĩ phẫu thuật đại trực tràng và mạch máu ở Vương quốc Anh
Các bác sĩ phẫu thuật có nhiều người hỗ trợ hơn ít bị mệt mỏi hơn [36], [60] Đây là một hiệp hội độc lập ở các bác sĩ sản khoa [36] nhưng không được phát hiện là
có tác dụng độc lập ở các bác sĩ phẫu thuật thần kinh [60] Việc có vợ/chồng đang đi
Trang 26làm được cho là làm tăng nguy cơ mệt mỏi một cách độc lập [64] Dành nhiều thời gian hơn cho vợ/chồng được cho là có liên quan đến việc ít bị mệt mỏi hơn
Có con liên quan đến việc ít bị mệt mỏi hơn [58], [64], [43] mặc dù trong một nghiên cứu, hiệu ứng này chỉ có giá trị đối với giảng viên chứ không phải cư dân
Tự báo cáo hành vi cáu kỉnh hơn đối với những người thân yêu tương quan với tình trạng mệt mỏi cao hơn, cũng như những người báo cáo nhiều xích mích hơn với hoặc rút lui khỏi gia đình ở bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình
1.3.6 Yếu tố môi trường làm việc
Sự hài lòng nghề nghiệp liên quan đến việc ít bị mệt mỏi hơn [58],[75], [64] khi những người sẽ chọn lại chuyên môn hoặc công việc của họ [79], [60]
Một số nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa tình trạng mệt mỏi với các yếu
tố đồng nghiệp [67], [44] Sự hỗ trợ từ đồng nghiệp được đo lường bằng Bảng câu hỏi nội dung công việc đã được xác thực có liên quan độc lập với việc ít bị mệt mỏi hơn, nhưng chỉ trong phân tích đơn biến trong một nghiên cứu về cấy ghép bác sĩ phẫu thuật Các mối quan hệ công việc tồi tệ có liên quan đến tình trạng mệt mỏi nhiều hơn, cũng như các tranh chấp Hỗ trợ cho những người có thành tích kém và cho các kỳ thi, cũng như khả năng tiếp cận phản hồi [67] có liên quan đến việc ít bị mệt mỏi hơn Thường xuyên xấu hổ và văn hóa dũng cảm có liên quan đến sự mệt mỏi nhiều hơn Cảm giác thân thuộc có liên quan đến việc ít bị mệt mỏi hơn trong một nghiên cứu đa ngành
Xung đột với bệnh nhân và kỳ vọng cao hơn của bệnh nhân có tương quan với tình trạng mệt mỏi [44] Bị buộc tội sơ suất có liên quan đến tình trạng mệt mỏi cao hơn ở các bác sĩ giải phẫu thần kinh ( n = 783) [60]
Việc thiếu hỗ trợ hành chính và không đủ thời gian cho các nhiệm vụ hành chính được cho là có liên quan đến tình trạng mệt mỏi nhiều hơn [44] do dành nhiều thời gian hơn cho các nhiệm vụ chăm sóc không phải bệnh nhân
Các bác sĩ phẫu thuật được tiếp cận với cố vấn có mức độ mệt mỏi thấp hơn [32] Một nghiên cứu can thiệp trong tương lai cho thấy mức độ mệt mỏi ở các bác sĩ nội trú khoa tai mũi họng thấp hơn sau khi được cố vấn ( n = 8), nhưng điều này không được lặp lại trong một thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát khác của các bác sĩ phẫu thuật sản phụ khoa ( n = 27)
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 27Sự hài lòng về chương trình đào tạo đã được chứng minh là có liên quan đến việc ít bị mệt mỏi hơn Cơ hội phát triển, [67] tăng trưởng, học hỏi cá nhân và đào tạo thực tế hơn tương quan với việc ít bị mệt mỏi hơn
Cân bằng giữa công việc và cuộc sống được nhận thức tốt hơn có liên quan đến việc ít bị mệt mỏi hơn [36] cũng như mức độ xung đột giữa công việc và cuộc sống hoặc công việc - gia đình thấp hơn
1.3.7 Yếu tố thu nhập
Thu nhập thấp hơn có liên quan đến mức độ mệt mỏi cao hơn [64] Một nghiên cứu về các bác sĩ nội trú và khoa chỉnh hình cho thấy gánh nặng nợ nần có liên quan đến tình trạng mệt mỏi cao hơn ở các giảng viên, trong khi những lo ngại về tài chính cũng liên quan đến tình trạng mệt mỏi ở nhóm này Ngược lại, hai nghiên cứu nhỏ ở Fiji và Ả-rập Xê-út cho thấy thu nhập không tạo ra sự khác biệt đối với mức độ mệt mỏi [20]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương thu nhập có mối liên quan đến tình trạng mệt mỏi cụ thể điều dưỡng có thu nhập dưới 5 triệu thì có tình trạng mệt mỏi cao gấp 2,56 lần (95%KTC: 1,03-6,25) so với điều dưỡng có thu nhập trên 5 triệu [3] Trong nghiên cứu của Trịnh Xuân Quang những người có thu nhập dưới 5 triệu đồng không
có mối liên quan đến tình trạng mệt mỏi [11]
Những phát hiện của các tổng quan trước đây cho thấy rằng:
*Các yếu tố sau đây có liên quan đến nguy cơ mệt mỏi cao hơn
+ Tuổi trẻ hơn
+ Nữ giới
+ Đào tạo nội trú
+ Tăng khối lượng công việc
+ Xung đột với đồng nghiệp và bệnh nhân
+ Trầm cảm và lạm dụng chất gây nghiện
+ Rối loạn thần kinh
Các yếu tố sau đây có liên quan đến nguy cơ mệt mỏi thấp hơn:
+ Yếu tố gia đình
+ Môi trường làm việc hỗ trợ
+ Hoạt động thể chất
+ Trí tuệ cảm xúc, sự bền bỉ và trách nhiệm
Trang 28+ Hướng ngoại, dễ chịu, tận tâm
+ Công việc học tập
+ Ít quan tâm hơn về thu nhập/tài chính
1.4 Một số nghiên cứu về trình trạng mệt mỏi ở điều dưỡng – hộ sinh
1.4.1 Trên thế giới
Tỷ lệ mệt mỏi trong các nghiên cứu giữa các quốc gia và hệ thống y tế nơi các nghiên cứu được thực hiện có nhiều sự khác nhau, có thể do hệ thống y tế của mỗi quốc gia có những đặc điểm, năng lực khác nhau trong lĩnh vực điều dưỡng, chương trình đào tạo, khối lượng công việc và chi phí chăm sóc nên mức độ mệt mỏi rất đa dạng, trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển đã có nhiều công trình nghiên cứu về tình trạng mệt mỏi của các nhân viên y tế
Linda H.Ai ken đã tiến hành một nghiên cứu trên 10,319 điều dưỡng ở 303 bệnh viện ở Mỹ, Canada, Anh và Scotland cho thấy, tỷ lệ điều dưỡng có điểm trung bình về sự mệt mỏi với công việc trên mức bình thường là từ 54% ở Mỹ đến 34% ở Scotland
Tình trạng mệt mỏi trong nghiên cứu cửa Xiaorong Luan RN thấy điểm EE và
PA trung bình của điều dưỡng trưởng là trung bình, trong khi DP thấp Ngược lại, EE đối với điều dưỡng cao cấp có xu hướng cao, trong khi DP và PA ở mức trung bình Đáng chú ý, điểm cả ba chiều đều thấp hơn đáng kể ở các điều dưỡng trưởng so với điều dưỡng cao cấp (p <0,05) [66]
Trong nghiên cứu của Eduardo và cộng sự 14,29% điều dưỡng bị tình trạng mệt mỏi và 10,98% có triệu chứng trầm cảm Mức độ mệt mỏi về mặt cảm xúc và cá nhân hóa càng cao, và thành tích nghề nghiệp càng thấp, các triệu chứng trầm cảm càng lớn Mối liên quan có ý nghĩa giữa tình trạng mệt mỏi và các triệu chứng trầm cảm [74]
Trong tổng số 1721 điều dưỡng cấp cứu và chăm sóc nguy kịch ở Andalusia,
337 người (19,5%) đã được khảo sát Mức độ mệt mỏi cao được phát hiện ở 38,5% Tình trạng mệt mỏi về cảm xúc hiện diện ở 10,5% mẫu, tính tiêu cực ở 16,8%
và giảm thành tích cá nhân là 63,3% [18]
Theo Zhang và cộng sự (2020), trong đại dịch COVID-19, sức khỏe của các chuyên gia có tỷ lệ mất ngủ, lo lắng, trầm cảm, buồn ngủ và các triệu chứng ám ảnh cưỡng chế cao hơn Đối phó với căng thẳng tâm lý và nguy cơ quá tải dị ứng [78]
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 29Theo nghiên cứu của Lai và cộng sự (2020) cũng cho thấy rằng một tỷ lệ đáng kể những người tham gia có liên quan đến các triệu chứng trầm cảm, lo lắng, mất ngủ và đau khổ với những người được tiếp xúc trong nghiên cứu của họ Điều dưỡng, nhân viên y tế tuyến đầu và những người làm việc ở Vũ Hán, Trung Quốc, đã báo cáo mức
độ nghiêm trọng hơn về tình trạng sức khỏe tâm thần [51] Nghiên cứu của Maria Emilia năm 2020 cho thấy tỷ lệ hiện mắc tình trạng mệt mỏi là 0,41% (0,01 - 2,29) theo tiêu chí của Maslach và 36,9% (30,82 - 43,36) theo tiêu chí của Grunfeld [22]
Nghiên cứu của Santiago và cộng sự năm 2021 với mẫu n = 1986 điều dưỡng, tỷ lệ
ước tính phân tích tổng hợp đối với tình trạng mệt mỏi về cảm xúc cao là 31% (KTC 95%, 8-59%), đối với thái độ tiêu cực là 18% (KTC 95%, 8-30%) và đối với giảm thành tích cá nhân là 46% (KTC 95%, 20-74%) [34]
Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện ở Ấn Độ giữa các nhân viên y tế trực tiếp tham gia sàng lọc, chẩn đoán và điều trị bệnh nhân và người bệnh nghi mắc COVID-19, tỷ lệ các chuyên gia y tế bị căng thẳng mức độ cao là 3,7%, trong khi tỷ lệ phổ biến của các chuyên gia có các triệu chứng trầm cảm cần điều trị và các triệu chứng lo âu cần đánh giá thêm lần lượt là 11,4% và 17,7% [80] Tại Brazil, một cuộc khảo sát được thực hiện bằng cách sử dụng phương tiện truyền thông xã hội và email hành chính cho các chuyên gia chăm sóc sức khỏe tích cực của Brazil trong thời gian bùng phát COVID-19 cho thấy các triệu chứng mất ngủ mới hoặc tình trạng mất ngủ trầm trọng hơn xảy ra ở 41,4% chuyên gia Lần lượt quan sát thấy sự lo lắng và mệt mỏi phổ biến trong đại dịch ở 44,2% và 21% người tham gia Các phân tích đa biến cho thấy phụ nữ, sự thay đổi cân nặng, lo lắng phổ biến, tình trạng mệt mỏi mới bắt đầu và giảm thu nhập gia đình > 30% có liên quan độc lập với sự khởi phát mới hoặc trầm trọng hơn của chứng mất ngủ trước đó [27]
Trong một số nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi MBI cho thấy tỷ lệ mệt mỏi thay đổi vào từng quốc gia được nghiên cứu thực hiện Theo nghiên cứu của Maria Emilia Miranda Alvares và cộng sự tỷ lệ mắc hội chứng mệt mỏi theo tiêu chí của Maslach và cộng sự là 0,41% (KTC 95% 0,01 - 2,29) trong số những người tham gia đã trải qua tình trạng mệt mỏi về cảm xúc, 6,3% (KTC 95% 3,52 - 10,06) có mức độ cá nhân hóa cao và 10,9% (KTC 95% 7,16 - 15,41) có thành tích cá nhân rất thấp [22] Nghiên cứu của JLL da Silva cho thấy mức độ mệt mỏi là 71,5% ở mức độ trung bình [96]
Trang 30Như vậy qua công trình nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, chúng ta đã thấy phần nào được bức tranh đa dạng, sinh động và phức tạp đa chiều về vấn đề tình trạng mệt mỏi của nhân viên y tế nói chung và nhân viên điều dưỡng – hộ sinh nói riêng
1.4.2 Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, căng thẳng nghề nghiệp ở nhân viên y tế ngày càng là một chủ đề thu hút được sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà nghiên cứu
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hương và cộng sự năm 2019 về tình trạng mệt mỏi của điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Việt Tiệp - Hải Phòng cho thấy,
tỷ lệ bị mệt mỏi cao là 18,2%, trung bình là 32,7% và thấp là 49% [5] Nghiên cứu về tình trạng mệt mỏi và một số yếu tố liên quan đến tình trạng mệt mỏi của nhân viên chẩn đoán hình ảnh tại Bệnh viện hữu nghị Việt Tiệp - Hải Phòng năm 2020 của Nguyễn Bảo Trân và cộng sự cho thấy tỷ lệ của nhân viên y tế mệt mỏi ở mức cao là 20,2%, trung bình là 32,9% và thấp là 46,9% [15]
Nghiên cứu của Lê Thị Thanh Nguyện và cộng sự về mệt mỏi nghề nghiệp ở điều dưỡng Bệnh viện chấn thương chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh và các yếu tố liên quan cho thấy trên 283 điều dưỡng sử dụng thang đo MBI-HSS để đánh giá mệt mỏi nghề nghiệp thì không ghi nhân kết quả mệt mỏi nặng, có 41% mệt mỏi phân độ trung bình và 59% không biểu hiện mệt mỏi [10] Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Hoàng tại bệnh viện Đa khoa khu vực Củ Chi năm 2019 đã sử dụng thang đo MBI để đánh giá mệt mỏi nghề nghiệp và cho kết quả mệt mỏi nghề nghiệp trên điều dưỡng là 13% [2] Tại nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Long năm 2022 tại một số bệnh viện ngoài công lập khu vực phía Bắc trên 141 đối tượng được thực hiện tại 02 bệnh viện ngoài công lập mức độ mệt mỏi nghề nghiệp được đánh giá bằng bộ câu hỏi OBI là 36,9%,
có 34% đối tượng không có biểu hiện nào của mệt mỏi nghề nghiệp [6]
Theo Nguyễn Ngọc Quyên nghiên cứu về mức độ mệt mỏi nghề nghiệp của Bác sĩ tại Bệnh viện Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2020 thấy rằng mệt mỏi mức độ cao có tỷ lệ 59,1%, mức trung bình là 24,3% và thấp chỉ 16,7 [12]
Theo nghiên cứu của Lê Thành và Phan Bích Thuận về phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến trầm cảm, rối loạn lo âu và tình trạng mệt mỏi của nhân viên y tế trong đại dịch Covid-19 tại Bệnh viện Quốc tế City thấy rằng mức độ mệt mỏi về cảm xúc (EE)
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 31từ thấp, trung bình đến cao lần lượt là 72,69%, 13,43%, 13,89% Tính tiêu cực (DP) từ thấp, trung bình đến cao lần lượt là 76,85%, 13,43%, 9,72% [16]
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Bích và Vũ Thái Sơn sử dụng thang đo mệt mỏi Maslach (MBI) phiên bản đã được chuẩn hóa tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mệt mỏi cảm xúc mức cao chiếm 72,12%; tỉ lệ tính tiêu cực mức cao chiếm 78,77%; tỉ lệ hiệu quả cá nhân mức cao chiếm 67,26% Khi đánh giá mệt mỏi chung, kết quả cho thấy tỉ lệ có mệt mỏi chung là 75,22% [1]
1.5 Bộ câu hỏi đánh giá trình trạng mệt mỏi
1.5.1 Bộ câu hỏi về tình trạng mệt mỏi (Mashlach Burnout Inventory- MBI)
Bộ câu hỏi về đánh giá tình trạng mệt mỏi (MBI) được xây dựng bởi Maslach
và đồng nghiệp năm 1981 tại Mỹ Vào thời điểm đó, có rất nhiều quan tâm đến tình trạng mệt mỏi tuy nhiên có rất ít tài liệu đề cập cũng như các nghiên cứu đến nó Do
đó, cần có một bộ công cụ để đánh giá mức độ về tình trạng mệt mỏi nên Maslach và đồng nghiệp để phát triển và xây dựng bộ câu hỏi này Kể từ lần đầu tiên đưa ra bộ công cụ năm 1981, đến nay nó đã được sử dụng trên rất nhiều đối tượng, môi trường khác nhau, các quốc gia và ngôn ngữ khác nhau Ngày nay có tất cả 6 phiên bản MBI cho các đối tượng khác nhau: MBI- khảo sát dịch vụ con người (MBI Human Services Survey, MBI-HSS), MBI- cho nhân viên Y Tế (MBI for Medical Personnel, MBI-MP), MBI - dùng trong giáo dục (MBI Educators Survey, MBI-ES), MBI- tổng hợp (MBI General Survey, MBI-GS), MBI cho sinh viên (MBI General Survey for Students, MBI-GSS), MBI dùng để khảo sát trong môi trường làm việc (The MBI and Areas of Worklife Survey, MBI-AWS) Trong nghiên cứu này chúng tôi dùng bộ câu hỏi MBI cho nhân viên y tế (MBI-MP)
1.5.2 Bộ câu hỏi MBI- khảo sát dịch vụ con người (MBI-HSS)
Bộ câu hỏi này là bộ gốc của bộ câu hỏi MBI Các câu hỏi trong bộ câu hỏi này được thiết kế tập trung đánh giá cảm xúc mệt mỏi của những người làm ngành nghề dịch vụ phải tập trung rất nhiều thời gian tương tác với khách hàng Thông thường, sự tương tác với khách hàng thường tập trung vào một số vấn đề như tâm lý, xã hội, sự sợ hãi hoặc tuyệt vọng Bởi vì các giải pháp cho vấn đề hiện tại của khách hàng là không phải lúc nào cũng rõ ràng và dễ dàng đạt được, các tình huống phải đối mặt thường không rõ ràng và làm nản lòng Đối với những người làm việc liên tục trong môi trường đó sẽ dễ bị căng thẳng, kiệt quệ về cảm xúc và dẫn tới tình trạng mệt mỏi
Trang 32Hậu quả của tình trạng mệt mỏi có thể rất nghiêm trọng đối với những người trên, với khách hàng của họ, tổ chức/cơ quan/công ty của họ Một số nghiên cứu chỉ ra, tình trạng mệt mỏi làm giảm chất lượng chăm sóc khách hành hoặc dịch vụ do nhân viên cung cấp/tư vấn Hơn thế nữa, tình trạng mệt mỏi tương quan với các chỉ số tự báo cáo
về rối loạn chức năng bao gồm kiệt quệ về thể chất, mất ngủ, ra tăng viêc sử dụng rượu và ma túy, các vấn đề về hôn nhân, gia đình
1.5.3 Bộ câu hỏi MBI-cho nhân viên y tế (MBI-MP)
Trong nhiều ngành dịch vụ đã được nghiên cứu thì ngành khối sức khỏe được nghiên cứu nhiều nhất về tình trạng mệt mỏi Bên cạnh bản chất công việc, nhân sự trong ngành y thay đổi nhanh chóng, các dịch vụ cung cấp cho người bệnh ngày càng đòi hỏi cao Hơn thế nữa, công nghệ mới đòi hỏi nhân viên y tế cần phải học hỏi liên tục, thích nghi nhanh chóng với sự thay đổi đó Do đó tình trạng mệt mỏi ở nhân viên
y tế ngày càng tăng Một nghiên cứu tổng quan tài liệu có phân tích để xác định xem tình trạng mệt mỏi có liên quan đến đến sự an toàn của người bệnh hay không Kết quả thu được từ 24 nghiên cứu đã kiểm tra mối liên quan giữa an toàn của người bệnh và tình trạng mệt mỏi Trong 24 nghiên cứu đó, hầu hết sử dụng bộ câu hỏi MBI-GS Kết quả cho thấy có mối tương quan nghịch giữa an toàn người bệnh và tình trạng mệt mỏi
[82]
1.5.4 Bộ câu hỏi MBI - dùng trong giáo dục (MBI-ES)
Ngay sau khi các nhà đào tạo biết đến bộ câu hỏi đánh giá về tình trạng mệt mỏi, thì tác giả đã phát triển bộ MBI-ES để đánh giá tình trạng mệt mỏi ở giáo viên và dùng trong ngành giáo dục Ngoài các yếu tố căng thẳng ở trong lớp học, giáo viên còn phải chịu các nguồn áp lực từ bên ngoài như cha mẹ học sinh và các nhà quản lý Tình trạng mệt mỏi là một hội chứng phổ biến, đôi khi dẫn đến quyết định bỏ việc bởi:
- Thứ nhất, nghề dạy học là một trong những nghề lớn nhất và dễ thấy nhất
- Thứ hai, nghề dạy học đã phải chịu sự gia tăng của xã hội, áp lực mở rộng vai trò của họ ngoài giáo dục như họ thường được mong đợi giải quyết các vấn đề bên ngoài
xã hội (ma túy, rượu và lạm dụng tình dục)
- Thứ ba, nguồn nhân lực và tài chính không được đáp ứng như mong đợi
- Thứ tư, giáo viên đã không thấy được sự tôn trọng của xã hội nhiều Các vấn đề của xã hội thường đổ lỗi cho giáo dục Do những áp lực này, các giáo viên đã phải
bỏ nghề và dẫn đến mệt mỏi
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 33Các nghiên cứu về tình trạng mệt mỏi cho thấy rằng mức độ phổ biến của nó trong giáo viên đã tăng lên, một phần là do lòng tin của giáo viên giảm sút trong các mối quan hệ với ban giám hiệu, đồng nghiệp, phụ huynh và học sinh với tư cách là các tiêu chuẩn trách nhiệm giải trình và các yếu tố bên ngoài khác đã thay đổi nghề dạy dạy học [92]
1.5.5 Bộ câu hỏi MBI- tổng hợp (MBI-GS)
Ban đầu MBI được dùng để đánh giá tình trạng mệt mỏi ở những người làm nghề dịch vụ Tuy nhiên, tình trạng mệt mỏi diễn ra ở rất nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau nên tác giả đã xây dựng bộ câu hỏi này Bộ câu hỏi này được áp dụng trên những nhóm thuộc các nghành nghề khác nhau bao gồm những người làm việc trong các công việc như dịch vụ khách hàng, bảo trì, sản xuất, quản lý và hầu hết các ngành nghề khác
1.6 Tính giá trị và độ tin cậy của bộ công cụ MBI-MP
Bộ công cụ MBI-MP được sử dụng rộng rãi và chỉ ra có tính giá trị và độ tin cậy cao ở lĩnh vực y tế Một số nghiên cứu chỉ ra Cronbach’s alpha là 0.90 cho EE, 0.76 cho DP, 0.76 cho PA; 0.88 cho EE, 0.74 cho DP, 0.72 cho PA ; 0.87 cho EE, 0.76 cho
DP, và 0.86 cho PA [42] Tuy nhiên, 1 vài nghiên cứu trước cho thấy chỉ số
Cronbach’s alpha hơi thấp như 0.63 cho EE, 0.85 cho DP, 0.79 cho PA [50] Thêm vào đó, ở 1 số nghiên cứu cho kết quả ICC là 0.60 cho EE, 0.54 cho DP, 0.57 cho PA Một nghiên cứu cắt ngang của Poghosyan và cộng sự trên 54734 điều dưỡng ở 8 quốc gia (Armenia, Canada, Đức, Nhật Bản, New Zealand, Nga, Mỹ, và vương quốc Anh) đã dịch bộ công cụ sang ngôn ngữ của 8 quốc gia trên và đã được chứng minh có tính giá trị và độ tin cậy tốt Thêm vào đó, nghiên cứu của Lin và đồng nghiệp năm
2022 trên 106 bác sỹ và 200 điều dưỡng đã chỉ ra bộ công cụ MBI-MP đã được đánh giá độ tin cậy bằng tính nhất quán nội tại (intraclass coefficient correlation –ICC = 0.87), kiểm tra– kiểm tra lại độ tin cậy từ 0.73 – 0.84 (test – retest reliability), và tính giá trị bằng tính giá trị cấu trúc thông qua phương pháp phân tích yếu tố khẳng định (confirmatory factor analysis - CFA) (CFI = 0.941, TLI = 0.929, RMSEA (90% CI)
=0.046) [53]
1.7 Hệ thống y tế Vinmec
Vinmec là Hệ thống Y tế phi lợi nhuận do Vingroup – Tập đoàn kinh tế tư nhân hàng đầu Việt Nam đầu tư phát triển Ra đời năm 2012, Vinmec hiện có 7 bệnh viện
Trang 34đa khoa đi vào hoạt động và xây dựng chiến lược phát triển với 10 bệnh viện trên cả nước vào năm 2025 Đến nay, Vinmec đã trở thành địa chỉ chăm sóc sức khỏe tiêu chuẩn quốc tế tại Việt Nam gồm 2 bệnh viện đạt tiêu chuẩn quốc tế tại các thành phố lớn là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hạ Long, Phú Quốc Với tổng cộng hơn 1500 điều dưỡng/hộ sinh tập trung tại Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times city, Vinmec Central Park, Vinmec Đà Nẵng, Vinmec Đông Bắc Chất lượng dịch vụ tại các bệnh viện Vinmec luôn được người dân đánh giá cao Để đáp ứng được sự hài lòng của người bệnh, bệnh viện Vinmec cần nhiều bác sĩ là chuyên gia và chuyên môn cao, đầu tư trang thiết bị hiện đại thì đội ngũ điều dưỡng viên – hộ sinh của các bệnh viện cũng được đào tạo theo tiêu chuẩn chung Các Điều dưỡng – Hộ sinh tại Vinmec thường xuyên phải làm việc với cường độ cao, làm theo ca kíp 12 giờ/ ngày Thêm vào đó, tinh thần trách nhiệm và các yêu cầu cao trong quá trình làm việc của các điều dưỡng/hộ sinh cũng góp phần tạo áp lực không nhỏ, gây tình trạng mệt mỏi cho nhóm đối tượng này
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 35CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng tham gia trong nghiên cứu này là các Điều dưỡng- Hộ sinh đang làm việc tại các Khoa lâm sàng tại một số bệnh viện trong hệ thống Vinmec
* Tiêu chuẩn lựa chọn
+ Là điều dưỡng viên - hộ sinh tham gia chăm sóc người bệnh hoặc hỗ trợ chăm sóc người bệnh
+ Điều dưỡng - hộ sinh có kinh nghiệm làm việc từ 9 tháng trở lên, đã có chứng chỉ hành nghề và phải chịu trách nhiệm chính với vị trí việc làm của mình
+ Đồng ý tham gia vào nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loại trừ
+ Các điều dưỡng - hộ sinh trong chế độ nghỉ thai sản
+ Thời gian làm việc tại Vinmec < 9 tháng
+ Không đồng ý tham gia vào nghiên cứu
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 8 năm 2022 đến tháng 10 năm 2022
Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại các khoa lâm sàng tại một
số bệnh viện trong hệ thống Y tế Vinmec
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
* Cỡ mẫu
- Dùng phần mềm G*Power version 3.1.9.2 [93] để tính cỡ mẫu với α = 0,05, độ nhạy (standard power) = 0,80 [39], Cỡ tác động (effect size) = 0,05 (nhỏ); số biến dự báo là 11; thống kê hồi quy đa biến (F test)
Kết quả, tổng số cỡ mẫu là 346 Để giảm tỷ lệ hao hụt (attrition rate), tác giả cộng thêm 15% Do vậy, tổng số đối tượng tham gia nghiên cứu là 400
Trang 36Tổng số Điều dưỡng - Hộ sinh ở hệ thống y tế Vinmec là 1520 tập trung chủ yếu
ở Vinmec Times City (720), Vinmec Central Park (380), Vinmec Đông Bắc (200), và
Đà Nẵng (220) Số lượng điều dưỡng/hộ sinh ở mỗi bệnh viện tính theo công thức:
ni = n (Ni/N) Trong đó ni: Cỡ mẫu của tầng i Ni: Dân số tầng i n: Cỡ mẫu của tất cả các tầng N: Dân số của quần thể
Thay vào công thức, số lượng mẫu sẽ lấy ở Vinmec Times City là 190 điều dưỡng - hộ sinh, Vinmec Central Park là 99 điều dưỡng - hộ sinh, Vinmec Đông Bắc
là 53 điều dưỡng - hộ sinh, và Vinmec Đà Nẵng là 58 điều dưỡng - hộ sinh
* Phương pháp chọn mẫu
Lấy mẫu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng các Điều dưỡng -
Hộ sinh phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn
Quy trình chọn mẫu ngẫu nhiên
+ Lập danh sách toàn bộ các điều dưỡng/ hộ sinh tại từng bệnh viện trong hệ thống y tế Vinmec và đánh số thứ tự (khung mẫu)
+ Quyết định số lượng mẫu nghiên cứu theo công thức: Vinmec Times City là
190 điều dưỡng/hộ sinh, Vinmec Central Park là 99 điều dưỡng/hộ sinh, Vinmec Đông Bắc là 53 điều dưỡng/hộ sinh, và Vinmec Đà Nẵng là 58 điều dưỡng/hộ sinh
+ Dùng phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên để lựa chọn đủ số lượng mẫu tại các bệnh viện
2.5 Phương pháp và công cụ thu thập thông tin
* Công cụ thu thập số liệu
Số liệu được thu thập qua bộ câu hỏi nghiên cứu gồm 3 phần
(1) Phần 1: Bộ câu hỏi về thông tin chung của đối tượng tham gia nghiên cứu; (2) Phần 2: Bộ câu hỏi đo lường về tình trạng mệt mỏi của nhân viên y tế;
(3) Phần 3: Bộ câu hỏi về ý định từ bỏ công việc
Phần 1: Bộ câu hỏi về thông tin chung của đối tượng tham gia nghiên cứu
Bộ câu hỏi này được xây dựng bởi tác giả bao gồm: Bệnh viện, tuổi, giới, số năm kinh nghiệm trong lĩnh vực y tế, chức danh, trình độ học vấn, số giờ làm thực tế, công việc hàng ngày, nơi làm việc, thu nhập hiện tại, được cung cấp đầy đủ trang thiết bị/vật tư y tế liên quan trong quá trình làm việc, có chính sách khen thưởng/kỷ luật phù hợp cho nhân viên?
Phần 2: Bộ câu hỏi đo lường về tình trạng mệt mỏi của nhân viên y tế
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 37Bộ câu hỏi này được xây dựng bởi Maslach, Jackson và Leite (1996) đánh giá
ba khía cạnh của tình trạng mệt mỏi: Mệt mỏi về cảm xúc (EE), Tính tiêu cực (DP), và Hiệu quả cá nhân (PA)
- Bộ câu hỏi này bao gồm 22 câu hỏi, chia làm 3 lĩnh vực: Mệt mỏi về cảm xúc (EE –
9 câu hỏi), Tính tiêu cực (DP – 5 câu hỏi), và Hiệu quả cá nhân (PA – 8 câu hỏi) Mức
độ mệt mỏi của từng câu hỏi được đánh giá theo thang Likert 7 mức độ với:
0 Không bao giờ;
1 Một vài lần trong năm hoặc ít hơn;
2 Một lần trong 1 tháng hoặc ít hơn;
Cách tính điểm
+ EE = [điểm câu hỏi 1 + 2 + 3 + 6 + 8 + 13 + 14 + 16 + 20] ÷ 9
Điểm trung bình mệt mỏi về cảm xúc từ 0 đến 6
Điểm EE càng cao thì tình trạng mệt mỏi càng cao
+ DP = [điểm câu hỏi 5 + 10 + 11 + 15 + 22] ÷ 5
Điểm trung bình tính tiêu cực từ 0 đến 5
Điểm DP càng cao thì tình trạng mệt mỏi càng cao
+ PA = [điểm câu hỏi số 4 + 7 + 9 + 12 + 17 + 18 + 19 + 21] ÷ 8
Điểm trung bình hiệu quả cá nhân từ 0 đến 6
Điểm PA càng thấp thì tình trạng mệt mỏi càng cao
Phần 3 Bộ câu hỏi về ý định từ bỏ công việc
Trang 38Bộ câu hỏi này được xây dựng bởi Chen và đồng nghiệp (2020) gồm 3 câu hỏi, được phân loại thành có ý định từ bỏ công việc và không có ý định từ bỏ công việc.[27] Nếu đối tượng nghiên cứu trả lời:
1 “Không chắc” hoặc “Không chắc chắn” với câu hỏi “Anh/chị có ý định tiếp tục công việc của mình ít nhất 2 năm nữa không?”
2 Đạt 7 điểm trở lên với câu hỏi “Đánh giá ý đinh từ bỏ công việc trên thang điểm từ
0 -10, với 0 là không có ý định, 10 là có ý định từ bỏ công việc”
3 Trả lời “mỗi tháng 1 lần” hoặc “thường xuyên hơn (hàng tuần, hàng ngày)” cho câu hỏi “Bạn nghĩ đến việc từ bỏ công việc của mình bao lâu một lần?” thì được cho là có
ý định từ bỏ công việc
Bộ câu hỏi này có độ tin cậy tốt lần lượt với hệ số Cronbach’s alpha và hệ số ICC là 0,88 và 0,88
* Hướng dẫn sử dụng bộ câu hỏi MBI-MP
Bộ câu hỏi MBI-MP sẽ được hỏi đối tượng nghiên cứu khoảng 10-15 phút và được phỏng vấn trước mỗi ca làm việc Không có những yêu cầu đặc biệt hoặc các thủ tục bắt buộc với đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên người đi đánh giá không nên là những người quản lý, trưởng phòng/ người quản lý trực tiếp đối tượng nghiên cứu vì khi trả lời có thể làm các đối tượng nghiên cứu phân tâm/không thẳng thắn với các câu trả lời Tốt nhất người đi đánh giá tình trạng mệt mỏi là những người trung lập Một số lưu ý khi hỏi đối tượng nghiên cứu:
Cung cấp hướng dẫn rõ ràng: Bộ câu hỏi này có thể dùng bản online hoặc bản cứng
Cần cung cấp cho đối tượng nghiên cứu cách thức trả lời với các câu hỏi
Tránh việc ảnh hưởng đến tình trạng mệt mỏi: các đối tượng nghiên cứu có nhiều
niềm tin khác nhau về tình trạng mệt mỏi Để làm giảm thiểu tối đa các ảnh hưởng đó, thì các đối tượng nghiên cứu không nên biết đang trả lời các câu hỏi liên quan đến tình trạng mệt mỏi Thế nên khi phát câu hỏi cho các đối tượng tham gia nghiên cứu không nên có các câu/từ đề cập đến “tình trạng mệt mỏi” Bộ câu hỏi nên được trình bày như một cuộc khảo sát về công việc liên quan đến thái độ làm việc, không nên liên kết với tình trạng mệt mỏi dưới bất kỳ hình thức nào
Giảm tối thiểu sự phản hồi: cần thực hiện theo đúng hướng dẫn sử dụng bộ câu hỏi,
giới thiệu cuộc khảo sát cho các đối tượng nghiên cứu, nhấn mạnh tầm quan trọng của
Thư viện ĐH Thăng Long
Trang 39việc đưa ra các câu trả lời trung thực và cam kết đảm bảo tính bảo mật cho đối tượng nghiên cứu
Đảm bảo tính bảo mật: Cần cho đối tượng nghiên cứu tâm lý thoải mái nhất khi trả lời
các câu hỏi để họ có thể bày tỏ cảm xúc thật của họ Lý tưởng nhất là để các đối tượng trả lời theo hình thức ẩn danh Thậm chí khi không ẩn danh thì cũng yên tâm rằng câu trả lời của họ sẽ được giữ bí mật và không được sử dụng theo bất kỳ cách nào có thể ảnh hưởng đến các đối tượng nghiên cứu
Tham gia tự nguyện: Đối tượng nghiên cứu tham gia trả lời chắc chắn không có sự
xúi giục hoặc ép buộc không đáng có Người trả lời phải cung cấp đầy đủ thông tin về cách dữ liệu sẽ được sử dụng để người trả lời có thể đưa ra câu trả lời đúng nhất với
họ
* Quy trình nghiên cứu
Sau khi lập danh sách toàn bộ Điều dưỡng – Hộ sinh phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn trong hệ thống y tế Vinmec và đánh số thứ tự, tác giả sẽ dùng phương pháp bốc thăm để chọn ra 400 Điều dưỡng – Hộ sinh tham gia nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu sẽ được ký phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn điều tra đối tượng nghiên cứu Sau khi ký phiếu đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu, điều tra viên sẽ phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu, điều tra viên đọc từng câu hỏi để đối tượng nghiên cứu trả lời, sử dụng bộ công cụ nghiên cứu được thiết kế sẵn (Phụ lục 1) Thời gian hoàn thành phỏng vấn khoảng 10-15 phút Trong quá trình hỏi nếu đối tượng không hiểu rõ thì hỏi lại điều tra viên
Tại bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Times city, tác giả là người trực tiếp phỏng vấn các đối tượng tham gia nghiên cứu sau khi nhận được sự đồng ý tham gia của họ Tại các bệnh viện Vinmec khác trong hệ thống, tác giả sẽ nhờ các điều tra viên
là các điều dưỡng đang làm việc tại các bệnh viện đó cùng tham gia phỏng vấn đối tượng nghiên cứu và thu thập số liệu, các điều tra viên sẽ được hướng dẫn, tập huấn cách sử dụng bộ câu hỏi nghiên cứu trước khi thực hiện phỏng vấn các đối tượng đồng
ý tham gia nghiên cứu
Trong bộ câu hỏi nghiên cứu, có một vài thông tin mang tính chất chủ quan của đối tượng nghiên cứu, không có thang điểm nào đánh giá cụ thể (Thu nhập hiện tại của đối tượng nghiên cứu; chính sách khen thưởng và việc cung cấp đầy đủ trang thiết bị y
tế trong quá trình làm việc) thì điều tra viên có thể gợi ý dựa vào quy chế thi đua khen
Trang 40thưởng của bệnh viện, quy chế chi tiêu nội bộ, khối lượng công việc và mức lương để giúp đối tượng nghiên cứu xác định rõ ràng sự lựa chọn của mình
Quá trình thu thập số liệu diễn ra theo 4 bước:
- Bước 1: Khai thác thông tin chung và điền vào phiếu đã chuẩn bị
- Bước 2: Hỏi các câu hỏi liên quan đến tình trạng mệt mỏi và ghi chép điểm vào phiếu
- Bước 3: Lặp lại bước 1 và bước 2 đến khi đủ số lượng yêu cầu
- Bước 4: Số liệu sau khi được ghi chép sẽ được điều tra viên nhập vào phần mềm SPSS để xử lý
2.6 Biến số nghiên cứu
1 Giới tính Giới tính nam hoặc nữ
2 Tuổi Năm thời điểm nghiên cứu trừ đi năm sinh
3 Năm kinh nghiệm trong
lĩnh vực y tế
Năm thời điểm nghiên cứu trừ đi năm bắt đầu làm việc trong lĩnh vực y tế
4 Chức danh Điều dưỡng hay hộ sinh
5 Trình độ học vấn Là trình độ cao nhất đạt được sau quá trình học
tập
6 Số giờ làm thực tế trong
tuần
Trên 48 giờ/tuần hoặc dưới 48 giờ/ tuần
7 Công việc hàng ngày Chăm sóc trực tiếp người bệnh hoặc trợ giúp
chăm sóc
8 Nơi làm việc Nội trú hoặc ngoại trú
9 Thu nhập hiện tại Hài lòng hoặc chưa hài lòng
10 Được cung cấp đầy đủ
trang thiết bị/vật tư y tế liên
quan trong khi làm việc?
Đầy đủ hoặc chưa đầy đủ